1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tom tat luan an tieng viet: Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.

35 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 144,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.

Trang 1

TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOAHỌC:

1- TS Nguyễn Thị Kim Cúc2- PGS TS Trần Văn Tùng

Trang 4

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 5

Vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm ….

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

………

………

………

……

Trang 6

BCTC Báo cáo tài chính

Tiếng Anh

ACCA Association of Chartered Certified Accountants

(Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc)ADB Asian Development Bank

(Ngân hàng Phát triển Châu Á)CPA Certified Public Accountant

(Kế toán viên công chứng)

Trang 7

TIFS T: Technological Infrastructure; I: Individual; F: Financial

Constraints; S: Supportive Environment(Cơ cấu công nghệ; Cá nhân; Rào cản tài chính; Môi trường

hỗ trợ)

US GAAP United States Generally Accepted Accounting Principles

(Nguyên lý Kế toán Mỹ)VAA Vietnam Association of Accountants and Auditors

(Hội Kế toán & Kiểm toán Việt Nam)VACPA Vietnam Association of Certified Public Accountants

(Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam)VAS Vietnam’s Accounting Standards

(Chuẩn mực Kế toán Việt Nam)VFRS Vietnam Financial Reporting Standards

(Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Việt Nam)

(Ngân hàng Thế giới)WTO World Trade Organization

(Tổ chức Thương mại Thế giới)

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

Phần mở đầu giới thiệu cơ sở nền tảng của vấn đề nghiên cứu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và từ lý thuyết Bố cục của phần này bao gồm: Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của luận án và bố cục kết cấu của luận án.

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại Việt Nam

Sự dịch chuyển tức thời của các dòng vốn trong nước và ngoài nước đóng vaitrò quyết định trong hiệu quả đầu tư, sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp (DN) Dovậy, để tạo ra một “ngôn ngữ chung” trên báo cáo tài chính (BCTC) đồng thời tăng tính

so sánh được và nâng cao chất lượng thông tin kế toán, gia tăng niềm tin với nhà đầu

tư, thúc đẩy phát triển thị trường vốn, mở rộng quan hệ hợp tác và tăng sức cạnh tranhcủa DN trên trường quốc tế, việc tuân thủ một bộ chuẩn mực BCTC chung là yêu cầurất cấp thiết đối với Việt Nam Tính đến tháng 04/2019, trên thế giới đã có 166 quốcgia và vùng lãnh thổ áp dụng IFRS hoặc có lộ trình áp dụng cho toàn bộ hay hầu hếtcác công ty có trách nhiệm công bố đại chúng bao gồm các công ty niêm yết và tổ chứctài chính ở nước họ (IFRS Foundation, 2019)

Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương; các địnhchế tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB; các thị trường chứng khoán quốc tế, cácquỹ đầu tư quốc tế, các tổ chức nghề nghiệp như Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tàichính Quốc tế, Hiệp hội kế toán viên công chứng ACCA, AICPA, v.v… đều yêu cầucác nước thành viên phải xác định lộ trình và cam kết tuân thủ IFRS Việt Nam với 15hiệp định thương mại tự do đã ký kết tính đến 31/12/2020 (Trung tâm WTO, 2020)cũng không phải là một ngoại lệ trong vấn đề tuân thủ IFRS theo xu thế chung

Trang 9

Ngày 16/03/2020, tại Quyết định số 345/QĐ-BTC, Bộ trưởng Bộ Tài chính đãphê duyệt Đề án Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính tại Việt Nam Theo đó, mụctiêu của Đề án là hướng tới việc xây dựng phương án, lộ trình và công bố, hỗ trợ ápdụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS - International Financial ReportingStandards) tại Việt Nam cho từng nhóm đối tượng cụ thể được xác định; đồng thời banhành mới và tổ chức thực hiện hệ thống Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Việt Nam(Vietnam Financial Reporting Standards – viết tắt là VFRS) (Bộ Tài chính, 2020).Trong điều kiện hiện nay, khi VFRS chưa chính thức ra đời (tính đến tháng 08/2020)

và IFRS mới được một số lượng ít DN tại Việt Nam áp dụng, trong khi đội ngũ kế toántrong hơn 700.000 DN (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019) khác chưa có đủ năng lực cầnthiết trong việc lập BCTC theo IFRS cho DN của họ, thì việc chuyển đổi hệ thống kếtoán, đào tạo nhân lực, thiết lập hạ tầng công nghệ thông tin… là một khối lượng côngviệc khổng lồ đầy thách thức và phức tạp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019)

Tuy nhiên, đến năm 2025 các DN tại Việt Nam (thuộc nhóm đối tượng cụ thểtheo quy định của Đề án 345) sẽ bắt buộc áp dụng IFRS, nhưng đặc thù các DN tạiViệt Nam phần lớn là DN có hạn chế về nguồn lực, tài lực nên việc áp dụng thay đổi sẽmang lại nhiều khó khăn trong DN Đặc biệt là IFRS có nhiều tiêu chuẩn khó khăn hơnrất nhiều so với các tiêu chuẩn kế toán hiện tại, và nếu như các DN trong nước chưathực sự sẵn sàng áp dụng IFRS mà các cơ quan chức năng vẫn áp dụng theo đúng lộtrình thì rất có thể DN sẽ gặp khó khăn khi áp dụng, hậu quả có thể là các DN phải tìmđến những cách thức áp dụng qua loa, không trung thực, gây ảnh hưởng lớn đến lộtrình áp dụng IFRS trong nước Như vậy, trước lộ trình áp dụng IFRS của DN tại ViệtNam thì liệu các DN trong nước có sẵn sàng áp dụng IFRS không? Để trả lời câu hỏitrên, vấn đề nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS củacác DN là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay

Trang 10

Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS

Vấn đề nghiên cứu mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của DN là một lĩnh vựctương đối mới và được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên, mức độ công bố các nghiêncứu về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS còn khá hạn chế Các học giả thường tập trungvào từng mảng nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn như, Floropoulos và Moschidis(2004) tiến hành nghiên cứu mức độ sẵn sàng và mức độ quen thuộc của các DN nhỏ

và vừa của Hy Lạp (SME) đối với việc áp dụng các IFRS Guerreiro và cộng sự (2008)nghiên cứu về sự sẵn sàng của các DN đối với việc áp dụng IFRS tại Bồ Đào Nha.Omri và Akrimi (2011) tiến hành nghiên cứu sự sẵn sàng của DN Tunisia niêm yết để

áp dụng IFRS Nghiên cứu được tiến hành thông qua việc xem xét các đặc điểm cụ thểcủa từng công ty đã tự nguyện áp dụng IFRS, với những đặc điểm giải thích sự sẵnsàng của các công ty trong việc áp dụng IFRS Moqbel và cộng sự (2013) tiến hànhnghiên cứu mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS tại Hoa Kỳ Oyewo (2015) tiến hành nghiêncứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sẵn sàng áp dụng IFRS của DN nhỏ và vừa ởNigeria Phan và cộng sự (2018) tiến hành nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các tácđộng đến nhận thức của việc áp dụng IFRS đối với mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS củanhân viên kế toán

Tuy nhiên, theo lược khảo của tác giả cho đến nay vẫn chưa có công trình nào

đo lường và kiểm định vai trò sự hỗ trợ của nhà quản lý đến mức độ sẵn sàng áp dụng

IFRS của DN (xem Bảng 1.1).

Cách tiếp cận khái niệm mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS

Trang 11

Khái niệm mức độ sẵn sàng được các học giả tiếp cận theo nhiều hướng khácnhau (theo kết quả lược khảo mới nhất của tác giả về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRScủa DN) Cách tiếp cận theo quan điểm của Guerreiro và cộng sự (2008) về mức độ sẵnsàng áp dụng IFRS được các học giả sử dụng cho các nghiên cứu Một số nghiên cứutheo quan điểm này là Omri và Akrimi (2011), Kılıç và cộng sự (2014) Tuy nhiên,cách tiếp cận theo quan điểm của Phan và cộng sự (2018) đo lường mức độ sẵn sàng ápdụng IFRS là việc loại DN nào nên áp dụng IFRS, mà theo tác giả là chưa đề cập đếnđúng bản chất của mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS Do đó, trong nghiên cứu này, tácgiả tiếp cận khái niệm mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS dựa theo quan điểm củaGuerreiro và cộng sự (2008) và phát triển thành thang đo đo lường mức độ sẵn sàng ápdụng IFRS đối với các DN tại Việt Nam.

Các lý thuyết nền đã sử dụng trong những nghiên cứu trước:

Việc DN áp dụng IFRS không phải là điều dễ dàng, phụ thuộc nhiều vào nănglực của DN và sự hỗ trợ từ bên ngoài Khi nghiên cứu về mức độ sẵn sàng áp dụngIFRS, các học giả đã sử dụng nhiều lý thuyết nền khác nhau để giải thích mô hìnhnghiên cứu của mình

Cách tiếp cận theo lý thuyết thể chế: được vận dụng trong các nghiên cứu có

liên quan đến chuẩn mực kế toán, điển hình là: Zucker (1987), Carruthers (1995),Carpenter và Feroz (2001), Phan và cộng sự (2018)

Cách tiếp cận theo Lý Thuyết Đẳng Cấu Thể Chế: được vận dụng vào trong

nghiên cứu áp dụng IFRS của Aburous (2019), Phang và Mahzan (2013)

Cách tiếp cận theo Lý Thuyết Đại Diện: được vận dụng trong nghiên cứu của

Guerreiro và cộng sự (2008) về việc áp dụng IFRS của các DN tại Bồ Đào Nha

Trang 12

Cách tiếp cận theo Lý Thuyết Hành Vi Hoạch Định: được vận dụng trong nghiên

cứu của Moqbel và cộng sự (2013) để nghiên cứu mức độ sẵn sàng đối với IFRS tạiHoa Kỳ

Như vậy, các trường phái lý thuyết nêu trên có chung quan điểm giải thích sựtác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của

DN Các trường phái lý thuyết không mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau

Các nghiên cứu liên quan đến IFRS tại Việt Nam:

Tại Việt Nam, Chính phủ đang trong giai đoạn khuyến khích các DN áp dụngIFRS, nhưng các nghiên cứu hàn lâm về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS rất hạn chế.Chủ yếu là các nghiên cứu xoay quanh các chủ đề về lợi ích, thách thức đối với DN khi

áp dụng IFRS và các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS của DN Một số hướngnghiên cứu chủ yếu của Việt Nam hiện nay như sau:

Nghiên cứu về lợi ích của IFRS đối với DN: Các nghiên cứu đã chỉ ra những lợi

ích của việc áp dụng IFRS đối với DN như mang lại nhiều thuận lợi như tăng khả năng

so sánh giữa DN tại các nước, tăng độ tin cậy của thông tin, nhà đầu tư bên ngoài sửdụng hiệu quả hơn, đẩy nhanh quá trình tiếp cận thị trường quốc tế hơn so với các hệthống kế toán của Việt Nam hiện tại Một số nghiên cứu điển hình là Phan vàMascitelli (2014), Lê Hoàng Phúc (2014), Phan và cộng sự (2016), Trần Quốc Thịnh(2016), Tran và cộng sự (2019)

Nghiên cứu về thách thức, bất lợi khi áp dụng IFRS: Các nghiên cứu chỉ ra

những thách thức, bất lợi đối với DN khi áp dụng IFRS bao gồm: bản chất phức tạpcủa IFRS, thiếu hướng dẫn về báo cáo IFRS lần đầu, sự kém phát triển của thị trườngvốn, việc thực thi pháp luật và các quy định còn yếu kém, chi phí thực hiện IFRS cao,đòi hỏi nhân viên có đủ chuyên môn, rào cản môi trường, đào tạo nhân viên Một số

Trang 13

nghiên cứu điển hình trong mảng này là Phan và cộng sự (2014), Nguyễn Ngọc Hiệp(2017), Chuc và cộng sự (2019).

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS: Các nghiên cứu tiếp

cận các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS được tiếp cận trên nhiều góc độkhác nhau (trong đó có khía cạnh thuộc về các nhân tố vĩ mô và vi mô) Một số nghiêncứu điển hình như sau: Lê Trần Hạnh Phương (2019), Tran và cộng sự (2019) NguyễnThị Ánh Linh (2019), Tran và cộng sự (2020)

Xác định khoảng trống nghiên cứu: Từ cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trên thế

giới và trong nước, tác giả đưa ra nhận định và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, hướng tiếp cận theo trường phái kết hợp lý thuyết đẳng cấu thể chế và

lý thuyết đại diện trong việc nghiên cứu mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS còn rất ít, điềunày sẽ mang lại luận giải mới về vấn đề nghiên cứu

Thứ hai, Việt Nam là quốc gia có môi trường thể chế về việc áp dụng IFRS

chưa hoàn thiện nên vai trò của nhà quản lý được chú trọng trong bối cảnh các quốc gia

có nền kinh tế tương đồng như Việt Nam còn khan hiếm các nghiên cứu về mức độ sẵnsàng áp dụng IFRS, do đó việc nghiên cứu vai trò hỗ trợ của nhà quản lý đối với mức

độ sẵn sàng áp dụng IFRS là cần thiết

Thứ ba, việc đo lường và kiểm định mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của nhà quản lý

và mức độ sẵn sảng áp dụng IFRS chưa được thực hiện nghiên cứu Tại Việt Nam, đốitượng là nhà quản lý DN ở Việt Nam được xem là đối tượng có quyết định ảnh hưởnglớn nhất đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS trong DN thì chưa được nghiên cứu nàoxem xét Vậy, yếu tố này có đóng vai trò quan trọng tác động đến mức độ sẵn sàng ápdụng IFRS không? Điều này cần phải được kiểm định

Lý do nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam

Trang 14

Bối cảnh nghiên cứu của Việt Nam là nền kinh tế mới nổi, môi trường hoạtđộng của DN khác với các môi trường của các quốc gia phát triển Kết quả tác độngcủa các yếu tố đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS có thể khác biệt so với các nướcphát triển Trong giai đoạn bắt đầu đề án áp dụng IFRS, DN được Chính phủ ủng hộ và

hỗ trợ để tăng khả năng áp dụng IFRS và nhà quản lý DN là đối tượng có ảnh hưởngmạnh đến quá trình áp dụng IFRS của DN Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để DNtăng mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS?

Để trả lời câu hỏi trên, đề tài “Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp

dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam”

là cần thiết được thực hiện trong bối cảnh thực tế hiện nay nhằm mục đích giúp cho các

DN Việt Nam thấy được mức độ tác động của từng nhân tố đến mức độ sẵn sàng ápdụng IFRS, làm cơ sở hỗ trợ cho các bên liên quan trong việc ban hành các chính sách

để nâng cao mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Xác định các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS đối với các

DN tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu có thể được dùng làm cơ sở hỗ trợ cho các bênliên quan trong việc ban hành các chính sách để nâng cao mức độ sẵn sàng áp dụngIFRS cho DN tại Việt Nam

Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu 1: Xác định các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRSđối với các DN tại Việt Nam

Trang 15

Mục tiêu 2: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ sẵn sàng ápdụng IFRS đối với các DN tại Việt Nam.

3 Câu hỏi nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận án

7 Kết cấu luận án

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương này được thực hiện nhằm mục đích hệ thống hóa, phân tích nghiên cứu trước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, làm cơ sở xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho luận án Để thực hiện được điều đó, tác giả lần lượt trình bày nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến luận án sau đó xác định khoảng trống nghiên cứu mà luận án sẽ thực hiện.

1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Những nghiên cứu về lợi ích, bất lợi, thách thức của việc áp dụng IFRS 1.1.2 Những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS

1.1.3 Nhận xét các nghiên cứu ở nước ngoài

1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về lợi ích, thách thức, bất lợi của IFRS đối với doanh nghiệp

1.2.2 Những nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS

1.2.3 Nhận xét các nghiên cứu tại Việt Nam

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Từ cơ sở tổng hợp các hướng nghiên cứu trên thế giới và trong nước, tác giả đưa

ra nhận định và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, cách tiếp cận khái niệm mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của Guerreiro

và cộng sự (2008) phản ánh đúng bản chất của mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS, nhưngcòn ít nghiên cứu thực hiện Mặc dù đã có nghiên cứu của Phan và cộng sự (2019) cóliên quan đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS, nhưng cách tiếp cận đo lường mức độ

Trang 17

sẵn sàng này theo tác giả luận án là chưa đề cập đến đúng bản chất của mức độ sẵnsàng áp dụng IFRS Vì vậy, tác giả tiếp cận khái niệm mức độ sẵn sàng áp dụng IFRSdựa theo quan điểm của Guerreiro và cộng sự (2008) sẽ giúp làm rõ hơn về khái niệmmức độ sẵn sàng áp dụng IFRS trong bối cảnh Việt Nam đang dần hội nhập.

Thứ hai, hướng tiếp cận theo trường phái kết hợp lý thuyết đẳng cấu thể chế và

lý thuyết đại diện trong việc nghiên cứu mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS chưa đượcthực hiện, điều này sẽ mang lại luận giải mới về vấn đề nghiên cứu

Thứ ba, môi trường thể chế về việc áp dụng IFRS tại Việt Nam chưa hoàn thiện

nên vai trò của nhà quản lý được chú trọng trong bối cảnh các quốc gia có nền kinh tếtương đồng như Việt Nam còn khan hiếm các nghiên cứu về mức độ sẵn sàng áp dụngIFRS được giải thích thông qua vai trò sự hỗ trợ của nhà quản lý trong việc áp dụngIFRS Tuy nhiên, khi xem xét các nghiên cứu có liên quan thì một số nghiên cứu chorằng chính sự hỗ trợ của nhà quản lý DN mới là nhân tố quyết định việc sẵn sàng ápdụng IFRS (Hu, 2012; Ocansey và Enahoro, 2014)

Thứ tư, việc đo lường và kiểm định mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của nhà quản lý

và mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS chưa được thực hiện nghiên cứu Tại Việt Nam, đốitượng là nhà quản lý DN ở Việt Nam được xem là đối tượng có quyết định ảnh hưởnglớn nhất đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS trong DN thì chưa được nghiên cứu nàoxem xét Vậy, yếu tố này có đóng vai trò quan trọng tác động đến mức độ sẵn sàng ápdụng IFRS hay không là yếu tố cần phải được kiểm định

Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đang trong giai đoạn lộ trình áp dụng IFRS cho

các DN trong nước và môi trường hoạt động của DN tại Việt Nam khác với các môitrường của các quốc gia phát triển Do đó, kết quả tác động của các yếu tố đến mức độsẵn sàng áp dụng IFRS có thể khác biệt so với các nước phát triển Đặc biệt là tronggiai đoạn bắt đầu đề án áp dụng IFRS, DN được Chính phủ ủng hộ và hỗ trợ để tăng

Ngày đăng: 08/07/2022, 18:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 – Mô hình nghiên cứu - Tom tat luan an tieng viet: Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Hình 2.2 – Mô hình nghiên cứu (Trang 21)
Hình 3.1 – Quy trình nghiên cứu - Tom tat luan an tieng viet: Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Hình 3.1 – Quy trình nghiên cứu (Trang 22)
Bảng 4.23 – Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc - Tom tat luan an tieng viet: Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Bảng 4.23 – Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w