Tiếp phần 1, Giáo trình Chăn nuôi gia cầm: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: Sức sản xuất ở gia cầm; ấp trứng gia cầm; thức ăn và dinh dưỡng gia cầm; kỹ thuật nuôi dưỡng gia cầm. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương 4
SỨC SẢN XUẤT Ở GIA CẦM
Sức sản xuất là khả năng cho thịt, trứng, gan, lông ở gia cầm Sức sản xuất là t ính trạng số lượng được quy định bởi số lượng lớn các gen (alen) và chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh N ghiên cứu về sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất ở gia cầm có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phN m
4.1 Sức sản xuất trứng (Sức đẻ trứng)
Sức sản xuất trứng còn gọi là sức đẻ trứng ở gia cầm thể hiện ở các chỉ tiêu: sản lượng trứng, khối lượng trứng, phN m chất (chất lượng) trứng
4.1.1 Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số trứng đẻ ra từ một gia cầm mái trong một khoảng thời gian nhất định- thường là một năm đẻ trứng (sản lượng trứng/năm/gia cầm mái) Sản lượng trứng được xác định theo cá thể (các cơ sở giống bắt buộc phải theo dõi cá thể) hoặc theo nhóm Sản lượng trứng cá thể phải theo dõi thông qua đánh số gia cầm và sử dụng ổ đẻ tự động (ổ sập) Sản lượng trứng theo nhóm, chính là sản lượng trứng trung bình bằng tổng số trứng thu được trong thời gian nhất định chia cho số lượng gia cầm mái bình quân trong thời gian đó Hiện tồn tại nhiều cách tính sản lượng trứng khác nhau, đó là tính trên
số mái đầu kỳ, tính trên số mái cuối kỳ hay tính trên số mái bình quân
có mặt Mỗi cách tính đưa ra những sai số nhất định so với sản lượng trứng thực tế của gia cầm mái Sản lượng trứng/năm cũng có nhiều cách xác định khác nhau N ăm đẻ trứng sinh học tính từ khi gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên đến ngày đó của năm tiếp theo N ăm đẻ trứng cũng có thể tính từ 1/10 cho đến 31/9 năm tiếp theo Một số
Trang 2nước tính sản lượng trứng cho đến khi gia cầm mái đạt 500 ngày tuổi
Vì vậy trước khi phân tích, so sánh cần xem cách tính cụ thể như thế nào, trong trường hợp cụ thể mà số liệu được đưa ra
4.1.2 Khối lượng trứng
Khối lượng trứng của gia cầm mái được xác định bằng khối lượng trứng trung bình/năm (g/quả) hoặc khối lượng trứng sản xuất ra từ một gia cầm mái/năm (kg trứng) Khối lượng trứng thường được xác định
ở các thời điểm: Khối lượng quả trứng đẻ đầu tiên; Khối lượng quả trứng đẻ lúc 32 tuần tuổi; Khối lượng quả trứng đẻ lúc 52 tuần tuổi Lúc 32 tuần là lúc sức sản xuất biểu hiện cao nhất, lúc 52 tuần tuổi
là lúc gia cầm hoàn toàn trưởng thành Để tính khối lượng trứng trung bình/năm, người ta tính khối lượng trứng trung bình của 10 tháng đẻ trứng Ở mỗi tháng đẻ, cân 3 quả trứng rồi lấy khối lượng trung bình
Ba quả trứng được cân từ một gia cầm mái hoặc khối lượng trứng trung bình toàn đàn gia cầm mái vào 3 ngày liên tiếp trong tháng, hoặc
3 ngày với khoảng cách cố định (ví dụ ngày 4, 5, 6 hàng tháng hoặc ngày 10, 20, 30 hàng tháng) Cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác 0,1g Khối lượng trứng trung bình của gà 55-65g, trứng vịt70-80g, trứng ngỗng 140-200g, trứng gà tây 100-110g, trứng bồ câu 25g, trứng chim cút 16-18g, trứng đà điểu 1000-1200g/quả
4.1.3 Phm chất trứng (chất lượng trứng)
PhN m chất trứng thể hiện ở nhiều chỉ tiêu: phN m chất bên ngoài và phN m chất bên trong Các chỉ tiêu bên ngoài của trứng đó là chỉ số hình dạng, màu sắc vỏ trứng, độ dày vỏ và độ bền vỏ trứng Chỉ số bên trong đó là tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng, chỉ số lòng trắng trứng, chỉ số lòng đỏ trứng, độ đậm của lòng đỏ, tổng hợp chỉ quan hệ giữa khối lượng và chất lượng lòng trắng trứng là chỉ số Haugh
- Hình dạng trứng có ý nghĩa quan trọng trong việc ấp trứng cũng như trong vận chuyển bảo quản trứng thương phN m Hình dạng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dạng trứng Chỉ số hình dạng trứng (I)
là tỷ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng Đo đường kính lớn (D) và đường kính nhỏ (d) của trứng bằng thước kẹp
Trang 3nở cao
- Độ dày vỏ trứng thu hút sự chú ý lớn của các nhà chăn nuôi vì nó liên quan đến tỉ lệ dập vỡ và tỉ lệ ấp nở Trứng có độ dày từ 0,25-0,58mm; phụ thuộc vào loài, giống, cá thể, điều kiện nuôi dưỡng, bệnh tật Hệ số di truyền về độ dày vỏ trứng ở mức thấp 0,15-0,3 Phương pháp xác định thông qua đo độ dày vỏ bằng thước kẹp hoặc thước chuyên dùng đo độ dày vỏ trứng Đo trên 3 vị trí: đầu nhọn, giữa, đầu tù của trứng rồi lấy giá trị trung bình Độ dày vỏ tỉ lệ thuận với khối lượng trứng
Xác định độ bền vỏ trứng bằng dụng cụ chuyên dùng đo độ chịu lực của trứng (kg/cm2); trung bình từ 3-5 kg/cm2
- Tỉ lệ trứng dập vỡ (%) có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà đẻ trứng Hàng ngày thống kê ghi chép trứng dập vỡ và tính tỉ lệ %
Tỉ lệ dập vỡ (%) = Trứng dập vỡ × 100
Tổng số trứng
- Màu sắc vỏ trứng được quyết định bởi yếu tố di truyền mạnh hơn
là dinh dưỡng N gược lại độ đậm nhạt của lòng đỏ là do sắc tố trong thức ăn quyết định Để thay đổi màu vỏ trứng phải thông qua việc tạo
ra các tổ hợp gen mới, còn để thay đổi màu lòng đỏ trứng chỉ cần thay đổi thành phần khN u phần ăn Xu hướng chung hiện nay là tạo ra gia cầm lai đẻ trứng có vỏ màu (nâu, hồng, nâu sẫm ) thay cho trứng vỏ trắng Ở Anh 100% gà đẻ trứng thương phN m là vỏ màu, ở Pháp 85%, Đức 80% Vỏ trứng màu thường gắn với bộ lông màu và thường di truyền liên kết với giới t ính
D
d
Trang 4- Chỉ số lòng đỏ trứng: Chỉ số lòng đỏ trứng là mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính lòng đỏ
- Chỉ số lòng trắng trứng: Chỉ số lòng trắng trứng là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và trung bình giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ của lòng trắng đặc
- Đơn vị Haugh (Chỉ số Haugh - Haugh Unit)
Chỉ số Haugh là chỉ mối quan hệ giữa khối lượng trứng với chiều cao lòng trắng đặc của trứng, do Haugh xác định và đưa ra công thức tính đầy đủ:
Phương pháp: cân khối lượng trứng, đập ra đo chiều cao lòng trắng và tra bảng cho sẵn ta có chỉ số Haugh (bảng 4.1) HU càng cao phN m chất trứng càng tốt Trứng chênh lệch 1 - 8 đơn vị Haugh thì coi như có chất lượng tương tự
Trang 5Bảng 4.1: Liên quan giữa chỉ số Haugh với chiều cao lòng trắng đặc
của trứng Khối lượng trứng (g)
9,8 7,8 6,1 4,8 3,8 3,0 2,3 1,8 1,4
10,0 7,9 6,5 5,0 4,0 3,2 2,5 2,0 1,6
10,2 8,1 6,5 5,2 4,2 3,3 2,7 2,2 1,8
10,3 8,3 6,7 5,4 4,3 3,5 2,8 2,3 1,9
Chất lượng trứng của một số dòng gà công nghiệp nuôi ở Việt
N am những năm qua thể hiện trên bảng 4.2 Kết quả cho thấy gà công nghiệp nuôi trong điều kiện nóng, N m nhưng chất lượng trứng đạt tương đương so với nguyên gốc (nuôi ở Cu Ba)
Bảng 4.2: Chất lượng trứng của một số giống gà nuôi công nghiệ p ở Việt am
XR: Gà lai F1 hướng trứng giữa Leghorn dòng X và Rhode R
XY: Gà lai F1 hướng trứng giữa Leghorn dòng X và Rhode Y
BVX: Gà Leghorn dòng X
BVY: Gà Leghorn dòng Y
Trang 64.1.4 Thành phần cấu tạo trứng gia cầm
Trứng gia cầm là tế bào sinh dục phức tạp được biệt hoá rất cao, gồm các phần (tính từ trong ra):lòng đỏ, lòng trắng, màng dưới vỏ, vỏ cứng và có một lớp nhầy (màng mỡ) bao bọc, phủ ngoài vỏ trứng khi được đẻ ra Mỗi phần của chúng đều có chức năng riêng biệt Tỉ lệ tương đối (%) và tuyệt đối (g) giữa các thành phần tuỳ thuộc vào loại gia cầm, mùa vụ, tuổi sinh sản Lòng đỏ chiếm 32-35%, lòng trắng 54-58%, vỏ cứng 11-14% so với khối lượng trứng Sự sai khác phụ thuộc
vào loài gia cầm, tuổi đẻ, mùa vụ, chất lượng thức ăn, v.v
Bảng 4.3 Tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng
trứng (g)
Lòng trắng (%)
Lòng đỏ (%)
Vỏ cứng (%)
31,9 35,4 35,1
12,3 12,0 12,4
Tỉ lệ thành phần cấu tạo trứng thay đổi tuỳ thuộc giống, tuổi, chế
độ dinh dưỡng
Bảng 4.4: Tỉ lệ các thành phần cấu tạo của trứng gà, ngan
(theo Bạch Thị Thanh Dân, N guyễn Quý Khiêm - 2002)
- 0,01mm Màng nhầy có tác dụng: + Giảm ma sát khi đẻ; + Hạn chế
sự bốc hơi nước của trứng; + Hạn chế sự xâm nhập của vi khuNn từ bên ngoài vào bên trong trứng Thời gian bảo quản trứng càng lâu độ bóng và tác dụng của màng mỡ càng giảm đi
Trang 7- Vỏ cứng (vỏ đá vôi): Trong tử cung của gia cầm có tuyến vôi tiết
ra một lớp dịch nhờn và trắng, dịch này tạo ra từ cacbonatcanxi và các
bó protein Chất này nhanh chóng cứng lại tạo thành lớp vỏ bao quanh trứng Vỏ cứng được tạo thành bởi 93,5% muối canxi (cacbonat canxi); 4,09% protein; 0,14% chất béo; 1,2% nước; 0,5% o xit magiê; 0,25% photpho; 12% dioxit silic; 0,03% natri; 0,08% kali và các chất sắt, nhôm Chức năng của nó là bảo vệ các thành phần bên trong của trứng, đồng thời là nguồn cung cấp canxi, phốt pho cho phôi để tạo xương Thời gian tạo vỏ là một quá trình kéo dài từ 9 - 12 giờ Để hình thành xương phôi nhận 75% canxi từ vỏ, còn lại 25% lấy từ lòng trắng Trên bề mặt của vỏ có các lỗ khí có kích thước rất nhỏ Có khoảng 7000 - 7600 lỗ kh í trên bề mặt vỏ cứng) Đường kính lỗ khí, theo Jehn là 4-42µ; trung bình: 18-24µ
Độ dày vỏ cứng của từng loại gia cầm không giống nhau Vỏ trứng
gà có độ dày từ 0,2 - 0,4mm Trứng có vỏ dày chịu lực cao hơn trứng
Trang 84.1.4.2 Lòng trắng trứng
Bao bọc bên ngoài lòng đỏ, lòng trắng gồm nhiều lớp có độ quánh khác nhau Lớp ngoài cùng loãng, đến lớp giữa đặc và trong cùng là một lớp loãng, lớp thứ 4 gọi là lớp lòng trắng đặc bên trong Tỉ lệ các lớp lòng trắng như sau:
+ Lòng trắng loãng phía ngoài 23,2%
Thành phần hoá học của lòng trắng chủ yếu là albimin hoà tan trong nước và trong muối trung tính Lòng trắng chứa 85-89% là nước, protein 11-12%, lipit 0,03-0,08%, đường 0,9-1,2%, khoáng 0,6-0,8%, còn lại các chất dinh dưỡng như vitamin B2, đường cung cấp năng lượng cho nhu cầu phát triển của phôi N ếu B2 bị thiếu, phôi thai
sẽ bị chết vào tuần thứ hai của giai đoạn ấp Khi đun nóng lòng trắng đóng vón lại Lipit trong lòng trắng trứng rất ít Trong thành phần còn
có mucin, mucoprotein thuộc vào nhóm glucoprotein có độ quánh cao Lòng trắng chức năng có tạo môi trường hoạt động của các enzyme, trong lòng trắng còn có chứa ion sắt
Chức năng của lòng trắng là cung cấp năng lượng, cung cấp nước, khoáng cho phát triển phôi
4.1.4.3 Lòng đỏ trứng
Lòng đỏ là một loại tế bào trứng đặc biệt có cấu tạo không đồng nhất mà bao gồm nhiều vòng đồng tâm đậm nhạt khác nhau Lòng đỏ được bao bọc bằng màng lòng đỏ, mỏng có tính đàn hồi cao nhờ đó
mà lòng đỏ không lẫn vào lòng trắng mà luôn giữ được hình tròn Trứng để lâu tính đàn hồi mất dần, lúc đó màng bị rách và lòng đỏ, lòng trắng tan dần vào nhau Trên bề mặt lòng đỏ là đĩa phôi Lòng đỏ
Trang 9là phần giàu chất dinh dưỡng nhất Thành phần hóa học của lòng đỏ: protein 16-17%, đường 0,8-1,1%, lipit 33- 36%, khoáng 1,1-1,8%, nước 43-50% và các vitamin
Trong các loại protein thì photphoprotein chiếm nhiều nhất Các axít béo gồm Palmitic, Stearic, Oleic và các axit béo chưa no khác Các photphotit của Lơxetin và Cafalin Trong lòng đỏ chứa sắc tố Lutein được cấu tạo từ sắc tố thực vật Xantophin, Zeacxactin do gia cầm ăn vào từ thức ăn xanh, cà rốt
Khoáng gồm K, N a, Mg, Ca, Sunfat, Photphat, Clorit, các vitamin nhưng thiếu vitamin C (bảng 4.9)
Bảng 4.6: Thành phần hoá học của trứng gia cầm (%)
12,77 11,1 11,5
0,25 0,03 0,03
0,7 1,07 0,97
0,67 0,5 0,8
16,06 16,8 17,4
31,7 36,2 32,9
0,29 0,29 0,20
1,02 1,20 1,20
Bảng 4.8: Thành phần hoá học chung của trứng gà, ngan
(theo Bạch Thị Thanh Dân, N guyễn Quý Khiêm - 2002)
Trang 10Hình 4.1: Cấu tạo trứng gia cầm
1 Màng ngoài vỏ 6 Lòng trắng đặc lớp ngoài 12 Màng lòng đỏ
2 Vỏ cứng 7 Lòng trắng loãng lớp ngoài 13 Lớp sáng lòng đỏ
5 Màng lòng trắng 10 Lòng trắng loãng lớp trong 16 Đĩa phôi
4.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng
4.1.5.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng
Vào đầu thế kỷ XX người ta đã nghiên cứu cơ sở di truyền của sức
đẻ trứng nhưng số gen ảnh hưởng đến tính trạng này đến nay chưa xác
Trang 11định được Thí nghiệm đầu tiên nâng cao sức đẻ trứng vào đầu thế kỷ
XX là của Gouell (Mỹ): 9 năm liền chọn lọc gà mái đẻ trứng tốt nhất của giống gà Plymouth vằn nhưng các thí nghiệm của ông không có kết quả Peeler tiến hành các thí nghiệm và suy ra giả thiết sức đẻ trứng do hai cặp gen qui định (1 trong autoxom và 1 liên kết với giới tính) Theo Gudeil và Makmallen thì có 2 cặp gen trong autoxom quy định sức đẻ trứng Hess chỉ ra sức đẻ trứng cao cả năm là do nhiều gen trội còn sức đẻ trứng cao về mùa hè là do 1 gen lặn Theo Punmett (1930): Sức đẻ trứng cao do gen L2 liên kết giới tính
Bằng những thí nghiệm lai, người ta đưa ra những yếu tố liên kết với giới tính là yếu tố lông ánh bạc (S) và yếu tố lông vằn (B) Ở gà có
2 yếu tố (S) và (B) thì sức đẻ trứng cao hơn các alen tương ứng: s; l Theo Gudeil và Scheinberg, thí nghiệm trên giống gà Rốt đỏ (Red Rhode Island) đưa ra 5 yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng, nhưng trật tự về mức độ ảnh hưởng có thể thay đổi, đó là:
Tuổi gà mái khi đẻ quả trứng đầu tiên hoặc tuổi thành thục sinh dục: Cường độ đẻ trứng (chu kỳ đẻ);
Mức độ biểu hiện của bản năng ấp trứng (tính ấp bóng)
Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông
Thời gian kéo dài của sự đẻ trứng
Hays cho rằng những yếu tố về năng suất nêu trên là ứng với các gen khác nhau
Theo Knox, Jull, Quinn: các yếu tố 1,2,5 là quan trọng và quyết định 75-79% năng suất trứng toàn năm Theo Lerner và Taylor (1943): 3 yếu tố đầu quyết định 55-91%
Hays đưa ra khoảng chênh lệch so với sức đẻ trứng cao của các yếu tố đó là: Thời gian kéo dài đẻ trứng: 55,2; Cường độ đẻ: 31,4; Bản năng ấp trứng:16,8; N ghỉ đẻ mùa đông: 24,2; Tuổi thành thục: 6,9 Lerner và Taylor (1943) xếp số 1 là thời gian kéo dài của sự đẻ trứng Albada (1955-1956): thời gian kéo dài và cường độ đẻ trứng là quan trọng, ngoài ra còn có các yếu tố khác ảnh hưởng gián tiếp: + Gen thể trọng: vì gà mái nặng cân bắt đầu đẻ muộn hơn nhẹ cân;
có thể do gen qui định thời gian thành thục sinh dục chậm cũng như các gen thể trọng lớn
Trang 12+ Gà mái đẻ trứng to thì số lượng trứng thường ít hơn đẻ trứng nhỏ + Phụ thuộc và khả năng thành thục sinh dục của gia cầm mái
1) Tuổi của gà mái khi đẻ quả trứng đầu tiên
+ Tuổi thành thục về tính (tuổi đẻ quả trứng đầu tiên) là thời gian tính từ khi nở ra đến khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên Trong đàn hoặc nhóm gia cầm thì tuổi thành thục được tính từ khi nở ra đến khi sức đẻ trứng đạt 50% trong đàn Thời gian thành thục về tính dài hay ngắn ảnh hưởng đến sản lượng trứng cả năm Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Tuổi thành thục (ngày) Sản lượng trứng (quả/mái)
nở ảnh hưởng đến tuổi thành thục, thường gà nở mùa đông - xuân thành thục sớm hơn là hè-thu Do gà lớn lên trong điều kiện có thời gian chiếu sáng dài Ví dụ thí nghiệm của Thomson ấp trứng gà Leghorn suốt 1 năm cách nhau 14 ngày xác định gà con nở từ tháng
11 đến tháng 1 năm sau đẻ lúc 170 ngày tuổi; gà con nở từ tháng 4 đến tháng 6 năm sau đẻ 210 ngày tuổi
Tuổi của gà mái khi đẻ trứng đầu tiên là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục Tuổi gà đẻ trứng đầu tiên sớm nhưng phải có thể trọng tốt để không đẻ ra trứng có trọng lượng nhỏ
Theo nghiên cứu của Harel và Lamourex (1947) cũng như Lerner
và Cruden (1951) không có sự di truyền liên kết với giới tính về tính trạng thành thục sinh dục
Onishin (1954) cho rằng tính trạng này là tác động tổng hợp của các gen liên kết giới tính với ưu thế lai, trong đó gen liên kết giới tính kém quan trọng hơn
Trang 13Hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ trứng đầu đã được công bố trên bảng 4.10
Bảng 4.10: Hệ số di truyền về tuổi đẻ trứng đầu tiên ở gà
ổn định và không ổn định Gia cầm đẻ trứng có chu kỳ dài, đều và ổn định cho sản lượng trứng cao và ngược lại
Ví dụ: XX-XX-XX chu kỳ đều, hai;
XX-XXX-XX—X -XXX-X chu kỳ không đều
Gà có chu kỳ từ 3 trở lên và ổn định là gà đẻ tốt
Hays và Scheinberg tính bằng cách lấy số trứng đẻ ra trong 60 ngày đầu sau khi đẻ quả trứng đầu tiên hoặc thời gian từ khi đẻ quả trứng đầu đến 1/III Waren và Skott xác định sự phụ thuộc giữa thời
Trang 14gian kéo dài của chu kỳ với độ dài ngày chiếu sáng Hays chứng minh rằng về mùa thu và mùa đông khoảng cách giữa các lần nghỉ đẻ tăng lên dần làm giảm chu kỳ đẻ Sau đó khối lượng trứng giảm và đến tháng 4 thì chu kỳ đẻ là dài nhất Byerly và Munro cho rằng chu kỳ đẻ
có thể kéo dài bằng cách kéo dài ngày chiếu sáng cho đến 14 giờ Hays và Scheinberg khẳng định gà mái giống tốt phải đẻ mỗi chu kỳ ít nhất 3 quả
Hệ số di truyền về cường độ đẻ trứng (theo Lerner, Taylor) ở gà Leghorn: r = +0.22
3) Thời gian kéo dài đẻ trứng
Thời gian kéo dài đẻ trứng là thời gian từ khi gà bắt đầu đẻ cho đến khi nghỉ đẻ thay lông Thời gian này càng dài thì sản lượng trứng càng cao Jull cho rằng năng suất trứng trong cả năm, sự thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng và thời gian kéo dài của sự đẻ trứng được qui định bởi cùng những gen như nhau
4) Thời gian ngừng đẻ (nghỉ đẻ mùa đông)
Thay lông ở gà 1 năm 1 lần, bắt đầu tháng 10-11, kéo dài 2-3 tuần
là gà đẻ tốt Bắt đầu sớm tháng 7-8 kéo dài 2-3 tháng là gà đẻ kém Sau một thời gian đẻ trứng gia cầm thường ngừng đẻ, gọi là tính nghỉ
đẻ mùa đông khi thời tiết bất lợi, độ dài ngày chiếu sáng ngắn Hiện tượng ngừng đẻ trứng thường gặp nhiều ở gà; có thể kéo dài thời gian ngừng đẻ trong năm đầu đẻ trứng từ vài ngày đến vài tuần và thậm chí 1-2 tháng; thường ở các tháng mùa đông có điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi gia cầm ngừng đẻ nhiều hơn Hays xác định thời gian nghỉ đẻ mùa đông ở gà Rhode là 4 ngày Lerner, Taylor xác định thời gian nghỉ đẻ mùa đông ở gà Rhode là 7 ngày Các nghiên cứu đã xác định hệ số di truyền của tính trạng này là không đáng kể: ở gà Leghorn 10% (Lerner), gà Rhode 6% (Hays)
Sự thay lông và nghỉ đẻ mùa đông Sau 1 thời gian đẻ trứng gia cầm sẽ thay lông và đồng thời với sự thay đổi này là sự nghỉ đẻ
N guyên nhân là do điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi và sự giảm sút về thể chất sau 1 thời gian dài đẻ trứng Hiện tượng nghỉ đẻ có thể kéo dài một vài tuần đến 1-2 tháng Đã qui định gia cầm nào nghỉ đẻ 7
Trang 15ngày liên tục vào mùa đông là gia cầm có tính nghỉ đẻ mùa đông
N ghỉ đẻ càng dài sản lượng trứng càng thấp
5) Bản năng ấp trứng (tính ấp bóng)
Ấp trứng là đặc tính sinh vật của gia cầm để duy trì nòi giống Thời gian ấp bóng dài hay ngắn ảnh hưởng đến sản lượng trứng Hiện nay qua con đường chọn giống đã loại trừ và hạn chế tính ấp bóng của gà Vịt, gà cao sản không còn bản năng ấp bóng Ảnh hưởng đến tính ấp bóng gồm giống, loài, hướng sản xuất, tuổi, mùa vụ N guyên nhân của sự ấp bóng được xác định là có sự tham gia điều tiết của hormon prolactin Hàm lượng prolactin cao trong máu ở
gà có tính ấp bóng cao
Bản năng ấp trứng có sự khác nhau lớn ở các dòng và các giống gà (Lerner, Cruden) Tập tính của gà khi ấp, thời gian kéo dài và tần số khi ấp rất khác nhau, làm phức tạp cho việc chọn giống theo hướng loại bỏ bản năng ấp trứng Bản năng ấp có biểu hiện ở năm 1,2,3
N ăm đầu biểu hiện 1-13 lần, các năm sau còn nhiều hơn
Bản năng ấp trứng càng mạnh thì sản lượng trứng càng thấp (bảng 4.11)
Bảng 4.11: Sản lượng trứng giữa gà mái ấp và không ấp (quả/mái)
Jull (Leghorn trắng) Hay s (Rhode) Lanson (Rhode)
Có nhiều yếu tố chi phối có ảnh hưởng lên bản năng ấp trứng nhưng số lượng chưa xác định và tính chất của các yếu tố này chưa
rõ Pennett và Bailey cũng như Grudeit cho rằng có sự tham gia của một số gen trong autoxan Theo Grueit đó là những gen bổ trợ Robest và Card khi cho lai trống Leghorn trắng với mái Cornish đen thì thấy: 88% có ấp ở gà con của trống Cornic, 37% có ấp ở gà con của trống Leghorn
Trang 16Bản năng ấp trứng có sự liên quan của các gen liên kết giới t ính Waren (1942), Karifman (1948), Meuller (1952) thu được kết quả tương tự N ên ta kết luận được bản năng ấp trứng ngoài một gen trong autoxom còn có (ít nhất 1 gen) gen liên kết giới tính Theo Sacki (1957) lai gà N hật N agôi (có ấp) với Leghorn trắng (không ấp) thì đúng là có sự liên kết giới t ính
Bằng con đường chọn lọc chặt chẽ làm giảm khả năng ấp trứng Crudeit trong 5 năm chon lọc trong đàn gà Rhode Island đã giảm được
từ 91% xuống 19%; giảm số lần ấp từ 5,4 lần xuống 1,9 lần Hays, Scheinberg giảm tỷ lệ ấp trứng trong đàn xuống còn 2,2% Mc Cartney (1956) cho là kết quả đạt được bằng chọn lọc cá thể
Hệ số di truyền về năng suất trứng trong năm đẻ đầu đã được nhiều tác giả công bố (bảng 4.12) Số liệu này sai khác không nhiều so với hệ số di truyền tuổi đẻ trứng đầu tiên (bảng 4.10)
Bảng 4.12: Hệ số di truyền về năng suất trứng trong năm đẻ đầu ở gà
Theo Comstock, Bostian, Dearstyne (1947) 16-47
Hệ số di truyền sức đẻ trứng ở các mốc thời gian khác nhau cũng khác nhau (sức đẻ trứng các tháng khác nhau, sức đẻ trứng trong mùa
Trang 17đông, sức đẻ trứng trong cả năm) Lerner, Taylor (1948) nghiên cứu ở
gà Leghorn toàn năm: 33% Morris (1956) trên Leghorn 1 phần năm hoặc cả năm: 33% Hogsett và N ordskog (1956) giai đoạn đẻ mùa đông: 30% Ảnh hưởng rõ rệt của thời gian ấp lên HSDT sức đẻ trứng mùa đông đã được xác định bởi Hogsett và N ordskog (1956) là 10%; Abplanalp (1956-1957) là 23-31%
Jerome, Henderson, King (1956) thấy sự tăng dần của HSDT sức
đẻ trứng trong tháng đầu, tháng đầu-tháng thứ 2, tháng đầu-T2-T3, tháng đầu- T2-T3-T4 Vì giữa năng suất trong thời gian (trước 1/I) và năng suất chung cả năm đầu đẻ trứng có mối tương quan di truyền cao Do đó mà ngày nay chọn gà theo năng suất cao của các tháng đẻ đầu tiên để làm giống Điều đó cho phép sử dụng ngay những gà mái
đẻ còn non để làm giống, nhờ vậy sẽ rút ngắn được khoảng cách giữa các thế hệ trong quá trình chọn giống
+ Thời gian sử dụng gia cầm đẻ trứng thích hợp
Dựa vào sự biến động của sản lượng trứng để quyết định thời gian sử dụng gia cầm đẻ t rứng thích hợp Lấy sản lượng trứng năm đầu là 100%, sản lượng trứng biến động qua các năm đẻ ở gia cầm (bảng 4.13)
Bảng 4.13: Sản lượng trứng qua các năm đẻ (%)
Gà thương phN m thường loại thải sau một năm đẻ trứng, gà giống
sử dụng không quá 2 năm; Vịt, Gà tây: 3 năm; N gỗng: 4 năm
+ Giữa sản lượng trứng và khối lượng trứng có mối tương quan nghịch, vì vậy cần phối hợp tốt trong chọn lọc, lai tạo giữa hai tính trạng này N ghiên cứu trên gà lai CZ 80 và các dòng bố mẹ của nó (N guyễn Đức Hưng, 1989), cho thấy hệ số tương quan giữa sản lượng trứng với khối lượng trứng lúc 52 tuần tuổi R = - 0,07 đến - 0,34; giữa
Trang 18khối lượng gà với khối lượng trứng có tương quan dương (+) ở các mức độ khác nhau phụ thuộc vào tuổi gà
Khối lượng (KL) gà KL trứng lúc 32 tuần đẻ KL trứng lúc 52 tuần đẻ
4.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt ở gia cầm
Sức sản xuất thịt ở gia cầm được đánh giá bằng các chỉ tiêu:
- Khối lượng cơ thể (khối lượng sống);
- Khối lượng khi g iết thịt (khối lượng giết thịt);
- Tốc độ sinh trưởng; Tốc độ mọc lông;
- Thời gian nuôi để đạt khối lượng tiêu chuNn;
- Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg tăng trọng;
- Chất lượng thịt khi mổ giết: phần thịt ăn được, năng suất thịt, phần bỏ đi Thành phần và hàm lượng các axít amin trong thịt
Trang 19Trong sản xuất thịt gia cầm theo phương pháp công nghiệp người
ta đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho từng loại gia cầm, từng giống, dòng riêng biệt và trong những điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cụ thể Ví
dụ gà thịt broiler, thời gian nuôi 56 ngày; khối lượng giết thịt 2,8kg; chi phí thức ăn /1kg thịt dưới 2,2kg; giảm lượng mỡ tích luỹ trong bụng và mỡ dưới da
2,6-Hình 4.2: Phương pháp xác định chiều dài lườn (dài xương lưỡi hái)
Chiều dài xương lườn (xương lưỡi hái), cơ lườn và độ lớn góc ngực là những chỉ tiêu được quan tâm trong chăn nuôi gia cầm hướng thịt Phương pháp xác định thông qua chiều đo dài xương lưỡi hái (bằng thước kẹp) hoặc đo góc ngực (Hình 4.2)
Gia cầm giết mổ, phân loại thành các loại thịt thuận tiên cho người tiêu dùng Có thể là thịt đông lạnh nguyên con hoặc thịt được pha lọc thành thịt đùi, thịt lườn, cổ cánh, dạ dày, tim, gan và được bao gói riêng biệt (Hình 4.3)
Trang 20Hìmh 4.3: Thịt gà đã pha lọc
Ở Việt N am, gà chuyên dụng thịt Plymouth rock nhập từ Cuba dòng TD3, TD8, TD9 và gà Hybro dòng V1, V2, V3, nuôi công nghiệp đạt các chỉ tiêu kỹ thuật như bảng 4.14 và bảng 4.15
Bảng 4.14: Khối lượng gà (g/con) lúc 56 ngày tuổi giống Plymouth rock
(trung bình qua 10 đời)
Bảng 4.15: Khối lượng gà (g/con) lúc 42 ngày tuổi giống Hybro (HV85)
Trang 214.2.2 Tốc độ sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng ở gia cầm có ý nghĩa quyết định đến sức sản xuất thịt Tốc độ sinh trưởng được đánh giá thông qua độ sinh trưởng tuyệt đối, độ sinh trưởng tương đối hoặc số lần tăng lên về thể trọng trong khoảng thời gian nhất định (bảng 4.16 và 4.17)
Bảng 4.16: Độ sinh trưởng tương đối của gia cầm(%)
Bảng 4.17: Khối lượng tăng so với 1 ngày tuổi ở gia cầm
Thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao hơn thịt các gia súc khác
Ví dụ: protein trong thịt gia cầm chiếm 21%, trong khi ở thịt bò 16%, thịt lợn 11% Protein trong thịt gia cầm có giá trị sinh vật học cao do
có đầy đủ các axit amin thiết yếu và cân đối với các thành phần dinh dưỡng khác Khả năng đồng hoá hấp thu của cơ thể khi sử dụng thịt gia cầm cao hơn hẳn thịt các loại gia súc khác Khả năng đồng hoá protein ở thịt gà 19%, thịt lợn 10%; mỡ thịt gà 4,8%, mỡ bò 1,1% Giá trị dinh dưỡng của thịt được đánh giá trước hết là tỉ lệ của các chất có trong tổ chức của nó Tỉ lệ này ở các loại gia cầm khác nhau thì khác nhau Qua bảng ta thấy rằng thịt gà và gà tây có hàm lượng protein cao hơn; còn ở vịt, ngỗng thì hàm lượng mỡ nhiều hơn nên năng lượng trong 100g thịt cao hơn (bảng 4.18)
Trang 22Trong protein thịt gia cầm chứa nhiều axit amin không thay thế với hàm lượng cân đối và cao hơn trong thịt các loài gia súc khác Vì vậy thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao hơn Trong thịt gia cầm còn chứa một hàm lượng khoáng, vitamin đáng kể Đặc biệt là canxi, photpho, sắt, vitamin A, nhóm B
Bảng 4.18: Thành phần hoá học và trị số Calo của thịt gia cầm
Loài gia cầm Phần thịt ăn được (%)
Sự khác nhau này thấy ở ngay cả các loại gia cầm khác nhau, hướng sản xuất khác nhau, giới tính khác nhau, lứa tuổi khác nhau N hững sợi cơ ở vịt, ngỗng dày và to hơn ở gà và gà tây (bảng 4.19)
Bảng 4.19: Hàm lượng chất khoáng và vitamin trong thịt gia cầm (mg%)
Trang 23Bảng 4.20: Sự thay đổi của đường kính sợi cơ ở gà
4.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt
+ Loài, giống, cá thể: N gỗng, gà tây khả năng cho thịt cao hơn vịt,
gà Trong một loài các giống khác nhau khả năng cho thịt khác nhau Hướng sản xuất của gia cầm liên quan chặt chẽ với ngoại hình thể chất của nó Gia cầm hướng thịt khả năng cho thịt cao hơn gia cầm hướng kiêm dụng Gia cầm hướng trứng chuyên dụng khả năng cho thịt thấp Gia cầm hướng thịt thường có ngoại hình: đầu to, cổ ngắn, thân dài rộng, ngực sâu, lườn dài, đùi dài, khả năng đẻ trứng kém, kém linh hoạt, phản ứng chậm với các yếu tố của stress Thể trọng lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh cho năng suất và phN m chất thịt cao
Các giống gà chuyên dụng nổi tiếng hiện nay là Cornish, Plymouth rock và các con lai của nó có ưu thế lai cao về khả năng cho thịt
Thể trọng là tính trạng số lượng được qui định bởi các yếu tố di truyền Số lượng các yếu tố này đến nay vẫn chưa rõ HSDT khối lượng cơ thể là cao: 0,3-0,64
Trong sự di truyền khối lượng cơ thể phải có sự tham gia của ít nhất là một gen liên kết giới tính Vì vậy trong cùng điều kiện gia cầm trống có khối lượng cao hơn gia cầm mái từ 24-32%
Khối lượng gà khi nở phụ thuộc khối lượng trứng đem ấp: 64-68%
Sự mọc lông (tốc độ mọc lông): những gà lớn nhanh thì cũng mọc lông đều và nhanh hơn những gà lớn chậm
Trang 24Theo Warren gà con mới nở 1 ngày tuổi đã mọc rất nhanh các lông cánh chính là một tiêu chuN n về mọc lông nhanh và do đó cũng sinh trưởng nhanh
Sự phát triển của xương liên quan đến sự sinh trưởng và khối lượng Mức độ biến dị di truyền của xương tương đối ít hơn là khối lượng cơ thể Ví dụ: hệ số biến dị khối lượng cơ thể 12-18%, còn của khối lượng xương 3-4,5%
Trong sự phát triển xương ta thấy chiều dài xương bàn chân và khối lượng cơ thể có tương quan dương chặt chẽ r = 0,659, do đó trong công tác giống chiều dài xương bàn chân được sử dụng rộng rãi như chỉ tiêu về khối lượng cơ thể để chọn, tạo giống sinh trưởng nhanh (gia cầm có xương bàn chân dài thường có khối lượng và tốc
độ sinh trưởng nhanh hơn xương ngắn)
4.3 Sức sinh sản
Do đặc điểm của gia cầm là đẻ trứng, ấp trứng, nuôi con và gia cầm con có khả năng tự dưỡng nên sức sinh sản được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
4.3.1 Tỉ lệ thụ tinh
Tỉ lệ thụ tinh (TLTT) là chỉ tiêu quan t rọng để đánh giá sức sinh sản của bố mẹ Tỉ lệ thụ t inh được xác đ ịnh theo công thức (1) hoặc (2):
TLTT (%) = Số trứng có phôi × 100 (1)
Số trứng đẻ ra
TLTT (%) = Số trứng có phôi × 100 (2)
Số trứng đem ấp Mỗi cách tính có ý nghĩa riêng của nó
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh
- Giống, dòng: hướng trứng có TLTT cao hơn hướng kiêm trứng
và TLTT thấp nhất là hướng thịt
- Tuổi: tỉ lệ thụ tinh cao ở những năm đầu
Trang 25- Thức ăn: Protit và vitamin ảnh hưởng đến TLTT lớn hơn cả
- N goại cảnh, mùa vụ: mùa xuân, mùa thu cho TLTT cao, mùa hè, đông TLTT thấp
- Tỉ lệ trống/mái thích hợp khi ghép đôi giao phối: Gà hướng trứng 1/10-12, gà kiêm dụng 1/7-8, gà hướng thịt 1/4-5; vịt cỏ 1/7-10, vịt bầu 1/4-5 Tuổi gia cầm trống có ảnh hưởng đến TLTT
N hững nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ ấp nở:
- Giống, dòng gia cầm, chế độ nuôi dòng đàn bố mẹ, thời gian bảo quản và điều kiện bảo quản trứng giống trước khi ấp, chế độ ấp trứng
- Chất lượng trứng ấp: trứng có khối lượng trung bình của giống
có tỉ lệ ấp nở cao hơn trứng lớn hoặc nhỏ trong cùng giống Trứng có chỉ số hình dạng 74-76 (d/D) nở tốt
Đã xác định 21 gen gây chết ở gia cầm thì 16 gen tác động đến khả năng ấp nở HSDT về tỉ lệ ấp nở là 13-16%; có sự biến động lớn qua các năm Phần lớn các gen gây chết đều có kiểu di truyền lặn và chỉ biểu hiện khi có giao phối cận huyết qua tỉ lệ nở giảm Trứng quả
to hoặc quá nhỏ đều có tỉ lệ nở thấp Kết quả cho thấy gà Leghorn có khối lượng trứng 45-64g có TLAN 87%, dưới 45g TLAN 80%, lớn hơn 64g có TLAN 71%
Trang 26Tỉ lệ nở liên quan đến thời gian của chu kỳ đẻ, trứng đẻ giữa chu
kỳ có tỉ lệ nở cao hơn đầu và cuối chu kỳ Thời gian và điều kiện bảo quản trứng giống, chế độ dinh dưỡng gia cầm bố mẹ đều ảnh hưởng đến TLAN (xem ở chương Ấp trứng gia cầm)
4.3.3 Tỉ lệ nuôi sống
Tỉ lệ nuôi sống (TLN S) (%) là chỉ tiêu sản xuất quan trọng, quyết định hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm, được tính theo công thức (1) hoặc (2)
Tỉ lệ nuôi sống (%) = Số gia cầm còn sống cuối kỳ × 100 (1)
Số gia cầm con ở ra
Số gia cầm được chọn vào nuôi đầu kỳ
TLN S chịu ảnh hưởng của g iống, dòng gia cầm, kỹ thuật nuôi, phương thức nhân giống HSDT khả năng sống 13-16% và thấp hơn nữa, vì vậy tính trạng này chịu sự chi phối nhiều của điều kiện ngoại cảnh
Trang 27Chương 5
ẤP TRỨNG GIA CẦM
Gia cầm là đối tượng nuôi có đặc điểm đẻ trứng, ấp trứng, nuôi con, gia cầm con có khả năng sống bằng nguồn dinh dưỡng từ noãn hoàng trong tuần đầu, vì vậy có thể nuôi tách mẹ ngay từ 1 ngày tuổi Khác với gia súc, phôi gia cầm phát triển ngoài cơ thể mẹ nên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố di truyền cũng như ngoại cảnh N ắm vững các đặc điểm về sự phát triển và những yêu cầu cần thiết cho sự phát triển của phôi gia cầm cho phép nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
6.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm
6.1.1 Chức năng sinh lý của cơ quan sinh dục gà mái
6.1.1.1 Buồng trứng
Buồng trứng nằm bên trái xoang bụng, được giữ bằng màng bụng Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm Ở gà một ngày tuổi có kích thước 1 - 2mm, khối lượng 0,03g Gà
ở thời kỳ đẻ, buồng trứng hình chùm nho, chứa nhiều tế bào trứng có khối lượng 45 - 55g Sự hình thành buồng trứng kể cả các tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi (phôi gà vào ngày thứ 3) Trong buồng trứng có chất vỏ và chất tuỷ Bề mặt vỏ được phủ bằng lớp biểu mô có lớp tế bào hình trụ Dưới chúng có màng cứng liên kết mỏng, sau nó có hai lớp nang với các tế bào trứng Chất tuỷ nằm ở buồng trứng và được cấu tạo từ mô liên kết với một lượng mạch máu và dây thần kinh lớn Trong chất tuỷ có những chất được phủ bằng lớp biểu mô dẹt và tế bào kẽ Mỗi lứa tuổi xảy ra những thay đổi về cấu trúc và chức năng
* Chức năng sinh lý của buồng trứng gia cầm mái
Chức năng của buồng trứng là tạo trứng Trong quá trình phát triển của tế bào trứng có 3 thời kỳ: Tăng sinh, sinh trưởng và chín
Trang 28- Thời kỳ tăng sinh: Trước khi bắt đầu đẻ trứng trong buồng trứng
ở gà mái có khoảng 3500 - 4000 tế bào trứng, mỗi tế bào trứng có một noãn hoàng và nhìn thấy được qua soi kính lúp Trên gà Leghorn:
3800, gà Rhode: 3200 (Theo nghiên cứu của Trung tâm Qghiên cứu gia cầm Vạn Phúc - 1986) Trong tế bào trứng (phần noãn hoàng) có
nhân to với những hạt nhỏ và thể nhiễm sắc Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào
- Thời kỳ sinh trưởng: Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc trưng
bằng tăng nhanh lòng đỏ trong nó Trong khoảng thời gian 3-14 ngày, lòng đỏ chiếm 90 - 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần gồm protit, photpholipit, mỡ, các chất khoáng và vitamin Đặc biệt lòng đỏ được tích luỹ mạnh vào ngày thứ 9 và 4 ngày trước khi rụng trứng Lòng đỏ được bao bởi lớp màng lòng đỏ có tính đàn hồi Lòng đỏ sẫm (đậm) được tích luỹ ban ngày đến nửa đêm, còn lòng đỏ sáng (nhạt) hình thành ở phần còn lại của ban đêm Việc tăng quá trình sinh trưởng của tế bào là do ảnh hưởng của foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi thành thục sinh dục Vào cuối thời kỳ phát triển của tế bào trứng giữa vỏ lòng đỏ của nó và thành nang xuất hiện khoang gần lòng
đỏ chứa đầy limpho
Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố trong máu, từ thức ăn mang lại Khi gà ăn nhiều, thức ăn chứa carotenoit thì lòng đỏ màu đậm
N hư vậy, tuỳ theo màu của lòng đỏ có thể xác định hàm lượng vitamin của trứng
- Thời kỳ chín của noãn hoàng (thời kỳ cuối hình thành trứng):
Thời kỳ này có sự phân bào giảm nhiễm, số nhiễm sắc thể của trứng
từ 2n giảm còn n Trong quá trình phân chia giảm nhiễm xảy ra sự trao đổi các thành phần di truyền giữa các dị nhiễm sắc thể N h iễm sắc thể xích lại gần nhau và tạo thành đôi Vào thời kỳ kết hợp nhiễm sắc thể trao đổi thành phần của mình Quá trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc di truyền các tính trạng di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
* Sự rụng trứng, cơ chế điều hoà quá trình phát triển và rụng trứng
Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng gọi là rụng trứng, nang trứng chín do áp suất nang trứng tăng lên dẫn tới phá vỡ vách nang tại vùng
Trang 29lỗ hở Tế bào trứng cùng lúc đó tách khỏi buồng trứng và ngay lập tức được loa kèn của ống dẫn trứng hứng lấy và hút vào lòng loa kèn Tinh trùng gặp tế bào trứng và thụ tinh tại phần loa kèn này
Sự rụng trứng của gà xảy ra một lần trong ngày, nếu trứng đẻ vào cuối buổi chiều thì sự rụng trứng thực hiện vào sáng hôm sau Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo
Sự rụng trứng gà thường xảy ra từ 2 - 14 giờ
Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc nhiều yếu tố: Điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm
Các hormon hướng sinh dục của tuyến yên: FSH (Fuliculo Stimulin Hoocmone) và LH (Luteino stimulin Hoocmone) kích thích
sự sinh trưởng và chín của trứng Còn nang trứng tiết ra oestrogen trước khi rụng, kích thích hoạt động của ống dẫn trứng Oestrogen ảnh hưởng lên tuyến yên ức chế FSH và LH N hư vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngừng rụng trứng khi trứng còn nằm trong ống dẫn trứng hoặc tử cung
Gà mái vào 2 tuần đầu của giai đoạn đẻ trứng thứ nhất (5-45 tuần tuổi) thường mỗi cá thể gặp 2-3 lần đẻ trứng 2 lòng đỏ Đó là do khi
gà mái bắt đầu vào đẻ nhiều tế bào trứng phát triển, chín và rụng
N goài ra LH chỉ tiết vào buổi từ lúc bắt đầu tiết đến lúc rụng trứng 6 -
8 giờ Vì vậy việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối làm chậm tiết LH dẫn đến giảm đi sự rụng trứng 3 - 4 g iờ Việc chiếu sáng bổ sung 3 - 4 giờ buổi tối thực chất để gà đẻ ổn định và tập trung vào khoảng 8-11 giờ N ếu không bảo đảm đủ thời gian chiếu sáng 15 - 18 giờ trong một ngày, không những làm gà đẻ rải rác mà con giảm năng suất trứng
N hư vậy, điều hoà sự rụng trứng là do yếu tố thần kinh thể dịch ở tuyến yên và buồng trứng phụ trách N goài ra còn có vỏ bán cầu đại não tham gia vào quá trình này
Trang 30của trứng (lòng trắng bao quanh lòng đỏ, màng dưới vỏ và vỏ cứng của trứng ) tạo nên quả trứng hoàn chỉnh và nhu động giúp trứng di chuyển từ loa kèn đến âm đạo Chức năng cụ thể của từng bộ phận như sau:
Loa kèn có nhiệm vụ hứng tế bào trứng, nhu động tạo ra lực đN y tế bào trứng xuống phần ống dẫn N iêm mạc loa kèn tiết ra chất tiết có tác dụng bảo tồn tinh trùng Tại loa kèn tinh trùng có thể sống được 30 ngày và có khả năng thụ tinh tốt nhất trong 7 ngày
Phần phân tiết lòng trắng tiết ra khoảng 50% chất lòng trắng đặc
và lòng trắng loãng Lòng trắng này bao quanh lòng đỏ Đi qua phần đầu của phần phân tiết lòng trắng, lòng đỏ quay chậm, dịch nhầy bao quanh tạo dây chằng albumin, giữ lòng đỏ ở tâm trứng Sát với lòng
đỏ có lớp lòng trắng loãng bao quanh
Phần eo của ống dẫn trứng tạo ra dung dịch muối đi vào lòng trắng Trứng nằm ở đoạn này một giờ Ở tại đây lớp lòng trắng loãng được bổ sung và tạo màng vỏ trứng
Tử cung là phần dài nhất của ống dẫn trứng Ở đây trứng được hình thành hoàn toàn Khối lượng trứng tăng gấp đôi Vỏ cứng của trứng được tạo thành bao quanh lòng trắng Vỏ cứng cấu tạo bởi các sợi colagen nhỏ đan chéo dày lên nhau, thấm các chất vô cơ (muối canxi - cacbonatcanxi chiếm 99% và canxi photphat chiếm 1%) được tổng hợp trong suốt thời gian trứng hình thành ở tử cung khoảng 18 -
20 giờ
Bên ngoài vỏ cứng phủ một lớp màng mỏng, gọi là màng mỡ tráng ngoài vỏ cứng Chất màng nhầy này tiết ra từ tế bào biểu mô âm đạo, trước khi trứng được đẻ ra
Men cacbonhydrase và photphatase kiềm tham gia vào quá trình hình thành vỏ trứng Khi gà đẻ lượng cacbonhydrase nhiều hơn hẳn so với gà không đẻ Trứng vỏ mềm hoặc trứng vỏ cứng là do chất ức chế men cacbonhydrase gây ra Đó là sunfanilamit (Bùi Đức Lũng - 2002)
Từ một tế bào trứng trên buồng trứng, sau khi rụng, rơi vào loa kèn, di chuyển qua các phần của ống dẫn trứng hình thành một quả trứng hoàn chỉnh như chúng ta thường gặp Quá trình hình thành trứng
là phức tạp và diễn ra trong thời gian dài (hơn 24 giờ)
Trang 316.1.2 Chức năng sinh lý của cơ quan sinh dục gà trống
* Cấu tạo cơ quan sinh dục gà trống
Cơ quan sinh dục của gà trống bao gồm tinh hoàn, mào tinh hoàn, ống dẫn tinh và ổ nhớp (xem thêm chương 2)
- Tinh hoàn có hình ovan hoặc hạt đậu, màu trắng nằm trong xoang bụng và trước thận Ở gà trống trưởng thành trong thời gian hoạt động sinh dục tinh hoàn dài 4,7, chiều rộng 2,7 và chiều dày 2,5cm Khối lượng 17- 19g, thời kỳ thay lông còn 3 - 5g
Tinh hoàn được bao bọc bởi một lớp màng màu trắng, mỏng
N hững ống dẫn tinh gấp khúc nối với nhau tạo thành mạng lưới dày
N hững phần riêng biệt của ống dẫn tinh hơi phình to Ở đây diễn ra
sự tạo thành tế bào sinh dục Trên bề mặt cắt ngang của ống gấp khúc ta thấy lớp ngoài cùng là mô liên kết hình sợi Bên trong có 5- 6 lớp tế bào tạo thành độ dày thành ống Giữa các lớp đó có những tế bào hình chóp Sertoly, chân tế bào này nằm ở màng đáy, còn đỉnh của chúng hướng vào ống dẫn tinh N hững tế bào này đảm nhận chức năng dinh dưỡng, giữa chúng có tế bào tinh ở các giai đoạn phát triển khác nhau Gần màng đáy ống dẫn tinh là tế bào sinh dục cấp I, trên
đó là tế bào cấp II, sau đó là đến tiền tinh trùng và tinh trùng Tinh trùng trưởng thành đi vào ống sinh tinh nhỏ từ đó vào mào tinh hoàn
và ống dẫn tinh
- Mào tinh hoàn ở gia cầm phát triển yếu, một số lượng ống dẫn tinh từ màng dưới tinh hoàn ăn sâu vào đó N hững ống nhỏ này tạo thành ống dẫn là nơi bắt đầu của ống dẫn tinh Trong mào tinh hoàn tinh trùng tiếp tục thành thục và tăng thêm khả năng hoạt động của chúng Dịch tinh trùng được hình thành ở những ống gấp khúc trong tinh hoàn N ó tạo ra môi trường cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của tế bào sinh dục đực
- Ống dẫn tinh có dạng hình ống nhỏ gấp khúc, thành ống có cấu tạo bởi lớp niêm mạc, cơ và thanh mạc Ống dẫn tinh nối với ống mào tinh và vào tận giữa của ổ nhớp Phần cuối cùng của ống dẫn tinh là chỗ phình hình bong bóng gọi là bể tinh Đây là nơi tích tụ tinh trùng Trong lỗ huyệt ống dẫn tinh được kết thúc bằng những gờ nhỏ nằm ở phía ngoài của ống dẫn niệu Ống dẫn tinh có cấu trúc thay đổi phụ
Trang 32thuộc vào trạng thái sinh lý và chức năng của bộ máy sinh dục Trong thời gian sinh dục hoạt động ống dẫn tinh to ra, thành ống dày lên, tăng số lượng gấp khúc Cơ quan giao cấu của gà trống không phát triển N ó chỉ là chỗ phình hình bong bóng của ống dẫn tinh Khi giao phối ổ nhớp của con trống áp sát vào lỗ huyệt con mái, lúc này âm đạo
mở ra Tinh trùng được phóng vào âm đạo và đi vào trong tử cung
- Giai đoạn sinh trưởng: Các tế bào cấp I, nhờ các chất dinh dưỡng của ống dẫn, tế bào tăng về kích thước Trong nhân tế bào hình thành từng đôi nhiễm sắc thể, rồi sau đó chúng xích lại gần nhau Thời điểm này chất dinh dưỡng đi vào nguyên bào giảm dần và giai đoạn sinh trưởng kết thúc
- Giai đoạn phát triển: Giai đoạn này gồm 2 lần phân chia tế bào liên tục Tinh bào cấp I phân chia thành 2 tinh bào cấp II, rồi phân chia lần thứ 2 thành 4 tinh bào - tiền tinh trùng Trong nhân tiền tinh trùng chứa 1/2 số nhiễm sắc thể (n) N hư vậy một tinh nguyên bào phân chia thành 4 tinh tử Hình dạng tinh trùng các loại gia cầm (hình 5.1)
- Giai đoạn thành thục tinh trùng: Giai đoạn này đầu tiên nhân lệch
về một phía tế bào Tương bào dãn ra Tâm tế bào vuông góc với bề mặt của nhân N hân đó được bao phủ chỉ một lớp mỏng tương bào Phần này của tế bào được tạo thành phần đầu tinh trùng Phần kéo dài của tế bào, hình thành đuôi tinh trùng, chung quanh có bào tương co bóp được
Tinh trùng thành thục, ở đầu được bọc lớp bào tương Tinh trùng được thành thục trong tế bào Sertoly trong ống sinh tinh, sau đó chúng
đi từ ống sinh tinh gấp khúc di chuyển đến mào tinh hoàn vào ống dẫn tinh Tinh trùng nằm trong ống sinh tinh của tinh hoàn không có khả năng thụ tinh và không chuyển động Tinh trùng nằm ở mào tinh hoàn
Trang 33có khả năng thụ tinh thấp hơn ở ống dẫn tinh Thời gian tinh trùng thành thục là 14 - 15 ngày
Hình 5.1: Tinh trùng của các loài gia cầm khác nhau
A Gà trống B Vịt đực C Đầu tinh trùng ngỗng đực
1 Đầu; 2 Cổ; 3 Phần liên kết; 4 Phần giữa; 5 Đuôi
6.1.3 Cấu tạo và thành phần của trứng (xem chương 2)
6.2 Sự phát dục của phôi gia cầm
6.2.1 Thời gian phát dục của phôi gia cầm
Trứng gia cầm nếu được thụ tinh (có phôi) sau khi đẻ ra phải đặt trong điều kiện nhất định, phôi mới tiếp tục phát dục, từng bước hình
Trang 34thành cơ thể gia cầm con hoàn chỉnh và mổ vỏ ra khỏi vỏ trứng Các loại gia cầm khác nhau cần thời gian phát dục của phôi (thời gian ấp trứng) khác nhau và đòi hỏi các điều kiện cũng không hoàn toàn như nhau N ghiên cứu quá trình phát dục của phôi giúp ta tạo được điều kiện ấp trứng phù hợp, nhất là trong ấp trứng nhân tạo, để có tỷ lệ ấp
nở cao và gia cầm con khoẻ mạnh Thời gian ấp trứng các loại gia cầm thể hiện trên bảng 5.1
Bảng 5.1: Thời gian ấp trứng các loại gia cầm
Thời gian ấp (ngày)
Thời gian ấp trứng nêu trên là thời gian trung bình Gia cầm có thể
nở sớm hoặc muộn hơn vài giờ, phụ thuộc vào điều kiện ấp trứng, chất lượng trứng giống, khối lượng trứng,
6.2.2 Điều kiện cần thiết cho sự phát triền của phôi gia cầm
Trứng gia cầm được thụ tinh sau khi đẻ ra được đặt trong những điều kiện thích hợp sẽ phát dục và hình thành cơ thể gia cầm con hoàn chỉnh, mổ vỏ ra khỏi vỏ trứng và tiếp tục quá trình phát triển Các điều kiện cần cho sự phát triển phôi gia cầm đó là:
- N hiệt độ N hiệt độ là điều kiện cần thiết đầu tiên và quan trọng nhất cho sự phát triển của phôi gia cầm N hiệt độ trong ấp trứng thích hợp cho sự phát triển phôi là 37,5-37,8oC Tuy vậy ở các đối tượng gia cầm khác nhau (gà, vịt, gà tây, ngan, ngỗng, chim cút, đà điểu) cần có
sự điều chỉnh tăng, giảm 1-2oC Trứng ở các giai đoạn ấp khác nhau yêu cầu nhiệt độ cũng khác nhau Thường tuần ấp đầu do phôi phát dục nhanh, nhưng còn nhỏ, khả năng điều tiết nhiệt kém vì vậy nhiệt
độ ấp phải hơi cao và ổn định (37,7-17,8oC), tuần giữa, phôi đã hình thành, trao đổi chất mạnh, tự sản sinh nhiệt vì vậy nhiệt độ ấp trứng thấp hơn chút ít so với giai đoạn đầu Giai đoạn ấp cuối, phôi vận động mạnh, điều tiết nhiệt tốt, nhiệt độ ấp trứng cần cao (37,8- 38oC)
Trang 35giúp gia cầm con dễ nở Tuỳ theo loại trứng ấp mà chế độ nhiệt được đặt trước (máy ấp điện) hoặc điều chỉnh trong quá trình ấp (máy ấp thủ công)
- Ẩm độ Ẩm độ là yếu tố thứ hai sau nhiệt độ ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ ấp nở Ẩm độ thích hợp là 60-75% Điều tiết tốt N m độ có thể làm tăng tỷ lên nở Tuần đầu do phôi bắt đầu phát dục, nhiệt độ ấp trứng cao, phôi cần nhiều nước nên N m độ máy ấp cần cao (75-80%) Tuần giữa, phôi sinh nhiệt, trao đổi chất mạnh, N m độ máy ấp giảm xuống còn 50-55%, tạo điều kiện cho hơi nước bốc ra từ trứng mang theo khí độc, N H3 thải độc cho phôi Giai đoạn cuối N m độ tăng cao (75-80%) để gia cầm không bị dính lông vào vỏ, dễ nở
- Đảo trứng Đảo trứng trong quá trính ấp có tác dụng giúp phôi hấp thu đều nhiệt, kích thích sự phát triển phôi và phôi không bị dính sát vào vỏ trứng, làm tăng tỷ lệ nở Đảo trứng giai đoạn đầu tác dụng tốt hơn giai đoạn sau của qúa trình ấp Chế độ đảo trứng của mỗi loại máy ấp có khác nhau Thường tuần đầu đảo trứng 1-2 giờ một lần, tức
là 12-24 lần/ngày đêm, sau đó giảm dần số lần đảo trứng trong ngày
- Thông thoáng, làm mát trứng Trong quá trình phát triển phôi cần không khí sạch (O2) và thải khí độc CO2, N H3 Lượng CO2 không vượt quá 0,2-0,4% Thông thoáng máy ấp giúp đạt được mục đích này Trong ấp trứng thủ công thường kết hợp thông thoáng với làm mát trứng và đảo trứng Khi đó người ta đưa trứng ra khỏi máy ấp hoặc mở cửa máy ấp Thông thoáng giai đoạn cuối có ý nghĩa hơn ở giai đoạn ấp đầu Thời gian làm mát trứng từ 20-60 phút tùy theo loại máy ấp và điều kiện ấp cụ thể
Các điều kiện trên đây cần được theo dõi trong suốt quá trính ấp và điều chỉnh cho phù hợp với trứng của các đối tượng gia cầm khác nhau, loại máy ấp cụ thể và từ kinh nghiệm của kỹ thuật viên trong ấp trứng
6.2.3 Quá trình phát triển phôi gia cầm trong quá trình ấp trứng
Trứng được thụ tinh ở phần đầu của ống dẫn trứng và di chuyển tiếp xuống các phần tiếp theo Trong quá trình đó phôi phân chia, diễn
ra quá trình phát dục nhanh trước khi được đẻ ra ngoài cơ thể mẹ
Trang 36N goài cơ thể mẹ, dưới 20oC được xem là ''độ không sinh lý'' (physiologycal zero) của phôi gia cầm Ở nhiệt độ này phôi ngừng phát dục trong một vài ngày Trứng gia cầm đẻ ra, đặt trong những điều kiện thích hợp phôi sẽ tiếp tục phát triển và hình thành gia cầm con Sự hình thành các mầm cơ quan, bắt đầu từ các lá phôi được tóm
tắt như sau (theo Bùi Đức Lũng - 2002), (hình 5.2)
Hình 5.2: Sự hình thành phôi từ đĩa phôi và sự tạo thành các màng phôi
(theo Hertler)
1 Lòng trắng 7 Màng serosa
2 N ếp gấp màng ối trước 8 Màng ối
5 N ếp gấp màng ối sau 11 T úi lòng đỏ
13 Lòng đỏ dinh dưỡng
Qgày đầu: 6 giờ sau khi ấp phôi gà dài 0,5mm, hình thành nếp
thần kinh trên dây sống nguyên thuỷ Sau 24 giờ nếp thần kinh tạo thành ống thần kinh và hình thành 5- 6 đốt thân
Qgày thứ 2: phôi tiếp tục phát triển tạo thành hệ thống mạch máu
bên ngoài bào thai Bắt đầu xuất hiện mầm t im Mạch máu bao quanh lòng đỏ (noãn hoàng) Chất dinh dưỡng của noãn hoàng cung cấp cho phôi
Trang 37Qgày thứ 3: bắt đầu hình thành đầu, cổ và ngực của phôi Từ đó
màng ối, màng nhung phân chia thành 2 màng túi, màng ở ngoài là màng nhung, màng trong là màng ối Hai màng này dính liền với nhau Qua ngày thứ 3 hình thành gan và phổi
Qgày thứ 4: phôi có dạng như ở bào thai động vật bậc cao, độ dài
phôi 8mm
Qgày thứ 5: phôi phát triển tăng dần, có chiều dài 12mm N hìn bề
ngoài có hình dáng của loài chim
Qgày thứ 6: kích thước phôi đạt 16mm Mạch máu phủ nhiều qua
phôi, trông như màng nhện, ngày này tiến hành kiểm tra sinh vật học lần thứ nhất để loại trứng chết phôi và trứng không phôi
Qgày thứ 7: vòng rốn biểu mô màng ối biến thành da phôi Trong
màng ối hình thành huyết quản Thành màng ối xuất hiện cơ trơn để màng có thể co bóp được Phôi phát dục trong môi trường nước của màng ối N ước ối vừa chứa chất dinh dưỡng, vừa chứa cả amoniac và axit uric của phôi thải ra Đã hình thành ống mật và dạ dày, chất dinh dưỡng đã qua đó
Qgày thứ 8: cánh và chân đã rõ nét, phần thân đã phủ xuống đến
ức, lông đã nhú ở lưng, phôi dài 18mm
Qgày thứ 9: lông mọc nhiều ở vùng lưng, phía ngoài đùi và cánh
Lòng trắng thu nhỏ lại ở phía đầu nhọn của trứng
Qgày thứ 10: chất dinh dưỡng bắt đầu được hấp thu vào ống ruột Qgày thứ 11: phôi dài 25mm, đã mang hình dáng gà con, mỏ,
móng chân sừng hoá hoàn toàn, phần thân lớn lên cân đối hơn Lòng trắng thu nhỏ ở đầu nhỏ của trứng, các túi phôi hoàn thiện, tiết enzyme chuyển hoá albumin và canxi thành chất dễ hấp thu để nuôi phôi, hấp thu oxy qua vỏ trứng để cung cấp cho phôi Đồng thời thải CO2 và chất thải của thận chuyển ra đổ vào xoang niệu nang thành dạng khí thải ra ngoài qua các lỗ khí của vỏ trứng
Qgày thứ 12: huyết quản của túi noãn hoàng phát triển mạnh,
chuyên vận chuyển chất dinh dưỡng đến phôi Thời kỳ này là quá độ của hô hấp túi niệu Tế bào cơ, gân phân bố khắp thành niệu nang
Trang 38Qgày thứ 13: trên đầu phôi gà xuất hiện lông tơ, chân và mỏ hình
thành vN y
Qgày thứ 14: phôi lớn chiếm gần hết khoang trứng, phôi đã cử
động được, lông phủ kín toàn thân
Qgày thứ 15 và 16: kích thước của niệu nang tăng lên tương ứng
với kích thước của phôi Protein được phôi tiêu thụ gần hết Sự hô hấp vẫn nhờ mạch máu của tuần hoàn niệu nang
Qgày thứ 17, 18 và 19: phôi chiếm toàn bộ khối lượng trứng, trừ
buồng khí
Qgày thứ 20: mỏ của phôi gà mổ thủng buồng khí Lúc này gà con
lấy oxy từ buồng khí và qua hệ thống lỗ khí trên bề mặt vỏ trứng qua đường hô hấp, phổi và mạch máu Gà con mổ thủng vỏ trứng
Qgày thứ 21: Vào đầu của ngày này gà bắt đầu chui khỏi vỏ Kết
thúc thời kỳ ấp trứng
Ở các đối tượng gia cầm khác do thời gian phát dục của phôi khác nhau, nên sự hình thành các cơ quan tương ứng sẽ kéo dài hoặc ngắn hơn so với thời gian phát dục của phôi gà Trong quá trình ấp trứng cần lưu ý tính đặc thù để điều chỉnh chế độ ấp trứng thích hợp mới cho
tỷ lệ ấp nở cao
Trong 4 ngày đầu của sự phát triển phôi, carbonhydrat là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho phôi Protein được sử dụng thay cho carbonhydrat, đồng thời cũng làm tăng sản phN m phân giải ure từ 4 đến 9 ngày ấp Mỡ sẽ là nguồn năng lượng chính của phôi vào thời gian còn lại của quá trình ấp trứng Canxi từ vỏ trứng được sử dụng, nhưng trước hết lấy từ lòng đỏ trứng trong giai đoạn đầu
6.3 Kỹ thuật ấp trứng gia cầm
Gia cầm có thể được ấp nở tự nhiên (dùng gia cầm mẹ ấp trứng) hoặc ấp trứng nhân tạo (do con người thực hiện) Việc ấp trứng gia cầm nhân tạo đã trở thành ngành kinh tế độc lập, quan trọng, hiệu quả cao nhờ tiến bộ kỹ thuật cơ khí, điện và tự động hoá
Trang 396.3.1 Ấp trứng tự nhiên
Ấp trứng tự nhiên là dùng gia cầm mẹ ấp trứng Thường chọn gà,
gà tây, ngan, ngỗng để ấp trứng Hình thức ấp trứng tự nhiên chỉ còn thích hợp với chăn nuôi gia đình, quy mô nhỏ tự túc giống, vì gia cầm
mẹ ấp trứng sẽ ngừng đẻ làm sức sản xuất trứng giảm rõ rệt Trong ấp trứng tự nhiên cần chú ý: nơi đặt ổ ấp phải thoáng mát, tránh nắng chiếu, mưa tạt, yên tĩnh và hơi tối Gia cầm mẹ phải chọn con say ấp,
bộ lông phát triển tốt, chân không quá cao và không có lông ở chân Trong quá trình ấp cho gia cầm mẹ ăn đầy đủ, nhất là thức ăn giàu năng lượng, huấn luyện cho xuống ổ đúng giờ để bài tiết, tránh thải phân trong ổ trứng, thường xuyên kiểm tra chuột, thú dữ gây hại trong quá trình ấp
6.3.2 Ấp trứng nhân tạo
N ghiên cứu kỹ các đ iều kiện cần cho sự phát triển của phôi gia cầm, con người đã thực hiện ấp trứng nhân tạo gia cầm thông qua việc chế tạo các loại tủ ấp, máy ấp, và cả các lò ấp thủ công bằng trấu, thóc nóng Ấp trứng nhân tạo mang lại lợi ích kinh tế cao do giải phóng gia cầm mẹ làm tăng sản lượng trứng, t iến hành ấp trứng, sản xuất giống quanh năm với quy mô lớn Trình độ công nghiệp hoá và chuyên môn hoá cao của ngành ấp trứng đã thúc đN y nhanh quá trình chăn nuôi gia cầm công nghiệp, tạo ra sản phN m hàng hoá ở quy mô lớn Hiện nay ở nước ta đang tồn tại ấp trứng thủ công bằng trấu thóc nóng (chủ yếu các là ấp trứng vịt với kinh nghiệm cổ truyền); ấp trứng bằng tủ ấp nước nóng, cung cấp nhiệt nhờ đèn dầu hoặc nguồn điện (quy mô nhỏ ấp trứng chim cút, gà, vịt); ấp bằng máy ấp điện tự sản xuất trong nước hoặc hệ máy hiện đại, tự động hoá cao của nước ngoài nhập về (các cơ sở ấp trứng chuyên cung cấp gia cầm giống, cơ sở ấp trứng quốc doanh sản xuất giống gốc ) Dưới đây chỉ giới thiêu về máy ấp điện ứng dụng cho các quy mô ấp t rứng khác nhau
Trang 40Hình 5.3: Máy ấp trứng quy mô nhỏ tự chế tạo
6.3.2.1 Cấu tạo máy ấp và máy nở trứng gia cầm
* Máy ấp
Hiện nay có nhiều loại máy ấp trứng với công suất khác nhau, từ
500 quả trứng đến 7-8 vạn quả và nhiều hơn được nhập vào nước ta,
từ Canada, Hungari, Hà Lan, Trung Quốc
Máy ấp công suất nhỏ dưới 1.000 quả thường được dùng cho gia đình hoặc phòng thí nghiệm nghiên cứu Còn trong sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp hoặc tổ hợp sản xuất thường dùng các loại máy với công suất lớn từ 1 vạn trứng trở lên
Tuy khác nhau về hình thức và công suất, cũng như thiết kế về kỹ thuật, tất cả các loại máy ấp đều tuân theo một nguyên lý chung và phải gồm các bộ phận: Vỏ máy, bảng điều khiển tự động, giá đỡ khay, khay trứng, hệ thống cung cấp và điều tiết nhiệt độ, N m độ, cung cấp không khí, đảo trứng và hệ thống bảo vệ Các hệ thống thiết bị tạo nên máy ấp phải đáp ứng thoả mãn các điều kiện cần cho sự phát triển của phôi đó là nhiệt độ, N m độ, không khí sạch
1) Vỏ máy
Vỏ máy hình chữ nhật Ở một số máy lớn người ta tận dụng nền
xi măng hoặc gạch lát để làm đáy máy Vỏ máy có nhiệm vụ ngăn