(BQ) Phần 1 cuốn giáo trình Văn học trẻ em giới thiệu tới người đọc các nội dung: Khái quát tình hình sáng tác văn học cho trẻ em, một số nhà văn và tác phẩm văn học cho trẻ em. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1LÃ THỊ BẮC LÝ
Giáo trình VĂN HỌC TRẺ EM
(In ln thir mudi lam)
NHA XUAT BAN DAI HOC SUPHAM
Trang 2SP/
UNIVERSITY OF EDUCATION PUBLISHING HOUSE
GIAO TRINH VAN HOC TRE EM
Là Thị Bắc Lý Khoa Giáo dục Mấm nơn ~ Trưởng Đại học Sư phạm Hệ Nội
“Sách được xuất ân theo chỉ đạo biên soạn của Trường Đại học Sự phạm Hà Nội thục vũ công ác đào tạo
'Mổ sảch iu chuấn quốc tế ISRN 978-404-54-0838:8
ăn quyển xuất bãn thuộc về Nhà suất bản Đại học sự phạm, Mọi hính thúc sao chép toặn bộ hay một phần hoặc các hình thúc phát hàn | Trà không có ự cho phép trưäc bằng vận bản,
<ủa Nhà xuất bản Đại học Sư phạm đều là vì pham pháp luặt
“Chủng tôi liên mong muốn nhận được những jkiễn đồng gập của quj vi độc giả (48 ch ngốy càng hoàn thiên hơn, Ni góp vẽ sách, lên hệ vế bồn thôo vẻ địch vụ bản quyền i0 vui lòng gi via chl ema kehoachBanbdzp =d.vn
Mã số: 01.01.114/456 - GT 2015
Trang 3MỤC LỤC
PHAN MOT VAN HOC VIET CHO TRE EM Ở VIỆT NAM
Chương | Khái quát tinh hinh sáng tác văn học cho trẻ em
| Về khái niệm "văn học trẻ em"
II Quá trình hình thãnh và phát triển
Hướng dẫn ty hoc
Chương lI Võ Quảng
1 Giới thiệu tác gid
II Thơ của Võ Quảng viết cho trẻ em
III Văn xuôi của Võ Quảng viết cho trẻ em
IV Vài nét về nghệ thuật của thơ văn Võ Quảng
`V Giới thiệu một số bài thơ và truyện đồng thoại của Võ Quảng viết cho trẻ em
Hung dan tu hoc
Chương lII Tô Hoài
I Giới thiệu tác gì:
II, Sang tac cho trẻ em của Tô Hoài
III Vài nót về nghệ thuật viết truyện đồng thoại của Tô Ho:
IV Tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu
V Giới thiệu một số truyện của Tô Hoài viết sau năm 1945
Hường dẫn tự học
Chương IV Phạm Hổ
1 Giới thiệu tác giả
II Thơ của Phạm Hổ viết cho trễ em
II, Văn xuôi của Phạm Hổ viết cho trẻ em
IV Giới thiệu một số bài thơ và truyện của Phạm Hổ
Huong dan ty hoc
PHAN HAI THO DO TRE EM VIET NAM VIET
Chương | Khai quat chung
1, Trẻ em với thơ ca
II Thơ của trẻ em những năm chống Mĩ
Ill Giới thiệu một số bài thơ của trẻ øm
Hường dẫn tự học
Trang 4
Chương lI Thơ Trần Đăng Khoa
1, Giới thiệu tác giả
II Nội dung cơ bản của thơ Trần Đăng Khoa
Ill Đặc sắc về nghệ thuật của thơ Trần Đăng Khoa
IV Giới thiệu một số bài thơ của Trấn Đăng Khoa
Hướng dẫn tự học
PHAN BA GIỚI THIỆU VĂN HỌC TRẺ EM NƯỚC NGOÀI
A Khải quát chung
B Một số tác giả tiêu biểt
Rabindranat Tago
I Giới thiệu tắc giả
II Tập thơ Trăng non
Hướng dẫn tự học Lep Nicôlaevits Tônxtôi
I Giới thiệu tác giả
Il Phan tich tac phẩm
Hưởng dẫn tự học
Anđócxen
1 Giới thiệu tác giả
II Truyện cổ tích của Anđécxen
II Phân tích tác phẩm
Hướng dẫn tự học
Hecto Malô với tiểu thuyết hông gia đình
1 Giới thiệu tác giả
II Tiểu thuyết Không gia đính
Hướng dẫn tự học
Trang 5- PHAN MOT
VAN HOC VIET CHO TRE EM 0 VIỆT NAM
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SÁNG TÁC
VĂN HỌC CHO TRẺ EM
I VE KHAINIEM “VAN HỌC TREE
Van hoc tré em (lau nay vẫn quen goi la Vai hoe thiếu nhỉ) "gốm những tác
phẩm ván học hoặc phổ cập khoa học đành riêng cho trẻ em” Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhỉ cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của trẻ em (Theo Từ dién Thuật ngữ Vấn học = NXB Giáo dục, 1992)
Trên thế giới, từ rất lâu đã xuất hiện các tác phẩm vân học viết cho thiếu nhỉ Hầu như bất cứ nhà văn lỗi lạc nào cũng đều có vài ba tác phẩm viết cho các em Những cuốn sách đấu tiên mang nặng nội dung giáo khoa và giáo huấn: đó là những sách học vấn, sách bách khoa, sách dạy các quy tắc ứng xử trong xã hội xuất hiện ở châu Âu từ thế kỉ XIV Dần dần khuynh hướng đề cao nghệ thuật trong sáng tắc cho các em càng được chú ý Đã có nhiều sáng tác cho các em trở thành những tác phẩm kinh điển của nền vân hoá nhân loại, ví dụ: Truyện cổ Andécxen (Andersen), truyện kể của Perén (Charles Perrault), Rébinxon Cruxô của Điphô (Đaniel Defoe), Giulive du kí của Gi Xuypt (Jonathan Swift),
Không gia đình của Heeto Malo (Heetor Malot) Ở mỗi dân tộc, văn học cho
các em có những nét đặc sắc riêng, tuy nhiên, những tác phẩm hay đều gập nhau
ở một điểm là hướng vẻ mục đích nhân văn, hướng tới cái thiên, cái đẹp trong
cuộc sống
Ở Việt Nam, từ đầu thể ki XX bắt đầu xuất hiện các tác phẩm văn học viết cho trẻ em, nhưng phải đến sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nến văn học thiếu nhỉ mới chính thức được hình thành Đến nay, trải qua nhiều thang trầm, văn học
thiểu nhì Việt Nam đã phát triển phong phú, đa dạng và thực sự trở thành một bộ
phận quan trọng của nền văn học dân tộc
Trang 6
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1 Thời kì trước Cách mạng tháng Tám nam 1945
'Văn học trẻ em Việt Nam thực sự được hình thành và phát triển với tư cách lä
một bộ phận của văn học Việt Nam từ khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhưng sự chuẩn bị thì đã có từ trước đó
Nhìn chung, trong chế độ phong kiến, ở nước ta chưa có sáng tác văn học cho trẻ em Mãi đến đâu thế kì XX, dưới chế độ thực dân phong kiến, qua những cuộc cách tân văn học theo xu hướng hiện đại hoá, văn học cho trẻ em mới bắt đầu được chú ý, Một số tác phẩm văn học nước ngoài như thơ ngụ ngôn của La Phôngten
(Jean de La Fontaine) truyện ngắn Perôn đã được dịch sang tiếng Việt Ngoài ra,
người ta cồn cho xuất bản loại sich “Livre du petit” (sách cho trẻ em bằng tiếng Pháp) để rèn tiếng Pháp cho các em Tản Đà có Lén sáu, Lên rám viết cho lứa tuổi nhỉ đổng và được đàng trong sách giáo khoa thời ấy Cuốn Lén sáu được viết theo kiểu Tam nự kinh, ba chữ một:
Ai để ra Cha cing me Bồng lại bế Thương mà yêu
Tân Đà dạy các em từ những điều gần gũi nhất đến những khái niệm bao quát
mang tính triết lí:
Trong trời đất Nhất là người
Ở trên đời
Hon giống vat
Cuốn Lên tám cũng được viết giản dị, gần gũi với trẻ thơ:
Bung da quy ngay thang
Giao thiệp trạng tín thực
Lúc vắng như lúc đông
Giữ mình theo phép tắc
Lòng nhân ta sẵn cá
Trang 7Rộng yêu thương kẻ khó Cây non chớ bé cành Chim non đừng hại tổ
Vẻ cơ bản, hai cuốn sách này dạy cho trẻ em những đạo lí thông thường như biết ơn công lao cha mẹ, thầy giáo, biết sống hoà thuận với anh em và quý trọng
bạn bè, biết cham chỉ học hành, biết làm việc nghĩa, biết sống ngay thing và giàu
lòng nhân ấi
Tác giả Nguyễn Văn Ngọc có Đồng Táy ngụ ngôn, dựa vào các ý thơ ngụ
ngôn nước ngoài để sáng tác hoặc phóng tác Ngoài ra ông còn viết Ni đồng lạc
viền được dùng trong sách giáo khoa dé đạy luân If phong kiến cho trẻ em Cuốn sách này có lối viết vui, giầu am thanh, hình ảnh, khá phù hợp với các em Ví dụ:
Crit kit ai
Ùi cút kít Thác đổ khin khít
Gạo nhiều kin kít
(Xay lúa) hoặc:
Thinh thịch xì xịch luôn chân
(Giã gạo)
Đến những năm 30 của thế kì XX, văn học viết cho trẻ em trở nên phong phú
hơn Trên văn đàn công khai xuất hiện hai khuynh hướng: Nhóm Tự lực văn đoàn
cho xuất bản các loại sách: Hoa hồng, Hoa mai, Hoa xuân, Tuổi xanh, Truyền bá,
Tuy nhiên, những cố gắng của Tự lực văn đoàn cũng chỉ dừng lại ở một chừng mực nhất định, phạm vi phản ánh của loại sách này chỉ bó gọn trong những sinh
hoạt của trẻ em thành thị, xa rời cuộc sống khốn khó của nhân dan lao động Sự
hạn chế của các loại sách này đặc biệt là Sách hồng trong thời kì đầu đã gặp phải
những ý kiến phản đối gay git, thậm chí cực đoan, ví dụ: Tháng 12 năm 1939,
trên tờ Ngày nay đã đăng bài nhận xét về “Vấn chương Sách hồng An Nam” như sau: *Vì không có loại sách riêng cho các em, nên tuy các em còn nhỏ tuổi đã phải say mê đọc những quyền Thuyền tình Lam di, Nguoi dan ba tran trudng,
“Vẫn biết ở đây người ta đã bắt đầu soạn sách cho tuổi trẻ, nhưng công việc đó chỉ
cố mục đích thương mại và những người cầm đầu tỏ ra không có một chút lương
và những tập sách kia khô khan, nghèo nàn đến nỗi không đáng mất công
Trang 8Các nhà văn thuộc xu hướng hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài,
Nam Cao, Tú Mỡ, đã có ý thức viết cho các em một cách hiện thực hơn
Nguyên Công Hoan có Tấm lòng vàng kể về một cậu học trò nghèo tên Đức, được
thầy Chính bí mật giúp dỡ tiển án học Về sau, Đức đỗ đạt, làm nên, nhưng con
trai của thầy Đức là Phú lại khỏng chịu học hành, chỉ an chơi, phá phách nên thấy
Chính bị vỡ nợ Đức tìm được Phú trong nẹ bạc, tìm mọi cách giúp đỡ Phú nhờ vậy mà Phú đã nèn người Phú viết cuốn Việr Nam vấn học sử được giải
thưởng Với số tiển nhận từ giải thưởng đó, Phú đã cùng với Đức trả được hết các món nợ cho cha Tuy cốt truyện còn đơn giản, nhưng tác phẩm đã giúp cho các
em hiểu được điều quý giá trong cuộc sống: đó là sự cần cù, chịu khó, biết giúp đỡ những người khó khản và có ý chí vươn lên trong mọi hoàn cảnh
Nam Cao viết khá nhiều truyện cho các em Khuynh hướng hiện thực trong các tác phẩm của ông bộc lộ khá rõ Ông chứ ý tới những nỗi khổ đau, bất hạnh của trẻ em con nhà nghèo, ví dụ: 8áy bông lú lép (1937) Người thợ rèn (1940), Con méo mắt ngọc (1942), Ba người bạn (942), Bài học quét nha (1942), Những
kể khốn nạn (1942), Thẩm lửa (1943) Nhân vật chính trong các truyện này là
những đứa trẻ nghèo khổ, những đứa trẻ bị xã hội vứt ra lẻ đường, sống đối rét cơ cực, phải di an xin, di làm thuê làm mướn rnà vẫn không đủ sống
Tú Mỡ khai thác mảng để tài dân gian, đã có một vài truyện thơ thú vị, với lời
thơ trong sáng, lành mạnh, được các em yêu thích, ví dụ: Nâng Bạch Tuyết và bảy
chú làn (dựa theo truyện cổ Grim) và Tấm Cám
Tô Hoài dùng hình thức đồng thoại để dé cập đến những vấn để lớn trong xã hội (vượt qua được sự kiểm duyệt gắt gao của nhà cám quyền lúc đó), góp phần
giáo dục nếp sống lành mạnh, giàu lí tưởng cho thiếu nhỉ, ví dụ: Đớm cưới chuột,
Lá thư rơi, Võ sĩ Bọ Ngựa, Dể Mèn phiêu lưu kí rong đó Dế Mèn phiêu bia ki
là tác phẩm xuất sắc đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới
Bác Hồ cũng có viết một số bài thơ cho các em, ví dụ Trẻ chán râu (1941),
Kêu gọi thiếu nhỉ (1941) trong đó Bác đã nêu lên những nỗi thống khổ của trẻ em Việt Nam, Bác chỉ rõ kẻ thù của dán tộc và vạch rõ nhiệm vụ cho mọi người nói
chung và cho trẻ em nói riêng:
Trang 9Những bài thơ này của Bác có tính thời sự sâu sắc và mang ý nghĩa giáo dục cao
Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám 1945, ở Việt Nam mới chỉ xuất hiện
những tác phẩm viết cho thiếu nhỉ một cách lẻ tẻ chứ chưa thực sự có phong trào
sáng tác cho các em, nhưng đù sao đó cũng chính là những viên gạch đầu tiên đật
nên móng để xây dựng nên nền văn học thiếu nhỉ Việt Nam
2 Thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước, đặc biệt
là Bác Hồ đã chú ý quan tâm để phát triển nên văn học đành riêng cho trẻ em Đây là giai đoạn đánh dấu sự ra đời cùng những thành tựu đầu tiên của văn học
cho trẻ em dưới chế độ mới Tờ Thiếu sinh — tiến thân của báo Thiếu niên Tiền
phong đã ra số đầu tiên năm 1946 Ngay trong số này, Bác Hồ đã có chỉ thị rõ rầng: "Báo trẻ em ra đời Báo đó là báo của trẻ em Vậy các trẻ em nên giúp cho
báo, gửi tin tức, tranh vẽ và viết bài cho báo Nên đọc cho các em chưa biết chữ nghe, nên làm cho báo phát triển” Than; 12/1946 báo Thiếu sinh đã ra số đặc biệt với chủ để “Cac em viết, các em vê” Mặc dù sáng tác của các em còn đơn
giản, sơ lược nhưng đây chính là cái mốc quan trọng trong lịch sử văn học thiếu
nhí nước nhà Các em đã được tham gia sáng tác, được trực tiếp nói lên những suy
nghĩ, tình cảm của mình trong lĩnh vực văn học nghệ thuật
Có thể nói, bên cạnh rất nhiều việc lớn của đất nước lúc bấy giờ, Đảng và Bác Hồ
đã đặc biệt quan tâm tới vấn để sáng tác văn nghệ phục vụ thiếu nhỉ Bác đã nèu một tấm gương sáng trong việc viết cho các em Những bài thơ của Bác như: Khen tặng hai cháu liên lạc trong bộ đại chiến khu II (1947), Thứ Trung thú (1952), Gửi các cháu nhỉ đồng nhân dịp tết Trung thu (1953), đã thể hiện rõ tính mục đích và phương châm của sáng tác văn học thiếu nhỉ lúc bấy giờ
Bên cạnh tờ Thiếu Sinh côn có tờ Thiếu niên, Tuổi trẻ, Xung phong, Măng non
và các sách Kim Đồng, Hoa kháng chiến Những sách báo này thực sự đã trở thành người bạn thân thiết của trẻ em, góp phân tích cực vào việc bồi dưỡng những
đức tính tốt, những tình cảm cao đẹp cho thiếu nhỉ và trở thành vốn quý ban đầu
cho nên văn học thiếu nhỉ
Năm 1948, Hội Van học Nghệ thuật Việt Nam thành lập đã tổ chức một bộ
phận văn học cho trế em do nhà văn Tô Hoài cùng Hồ Trúc ~ Bí thư Trung ương Đoàn phụ trách, Nhà xuất bản Văn nghệ đã cổ gắng cho in một loại sách riêng cho
trẻ em mang tên sách Kim Đồng Mục đích của sách Kim Đồng là cổ gắng thực
hiện lời Bác Hồ: “Làm cho thiếu nhỉ biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào,
Trang 10
chuộng lao động, giữ kỉ luật, biết vệ sinh, học văn hoá, Lúc học cũng cẩn vui,
lúc vui cũng cần học” Để thực hiện mục đích trên, sách Kim Đồng đã kết hợp cả
ba mặt: văn nghệ, giáo dục và chính trị Sách được viết theo đường lối sáng tác cho
thiếu nhi của Hội Vân nghệ Việt Nam, đi sát phương châm hoạt động của nhà
trường và bạn đọc thiếu nhỉ Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể tới là: Chiến sĩ ca nô của Nguyễn Huy Tưởng, Dưới chản cấu Mây của Nguyên Hồng, Chú Giao làng Seo của Nguyễn Tuan, Hoa Son cia To Hoài, Thiếu niền anh hùng của
Phong Nhã, Đời em Đến của Đỗ Cao Đáng, Phác Kùn Tố của Nguyễn Xuân Sanh
Nội dung chủ yếu của các cuốn sách là nêu những tấm gương thiếu nhỉ dũng cảm trong kháng chiến và tố cáo tội ác của kẻ thù Tuy số lượng còn ít ỏi, nội dung còn đơn giản và hình thức còn thô sơ (sách in trên giấy bản), nhưng những tác phẩm này đã có tác dụng nhất định trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm yêu nước, chống để quốc xâm lược cho các em Sách Kim Đồng là một gợi ý cho việc thành
lập Nhà xuất bản Kim Đồng sau này,
Nói tóm lại, đây là chăng đường mở đầu cho nền văn học thiếu nhỉ Việt Nam
Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng tất cả những thành tựu trên đều ghi nhận
sự cố gắng của chúng ta Nó chứng tỏ nền văn học viết cho các em rất có cơ sở và
có điều kiện để phát triển trong tương lai
Hoà bình trên miễn Bắc đã tạo điều kiện cho văn học thiểu nhỉ phát triển Một
tiểu ban Văn học thiếu nhỉ trong Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật đã được thành
lập Ngày 17/6/1957, Nhà xuất bản Kim Đồng được thành lập, mở ra một giai
đoạn phát triển mới của văn học thiếu nhỉ Việt Nam Việc sáng tác văn học cho thiếu nhỉ đã trở thành vấn để được nhiều giới, nhiều ngành quan tâm Việc cần
thiết lúc này là ổn định và tập hợp lực lượng viết cho các em Nhà xuất bản đã phát động phong trào sáng tác về cuộc kháng chiến chống Pháp Kết quả thu được nhiều tác phẩm có giá trị, ví dụ: Đất rừng phương Nam (1957) của Đoàn Giỏi, Hai
làng Tà Pình và Động Hia (195§) của Bắc Thôn, Em bé bên bờ sông Lai Vụ (1958) cia Vii Cao, Cai Thang (1961) của Võ Quảng, Vừ A Dính (1963) của
10
Trang 11Tô Hoài, Những tác phẩm này đã lấy nhân vật trẻ em làm trung tâm, miêu tả cuộc sống sinh hoạt và những đóng góp của các em vào công cuộc kháng chiến của đân tộc Đặc biệt Đất rững phương Nam là một tác phẩm xuất sắc đã miêu tả toàn bộ quang cảnh thiên nhiên, cuộc sống của vùng cực nam Tổ quốc ~ một vùng đất vừa giàu đẹp, vừa anh hùng ~ trong những ngày đầu Pháp trở lại Nam Bộ Truyện cũng để cập đến quá trình trưởng thành, đến với cách mạng của bé An An
bị lạc cha mẹ trong một lần tản cư nhưng lông can đảm và trí thông minh đã giúp
em vượt qua được biết bao gian khổ và thoát khỏi những hoàn cảnh hiểm nghèo để thích nghỉ với hoàn cảnh và trở thành đội viên du kích
Đội ngũ sáng tác cho các em đã được hình thành và ngầy càng được bổ sung thêm, do đó, số lượng tác phẩm cũng như để tài phản ánh ngày càng phong phú, đa dạng Bên cạnh mảng để tài kháng chiến rất phát triển những để tài khác cũng thu được nhiều thành tựu
Để tài lịth sử cõ Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Kể chuyện Quang Trung của Nguyễn Huy Tưởng; Sóng gió Bạch Đảng và Bố cái đại vương của An Cương: Nhuy Kiểu tướng quân của Yến Hồng Hoài Ban; Chọn soái của Quách Thọ;
Tướng quản Nguyễn Chích và Quận He khỏi nghĩa của Hà Â
Để tài sinh hoạt, lao động, học tập hằng ngày của các em có Đàn chim gáy
của Tô Hoài; Noi xa cla Văn Linh; Tổ tám giao của Trần Thanh Dich; Ngdy cong đầu tiên của củ Tí của Bùi Hiển; Bí mật miếu Ba Có của Văn Trọng; Những mẩu
chuyện về bé Ly của Bùi Minh Quốc:
Truyện đồng thoại có Cái tế của Mèo con của Nguyễn Đình Thị; Chú đất
nung của Nguyễn Kiên; Bé vỏ sáo của Phạm Hé;
Vẽ thơ, cũng xuất hiện một đội ngũ khá hùng hậu với những tên tuổi tiêu biểu
như: Vũ Ngọc Bình, Huy Cận Nguyễn Bá Dậu, Bảo Định Giang, Thanh Hải,
Tế Hanh, Phạm Hổ, Thái Hoàng Linh, Võ Quảng, Xuân Tửu, Nhược Thuỷ,
Phương Hoa và đã có những tập thơ tiêu biểu như: Thấy cái hoa nở (Võ Quảng):
Trang 12
tuyển tập này cũng là một cái nền, một cuốn lịch thì đúng hơn Trên nền thời gian và lịch sử ấy đã nồi hình các em ta hồn nhiên và cần cù, tươi vui mà nhẫn nại chiến đấu, học tập và lao động Khung cảnh và con người thiếu nhỉ Việt Nam thật trong sáng, tràn đầy đức tính lạc quan đáng yêu của con em chúng ta”
4 Thời kì cả nước kháng chiến chống Mĩ (1965~ 1978)
Bị thua dâm ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mĩ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng máy bay Cùng với lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc, vân học thiếu nhỉ nước nhà cũng bước vào chặng dường mới Văn học thiếu nhỉ ở giai doạn này phát triển mạnh, có nhiều cây bút tài năng, nhiều tác phẩm có giá trị và thực sự là một lực lượng lớn góp phần biểu dương, khích lệ những tấm sương sáng trong học tập và chiến đấu, Nhiều tuyển tập đã xuất hiện, ví dụ: Hai bàn tay chiển sĩ (Tuyển tập chọn lọc vé để tài kháng chiến chống Pháp); Dỏng nước xiết (Tập truyện ngắn và kí về để tài miền Bắc chống Mũ); Măng rre (Tuyển tập thơ của Võ Quảng, |971): Các để tài cũng được mở rộng phát triển hết sức
phong phú
Để lài kháng chiến chống Pháp tiếp tục được khai thác và có nhiều thành tựu với những tác phẩm bẻ thế, đầy đạn, tiêu biểu là Đội du kích thiểu niên Đình Bảng của Xuân Sách; Ow# nội của Võ Quảng; Kim Đồng của Tô Hoài
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dan tộc và thời đại đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả Để tải kháng chiến chống
Mĩ cũng bắt đầu được quan tâm ip ứng kịp thời bước đi của lịch sử Nếu như viết
vẻ để tài kháng chiến chống Pháp, các tác giả có một quãng lùi vẻ thời gian để nhìn nhận thì viết vẻ dé tài chống Mĩ, họ lại có nhiều vốn tư liệu nóng hỏi Các tác phẩm viết về để tài này thường miêu tả cuộc sống chiến đấu của trẻ em trong vùng tạm chiếm, ví dụ: Những đứa con trong gia đình, Mẹ vắng nhà của Nguyễn Thị;
Hd Van Mén cia Lam Phương (1969); Chủi bé Cả Xên của Minh Khoa (1963); Đoàn Văn Luyện của Phạm Hồ; ỦÚ+ Tám của Ngô Thông: Em bé sông Yên (viết về liệt sĩ Nguyễn Bá Ngọc) của Vũ Cận Nhìn chung, sách viết về để tài này được các em yêu thích vì nó mang nhiễu yếu tổ li kì, mạo hiểm, những tình huống gay căn, kích thích vào tính hiếu động, tò mồ của trẻ thơ
Dé tai lịch sử phát triển manh và đã hình thành một số nhà văn chuyên tâm như Hà Ân, Le Văn, Nguyễn Hiển, An Cương, với những tác phẩm tiêu biểu như; Sát Thái (Lê Vân, Nguyễn Bích, 1971); Bền bờ Thiên Mạc (1967): Trên sống truyền hịch (1973); Trăng nước Chương Dương (Hà Ân, 1975); Những tác phẩm này đã khắc hoạ thành công một số nhân vật lịch sử, dựng lại các sự kiện phức tạp
Trang 13
của dân tộc trong một số giai đoạn Tuy nhiên, so với thực tiễn lịch sử dân tộc thì phần được khai thác, được mô tá trong van học thiếu nhỉ của chúng ta còn quá it
Nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều nhân vật lich sử quan trọng vẫn chưa được nhắc tới hoặc mới chỉ được nhắc lướt qua
Phong phú nhất có lẽ là mảng để rài nể cuộc sống sinh hoạt, học tập,
lao động của trẻ em trên miễn Bắc xf hoi chi nghĩa Nếu như mảng để tài này ở giai đoạn trước còn rất mờ nhạt, tủ tới giai đoạn này đã được khẳng định với những
tác phẩm rất đáng chú ý, ví dụ: Chú bớ sợ toán (1965) của Hải Hồ; Mái mường thân yêu của Lê Khắc Hoan; Nam thứ nhất (1965) của Minh Giang; Những ria nắng đầu tiên (1971) của Lê Phương Liêm: floa có đẳng của Nguyễn Thị Như Trang; Tập đoàn san hỏ của Phan Thị Thanh Tú: Trận chung kết (1975) của Khánh Hoà: viết vẻ chủ để nhà trường với những kỉ niêm buổn vui tuổi học trò Các em vừa đào hầm, đắp luỹ, vữa di sơ tán, vừa tải đạn cứu thương, lại vừa tích cực học tập để
trau dồi trí thức Đây là hình ảnh các em đi học đã được ghi lại khá chân thực:
§ớm mùa xuân ngập trong xương mù Bắng bạ em gái di trên con đường mòn
tat qua đổi sim Hai đứa lớn dội nón Đứa nhỏ choàng mật cái Khăn vải sợi màu
sẫm Cả ba đứa lưng rung tình vòng lẳ nguy trang
(Bi mật can số 5— Nhiều tác giả)
Hoặc:
Tinh mo di hoc tie mink neuy rang Mét vong td dat lung mang
Rừng xanh chuyển động trên đàng cũng em
(Em bé Quảng Bình — Huy Cận)
Đặc biệt, việc học tập, sinh hoạt của các em không tách rời với lao động góp
phần cùng người lớn xây dựng quê hương giầu đẹp trong phong trào hợp tác hoá
Tiông nghiệp
Mang để tải nóng thon xuất hiện nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Cơn bao
sổ bốn (Nguyễn Quỳnh): XZ viên mới (Minh Giang): Những cô tiên áo nâu (Hoàng Anh Đường): Kế chuyện nóng thôn (Nguyễn Kiên): Hai ông chdu va dan trấu
(Tö Hoài); Có lẽ đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của mảng để tài này vì ở giai đoạn sau, khí nông thõn chuyển sang thời kì phát triển mới thì mảng đề tài
này cũng không phát triển
Trang 14Sự phát triển mạnh mẽ của loại truyện về con người mới (Truyện về người
that, vie that) dưới nhiều dạng khác nhau là một sự kiện đáng chú ý của văn học
cho trẻ em giai đoạn này Đây là sự hưởng ứng của các nhà văn đối với phong trào
thi dua “Nghìn việc tốt” của các em Có loại sách khổ nhỏ mang tên “Việc nhỏ nghĩa lớn” ghi lại vấn tắt những sự kiện người thật, việc thật Tất cả có 16 tập Lúc
đâu, loại sách này rất được hường ứng, nhưng sau này, nó không được bạn đọc lưu
tâm đến nữa bởi tính nghệ thuật không cao Có loại là hồi kí như Lớn lên nhờ cách
mạng của Phùng Thế Tài (1956) Có loại là tự truyện như Những nám tháng không 4uên của Nguyễn Ngọc Ký (1970) và truyện kể như #øø Xuân Tứ của Quang Huy (1967) Hai cuốn sách này nẻu lên những tấm gương sáng vẻ nghị lực, khắc phục hoàn cảnh tàn tật để vươn lên học tập trở thành những con người có ích cho xã hội
Truyện đông thoại phát triển mạnh với những tác phẩm: Chú gà trống Choai (Hai H6); Co Bê 20 (Văn Biển); với nhiều chất thơ vừa bay bồng, vừa hiện thực
Đặc biệt với truyện Có 8¿ 20, thông qua cuộc sống của một cô bê con trên nông
trường Ba Vì, Văn Biển đã Khắc hoạ được những phẩm chất tuyệt vời của người
anh hùng lao động Hồ Giáo
.Măng sách khoa học được hình thành và phát triển nhờ vào sự đồng góp của những người làm công tác khoa học và các nhà văn tâm huyết với mảng để tài này như Viết Linh với Ông rhan đá và Quả trứng vuông; Vũ Kìm Dũng với Cô kiển trinh sái: Thế Dũng với Thảm xanh trên ruộng; Hoàng Bình Trọng với Bí mật một khi rừng, Phan Ngọc Toàn với Đỉnh mái nàng Ba; Đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của máng để tài này, sau đó nó đẩn đần bị thu hẹp, cho mãi tới những năm
2000 mới bắt đầu được khôi phục lại
Thơ cho trể em tiếp tục phát triển mạnh Bên cạnh những tên tuổi quen thuộc
như Phạm Hồ, Võ Quảng, Vũ Ngọc Bình, Thi Ngọc, Quang Huy, còn có thêm
Đình Hải, Xuân Quỳnh, Ngô Viết Dinh Trần Nguyên Đào, Thanh Hào với những tập thơ tiêu biéu nhu: Mang tre (Võ Quảng): Chú bò tìm bạn (Phạm Hồ); Trổng
nụ, trắng hoa (Định Hải): Mầm bé (Ngô Viết Dinh): Đặc biệt, cũng trong thời kì
nầy nổi lên hiện tượng các em hé làm thơ với những tên tuổi nổi bật như: Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Hoàng Hiếu Nhân Chu Hồng Quý, Nguyễn Hồng Kiên,
mở đầu cho phong trào sáng tác của các em
Š Thời kì đất nước thống nhất và đổi mới (sau nam 1975)
Xã hội Việt Nam từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhất là từ thời kì đổi mới
đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc, toàn diện Văn học phản ánh xã hội thông qua cá nhân nhà văn, tuy có tính độc lập nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với
14
Trang 15sự phát triển của xã hội Văn học viết cho trẻ em giai doạn này đã có sự phát triển
mạnh và phong phú, đa dạng cùng với sự phát triển chung của nên văn học dân
tộc Nhìn một cách khái quát, có thể chia quá trình phát triển của văn học thiếu nhí sau 1975 làm hai giai đoạn: giai đoạn 1975 — 1985 và giai đoạn từ 1986 đến nay
Hai giai đoạn này được đánh dấu bằng mốc Đại hội Đăng lần thứ VI Đại hội Đảng lần thứ VI đã tạo điều kiện “cỏi trói" cho các nhà văn cũng như công cuộc
đổi mới toàn của đất nước Tuy nhiên vấn đẻ đổi mới không phải diễn ra đột
ngột ngay lập tức mà sự vận động của nó là cá một quá trình, Qua mỗi cl
đường, văn học thiếu nhi có những nét đặc trưng riêng nhưng quá trình phát triển
của nó luôn luôn có sự kế thừa nhất định những thành tựu của giai đoạn trước Vì
vậy, sự chia tách ở đây cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối
5.1 Giai đoạn 1975 — 1985: Những kiếm tìm và sự chuẩn bị cho đổi mới
Van hoc thiếu nhỉ trong mười năm (1975 — 1985) là giai đoạn tran trở, tìm tồi, nhìn chung vẫn gần với cách tiếp cận cũ Sự tiếp nối này thể hiện rõ nhất trong những năm đầu, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, phần lớn truyện vẫn chỉ xoay quanh vẻ để tài kháng chiến
Đề tài kháng chiến chống thực đán Pháp vẫn chiếm ưu thế Võ Quảng viết Tảng sáng vẫn tiếp nối mạch cảm xúc của Øuế nội Đó là cảm hứng ngợi ca quê
hương đất nước và ngợi ca cách mạng mà Phong Lê gọi là "mạch trữ tình cách
mạng” Ở để tài này còn có Cơn gióng ruổi thơ của Thu Bồn, Đội thiếu niền tinh báo Bát Sắt của Phạm Thắng,
Dé tai kháng chiến chống Mĩ cô Hói đó ở Sa Kì của Bài Minh Quốc, Cái
cháy của Thanh Quế Những tác phẩm này đã mạnh đạn viết về những đau
thương, tổn thất năng nẻ trong chiến tranh — điều mà trước đây người ta rất ngại
nói với các em
Có nhiều tác phẩm được viết trong cảm hứng day dứt về “một thời đạn bom” với lớp lớp trẻ em "mang mũ rơm đi học đường đài”, những em bé từ thành phố sơ
tán vẻ nông thõn, phải tự lập, lo toan đủ bể, vi du: Ngoi nha mong (Quang Huy),
Hoa có đắng (Nguyễn Thị Như Trang), Nhưng tía nắng đầu tiên (Lê Phương Liên),
Với lối kể chuyện nặng vẻ hồi tưởng, kỉ niệm, lời kể dung dị và thiết tha, các tác phẩm này đã gợi lại "một thời để nhớ" thật cảm động và đáng trân trọng của tình thầy trò, tình bè bạn trong những năm chống Mĩ
Viết về cuộc sống mới khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, các nhà văn chú
ý nhiều tới vấn để đạo đức của con người Những tác phẩm như: Tình thương
(Phạm Hồ), Bển tàu trong thành phố (Xuân Quỳnh), Chú hé có tài mở khoá
15
Trang 16(Nguyễn Quang Than), Hanh wink ngay thơ đi (Dương Thu Huong)
là những tác phẩm xung kích đã mạnh dạn phanh phui những tiêu cực của xã hội với những cái xấu, cái lạc hậu và sự nhỏ nhen, đố kị trong những suy nghĩ của
Dé tai lịch sử rất phát triển ở giai doan trước thì đến bây giờ hấu như chững
lại Các tác giả chuyên viết truyện lịch sứ trước đây như Nguyễn Đức Hiến, Hà Ân,
Lê Vân, An Cương thường khai thác lịch sử gắn với các nhân vật anh hùng và truyền thống anh dũng chống giậc ngoại xâm của dân tộc, bây giờ gần như bế tắc
Tô Hoài mở ra một hướng khai thác mới hướng khai thác lịch sử gắn với huyển
thoại, phong tục, văn hoá và ông đã khá thành công với Đđo ñoane, Chuyện nỏ thản,
(sau này nữa la Nha Chui)
Tóm lại: Trong khoảng mười năm sau cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc,
van học nói chung, văn học thiếu nhỉ nói riêng đang trong giai đoạn trăn tớ, tìm tòi Mảng thơ viết cho các em gắn như bế tắc Riêng về truyện, tuy đã có những
dấu hiệu mới, nhưng chưa tạo ra được một biến chuyển rõ ràng Tuy nhiên, những dấu hiệu đổi mới này là bước khởi đầu, có ý nghĩa lớn cho việc đổi mới dồng loạt
của văn học thiếu nhỉ trong giai đoạn tới ~ giai đoạn văn học nước ta bước vào thời
kì biến đổi to lớn và sâu sắc, toàn điện
5.2 Giai doan tit nam 1986 đến nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã thực sự đem lại niểm tin và sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân, đem lại một không khí mới cho văn học thiếu nhỉ Đội ngũ sáng tác cho các em ngày càng đông đảo, Những tác giả lớp trước như Tô Hoài, Phạm Hồ, Nguyễn Quỳnh mặc dù tuổi cao nhưng vẫn cần mẫn viết cho các em
Họ đã tự đổi mới chính bản thân mình trong việc mở rộng để tài và tìm tồi hướng khai thác mới mẻ phù hợp với nhủ cầu của cuộc sống và nhu cầu bạn đọc Đến đầu những nám 90, đội ngũ viết cho các em được bổ sung thêm nhiều cây bút trẻ như
Trấn Thiên Hương Nguyễn Quang Thiểu Lẻ Cảnh Nhạc, Nguyễn Nhật Anh,
Hà Lâm Kì, Quách Liêu, Phan Hồn Nhiên (truyện) và Phùng Ngọc Hùng, Trương Hữu Lợi, Dương Thuấn, Mai Văn Hải (thơ) Tiếp nữa là những cây bút không chỉ trẻ vẻ tuổi nghề mà còn rất trẻ về tuổi đời Họ là những người vừa chia tay với tuổi thơ, dang hãm hở bước vào đời, như Hoàng Dạ Thi, Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Chau Giang Thu Tran, Qué Hương, Nguyễn Thúy Loan; và quãng đầu những năm 2000, là hiện tượng Nguyễn Ngọc Thuần Lớp người viết trẻ này
đã đem đến cho văn học thiếu nhỉ những nét mới trẻ trung, tươi tắn, đầy nhiệt huyết Một lực lượng nữa cũng góp phần làm phong phú thêm cho đội ngũ sáng
16
Trang 17tác văn học thiếu nhỉ, đó là chính các em Có thể thấy rõ điểu này qua những tác
phẩm Tuổi xanh, Mực tím, báo Thiếu niên Tiền phong, Đặc biệt, năm 2005, em
Hoàng Lê Quỳnh Như, 12 tuổi đã đạt giải Nhất cuộc thi thơ Quốc tế với bài thơ
Thế giới
Nhìn chung, đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhí từ sau năm 1975 đã phát triển
thật hùng hậu Nó chứng tỏ tính chuyên nghiệp của bộ phận sáng tác cho các em
'Và cũng vì vậy mà chưa bao giờ, văn học thiếu nhỉ Việt Nam lại phát triển phong
phú và đa dạng như ở thời kì này Sáng tác cho các em ngày càng có sự mở rộng
để tài cũng như hướng tiếp cận đời sống, tiếp cận trẻ em và khả năng khám phá
con người Để tài cách mạng và kháng chiến bèn cạnh việc kế thừa và phát huy những thành tựu eñ, còn có sự nhìn nhận và khai thác vấn đẻ ở chiều sâu mới, thực hơn, toàn diện hơn, ví dụ: Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Ngây xưứ và Báy giờ
bạn ở đâu của Trân Thiên Hut Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm đã hướng vẻ những số phận, những sự thật, đôi khi bỉ dat Các tác giả không chỉ để cập tới bom
rơi, đạn nổ, mà còn phản ánh đời sống tỉnh thần, nhãn cách của con người khi đổi
mặt với sự khốc liệt của cuộc chiến Trong chiến tranh không chỉ xuất hiện cái hùng mà còn có cả cái bì Ở đây, khoáng cách giữa cái sống và cái chết, cái cao cả
và cái thấp hèn chỉ là trong gang tấc, có khi, chỉ trong giây phút mà con người ta
làm nên điều kì điệu; nhưng cũng có khi chỉ trong một tích tắc mà họ đánh rơi
mất mình
Khi chiến tranh đã đi qua, được sống với riêng mình, ý thức về “cái tôi” thức
dậy, con người ta bỗng có cảm hứng đi tìm lại mình Đó cũng là lúc Đảng kêu gọi
¡ mới tư duy” Từ chỗ lấy điểm nhìn xã hội làm hệ quy chiếu, văn học chuyển sang cái nhìn đời tư, thế sự, lấy sổ phận con người để đánh giá hiện thực và nhìn
nhận lại quá khứ Chính trên cơ sở đó, những tác phẩm viết về kí ức tuổi thơ đã
bùng nổ như một sự tất yếu Các tác phẩm tiêu biểu là: Tuổi sho im lăng (Duy Khán), Đồng sóng thơ ẩu (Nguyễn Quang Sáng), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quần), Tuổi thơ
khái vọng (Vũ Đức Nguyên), Đường về với mẹ chữ (Ví Hồng), Bà và cháu
(Bang Thi Hanh), Mién xanh thẩm (Trấn Hoài Dương), Tiếng vọng tuổi thơ
{Vũ Bão)
Tiếp cận trẻ em trong đời sổng hiện tại, hiện đại các vấn đề phản ánh của
văn học thiếu nhỉ đã được mở rộng phong phú và đa dạng Mối quan tâm lớn nhất
của các tác giả là trẻ em trong quan hệ gia đình Đây là vấn đề nhạy cảm và tỉnh
tế Có hàng loạt các tác phẩm viết vẻ để tài này như Út Quyến và tối, Em: gái
(Nguyễn Nhật Ánh): Năm đếm với bé Su (Nguyễn Thị Minh Ngọc); Kể thừ (Quế Hương),
se.4QO1#-l3123
Trang 18Chị (Cao Xuân Sơn) Sự đổ vỡ của mô hình truyền thống — gia đình ba thế hệ sống vui vấy đầm ấm — cùng với sự khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường đã ảnh
hưởng không ít tới cuộc sống của mỗi cá nhân, đặc biệt là đời sống trẻ em, có thể
kể tới Bỏ trốn của Phan Thị Thanh Nhàn, #fdnh vỡ của Lê Cảnh Nhạc, Ngây xưa của Trần Thiên Hương (truyện) và Nhà khóng có bổ của Nguyễn Thị Mai (thơ),
Viết về sinh hoạt của trẻ em thành phố, các nhà văn quan tâm ở hai mảng hiện thực: cuộc sống của những trẻ trong các gia đình khá giả và cuộc sống của những trẻ em nhà nghèo, vừa học vừa phải lo toan kiếm sống, thậm chí đi bụi đời Các tác
phẩm tiêu biểu là Kính vạn hoa (Nguyén Nhat Anh), Hoa trén đường phố
(Thu Trân), Kiếng ba chản (Đoàn Lư), Ngày khai trường trong mơ (Kim Hài) Tiếp dạm (Nguyên Thị Ấm) Đặc biệt Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh được đánh giá là "hiện tượng nổi bật nhất”, một bộ sách được xếp hạng “kỉ lục” có số lượng xuất bản vào loại lớn nhất trong lịch sử ngành Xuất bản ở Việt Nam So với các tác phẩm viết về sinh hoạt của trẻ em thành phố, các tác phẩm viết vẻ cuộc sống của trẻ em ở nông thôn ít hơn Nhưng nếu như những tác phẩm thơ thường thể hiện niểm vui trong sáng, giản dị của các em ở thôn quê như Qud thi di chơi (Nguyễn Hoàng Sơn), Bở ve ran (Mai Văn Hai), Làng em có điện (Lê Bính), Làng em buổi sáng (Nguyễn Đức Hậu), Ao làng (Nguyễn Thị Thanh), Con rráu (Thanh Than), Nhd bac tréng ría (Nguyễn Ngọc Hưng) thì các tác phẩm văn xuôi lại để cập tới những số phận, những cảnh đời cụ thể, đượm buồn của những con người sống ở nông thôn, ví du: Nudie mat ngày tụ trường và Thành hoàng qué ngoại của Đào Hữu Phương, Tiếng nói người mẹ câm và Lời ru không bán của
Lê Cảnh Nhạc,
Để tài miền nủi ngày càng phát triển và ghi nhiều thành tựu với các tác phẩm tiêu biểu: Y eng (Dao Vũ), Kỉ vật cuối cùng (Hà Lam Kì), Một lớp trưởng khác
thường (Lương Tố Nga), Chân trời mở rộng (Đoàn Lư), Đường về với mẹ chữ
(Vi Hồng), Truyển thuyết trong mãy (Đào Hữu Phương), Chi bé thối k
(Quách Liêu), Đổi với hứ (Nguyễn Quỳnh) Đặc biệt là nhà thơ người Tay Duong Thuấn với hàng loạt các bài thơ viết vẻ con người và mảnh đất vùng cao đã làm cho người đọc càng hiểu và yêu mến hơn sự hồn nhiên mộc mạc và đời sống tâm hồn chất phác mà biết bao nghĩa tình gắn bó với cách mạng của đồng bào, nhất là của trẻ em các dân tộc thiểu số phía Bắc Năm 2010, Tuyển tập thơ Đương Thuấn viết cho thiếu nhỉ được xuất bản song ngữ (tiếng Kinh và tiếng Tày)
đã làm phong phú cho mảng văn học viết về để tài miễn núi của văn học thiếu nhỉ Việt Nam,
Viết cho lứa tuổi hoa học trò là màng đẻ tài đặc biệt khởi sắc Thể giới nội tâm sâu kín cùng với những rung động đầu đời (tình yêu học trò) được các tác giả
18
Trang 19để cập tới như là sự phát triển tất yếu của đặc điểm tâm lí trẻ thơ Có nhiều tác phẩm tiêu biểu như Báy giờ bạn ở dâu và Có may ngây xưa của Trấn Thiên Hương: Hương sữa đấu mùa của Lê Cảnh Nhạc; Có gì không mà tặng bông hồng của
Hồ Việt Khuê và hàng loạt các truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh như: Còn chú: gì
để nhớ, Cỏ gái đến từ hôm qua, Thông quỷ nhỏ, Phòng trọ ba người, Nữ sỉnh,
Hoa hồng xử khác, Hạ đỏ, Mat biéc, Bàn có năm chỗ ngồi, Bong bóng lên trời
Với những tác phẩm này cùng 45 tập Kính vạn hoa, Nguyễn Nhật Ánh được bình chọn là tác giả tiêu biểu nhất của vân học thiếu nhỉ Việt Nam những năm cuối thế
kỉ XX Sang đầu thế kỉ XXI, Nguyễn Nhật Ánh cho ra mắt bạn đọc bộ truyện dài
Chuyện xứ Lang-bi-ang viết theo lối kể chuyện phù thuỷ, kì bí Bộ sách là sự thử
nghiệm một lối viết mới của nhà văn đang được các bạn đọc nhỏ tuổi yêu quý
Tiếp nữa là CHo rồi xin một vé di tuổi thơ, vẫn với lối viết dí dỏm kiểu Kính vạn hoa, Toi la Bẻ (ö nhưng đấu ấn tâm trạng tác giả đã in đậm nét hơn, tâm trạng của
con người càng đi xa tuổi thơ càng đa điết nhớ vẻ tuổi thơ Đảy là tập sách được
giải thưởng của Hội Nhà van Việt Nam và được chọn đi dự thi văn học thiếu nhỉ các nước Dong Nam A nam 2010
Có thể nói, văn học thiếu nhỉ Việt Nam càng ngày càng mang rõ tính chuyên nghiệp hơn Bên cạnh một đội ngũ tác giả chuyên nghiệp với những sáng tác có ý
thức, có lí luận là những nhà nghiên cứu chuyên về văn học thiếu nhĩ Tuy đội ngũ
những nhà nghiên cứu này chưa nhiều, nhưng họ đã cho ra mắt bạn đọc những công trình lí luận, nghiên cứu văn học thiếu nhỉ đáng trân trọng Đó là Truyện viết
cho thiểu nhỉ dưới chế độ mới (Vân Thanh), Phác thảo văn học thiếu nhỉ Việt Nam (Vân Thanh), Văn học thiểu nhỉ như tôi được biết (Vân Thanh), Đôi
điều tâm: đắc (Vũ Ngọc Bình), Hoa trái mùa đầu (Văn Hồng), Mười năm ghỉ nhận (Văn Hồng), Truyện viết cho thiếu nhỉ sau năm 1975 (Lã Thị Bắc Lý), Thơ với
tuổi thơ (Trúc Chỉ),
Một số tác phẩm được giải cao liên tiếp của tác giả trẻ tuổi Nguyễn Ngọc Thuần
đã thu hút bạn đọc Đồ là Giảng giảng rơ nhện (Giải Ba cuộc vận động “Sáng tác
văn học tuổi 20” năm 2000), Vừa nhắm mắt vữa mở cửa sở (Giải A cuộc thi sáng tác văn học “Vi wong lai đất nước” lần thứ ba 2001 — 2002), Một thiên nằm mộng
(Giải A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhỉ 2001 = 2002) Nguyễn Ngọc Thuần
iết không mới mà vẫn lạ Anh thu hút người dọc ở giọng văn trong trẻo, với
cái nhìn hồn nhiên, đẩy sự ngạc nhiên thơ trẻ Thể giới xung quanh rất quen thuộc
qua con mất của anh bỗng trở nên sống động, tỉnh khôi, trong vất và đấy yêu
thương, mới lạ Nguyễn Ngọc Thuần được coi là một hiện tượng của văn học thiếu
nhỉ Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI
Trang 20Không chỉ đa dang vẻ đề tài và thể loại, văn học thiếu nhỉ sau năm 1975 côn
đa dạng về giọng điệu, Có thể khái quất một điều, văn học thiếu nhi giai đoạn
trước năm 1975 khá nhất quán về giọng điêu Cho đù là giọng giáo huấn, cao đạo
hay giọng trữ tình, êm ái thì đó cũng là giọng xuôi chiểu theo xu hướng ngợi ca
hướng về hiện thực cách mạng và đại chúng nhân dân, diễn đạt kinh nghiệm cộng
đồng với mong muốn giáo dục các em trở thành những con người mới xã hội chủ
nghĩa, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, Quá trình đổi mới đất nước, đổi mới văn
bọc, để cao ý thức cá nhân đã tác động mạnh mẽ tới văn học thiếu nhỉ Các nhà văn viết cho các em đã cố gắng tìm tồi để tạo nên một cách nói riêng, một gương
mặt riêng — giọng điệu riêng, chẳng ai giống ai Mặt khác, do cách tiếp cận dời
sống đa đạng, không bị khuôn vào một hướng duy nhất, văn học đòi hỏi cũng phải
đa dạng vẻ giọng điệu mới có thể thể hiện được nhiều sắc thái khác nhau của cuộc
sống, Cũng không phải mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm chỉ có một giọng điệu mà đôi
khi còn có sự phối hợp, xen kẽ, tạo nên sự đa dạng ngay trong một tác giả Nếu ở
giai đoạn trước, cảm hứng sử thi tạo cho văn học giọng điệu trang nghiêm thì cái
hiện thực đời thường ở giai đoạn này với cảm hứng đời tư — thế sự lại rất cần giọng gần gũi, tự nhiên, bình đẳng, đôi khi suống sã Giọng điệu như một phạm trù thẩm
mĩ có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn Những giọng điệu chính của văn học thiếu nhì giai đoạn từ sau năm 1975 có thể kể tới là giọng báo chí thông tấn, phù hợp với nhịp độ khẩn trương, dồn đập của cuộc sống công nghiệp, hiện đại, đầy ấp những thông tỉn; giọng suy tư, triết lí để cập tới các vấn để
đời tư, thế sự; giọng trữ tình tiếp nối văn mạch truyền thống đậm tính nhân văn,
hướng về những kiếp người, những cảnh ngộ bỉ thương, những tình cảm sáng trong, cao đẹp của con người và những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp của đất nước, quê hương Đặc biệt là giọng tỉnh nghịch, hóm hỉnh, mang tính đặc thù của văn học thiếu nhí Chất hóm, nghịch tạo cho người đọc những tiếng cười sảng khoái được vận dụng như một phương tiện giúp các em tiếp nhận tác phẩm một cách vui
vẻ, thoải mái Nhìn chung, sự đa dạng của giọng điệu đã chứng tỏ tính cập nhật
của văn học thiếu nhỉ hiện nay, không xa rời lạc lõng với đời sống văn học nói
chung: vừa hoà đồng với văn học Việt Nam hiện đại vừa tỏ rõ sức mạnh là một bộ
phận văn học riêng — văn học dành cho trẻ em
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách nghiêm khắc, chúng ta vẫn chưa có nhiều tác
phẩm thực sự đặc sắc, đặc biệt là những tác phẩm đỉnh cao mang tầm nhân loại để
có thể coi là đại điện cho nền văn học thiếu nhỉ Việt Nam đối với thế giới Đây là
một vấn để lớn, đồi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội của tất cả mọi người chứ không chỉ riêng đội ngũ nhà văn
20
Trang 21I
HUONG DAN TU HOC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
'Văn Hồng, Hoa trái mùa đâu Nxb Kim Đồng, H 1986
Văn Hồng Mười nấm ghỉ nhận Nxb Kim Đồng, H 1997
Lã Thị Bắc Lý Truyện wiếi cho thiểu nhỉ sau nấm 1975 Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội H 2000
Van Thanh Phác ¡háo văn học thiểu nhỉ Việt Nam Nxb Khoa học Xã hội, H., 1999
| KIEN THUC CO BAN CAN LUU Y
Văn học viết cho trẻ em ở Việt Nam bát đầu được manh nha từ những năm 20 của thế kỉ XX nhưng thực sự phát triển và trở thành một bộ phận của văn học
Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Năm vững các giải đoạn phát triển của vân học thiếu nhỉ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tấm và những thành tựu cơ bản của mỗi giai đoạn (để tài,
thể loại, các tác giả tác phẩm tiêu biểu )
Giai đoạn sau năm 1975, đặc biệt từ thời kì đổi mới, là giai đoạn có nhiều biến chuyển, đổi mới của văn học thiểu nhi cũng như văn học Việt Nam Cẩn hiểu
rõ tính chất đa dạng, phong phú và những thành tựu của thời kì chuyển đổi này
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Phân tích đặc điểm của những sáng tác cho thiếu nhi thời kì trước Cách mạng tháng Tám nâm 1945 Tại sao có thể nói trước Cách mạng tháng Tám, tuy đã có những sáng tác cho trẻ em nhưng chúng ta vẫn chưa có một nền văn học viết cho thiếu nhỉ?
Phân tích những thành tựu cơ bản của văn học trẻ em Việt Nam trong mỗi
chặng đường phát triển
Hãy phân tích những nguyên nhân tạo nên sự phát triển đa dạng của van học
thiếu nhỉ Viet Nam sau nam 1975.
Trang 22CHUONG II
VÕ QUẢNG
1L GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
1 Vài nét về cuộc đời
Võ Quảng sinh ngày 01 tháng 3 năm 1920 trong một gia đình nhà nho trung lưu ở xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, bẻn dòng sông Thu Bồn, Quảng Nam — Da Nang
(con sông đã in dấu ấn đậm nét trong rất nhiều sáng tác của Võ Quảng) Ông chịu ảnh
hưởng lớn của cha, là một nhà nho, về lòng say mê văn học
Năm 15 tuổi, Võ Quảng rời quê ra học ở Trường Quốc học Huế Năm 17 tuổi, ông tham gia phong trào học sinh yêu nước, gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ Nam 19 tuổi, ðng gia nhập Đoàn Thanh niên Phản đế, làm tổ trưởng, hoạt động bí mật ở Huế Năm 21 tuổi, ông bị Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ, sau đó bị đưa
về quản chế ở quê cho tới lúc Cách mạng tháng Tám bùng nổ Có thể nói, xứ Huế
là nơi đã ghi đấu bao kỉ niệm một thời học sinh sôi nổi, khao khát đối thay và hướng tới cách mạng của ông Những ngày hoạt động ở Huế và thời gian bị quản thúc ở quê nhà, ông đã tranh thủ đọc nhiều và vốn hiểu biết của öng, vì thế cũng
được mở rộng trên nhiều lĩnh vực
Sau Cách mạng tháng Tám nam 1945, ông được giao lầm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính Da Năng Năm 1948, öng được cử làm phó chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam, sau đó là Hội thẩm nhân dân Toà án nhân đân liên khu V Trong suốt 9 nâm nền dân chủ cộng hoà, Võ Quảng đã khẳng định được năng lực hoạt động của mình trên hai lĩnh vực hành chính và pháp luật
Sau năm 1954, Võ Quảng tập kết ra Bắc Ông đã từ chối con đường hoạt động chính trị = một con đường đây thuận lợi và triển vọng đối với ông lúc bấy giờ — để
đi theo nghề viết văn Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Võ Quảng Kể
từ đó, Ong chi chuyên tâm với sáng tác văn học cho trẻ em, hết mình vì trẻ thơ
Ông là một trong những người đã bỏ nhiều công sức để xây dựng nên móng đấu
tiên cho nên văn học thiếu nhỉ dưới chế độ mới Ông là Tổng biên tập đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng (từ 1957 — 1964) Là người tâm huyết với nghẻ, ông đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu bồi dưỡng đạo đức, tình cảm và giáo dục tư cách làm
người cho các em ngay từ tuổi ấu thơ
Võ Quảng mất năm 2007 Tất cá những sáng tác ông để lại cho các em đều là những giá trị tỉnh thần không gì có thể thay thế,
22
Trang 232 Sự nghiệp sáng tác
'Võ Quảng từng tâm sự: "Hãy dành cho con trẻ những gì đẹp đề và tỉnh khiết nhất ngay từ khi trẻ bước vào đời” Và ông đã thực sự nêu gương đó trong cả cuộc đời mình, trong những trang văn như là sự kết tỉnh toàn bộ tài năng và tâm hồn ông Ngoài phần sáng tác thơ văn, Võ Quảng còn viết nhiều tiểu luận, phê bình, kính nghiệm sáng tác và bài giảng về lí luận sáng tác vàn học thiếu nhỉ góp phần đắc
lực vào sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu nhỉ Việt Nam
* Những tác phẩm tiêu biểu về thơ:
* Những bài viết tiêu biểu về tiểu luận — phê bình:
~ Chung quanh vấn để sáng tác văn thơ cho thiểu nhỉ
— Làm thơ cho thiếu nhỉ
~ Truyện đồng thoại cho thiếu nhỉ
~ Thơ cho thiếu nhĩ
~ Nói về ngôn ngữ văn học đi vào nhà trường
~ Một số ý nghĩ chung quanh vấn để sách viết cho thiết nhỉ
Trang 24II THO CUA VO QUANG VIET CHO TRE EM
V6 Quảng quan niệm: “Tho, theo ding nghia cia n6, di là thơ bộc lộ tâm tư
hay vẽ nên một cảnh đẹp, hoặc vẽ nên một cuộc sống, hay phản ánh một thời đại
tất cá cuối cùng đều xuất phát từ những rung động chân thật của nhà thơ Chính
những rung động chân thật và sâu đó đã làm cho chất thơ có sự sống, có hơi thở,
làm cho hiện thực phản ánh hoá sinh động, làm cho chủ để tư tưởng của thơ cùng phát huy mạnh mẽ hơn” (Làm thơ cho thiếu nhí) Ông chủ yếu viết cho lứa tuổi
mẫu giáo và đầu tiểu học Đó là những bài thơ xinh xắn, nhẹ nhàng nhưng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,
1 Thế giới thiên nhiên sinh động, mới lạ và hấp dân
Vườn thơ của Võ Quảng có những bức tranh lộng lẫy của cảnh sắc thiên nhiên Dường như bổn mùa xuân, hạ, thu, đông đều được öng thâu tóm những nét điển hình nhất để đưa vào thơ Đây là một thoáng đổi thay của đất trời khi mùa
xuân chợt đến qua sự thức tỉnh kì diệu của chổi biếc:
Mâm non mắt lìm dim
Cổ nhìn qua kế lá Thấy máy bay hãi hả Tháy lất phất mưa phần
(Mam non)
Rồi cả đất trời xôn xao, chim mudng riu rit, khe suối rì rào, mầm non cùng bật
đậy trong không khí tràn đầy sức sống, hoà thêm một sắc màu với mùa xuân:
Với bật chiếc vỗ rơi
Nó đứng dậy giữa trời
Khoác áo màu xanh biết
(Mam non)
Mùa hạ được gợi tả qua nết vẽ cảnh bổ sen:
Hoa sen sang ruc Niue ngon lita hồng
"Một chú bổ nông Mãi mẽ đứng ngắm
Nước xanh thăm thẳm
Lông lộng máy trởi
24
Trang 25Một cánh sen rơi
Rung rình mặt Hước
(Có một chỗ chơi) Bài thơ mang phong cách cổ điển “Vẽ máy lẩy trăng, lấy động tả tĩnh” Ở
đây, một cánh sen rơi, một cái động chạm rất nhẹ cũng đủ làm mật nước rung
rỉnh, gợn sóng, chứng tỏ nước hồ rất phẳng Tiếng động của cánh sen rơi căng làm tâng thêm sự nh làng của hổ nước Không gian yên tĩnh, thoáng đãng vũ
trong lành như được ướp hương sen, và chú bồ nông kia đường như đã bị thôi
miên bởi cảnh sắc này Bài thơ không chỉ miều tả một cảnh đẹp, mà tác giả còn như muốn giới thiệu với các em một địa điểm chơi thật thú vị và hấp dẫn, mà ở
đó các em có thể vừa vui chơi, vừa thả hồn mơ mộng cùng với thiên nhiên Phải
chăng, đó cũng chính là ấn tượng sâu sắc, là kỉ niệm dịu êm của chính tác giả về
quê hương của mình
Trong con mắt của nhà thơ, bốn mùa xuân hạ, thu, đông không có mùa nào xấu, mỗi mùa đều có những đặc trưng, những vẻ đẹp riêng và Võ Quảng đã di dom gọi bốn mùa như bốn người chăm chỉ, đẩy trách nhiệm để gìn giữ cho đất nước luôn luôn mới mề:
Thay ca đổi kíp,
Đổi mới non sông:
Xuân, Hạ, Thụ, Đảng Mỗi người một vẻ
(Bốn người) Những bài thơ của Võ Quảng viết về cây cỏ thường rất tươi tắn Ông đem đến
cho các em vườn xuân rực rỡ sắc màu, mà ông gọi là "Các màu sắc quý Đủ sắc
trời mây”:
Hoa cải lỉ tỉ Đổm vàng óng ánh
Hoa ca tim tim
Non nudt hoa bau
Hoa ét trang phau
Xanh lơ hoa đỗ
Cà chua vữa độ
Trang 26ĐỒ mọng tru cành
Xanh ngắt hàng hành Xanh lơ cải diếp
(Ai cho em biết)
(Các màu sắc quý)
Đó cũng có thể là Con đường nhỏ với bụi ngải hoang mọc chen bồm bộp; là một chỗ chơi với "hoa sen sáng rực, như ngọn lửa hồng”: một mầm non khi mùa xuân tới bỗng bật dậy "khoác áo màu xanh biếc” Cây cỏ thiên nhiên trong tho
Võ Quảng thường mang một sức sống rất mãnh liệt Khiêm nhường như một mầm non cũng biết “bật chiếc võ rơi" để “đứng dậy giữa trời”, mạnh thì như rừng núi đổi nương “đâm toạc màn sương, mở ra cõi đất" Có thể nói, Võ Quảng yêu hồn nhiên và thám thiết thế giới cỏ cây và vạn vật xung quanh Ông đã thổi vào đấy sự sống vui, chính vì thể mà trong thơ ông thường cố những sững sờ, đột ngột, chứa chất một cái gì đột biển trong bừng tỉnh, trong nấy nở và sinh sôi, võ cùng
đã tran trọng đem tới, không chỉ bồi dưỡng cho tâm hồn trẻ thơ thêm phong phú
mà còn giáo dục các em tình yêu thiên nhiên, đất nước
2 Thể giới loài vật phong phú, da dạng và sống động
Nhà thơ Ngô Quan Miện đã có nhận xét: *Trong thơ anh (Võ Quảng) có một
mảng vườn bách thú và bách thảo mà những em bé nào có cái may mắn được vào
déu say mê và yêu thích” Quá đúng là như thế Vườn thơ của Võ Quảng đặc biệt
giầu có về các loài chim thú và cây cỏ Trước hết, ta gập ở trong thơ ông một xã hội chim, thú rất đông vui và sinh động Gần gũi nhất với người là mèo, gà, vịt,
26
Trang 27cái đẹp ấy chính là nhờ bàn tay lao đóng, nhờ công sức của con người.' Ví dụ, không phải bỗng dưng mà em có dược một mảnh vườn xinh đẹp đủ hương thơm,
(Ai cho em biết)
Vo Quảng là người có trách nhiệm cao với các bạn đọc nhỏ tuổi Ông luôn
luôn có dụng ý rất rõ là mỗi bài thơ phải giáo dục cho các em điều gì Ta thường
gap trong tho Ong mot ý nghĩa giáo dục, cụ thể là hướng các em vào những việc làm tốt như chăm học châm làm, giúp mẹ, đậy sớm, sạch sẽ, tập thé duc, Nhung
đó không phải là những lời giáo huấn khô khan, go ép, tho thién ma ông luôn khéo
léo gài lông ý nghĩa giáo dục trong những hình ảnh đẹp trong cách nói nhẹ nhàng
Hình ảnh chim yến xem nhẹ gian láo đi kiếm mồi nuôi con:
Đa với cải chết
Xem nhẹ gian lao Yến vắt lên cao
Hạ xuống vách đá Miệng ngậm con cá
Đến đút cho con
(Chim yến)
Và hình ảnh thím Vac mò tôm bên hồ nước long lanh bóng sao Hôm:
Ngoài sông thím Vạc Lặng lể mò tôm
Bên cạnh sao hom Long lạnh đây nước
gợi trong chúng ta hình ảnh những người mẹ tần tảo sớm hôm, vất vả lao động để
nuôi chúng ta khôn lớn,
28
Trang 28chó, trâu, bò, lợn Xa hơn là những con chim trời như chào mào, chìm khuyên,
cò, vạc, qua, vàng anh, bói cá bổ chao, cổ đỏ, bách thanh, vẹt ; có cả những con vật ở rừng như thỏ, nai, cáo voi và cá những con vật ở dưới nước như: bồ nông,
chấu chàng, ếch nhái Tất cả họp lại một xã hội chim, thú rất đông vui, day
những tiếng hót, tiếng kêu, tiếng vỗ cánh ríu rít, ính ỏi như thế giới trẻ thơ đầy
ap tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, thật nhộn nhịp và đáng yêu Võ Quang đã thổi
vào trong những loài vật ấy một tâm hồn để chúng hiện lên có sinh khí, có hoạt
động như con người Bạn đọc thú vị khi gập trong thơ ông một con trâu mộng
con đã Thấy cái hoa nớ, liên quên hết mọi chuyện, kẽ mũi lên hít hít Hình ảnh
chú bê gợi cho ta liên tưởng tới những em bé hay khóc, hay vòi, hay hờn déi,
nhưng cũng đễ quên, khóc đấy nhưng lại cười ngay được Võ Quảng viết về các
on vật như viết vẻ chính những cảm xúc, những suy nghĩ của tuổi thơ mình Và bạn đọc đọc thơ ông như cũng được gặp lại chính tuổi thơ của mình ở đồ
3 Những bài học đầu tiên về cuộc sống
V6 Quang quan niém: “Van hoc cho thiếu nhỉ còn đặt ra vấn để chính yếu thứ hai, đó là vấn để giáo dục: Giáo dục cái hay cái đẹp cho thiếu nhỉ Người viết cho thiếu nhỉ là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một nhà giáo muốn các em trở nên tốt đẹp Quan điểm sư phạm và vàn học thiếu nhỉ là hai anh em sinh đôi” 'Võ Quảng cũng quan niệm rằng không thể nói với các em những lời ran day, công thức khó khan mà văn học thiếu nhỉ cần mang nhiều tính chất vui tươi, hồn nhiên
đí dỏm; sức tưởng tượng có thể mở ra bay bổng tung hoành Với quan niệm như vậy, Võ Quảng đã sáng tác những bài thơ không chỉ giúp các em cảm nhận vẻ đẹp xung quanh, vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn giúp các em hiểu sở đĩ có được
27
Trang 29Ý nghĩa, triết lí và bài học giáo dục của việc đậy sớm được Võ Quảng thể hiện
hết sức tài hoa trong một bài thơ nhỏ nhắn, xinh xan chỉ có 36 chữ:
Ai dậy sớm Bước ra nhà
Phần thưởng của người đậy sớm, của em bé đậy sớm là hương hoa, là ánh bình
minh, là cả đất trời mênh mông buổi sáng, là tất cả những gì tươi mới, tỉnh nguyên
nhất của thiên nhiên, thật thú vị biết bao! Con bài học để cho xuân đất trời có
muôn màu sắc tưng bừng tuyệt đẹp là tất cả các con vật phải cùng biết "pha chung
mầu sắc” Đó là bài học về tình đoàn kết, về sức mạnh của tập thể mà Võ Quảng khéo léo nhắc nhờ các em qua bài thơ “Phải chung mau ke Và rất nhiều bài học
khác nữa, Võ Quảng cứ thủ thỉ tâm tình, thủ thỉ trò chuyện, từng bước dân đất các
em vào cuộc sống, hướng các em tới những tình cảm yêu thương tốt đẹp, những
rung động thẩm mĩ trong sấng|của niềm vui lao động và cống hiển:
Lâm xong mọi việc tốt
Đến lúc nghỉ xả hơi
Nẵng sớm vào ngói chơi
Giữa nụ cười quả đỏ
Lồng trong chất thơ vui tươi, ngộ nghĩnh, Võ Quảng luôn mang đến cho người
đọc thưởng thức cái vui của lao động, của nảy nở, sinh sôi
29
Trang 30“Anh Đom Đĩm”, đù chỉ là một đốm sáng một sinh thể phát sáng nhỏ nhọ
Nhà mắt sảng
Cổ trong ngồi
Giĩ khoan thai
Bay véo ctta
Cĩ thể lấy ý kiến của nhà nghiên cứu vân học Phong Lê để đánh giá về thơ
của Võ Quảng: “Thơ Võ Quảng ít nối điều gì cao xa, to tất, trừu tượng Ơng chi nĩi những chuyện nhỏ nhẹ, bình thường, với giọng khiêm nhường, nhiều khi vui, hĩm, ngộ nghĩnh Nhưng thơ ơng, mặc dù vậy, hay chính vì vậy, lại rất giàu ý vị
giáo dục Đĩ là chỗ, theo tơi, thực sự là thành đạt trong thơ cho lứa tuổi thơ của Võ Quảng"
HL VAN XUƠI CỦA VÕ QUẢNG VIẾT CHO TRẺ EM
Mảng văn xuơi viết cho thiếu nhỉ của Võ Quảng khá phong phú Ngồi những
truyện đồng thoại, những sáng tác cịn lại cĩ thể thâu tĩm trong một đề tài bao
trùm là Quẻ hương và Cách mạng Từ Cái Thăng (1961) đến Chỗ cây da làng (1964) và tiếp nữa là Qué nội (1973), Tảng sáng (1976), Võ Quảng vẫn tha thiết
với nguồn cảm hứng về cách mạng, về sự hồi sinh, “bừng lên một làng” như trong
Nhật kỉ sáng tác ơng đã từng ghi Đồ là sự bừng tỉnh của làng Hồ Phước, quê hương ơng khi cách mạng tới Cách mạng tháng Tám là "cái bản lẻ” giữa bĩng tối
và ánh sáng Điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét trong số phận từng nhân vật
trong Qué ndi va Téing sáng Sau day xin giới thiệu mảng truyện đồng thoại và hai tiểu thuyết rất nổi tiếng của ơng là Quê nội và Tăng sáng
1 Truyện đồng thoại
Đồng thoại là một loại hình văn học rất hợp với thiếu nhí Với thuộc tính cơ
bản là sự tung hồnh của trí tưởng tượng, truyện đồng thoại dé đập vào mắt,
30
Trang 31
tác động trực tiếp vào trí tưởng tượng, làm cho các em dễ hiểu, đễ xúc động Tu:
vậy, sự tưởng tượng của đồng thoại cho dù có bay bổng đến đâu cũng đều phải bất nguồn từ thực tế di rất xa xôi, hoặc từ một thói quen về tập tục, vẻ tín ngưỡng nào
đồ, chứ không phải là sự tưởng tượng tuỳ hứng Những truyện đồng thoại của
Võ Quảng được tập hợp trong hai tập Những chiếc áo ấm (1970) và Bài học tốt
(1975), với những truyện tiêu biểu như Chuyến đi thứ hai, Bài học tốt, Trang một
hồ nước, Hòn đã, Mèo tắm, Trắng thức, Mất Giác đồ hoe Những chiết áo ấm,
Trai va Oc gai
C6 thể nói, sau Đế Nên phiếu a ki cha To Hoai, ban doc tré tho lai tiếp tục
được hưởng một niềm vui thực sự tươi mới, bổ ích và thú vị trong những truyện
đồng thoại của Võ Quảng Truyện đồng thoại của ông nhẹ nhàng mà thấm thía
Nó mang đến cho trẻ những bài học bổ ích, giúp trẻ vững vàng hơn trong quá trình
hoàn thiện nhân cách của mình
Các truyện trong tập Aiững chiếc áo ấm phần lớn được cấu tứ trên "sự tích”
đân đã như con cóc lầ cậu ông trời cái mai rùa rạn nứt, cập mắt giếc đỏ hoe, bộ
lông của hồ có vẫn Từ những chất liệu quen thuộc ấy ông đã dựng nên những câu chuyên, những nhân vật có tình tiết, chân dung khó quên và những bài học
giáo dục thật sâu sắc
Chuyến đi thứ hai kể vẻ hai anh em Cóc Tía và Cóc Bịch cũng định bất chước
cụ tổ đi lên trời, bắt trời làm mưa Chuyến dĩ vỏ cùng vất vả, nhưng cũng may là Cóc Tía gập được Cò Bạch Cò Bạch thường bay cao, bay xa, hiểu biết rộng nên đã giúp cho Cóc Tĩa “thấy rõ nhân dân vùng này, trong mấy năm qua đã đấp những đập cao ngăn nước, cho nước chảy vào các ao hố Nước các ao hồ đăng lên Họ lại đào những con mương đủ các loại lớn nhỏ, cho nước chảy đến tưới khắp cánh đồng Ông Trời không mưa nhưng họ vẫn có thừa nước để tưới ruộng Hoa mau luôn luôn xanh tốt, ngô lúa phất cờ! Họ chẳng cần có con cóc gọi mưa! Ông Trời
có mưa hay không mưa, cũng chẳng làm sao cả!” Như vậy, câu chuyện không chỉ:
dừng lại ở việc viết về các con vật Rõ ràng hình ảnh một nông thôn mới với những con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời đã được Võ Quảng giới thiệu với các em một cách thật tự nhiên và rõ rằng
Bài học tốt cho các em được gặp gỡ với một chú Rùa hay lười, hay ngại, muốn
ý vào người khác nên đã bám vào chân ngựa để chạy cho nhanh Rốt cuộc là Rùa
bị ngã văng ra xa, mai vỡ thành nhiều mảnh, nhưng *cũng rất may, từ đó Rùa rút
ra được bài học tốt Rùa đã quyết rèn luyện cho mình có được tính kiên nhẫn luyện
tập thành công và đã thắng trong cuộc thi với Thỏ Thật thú vị khí người đời
31
Trang 32thường nói tới vấn để “ăn bám sống bám”, nay Võ Quảng có thêm khái niệm
“đi bám” Với câu chuyện này, Võ Quảng đã giúp cho các em nhận thấy rằng: sự
bam víu, tầm gửi trong cuộc sống là điều vô cùng đáng ghết và nguy hại
Truyện Anh: Cứt lúi nói tới nhân vật anh Cun cút quen thói lần khân chỉ sống
bằng dự định nên nhà cửa chẳng có, cả cuộc đời phải sống chui lúi, mang tiếng cười cho thiên hạ Câu chuyện vui, hóm hỉnh là một bài học vô cùng sâu sắc và thiết thực "nghìn cân dự định không bằng một lạng thực hành.”
Đáng chú ý là câu chuyện Những chiếc áo đớn Không phải ngẫu nhiên mà
VO Quang lay tên truyện này để đặt tên cho cả tập sách Truyện không chỉ đem đến cho các em một bài học vẻ tình đoàn kết vé sức mạnh của tập thể mà ở day các em còn bắt gập cả một xã hội — rừng xanh ~ với muôn loài thật là thú vị Mỗi loài đều có biệt tài riêng của mình: Nhím thì xâu kim, Tam thì xe chỉ, Ốc Sên vạch
phẩn Bọ Ngựa cất vải, Ốc Độc khâu chỉ, Và điều quan trọng là tất cả cùng biết
phát huy hết khả năng của mình, nương tựa, sưởi ấm cho nhau trong suốt cả cuộc đời Chúng làm nên bài hát rừng xinh cuộc sống ở rừng xanh
Trang một hồ nước là câu chuyện cảm động, đây triết lí Giếc và Nồng Nọc là đôi bạn rất tâm đầu ý hợp, cùng sống chung trong một hồ nước Chợt một höm
“Giếc nhìn thấy phía trên bụng của Nòng Nọc có hai cục thịt lồi ra Giếc tưởng đó
là đôi vay eda Nong Noc dang moc Hod ra khong phải là đôi vảy, mà nhìn kĩ đó
là đôi chân trước của Nòng Nọc Tiếp theo doi chân trước, đôi chân sau của
Nong Noe moe cing dai, cing khoẻ Giếc không sao hiểu nổi một việc lạ lùng như
vậy!" Rồi đến một hôm, Giếc thực sự kinh ngạc khi thấy người bạn của mình bị
rụng đuôi, ngồi chêm chệ trên một lá sen giữa hổ Người bạn có tên gọi Nòng Nọc
đó đã trở thành Nhái Bén Câu chuyên vui, dí đồm đem đến cho các em một bài học kì điệu vẻ thế giới tự nhiên Đó là sự biến hoá từ nông nọc đến nhái bến, nòng
nọc thì sổng dưới nước, còn nhái bén thi lại ở trên cạn Nhưng không chỉ có thế, câu chuyện còn làm cho các em cảm động vi tinh bạn gắn bó giữa Giếc và Nồng Nọc
Tuy mỗi người sống ở một môi trường, và trải qua rất nhiều biến động, nhưng đôi
bạn "vấn thân nhau trong cả cuộc đời, từ lúc bé thơ đến khi khõn lớn”
Võ Quảng không ham viết dài Truyện của ông thường ngắn và động Chỉ
bảng một vài nét phác hoạ, öng đã dựng nên một cánh trí, một tình huống, mà ở đó
có đủ màu sắc, âm thanh sống động làm toát lên ý nghĩ cũng như tư tưởng của
người viết Truyện của ông mang dáng dấp của những ngụ ngôn, *ý tại” mà “ngôn ngoại” Không phải võ cớ mà Vũ Ngọc Bình đã nhận xét: "Cách viết truyện của
Võ Quảng khác nào công phu của ốc trai trong Trai và Ốc gai đã chất lọc ánh sáng
32
Trang 33mầu sắc của mặt trời và mật trăng, của sao dêm và biển cả để làm nên ngọc quý
Nếu tư tưởng và ngôn ngữ được chất lọc thành những tỉa sáng và gam mầu
tỉnh điệu, rút ra từ cuộc sổng và qua lao động sáng tạo thì có thể xem đó là văn
chương ngọc quý.”
Những câu chuyện là chuyện của một bẩy chim khí bay qua con sông có hai
trụ cột cao thế, chúng cứ tưởng đó là hai cái trụ chống trời Bay chim lao xao lo sợ
nhỡ đâu trời sập Chỉ đến khi Bồ Các giải thích rằng đó là hai trụ điện cao thể để
con người có thể chuyển đêm thành ngày thì bầy chim mai th “sung sướng
thở phào” và “tiếp tục ca hát để ca ngợi mùa xuân của đất nước”, đó chính là mùa
xuân xã hội chủ nghĩa Nhã văn Nguyễn Tuân rất thích câu chuyện này Ông cho rằng bên cạnh nhiều thứ cũ đáng quý như gốc tre Thánh Gióng, cây đa làng, con
đồ ngang thân thuộc văn học cho trẻ em rất cắn phải nhắc tới những hình thức hình đáng mới của khoa học kĩ thuật Nguyễn Tuân đã đánh gi
cái câu chuyện văn xuối có cột trụ cao thế càng cua đó, ấy mới
Nhìn chung, truyện đồng thoại của Võ Quảng viết giản dị, để hiểu Ông từng quan niệm: “Tác phẩm văn học viết cho các em là một công trình sư phạm, Người viết cần căn nhắc nên nói cái gì, nói như thế nào để có lợi cho tâm hồn các em ma không ảnh hưởng đến sự thể hiện nghệ thuật Một quyển sách tốt có lúc mở cho trẻ em thấy một ước mơ tốt đẹp, ước mơ đó các em đeo đuổi mãi cho đến khi khôn lớn" (Võ Quảng — Một số ý nghĩ chưng quanh vấn để sách viết cho thiếu nhì)
Có thể nói, những câu chuyện đồng thoại của Võ Quảng thực sự là những "công trình sư phạm” góp phản giáo dục cho các em cá vẻ trí tuệ, vẻ thẩm mĩ và về phép đổi nhân xử thế trong cuộc đời
2 Tiểu thuyết Quê nội và Tỉng sáng
Từ những năm 60, Võ Quảng đã bắt đầu ghỉ chép, dự định sáng tác một tiểu
thuyết đài vẻ quê hương Hoà Phước của öng Đến năm 1973, Quế nội được xuất bản và tiếp đến, năm 1976 là sự ra đời của Tỉng sáng, Ông đã mất 15 năm để viết chưa đẩy 400 trang sách Vẻ hai cuốn tiểu thuyết này, trong sổ tay sáng tác của ông có ghi: Chủ để: "Bừng lên một làng” Ông coi đó là “mật trời” và các nhân vật
là “hành tinh” hoạt động xung quanh nó tạo nên đường dây cốt truyện Trong hai
tập sách này, điều mà Võ Quảng muốn nói với các em chính là tình yêu quê hương bao giờ cũng gắn với tình yêu cách mạng: càng yêu quê hương thì càng thêm yêu cách mạng; và càng gắn bó với cách mạng thì càng thêm yêu quê hương
Qué ndi ké vé chit Hai Tuan cing cau con trai là Cù Lao, sau bao năm lưu lạc
xứ người, đến khi Cách mạng tháng Tám thành công mới tìm đường về quê,
33
Trang 34nhận lại họ hàng ruột thịt Cùng với sự trở vẻ của cha con chú Hai Tuân, cả làng Hoà Phước như cũng được hồi sinh: Những người nghèo khổ, cô đơn được quan
tâm làm nhà, được cung cấp phương tiện sình sống, trẻ em được cấp sách tới trường học chữ Tất cả cùng hồ hởi bất tay vào xây đựng cuộc sống mới, nhưng
không ai quên những ngày quá khứ đau buốn Hiện tại — quá khứ đan xen nhau trong lời kể của cậu bé Cục (nhân vật Tôi — người kể chuyện) đã làm nổi bật thân
phận từng nhân vật Những chị Ba, anh Bốn, chú Hai, dì Nam, ông Bảy, bà Kiến,
thấy Lê Tảo đều được tác giả nghiền ngẫm vẻ những nỗi khổ cực và những
phẩm chất tốt đẹp của họ, và cổ gắng vẽ lại họ rõ “từng lỗ chân lông” Trong
không khí cách mạng đang sục sôi khắp nơi người ta càng thấm thía nỗi khổ nhục
của những ngày bị áp bức, bóc lột trước cách mạng Con người nghẹt thở vì phải sống với trăm nghìn nỗi sợ: Sợ vua quan, sợ địa chủ, sợ ma quỷ, thần thánh và nỗi
sợ ghê gớm nhất là sợ đói “Từ lúc cha sinh mẹ đẻ cho đến lúc chết, người ta chỉ
có lo một việc, đó là lo đói Lo ngày, lo đêm, đồn hết sức mình vào đó, thế mà van đối Năm nào cũng đối Trồc nã cho được miếng ăn thật là khốn khổ” và rồi thảm hại nhất là "trẻ em chết đói người cứ đen lại” (Owé nội) Biết bao người (như chú
Hai Tuân ông Tùng Sơn, ông Bùi Bảy, chú Hai Cọ ), mỗi người một lí do đã
phải bỏ làng ra đi Và cũng biết bao nhiều người bị đổn vào con đường lưu manh hoá, túng quá phải làm càn như ông Bảy Hoá, lúc thì nổi tiếng vẻ nghề trèo tường khoét vách, khi thì hành nghề thầy cúng bịp bợm Nhưng cách mạng đã vẻ, trả
lại quê hương, trả lại cuộc sống cho tất cả, Làng Hoà Phước cũng như khắp mọi
miễn quê trên đất nước đều được thay da đổi thịt Cách mạng cũng đã nối liên mọi
miền của đất nước, từ núi rừng đến hải đảo đều là anh em một nhà: "Nay độc lập
rồi, tất cả giang sơn như xích lại gần Có gì cách trở nữa đâu, đất nước của mình,
Ig, chẳng sợ bị ai đuổi bất nữa" (Qu nội) Ö Quê nội, tác giả muốn
đưa ra một triết lí: người dân đã mất nước thì không còn có quê hương Chính bởi vậy mà âm hưởng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca, ngợi ca công lao to lớn của cuộc Cách mạng tháng Tám Nhờ có cách mạng, người dân từ kiếp đời nô lệ đã
được trở lại làm người Nhờ có cách mạng mà tất cả lại được sum họp, mọi mối
day tình cảm yếu thương lại được gắn kết, không gì có thể bị chia cất Một sự đổi
đời, một sự hồi sinh mới đã diễn ra trên khắp mọi vùng, mọi miền của đất nước
Tỉng sáng (có thể coi là tập 2 của Ouê nội), vẫn tiếp tục mạch cảm hứng của
Quê nội, kể về sự nghiệp diệt giạc đốt, với chủ để “Bừng lên một làng” Các em thiếu nhỉ lớn tuổi tích cực tham gia Mặt trận bình dãn học vụ, đặc biệt là sự tham gia nhiệt tình của hai nhân vật Cục và Cù Lao Tại đây có một chỉ tiết rất thú vị là Cục và Cù Lao được phân công đến dạy chữ cho bà Kiến thì hoá ra bà là người đã
34
Trang 35rất thông thạo tiếng Tây, tiếng Tàu, ca dao, tục ngữ, hò về và thơ ca Việt Nam
Đúng là trong những buổi đầu cách mạng, con người ta có cái ngây thơ, vụng dại
của sự ấu trĩ, nhưng tất cả đều hồn nhiên, vô tư và niềm vui lúc nào cũng ngời lên
trong ánh mat, nu cười của họ Câu chuyện trần ngập những tiếng cười sảng
Khoái Nhưng rồi, Pháp quay trở lại Đồn giặc xây ngay đầu làng như một cái gai
nhức nhối ngày đêm đập vào mắt mọi người Quê hương lại một lần nữa bừng lên với những ngày đấu tranh gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến chống Pháp Một lớp người mới đang trưởng thành như Cục và Cù Lao, nối tiếp “tre già măng mọc” Đây cũng chính là hai nhân vật trung tâm có mặt trong suốt chiếu dài tác phẩm, đã tham gia vào tất cả mọi biến cố của câu chuyện Nhà vân Nguyễn Tuân
nhận xét: *Quẻ nội và Táng xáng gộp lại thì ta có thể đạt cho nó cái tên là Truyện
hai anh em Cục và Củ Lao, cuốn đầu là phần một để giới thiệu và cuốn sau là
phần hoạt động của nhân vật”
Võ Quảng đã mở ra một con đường của tình bạn với những đặc trưng tâm lí thiếu nhỉ thật tỉnh tế Đó là ước mong được trở thành người lớn; là sự phiêu lưu mạo hiểm; là mong muốn được khẳng định mình và được thừa nhận là người lớn Cục và Cù lao cũng rất may mắn đã được cùng người lớn làm những việc lớn, để tự kiểm nghiệm mình Ví dụ, lần Cục và Cù Lao được cùng dượng Hương Cự và chú Hai Tuân ngược dòng Thu Bồn lên rừng Dùi Chiêng lấy gỗ vẻ xảy trường học; lần
đấu võ với ma quỷ ở chòm đa Lý ; đặc biệt là hai em đã tham gia tích cực và có
nhiều đóng góp trong phong trào diệt giặc dốt Cục và Cù Lao thực sự là đôi bạn
lí tưởng, gắn bó, chia sẻ với nhau và cùng giúp nhau tiến bộ Đó cũng chính là
tình ảnh mạnh mẽ, tự tỉn của lớp trẻ sau cách mạng Có thể nói, cả hai nhân vật
này đều có những nét hao hao hình bóng của tác giả, đặc biệt là nhân vật Cục Cả một tuổi thơ của Võ Quảng đã hiện lên sống động trong những trang sách này
5
Trang 36Dường như ông đã dồn hết mọi tâm lực, kinh nghiệm và kỉ niệm của tuổi thơ, tuổi trẻ sống hết mình với quê hương, khao khát đến với cách mạng để xây dựng nên
hai nhân vật này Nhưng không chỉ có thế, trong hình ảnh Cục và Cù Lao còn có
sự hiện diện của tất cả tuổi thơ mỗi chúng ta Đọc Quế nội và Tầng sáng, hầu như
ai cũng ít nhiều tìm gặp lại được một chút tuổi thơ của chính mình, đó là những
ước mơ, là khát vọng làm được việc tốt; là những cái tỉnh nghịch và sự ham say chơi đùa, có khi vô cùng vụng dại
Có nhiều tác phẩm viết vẻ để tài cách mạng, nhưng có lẽ Qué noi và Tảng sáng nằm trong số những tác phẩm hay nhất Võ Quảng đã tạo ra được hơi
thờ riêng, mầu sắc riêng, không giống với bất cứ ai Chính cái lối đi riêng đó đã
tạo nên sức hấp dẫn và giá trị lâu bền của tác phẩm
1V VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ VẤN VÕ QUẢNG
1 Nghệ thuật miều ta
'Võ Quảng có nghệ thuật miêu tả loài vật rất tỉnh tế Ông không ham tả nhiều
mà chỉ bằng vài chỉ tiết chọn lọc, ông đã khắc hoạ con vật một cách nổi bật với những đặc điểm bể ngoài đễ nhận biết, ví dụ:
(Được! Được!)
Con gà mái nhảy ổ:
Bông mái hoa đổi nết Cái đấu nó nghếth nghếch,
36
Trang 37Cái cổ nó thất thói,
Nó kêu: Tót, tôi, tót
(Ga mai hoa)
Hay con chim cu:
Chim cụ đeo cườm
Áo pha màu đất
Những con vật qua cách miêu tả của ông hiện lên thật sống động Ông không
chỉ quan sát ngoại hình của con vật mà cồn lột tả tâm tính của chúng Bài thơ
Ba chị gâ mái không chỉ thể hiện một Võ Quảng hóm hỉnh mà còn cho thấy một
Võ Quảng thật duyên dáng và tính tế Phải hiểu biết kĩ lắm, ông mới có thể nấm bắt được những tình tiết như thế này: Mái Nâu thì “uống ngụm nước mưa / như
người say sưa / nhấp li rượu ngọt”: Mái Trắng yếm đỏ hoa vông thì “mắt nhìn tha
thiết”; còn Mái Đen thì “đi đứng loãng quảng / như người mất của”, cổ lúc lại "tần ngắn, mất nhìn đớn đác” Nhiều bài thơ của ông giống như một hoạt cảnh, một câu chuyện biến đổi linh hoạt, ví dụ: Mỏï vào; Được! Được!; Thuyền lưới; Chú châu chàng: Gà mái hoa đem đến cho bạn đọc một cảm giác mới lạ, thú vị Trẻ mẫu giáo rất thích nghe những bài thơ này bởi vì các em có thể vừa nghe, vừa hình dung ra các con vật với những hình ảnh tiêu biểu nhất của nó: Con Thỏ thì vềnh cái tai, con Nai thì vẽnh bị ngộ nghĩnh, ngây thơ; anh Đom Đóm thì như người lính gác chuyên cẩn, đêm đêm xách đèn đi bảo vệ giấc ngủ cho mọi người
và sự bình yên của lầng xóm; thím Vạc mò tôm bên hồ long lanh bóng sao Hôm gợi lên hình ảnh những bà mẹ tảo tần của mỗi chúng ta Đây thực sự là những bức tranh cuộc sống sinh động, kích thích sự tìm tôi, khám phá trong trí tuệ; sự
xúc động, cảm thong trong tinh cảm của các em
Nghệ thuật miều tả thiên nhiên của Võ Quảng cũng rất đậc sắc Ông thường
phát hiện ra những vẻ đẹp thiên nhiên gần gũi mà kì diệu Đọc thơ của ông, các
em sẽ có cảm giác như được dạo chơi trong một công viên kì lạ Ở đó có biết bao loài chỉm, loài cỏ thơm, có cả những giọt sương sớm, những ánh nắng ban mai, những chú gió tỉnh nghịch Thiên nhiên rộn rằng âm thanh và rực rỡ màu sắc,
day ấp tiếng cười, tiếng hát nhưng cũng rất thơ mộng và óng ả
37
Trang 38Văn xuôi Võ Quảng cũng có những trang miễu tả thiên nhiên thật tài hoa và sâu sắc Trong Qué nội và Tảng sáng, Võ Quảng đã vẽ nên cảnh quế thật lộng lẫy
và xinh đẹp Đó là một vùng “đất trời rực rỡ như đệt bằng những tơ vàng” Ông
nặng tình, nặng nghĩa với mảnh đất ấy, chính bởi vậy mà ông miêu tả thiên nhiên
không chỉ bằng chữ nghĩa, mà băng cả trái tìm, bang kỉ niệm bồi hồi và nỗi nhớ
không nguôi
Đây là hình ảnh con sông Thu Bồn hiện lên trong sương mù của hoài niệm:
Ánh sáng trong veo cho đến tháng chín Núi Trường Định, hòn Cả Táng vẫn
xanh rời rợi Đến thụ có vài hạt mưa bay Đến tháng mười có gió heo máy, có mây
mù Mưa lại đổ Con sông Thu Bồn lại phênh ra, đổi mâu xanh ra vàng Nhưng
chỉ hơn một tháng con sông trở nên xanh leo lẻo Vạn Hoà Phước trở lại trong veo
thấy được hòn sỏi dưới đây nước Thuyền qua lại đông hơn
Con sông Thu Bản tả xung hữu đột ra khải Phường Rạch mới thở phào, xả hơi,
bước những bước khoan thai, lượn giữa những ngàn dâu và bãi đâu xanh xuống
Hoà Phước dang đối tay ôm vào lòng thơm đất Gò Nổi
hoá nhẹ nhàng Cánh buém giương cao toả rộng lưới trên sóng xanh, bay đến chỗ
chân trời, van sing quắc như những thanh gươm mỏng và nhọn
(Quê nội)
38
Trang 39Hoặc là đoạn miêu tả một thoáng mùa hè ở miễn Trung:
Mùa hè, bãi dáu chuyển màu xanh đậm Nẵng to Đất nia, đỗ nẻ, vững nổ Đến tháng chín trời bồng âm u, rồi những cơn mưa tối đất Gió heo may đẩy máy
về phía núi
(Quê nội)
Có thể tầm thấy rất nhiều đoạn văn như thế này trong văn xuôi của Võ Quảng
Nhìn chung, cả thơ và truyện của öng đều có một sự hài hoà, đều có cái đáng riêng
rat dé nhận thấy
2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và nhạc điệu
Thơ văn Võ Quảng rất giàu nhạc điệu Trẻ em thích thơ ông và dễ thuộc thơ ông cũng vì nhạc điệu trong đó Có những bài đọc lên thấy linh hoạt, tự nhiên như một bài đồng đao quen thuộc như Chị chổi tre, Mới vào„ ; c6 những bài êm dịu, hài hoà như Tuyển lướt, Anh Đom Đóm ; lại c6 những bài tiết tấu luôn luôn thay đổi như Gà mái hoa, Báo mưa
Hệ thống ngôn ngữ trong thơ văn Võ Quảng thường là những từ thông dung,
giãn dị, dễ hiểu nhưng ông lại đặc biệt chú ý sử dụng các biện pháp tu từ để làm
cho vốn từ ngữ đó thật sinh động và hấp dẫn Xét ở phương diện đối tượng miêu tả,
thơ Võ Quảng đường như không khác thơ Phạm Hồ, nhưng ở nhịp điệu thơ thì có
những nét thật riêng biệt, thật độc đáo Cùng là những câu thơ ngắn, nếu thơ
Phạm Hồ vui tươi, ngộ nghĩnh với những lời hỏi đáp, thì thơ Võ Quảng lại chắc khoẻ với những từ láy, những thanh trắc, những cử chỉ, hành động luôn luôn biến đổi Võ Quảng rất sành dùng vấn trắc trong thơ Có lẽ vấn trắc hợp với tâm hồn
vui tươi, nghịch ngợm của trẻ thơ nên các em rất thích thơ ông Hãy xem ông sit
dung van trắc khi miêu tả con lợn:
Lung may mip mip
Mat may béo hip
Đuôi mày ngúc ngoắc
Trang 40Toi bdo tréi mua
Võ Quảng biết khéo léo kết hợp những mảng từ tượng thanh bằng cách dùng
hoàn toàn tiếng kêu của loài vật, ví dụ: gà mái thì đục, tục, ác; vịt thì các, cạc,
Ợ Ỉ i hoặc sắng tạo ra những từ tượng thanh rất đất
để mô phỏng tiếng kêu của loài vật, tiếng động của cỏ cây Những từ này cũng
toàn là vần trắc cả, ví dụ: Con gà mái bình thường kêu /ó:, tớ, khi giật mình kêu
ode: con vịt kêu Gấp, gắp; con nhái ọc, học, ọc hoc: con chau ching ọc uộc, học
thuộc; con lợn kêu được, được và vui nữa là cái chổi quét rodc, rodc! that
vui tai
Văn xuôi của Võ Quảng cũng rất giàu nhạc điệu Đọc văn của ông, ta thấy chất thơ trong từng câu, từng chữ Hãy nghe tiếng nhạc trong đoạn văn ông miêu
tả cảnh hai có gái đang nhún nháy xách đèn đi học bình dăn:
Hai ngọn đèn gặp nhau cùng cất cao, nhập lại, tách ra nhún nhảy trôi ra con