1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa kiến trúc: Phần 2

116 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa kiến trúc: Phần 2
Tác giả ThS. Đinh Thị Thanh Thủy
Trường học Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Di sản văn hóa kiến trúc
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 1963
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 11,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa kiến trúc được biên soạn nhằm giới thiệu về một số di sản kiến trúc cũng như hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các di sản này; về việc tiếp cận một số kinh nghiệm bảo tồn di sản kiến trúc của một số quốc gia trên thế giới. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 cuốn sách.

Trang 1

VÈ DI T ÍC H Đ Ư Ờ N G H Ầ M D IN H GIA L O N G

ThS Đinh Thị Thanh Thủy

Sự kiện xây hầm bí mật trong Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh) đã làm tốn hao rất nhiều giấy mực của các nhà báo những năm 60 thế kỷ XX và các nhà nghiên cứu sử học Đến nay vẫn còn có rất nhiều ý kiến, nhiều tư liệu được đưa ra, tập trung quanh việc thời gian xây dựng đường hầm

1 Từ những tài liệu viết về hầm bí mật:

Sau đêm đảo chánh lật đổ gia đình họ Ngô ngày 01/11/1963, báo giới bấy giờ đồng loạt đưa tin về cái chết của hai anh em Diệm - Nhu

và thêu dệt về sự bí ẩn của căn hầm trong Dinh Tổng thống

Ly kỳ nhất về việc xây dựng đường hầm là tiểu thuyết “Đệ nhất phu nhân” Câu chuyện thiết kế đường hầm gắn với cái tên Võ Đức Diên (giám đốc Nha Thiết kế) Tiểu thuyết kể ông Diên đã vẽ đồ án theo ý kiến của Lê Quang Tung với ba con đường thoát ra ngoài: đường thứ nhất từ Dinh Gia Long đâm ra sông Sài Gòn, đường thứ hai

từ Dinh ra Nhà thờ Đức Bà rồi luồn thẳng đến trường Nhà trắng (nay

là trường Trung học Sư phạm Mầu giáo), đường thứ ba từ Dinh chạy ra Chợ Lớn trổ ra N hà thờ Cha Tam Võ Đức Diên vẽ xong bản đồ thì Nhu thưởng tiền, mời một ly ca phê và đã chết sau đó 24 tiếng đồng

hồ Hoàn tất ngày 28/10/1963 thì hai ngày sau, tức ngày 01/11/1963, xảy ra đảo chánh

Bài phóng sự “Sau khi thám hiểm đường hầm trở lên” trên báo Buổi sáng ngày 16/11/1963 có đoạn viết: “Hầm dưới Dinh Gia Long

kể ra cũng vững chác vì toàn bàng xi măng, chắc hẳn bên trong phải có cốt sắt Dưới đất vẫn còn vết tích của gần hai tuần không được săn sóc, rác rến ngổn ngang, thỉnh thoảng có miểng kiếng và vỏ đạn Cái phòng đầu tiên ghé vào là phòng vô tuyến điện, còn thấy hai ba máy nhỏ nằm lăn kềnh ra Đi m ột đoạn khác có ngõ rẽ tay trái mà đứng đầu là cái phòng nhỏ cũng có cửa sắt cẩn thận, nhưng bên trong lại trống rỗng

Trang 2

( ) Dưới hầm trổ lên là ngay miếng vườn nhỏ ở cạnh đường Lê Thánh Tôn Có hai ngõ trổ lên vườn (gọi là vườn Song Thọ vì cỏ cắt xén rải sạn trắng thành hai chữ “Thọ”); mỗi ngõ đều có xây lô cốt kiên

cố Điểm đặc biệt là mỗi lô cốt đều có lỗ chĩa súng ra n g o à i ”

Báo Tiếng chuông ngày 16/11/1963 viết: “Từ cửa hầm nơi phòng ông Diệm, chúng tôi xuống đường hầm trổ lên miệng hầm, trong vòng rào Dinh Gia Long, cạnh phía đường Công Lý, trước khi đụng sân quần vợt sát đường Lê Thánh Tôn Một sĩ quan cho tôi biết là tuy hiện giờ còn lắm ngách chưa đi, nhưng chắc chấn không có đường hầm nào

ăn thông đến sở Ba Son”

Trên tờ báo Buổi sáng ngày 19/11/1963, một ký giả Hoa Kỳ cho rằng khoảng 8 giờ 30 phút đêm 01/11/1963, Diệm và Nhu trốn khỏi Dinh Gia Long không phải theo đường hầm mà là lên bộ ra ngoài, chui vào ô tô loại Deux Chevaux và thoát khỏi Dinh theo đường Pasteur, chạy vào biệt thự của Mã Tuyên ờ Chợ Lớn Sáng hôm sau, Diệm - Nhu đến Nhà thờ St Francois Xavier (Nhà thờ Cha Tam) lúc 8 giờ 45 phút Ngay sau đó quân đảo chính ập vào bắt hai người lên xe M l 13

Và thế là chấm dứt cuộc đời Diệm - Nhu

Theo “Nhật ký Đỗ Thọ” (cận vệ của Ngô Đình Diệm) thì hầm có hai cửa nhưng có năm lối vào Một lối đi ăn thông với phòng ngủ của Diệm ờ trên lầu Một lối đi cũng như thế ăn thông với phòng vợ chồng Nhu qua hành lang (phía đường Pasteur) Tầng dưới Dinh cũng có hai cửa đi vào hầm được Còn một cửa ở trên cỏ dùng cho lính cận vệ ra vào Trên mặt hầm có hai trụ thông hơi, ở đó có đặt súng đại liên bảo

vệ hẩm ) Hầm ăn thông với nhau qua những cánh cửa nhỏ Phía bên Ông Diệm có một phòng khách, một phòng ngủ, và một phòng tắm Phòng khách đặt chiếc bàn tròn, một cái ghế bành, sát tường một chiếc ghế tràng kỷ Phía ông Nhu cũng có ba phòng, một lớn hai nhỏ nhưng còn trống rỗng, không có dụng cụ nào cả

Với những tài liệu trên, năm 1989, Bảo tàng Cách mạng (tên gọi trước của Bảo tàng Thành phố) đã có báo cáo khảo sát thực tế cấu trúc của hầm và đường xuống hầm Thông tin về thời gian xây dựng đường hầm được nhận định là từ năm 1962 đến trước tháng 11/1963, sau sự kiện hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh

Trang 3

Độc Lập ngày 27/02/1962, buộc tổng thồng Ngô Đình Diệm phải chuyển sang Dinh Gia Long và trước sự kiện đảo chính ngày 01/11/1963.

2 Đen các cứ liệu mói về hầm trong Dinh Gia Long:

Năm 1999, tại buổi tọa đàm về Dinh Khâm sai (tên gọi khác của Dinh Gia Long) trong Cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Sài Gòn, nhà văn Phạm Tường Hạnh có đề cập đến vấn đề đường hầm trong tòa nhà này Năm 1944, ông cùng bạn là Vương Trọng Tôn - là những hưởng đạo sinh - thường phải đến Dinh Gia Long phục vụ mỗi khi có báo động Các ông được Dinh Thống đốc cấp cho băng đeo tay và giấy chúng nhận để ra vào

Theo trí nhớ của nhà văn Phạm Tường Hạnh, đường hầm có bốn cửa, có đường dẫn từ phòng của thống đốc xuống hầm và đường để thoát ra Bấv giờ có hai đường hầm xây bên ngoài rất tiệp với kiến trúc ngôi nhà, một hầm đi xuống và một hầm đi lên; có hai cửa hầm nữa dành cho bồi bếp và phục vụ (hướng ra đường Lê Thánh Tôn) Những hướng đạo sinh phục vụ ngồi ở cửa hầm bên đường Pasteur Khi có báo động, mọi người lánh xuống hầm, còn những hướng đạo sinh lănh mật lệnh, công văn từ Dinh Thống đốc mang đến cơ quan nào đó, rồi nhận biên nhận đem về nộp Ông Hạnh cho biết tài liệu năm 1941 -

1942 ông không có, nhưng khi Mỹ bắt đầu ném bom Sài Gòn năm

1944 thì đã có đường hầm này rồi ô n g Hạnh khẳng định đường hầm này xây từ thời Pháp, đến thời Ngô Đình Diệm thì cho tu bổ lại với mục đích phòng biến

Những nhân vật lịch sử tham gia cắm cờ ở Dinh Khâm sai đêm 24/8/1945 như ông Cao Đăng Chiếm - nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Lê Thanh Vân - nguyên Giám đốc Sở Công an Thành pho; và ông Huỳnh Văn Tiểng - nguyên Phó Chủ tịch ủ y ban Kháng chiến Nam Bộ làm việc nơi đây vài ngày sau Cách mạng Tháng Tám cũng xác nhận

có nhìn thấy đường hầm theo kiểu trancheé trong Dinh

Trí nhớ và thoáng thấy, tất cả chưa đủ sức thuyết phục mọi người

so với những tài liệu trước nay đã biết Nểu như nhà văn Phạm Tường Hạnh từng nói không có tài liệu năm 1941-1942, thì văn bản bằng tiếng Pháp số 458 DN/Coch của Văn phòng Thống đốc thuộc Dinh

Trang 4

Thông đốc Nam Kỳ ngày 30/01/1942 về hiệu lệnh báo động, được lưu giữ tại Cục Lưu trữ Trung ương II đã hoàn toàn làm sáng tỏ vấn đề thời gian xây dựng của đường hầm trong Dinh Gia Long Văn bản này quy định tín hiệu báo động, báo yên và quy định lối lên, xuống hầm theo trật tự đối với những người có mặt trong Dinh.

Văn bản lược dịch như sau:

- Tín hiệu báo động: còi hụ từng hồi cao thấp, kéo dài trong 4 phút, chuông đổ liên hồi trong 4 phút

- Tín hiệu báo yên: còi hụ không cao thấp trong 3 phút, chuông ngân đều trong nhiều phút

- Báo động ban ngày: khi nghe báo động, toàn thể nhân viên văn phòng phải đóng tất cả cửa cái, cửa sổ, cửa phòng làm việc; sau đó xuống hẩm trú ẩn một cách trật tự Lái xe và người giúp việc của văn phòng phải vào hầm trú ẩn; phụ nữ và trẻ em vào các hầm trú riêng được đào cạnh các thảm cỏ bên phía Tây của Dinh Các lái xe phải mở các lưới sắt che chẳn thông ra sân của garage

- Báo động ban đêm: cách bố trí như báo động ban ngày, nhưng mọi việc phải bắt đầu từ sau khi tắt tất cả đèn trong tòa nhà Tuyệt đối cấm sừ dụng đèn pin, diêm quẹt và tất cả các nguồn phát sáng khác

- Trường hợp hỏa hoạn: khi có báo động, toán phòng cháy chữa cháy (gồm các thành viên đã phân công tại văn bản này) phải có mặt ngay ở hầm trú ẩn phía Tây của Dinh; và sẽ được giao một số dụng cụ cứu hỏa ban đầu như: bình chữa lửa, nước, xô, xẻng, c á t

Với văn bản này, có thể nhận định đường hầm trong Dinh Gia Long năm 1942 đã có và do Pháp xây (lựng Một số ý kiến cho rằng Nhật xây là không chính xác vì tòa nhà chỉ là của viên thống đốc Nhật Minoda trong khoảng từ tháng 3/1945 đến cuối tháng 7/1945 (sau đó giao cho khâm sai Nguyễn Văn Sâm) Thiêt kế đường hầm hiện nay có thể được Diệm cho sửa chữa, cải tạo thêm trên nền đường hầm đã có

từ trước

Trang 5

3 Xác định thòi điểm xây dựng đường hầm:

Cũng tại Cục Lưu trữ Trung ương II, các văn bản liên quan đốn việc xây dựng đường hầm trong Dinh Gia Long đã xác định được thời điểm triển khai việc xây cất gồm:

- Công điện số 2836 DN/Coch ngày 27/8/1943 của viên thống đốc Hoeffiel gởi cho ông kỹ sư Giám đốc Sở Công chánh, bộ phận nhà

ờ dân sự, thông báo về việc yêu cầu xây dựng công trình phòng thủ thụ động, bảo vệ đường dây điện thoại ngầm với tổng đài điện thoại hầm trú ẩn của cơ quan chỉ huy phòng thủ địa phương và văn phòng Dinh

- Công văn số 1712 S/D ngày 15/9/1943 của Giám đốc Sở Công chánh trinh phúc đáp thống đốc Nam Kỳ, báo cáo dự toán chi phí công trình trên là 1.500$

- Công điện số 33 ffu BN/Coch ngày 07/10/1943 của thống đốc Hoeffiel trả lời ông Giám đổc Sở Công chánh về việc đồng ý duyệt chi

số tiền theo dự toán đã trình

- Công văn số 5030 D ngày 12/11/1943 của kỹ sư Phó Vụ trưởng

Vụ Kiểm soát - Sở Công chánh Nam Kỳ trình thống đốc Hoeffíel về việc phân tích, chọn lựa một trong năm nhà thầu Sài Gòn; dự toán kinh phí xây dựng công trình phòng thủ thụ động khu vực Dinh Thống đốc

là 4.900$; và xin thời gian bàn giao công trình co giãn trong 2 tháng

- Công văn số 41 D/S ngày 12/02/1944 của Phó Giám đốc Sở Kiểm soát gởi thống đốc Nam Kỳ bản vẽ hầm trú ẩn trong Dinh và đồng thời báo cáo với thống đốc về việc đã lệnh cho Công ty Brossard Mopin chịu trách nhiệm xây cất - khởi công xây dựng

Như vậy, đối chiếu lời kể của nhà văn Phạm Tường Hạnh với các công văn lưu trữ hành chính của nhà cầm quyền Đông Dương xung quanh việc xây dựng công trình đường hầm phòng thủ thụ động Dinh Gia Long, đã có cơ sở kết luận về thời điểm xây dựng đường hầm: cuối năm 1943, đầu năm 1944 Còn văn bàn ngày 30/01/1942 cho phép nhìn nhận đường hầm đầu tiên có thể là dạng hầm trú dã chiến

4 Xác lập hồ sơ di tích:

Đường hầm Dinh Gia Long trong khuôn viên của Bảo tàng

Trang 6

có giá trị lịch sử sưu tầm được qua nhiều năm, đã hội đủ điều kiện để những nhà quàn lý nhà nước về di sản văn hóa xem xét, lập hồ sơ xếp hạng di tích.

Đây là kiểu di tích nằm trong di tích - di tích đường hầm Dinh (ìia Long trong di tích tòa nhà Bảo tàng Thành phổ x ế p hai di tích này vào dạng di tích kiến trúc nghệ thuật hoặc di tích lịch sử đều có giá trị riêng của nó

Kiến nghị Thành phố Hồ Chí Minh xác lập hồ sơ xếp hạng di tích Đường hầm Dinh Gia Long để có kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị

di sản, đưa di tích độc đáo này vào chương trình tham quan, du lịch đối với khách trong và ngoài nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 No 485-DN/Coch: Consigne d ’ Alerte, Cabinet du Gouvemeur

- Gouvemement de la Cochinchine, Saigon, le 30 Janvier 1942

2 No 2836 DN/Coch: Défense Passive Protection des Standards Téléphoniques, Gouverneur à Ingénieur en Chef des Trauvaux Publics, Saigon, le 27 Aout 1943

3 No 1712 S/D: Protection des Standards Téléphoniques, Travaux Publics - Cir/conscription de Cochinchine, Saigon, le 15 Septembre 1943

4 No 33 ffu BN/Coch: Defense Passive Protection du Standard

du Cabinet, Saigon, le 7 Octobre 1943

5 No 5030 D: Protection du Standard du Cabinet du Gouvemeur, Travaux Publics de Cochinchine - Arrondissement Technique, Saigon,

le 12 Novembre 194

6 No 41 D/S: Abri pour Standard du Goucoch, Travaux Publics

de Cochinchine - Arrondissement Technique, Saigon, le 2 Févier 1944

7 Trần Tấn Nghi (1989), Hầm bí mật trong Dinh Gia Long của

Ngô Đình Diệm, Báo cáo của Bảo tàng Cách mạng TP Hồ Chí Minh.

8 Tài liệu ghi âm buổi tọa đàm Dinh Khâm sai tại Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh ngày 05/6/1999 (do Đinh Thị Thanh Thủy ghi lại từ băng)

Trang 7

Trong 300 năm hình thành và phát triển, khá nhiều những công trình kiến trúc tôn giáo và văn hoá đã được xây dựng trên mảnh đất Sài Gòn - Gia Định này Chỉ riêng về nhà ở dân dụng, thành phổ là nơi quy

tụ khá nhiều các kiến trúc của các bộ phận dân tộc đến sinh sống và cư trú trên vùng đất mới này như Khmer, Hoa, Ẩn Đ ộ Nhiều công trình kiến trúc đã được công nhận là những di sản kiến trúc có giá trị về lịch

sừ và văn hoá

Nhà cổ tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một bộ phận của di sản kiến trúc đó Theo thống kê sơ bộ của Phòng Di sản văn hoá và Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay thành phố còn

10 căn nhà đang trong danh sách khảo sát và đề nghị có phương án bảo

những được công nhận là một di tích kiến trúc cổ mà sắp tới khi những

cổ vật trong bộ sưu tập của ông được đưa về đây thì căn nhà còn trở thành một bảo tàng cổ vật

1 Nguồn gốc ra đòi

Những di tích kiến trúc cổ nhất còn sót lại ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ được xây dựng vào thời Nguyễn Có thể lý giải điều đó khá đơn giản là vì tuổi đời của thành phố cũng còn quá trẻ, chưa có bề dày lịch sừ như Hà Nội, Huế, mặt khác do chiến tranh tàn phá nặng nề khiến cho nhiều kiến trúc đã bị phá huỷ Nhà cổ dân gian truyền thống

Trang 8

ở thành phố cũng vậy, phần nhiều được xây dựng vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX với vật liệu chủ yếu bàng gồ: khung nhà, cột, k èo

2 Chủ nhân của những kiến trúc này

Chủ nhân đầu tiên của những ngôi nhà cổ thường là những điền chú, quan lại, công chức, thương nhân Trong số đó nhiều người vốn xuất thân từ miền Trung vào miền đất phương Nam khởi nghiệp do vậy trong kiến trúc những kiểu nhà miền Trung được lấy làm mẫu mực trên cư sở đó cải biến cho phù hợp

3.Đặc điểm của nhà cổ dân gian truyền thống ở Thành phố

Ho Chí Minh

a v ề m ặt kiến trúc

Điều kiện về kinh tế, địa lý Nam Bộ cũng có những tác động mang đến đặc trưng riêng của nhà cổ vùng đất mới này Mặc dù khi đó đất rộng người thưa nhưng không gian đô thị cũng không quá rộng như

ở miền Đông hoặc miền Tây Nam Bộ, nhà cổ dân gian truyền thống ở thành phố thường hẹp về bề ngang mà phát triển theo chiều sâu Tuy nhiên, hầu hết các ngôi nhà cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh đều được đặt trong một cảnh quan sân vườn xinh xắn: có sân trong, hòn non bộ, bể

cá vườn kiểng hài hoà giữa thiên nhiên và cuộc sống thường nhật Với điều kiện kinh tế khá vững vàng, không gian rộng, nhà cổ Nam Bộ thường rộng rãi, thoáng đạt hơn so với nhà cổ dân gian truyền thống ở miền Trung Bên cạnh đó, khí hậu ôn hoà, không khắc nghiệt như miền Trung nên nhà ở thường không phải che chắn kỹ lưỡng Kiến trúc nhà

cổ ở thành phố cũng như ở Nam Bộ không quá chặt chẽ với việc chọn

hướng theo kiểu mê tín dị đoan Quan niệm “ Lấy vợ hiền hoà, làm nhà

hướng Nam” đơn giản là chọn cho mình một hướng nhà thoáng mát,

tiện cho việc ăn ở và làm việc

Kiến trúc nhà cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Các kiểu nhà phổ biến ở thành phố nói

riêng và Nam Bộ nói chung như nhà “xuyên trinh”, nhà “«ọc ngựa”

(hay còn gọi nhà cột cái) đều là những kiểu thức kiến trúc cổ truyền

Trung Bắc với tên gọi nhà “rường”, “rọ/” được kiến tạo trên vùng đất

mới Lối kiến trúc này phổ biến ở miền Trung và ảnh hưởng nhiều đến kiến trúc nhà cửa của một bộ phận lưu dân gốc Trung Bộ trong quá

Trang 9

trình di dân khai phá vùng đất Nam Bộ dưới thời các Chúa Nguyễn, v ề mặt kỹ thuật có thể thấy nhiều ngôi nhà cổ được dựng bởi những nhóm thợ từ miền Trung vào, một số ít sau này được tạo dựng bởi nhừng dòng thợ địa phương.

Nhà cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh thường làm theo kiểu nhà ba

gian hai chái (có khi là 5 gian 2 chái), phổ biến nhất là kiểu nhà unối

ã ọ ĩ \ hay còn gọi là “sắp đọi” nhà trước nối liền nhà sau, giữa có sân thiên tỉnh ( giếng trời) có nơi còn gọi là sân tương{ sân nước) Một

dạng nữa là nhà “5ứ/ dầrì’ loại nhà này có quy mô lớn hơn, hoàn chỉnh hơn so với nhà “nổi đ ọ ĩ \ Nhà cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như

ở Nam Bộ thường vừa là nơi ở, vừa là nơi thờ tự của cả một dòng họ, nếu như người chủ của căn nhà là con trưởng

Ket cấu chính của nhà trước kiểu nhà rội (nhà nọc ngựa hay còn

gọi là nhà cột giữa) gồm 3 gian 2 chái theo kiểu “ngoại khách nội tự”

(gian ngoài là phòng khách, gian trong là phòng thờ) Kiểu nhà rội cũng như kiểu nhà rường thường được ưa chuộng ở Nam Bộ, nó thích nghi vói việc phòng chống lũ Nhà rội trong mỗi vì có 3 cột chôn xuống đất, cột giữa nhô cao đến tận đỉnh nóc, tạo kiểu vì kèo chữ thập

(tức vì kèo ba cột xa xưa) chống đỡ trực tiếp nóc mái đảm bảo một kết

cấu vững chắc trước bão tố 1 Trong kiến trúc nhà cổ ở thành phố và Nam Bộ hàng cột cái thường cao hơn, mái nhà hiên trước cũng không còn thấp như nhà ở Trung Bộ, nơi luôn phải chịu ảnh hưởng khí hậu mưa nắng khắc nghiệt Hai gian phía trước (ngăn cách bởi hai hàng cột giữa) được bài trí bàn, ghế tiếp khách; gian phía sau là nơi đặt bàn thờ

tổ tiên Hai chái hai bên là phòng nghỉ, bên trái là nam bên phải là nữ

theo nguyên tắc “nam tả, nữ hữu Phía sau vách ngăn (vách lụa) là nơi sinh hoạt Trong bố trí về nội thất, gian thờ tự và tiếp khách thường được chăm chút hơn cả Những nơi này rộng rãi, thoáng mát, bài trí trang trọng Vật dụng dùng trong sinh hoạt, bài trí như tủ, bàn ghế, tranh đều là những đồ mỹ thuật ứng dụng mang tính thẩm mỹ cao vói

kỹ thuật chạm khắc tinh tế, thể hiện sự tài khéo của thợ thủ công Việt Nam Nơi sinh hoạt riêng của gia đình như buồng ngủ thường đơn giản, ít được chăm chút hơn

Trang 10

Nội thất của nhà cổ Nam Bộ rộng rãi và thoáng đãng, vật liệu kiên trúc đều là gỗ quý, kết cấu gắn với nhau bàng ngàm, mộng Những cấu kiện kiến trúc như cây xuyên, trinh, kèo, cửa ra vào, khuôn đô hoặc những trang trí gắn với kiến trúc như bao lam, lá gió, hoành phi, câu đối hầu hết được chạm trổ khá cầu kỳ Toàn bộ kiến trúc không hề sử dụng đến một cây đinh sắt mà vẫn chắc chắn, cân đối, chi tiết hoàn thiện đến mức độ tinh xảo thể hiện một trình độ tay nghề vững vàng, điêu luyện của phường thợ và nghệ nhân tạo dựng nên nó.

Nhà chính thường có từ 24 đến 32 cột phân bố thành 4 hàng cột dọc, mỗi hàng có 6 đến 8 cột Đường kính mỗi cột lên tới 60cm, hầu hết được làm bằng gỗ căm xe, gỗ, lim loại gỗ phổ biến ở Nam Bộ

Nhà sau được nối với nhà trước bằng hai nhà cầu, kết cấu kiểu nhà rường (nhà trinh xuyên lãng) gồm hai mái, hai chái Khung sườn nhà không sử dụng hàng cột cái ở chính giữa Kết cấu này khiến cho khoảng giữa nhà được nới rộng hơn (còn gọi là rộng lòng căn) nhờ hai bàng cột cái của nhà dời qua hai bên, thuận tiện cho việc sinh hoạt, nấu nướng Nhà sau có 8 hoặc 12 cột chia làm hai hàng, chân đế mỗi cột được kê bằng đá xanh, tiện tròn.Từng cặp cột cái được nối liền vói nhau theo chiều ngang nhà và được niêm cứng bởi một cây gỗ xuyên

ngang qua gọi là cây trinh Giữa cây trinh được gắn thẳng góc với cây trụ ngắn gọi là cây trổng Đầu trổng nối liền với bộ phận cánh dơi để

cây trổng đỡ đầu vào đòn dong ở góc nhà Nơi tiếp giáp giữa cây trinh

và trổng là bộ chày cối tượng trưng cho âm dương hòa hợp do vậy nhà dạng này còn được gọi là nhà trinh trổng hay nhà chày cố i1

1 P han Thị Y ến T u y ết ( ỉ 993), N h à ờ, tra n g p h ụ c â n uống cù a c á c d â n tộ c vù n g đ ồ n g b ằ n g sô n g

C ừ u L ong , N xb K hoa h ọ c - Xã hội.

Trang 11

Đề tài trang trí trên cấu kiện kiến trúc và trong kiến trúc khá phong phú, đa dạng trong cách thể hiện, cả đề tài cổ điển lẫn đề tài dân gian, đặc biệt là đề tài mang đậm dấu ấn địa phương thông qua sản vật,

động thực vật Cũng là những mô típ trang trí cổ điển như uTứ linh”,

“Bát bửu”, “Tứ thời” nhưng cách thể hiện không câu nệ, khuôn sáo Ví

dụ như đề tài chim phượng; có nơi thể hiện dạng đề tài cách điệu như

“dây lá hoá 'phượng”, có chỗ lại là đề tài tả thực như: phưcmg và giỏ hoa” hoặc “/?oa cúc và chim p h ư ợ n g Riêng các đề tài dạng cặp

đôi cảnh vật như “//oứ điểu” có mặt hầu hết trên các tác phẩm chạm khắc gỗ, được thể hiện khá phong phú, đó là mô tip trúc tước, sen le,

cúc trĩ, mai điểu, mẫu đơn trĩ, cò sen Các nghệ nhân cũng mạnh dạn

địa phương hoá một cách sáng tạo các đồ án miêu tả cảnh vật thiên

nhiên Nam Bộ như: chim ăn xoài, chim và trái điều, sen le, cua cốm,

sen và chim bói cá, sóc giác Các đề tài dân gian chiếm tỷ lệ cao hơn,

tuy nhiên, nhiều đồ án vẫn xoay quanh quan niệm ílNgũ phúc” của người xưa trong cuộc sống như: Chim phượng, Dơi, Mầu đơn, Phật

Thủ (tượng trưng cho phú quý), Tùng lộc (Trường thọ và giàu có), Lân,

sư tử (tượng trưng cho sự thành đạt), Trúc và chim sẻ (chức tước), Phật thủ (phú quý), đào (trường thọ), lựu, bí, mướp (đông con)

Những câu chúc tụng bàng chữ Hán trên hoành phi, cuốn thư gắn trong kiến trúc thể hiện sự mong ước một cuộc sống phú quý, trường thọ, con cháu học hành đỗ đạt Ngoài tác phẩm gỗ chạm còn có sự hiện diện của những tác phẩm gỗ cẩn ốc như: liễn đối, tủ thờ, trang trí trên cây xuyên, khung bao lam Cùng với các hoành phi, cuốn thư son thếp vàng, các tác phẩm này cũng làm đa dạng thêm loại hình sản phẩm mỹ thuật thủ công trong các ngôi nhà cổ thành phố v ề kỹ thuật chạm khắc

gỗ trên các công trình kiến trúc, đã thể hiện một bề dày kinh nghiệm cũng như tài năng sáng tạo của các nghệ nhân chạm khắc gỗ; là sự

phối họp khá đa dạng, nhuần nhị các kỹ thuật chạm độc, chạm ém mí,

chạm lộng, tỉa tách với thủ pháp điêu luyện, chắc tay.

v ề những tác phẩm chạm khắc gỗ gắn vào chi tiết kiến trúc và

chi tiết cấu thành kiến trúc, từ phong cách nghệ thuật và thủ pháp kỹ

thuật cho thấy dấu ấn của các nhóm nghệ nhân thợ chạm khắc gỗ khá

nổi tiếng Thủ Dầu Một (Bình Dương), c ầ n Đước (Tỉnh Long A n)

Trang 12

trình kiến trúc cổ tại Thành phố Hồ Chí Minh như chùa Giác Lâm, chùa Giác Viên, Nghĩa Nhuận hội quán Những công trình kiến trúc

gỗ, những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc trong kiến trúc, cho thấy một trình độ bậc thầy của những người thợ mộc miền Trung, của những thợ chạm gỗ Nam Bộ trong xử lý kết cấu kiến trúc, xử lý kỹ thuật, bố cục

đề tài, cũng như cách trình bày đa dạng và sinh động

Những căn nhà cổ dân gian truyền thống tại thành phố thực sự là những di tích kiến trúc nghệ thuật, mang đậm dấu ẩn nghệ thuật truyền thong của dân tộc Nó phản ánh một giai đoạn phát triển của kiến trúc dân gian truyền thống, nghệ thuật điêu khắc với những đặc trưng riêng trên vùng đất Nam Bộ

4 Nhà cổ Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình đô thị hoá

Trong gần hai mươi năm trở lại đây, trong tiến trình đô thị hoá,

số lượng các ngôi nhà cổ ban đầu của thành phố với khoảng vài chục căn đã giảm xuống con số ít ỏi như hiện nay Có thể kể đến một số tác

nhân dẫn đến sự biến mất cuả những di sản quý báu đó:

- Sự thay đổi chủ sở hữu: có căn nhà sau khi thay đổi chủ sờ hữu

đã được tháo rời ra bán cho những nhà sưu tập, hoặc bán từng phần cho những người trang trí nội th ấ t

- Sự thay đổi về kiến trúc: chủ nhân cũ hoặc mới của căn nhà phá kiến trúc cũ đế xây mới

- Khí hậu nhiệt đới ẩm, mối mọt cũng làm hư hại các kiến trúcđó

- Quá trình đô thị hoá mạnh mẽ: sự thay đổi về kết cấu hạ tầng

như đường sá, cầu cống, việc xây dựng những khu đô thị mới cũng làm

Trang 13

Những di tích này cần được Nhà nước xcm xét, xác lập nhCmg tiêu chí nhất định về mặt kiến trúc và nghệ thuật, sớm tiến hành việc đánh giá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật để có điều kiện bảo quản

và tôn tạo

Đối với những di tích được xếp hạng nên có sự đầu tư thỏa đáng

đế tôn tạo, bảo tồn.và phát huy giá trị lịch sử văn hoá của nó Trong quá trình xét xếp hạng nên có sự quan tâm động viên những chủ sở hữu để di tích được bảo quản tốt

Đối với những ngôi nhà nằm trong quy hoạch xây dựng, chỉnh trang đô thị mới nên có kế hoạch di dời, thậm chí chuyển về bảo tàng của thành phố để trưng bày Những ngôi nhà bị hư hỏng xuống cấp phải có những biện pháp bảo quản, tu sửa, tôn tạ o hết sức tỉ mỉ, khoa học Nên có những nghiên cứu để bảo quản và phát huy tốt giá trị của

di tích làm cho mọi người hiểu và trân trọng hơn đối với những giá trị

về văn hoá mà cha ông ta đã sáng tạo nên

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ưorng

Đảng khoá 8 tháng 7/1998 đã nêu rõ: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá,

gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Het sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể".

Do đó, nên xem di tích nhà cổ dân gian truyền thống là một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc, không nên phân biệt là chủ sở hữu, chính kiến Nó xứng đáng được bảo tồn toàn diện không chỉ là kiến

trúc, nghệ thuật (di sản văn hoá vật thể) mà còn cả cảnh quan, bài trí

và sinh hoạt tinh thần diễn ra ở đây (di sản văn hoá phi vật thể).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chu Quang Trứ (2002), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt

Nam Nxb Mỹ thuật.

2 Phan Thị Yến Tuyết (1993), Nhà ở, trang phục ăn uống của

các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học - Xã hội.

Trang 14

DI T ÍC H C H Ù A H ỘI SƠN - T H À N H PH Ó H Ò CH Í M IN H

Trương Thị H iểu*

Mở đầu Luật Di sản văn hóa khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận cùa di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhãn dân ta Bảo vệ và phát huy giá trị di sản vãn hóa, đáp ứng nhu cầu về vàn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bàn sắc dân tộ c ’’.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập và giao lưu văn hóa rộng rãi giữa các nước trên thế giới như hiện nay, thì tiếng nói và ảnh hưởng của một quốc gia đối với thế giới được quyết định phần nhiều bời yếu

tố văn hóa - trong đó có sự đóng góp quan trọng của di sản văn hóa

Chùa Hội Sơn - Thành phố Hồ Chí Minh - một giá trị di sản văn hóa của cộng đồng là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc Trải hơn

200 năm hình thành và phát triển, công trình kiến trúc Phật giáo này không chỉ mang tính tôn giáo và tín ngưỡng bản địa mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi giải tỏa tâm lý cho người dân trong cuộc sống đầy áp lực, nơi tham quan viếng cảnh của thanh niên và là nơi nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xã hội của các nhà khoa học

1 Sơ lươc lich sử hình thành chùa Hôi Sơn• • •

Chùa Hội Sơn nằm ở phía Bắc phần cuối của dãy núi Châu Thới, xưa thuộc địa phận phường Long Tuy, huyện Long Thành, trân Biên Hòa Hiện nay chùa thuộc địa phận ấp c ầ u ôn g Táng, đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Chùa Hội Sơn do Hòa thượng Đạo Thành hiệu Khánh Long, tổ thứ 38 của thiền phái Lâm Tế, dòng đạo Liễu Quán, khai sơn từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX với tên gọi là Hội Sơn

* T rường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 15

Với cảnh quan thiên nhiên, địa thế, kiến trúc xinh đẹp chùa Hội

Sơn đã được Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí nhắc đến như một thắng cảnh “(7 cuối hòn núi Cháu Thỏi (còn trụi ì à Chiêu

Thúi) vé phía Bắc tại ngã ba chè ra một nhánh chạy đến địa phận thôn Long Tuy thì LÌừrtịỉ, rói hông nôi ihành íỉỏ cao hanự phăm' rộm[ rãi; (>■ hên núi có hang hô và khe suôi, dân núi ơ ven quanh, trên ĩỉó có chùa Hội Son /à chó thiên sư Khánh Loniỉ c/ựniỊ if ậ y lu hành, núi trônự xuống sông lớn, hành khách leo lên thủm, có cam tưàng như liêu sái thoát / Ị / c ” 1.

Trong Đại Nam nhất thống chí có nói Chùa là nơi Thiền sư

Khánh Long hóa

Theo những tài liệu hiện nay và qua tìm hiểu thực tế, không thấy tài liệu nào nói về việc đổi tên chùa Chỉ biết rằng, Trịnh Hoài Đức đã

nhắc đến chùa Hội Sơn trong Gia Định Thành thông chí vào khoảng

đầu những năm 20 của thế kỷ XIX Như vậy, tên Hội Sơn phải có từ trước đó và đây phải là một ngôi chùa có tiếng tại vùng đất Sài Gòn -

Gia Định lúc bấy giờ Theo Tự điển Hán Việt (Thiều Chửu), thì Hội

Sơn ( # |1 |) là nơi nhũng ngọn núi gặp nhau, cũng có tài liệu giải thích

“hội sơn” là hội tụ ở trên núi Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách giải thích đầu tiên họp lý hom, người dân cũng như các thế hệ trụ trì kế thế Hòa thượng Khánh Long đã dựa vào địa thế (một chi của dãy núi Châu Thới, đột khởi từ sự hợp thành của 3 dãy núi) mà gọi tên chùa là Hội Son Cũng có giai đoạn chùa Hội Sơn được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: từ năm 1920 - 1930, chùa được gọi là chùa x ẻ o Quít (hay

Xã Quít) đây là giai đoạn chùa không có vị tu sĩ nào tu hành và được ông hương cả trong làng là Xã Quít trông nom Đến thời gian ni sư Như Tiên trụ trì, chùa được gọi một cách dân dã là chùa Cô B a Hiện nay, chùa được nhiều người dân biết đến với tên gọi là Hội Sơn

Chùa Hội Sơn từ khi xây dựng đến nay đã trải 13 đời trụ trì và nhiều đợt trùng tu, trong đó hai đợt trùng tu quan trọng nhất là dưới thời Thiền sư Huệ Tấn với việc trùng tu, mở rộng chánh điện cùng kết cấu thờ tự và sừa chữa tháp mộ của Hòa thượng Khánh Long Năm

1 T rịnh H oài Đ ứ c (L ý V iệt D ùng dịch, H uỳnh Văn Tởi hiệu đính, 2005), G ia Đ ịn h th à n h th ô n g chí,

Trang 16

1933, dưới sự trụ trì của Sư cô Như Thanh và sự giúp sức của ông Nguyễn Minh Giác, chùa được xây dựng thêm tăng đường, nhà túc, sửa chửa lại chánh điện, trùng tu các mộ tháp.

2 Kiến trúc

Chùa Hội Sơn được xây dựng trên vùng đất đồi bàng phảng cao khoảng 15m so với mặt nước biển, mặt chùa hướng ra sông Đồng Nai - tức hướng Đông Nam Người xưa khi chọn hướng chùa Hội Sơn đã gửi gắm tình cảm và mong muốn sao cho dân chúng dễ dàng thăm viếng, vừa hợp với ý thần Phật lại thể hiện được vũ trụ quan và nhân sinh quan của mình Theo truyền thống của người Việt, hướng Nam là hướng của trí tuệ, hướng của Bát Nhã, nhờ có trí tuệ chúng sinh mới đến bến bờ giải thoát1; đối với Phật giáo, hướng Nam là hướng mà các đức Phật và Bồ Tát ngồi để nghe lời kêu cứu của chúng sinh trong đời tục lụy, đặng dùng pháp lực vô biên qua tứ đại vô lượng tâm (từ, bi,

hỷ, xả) mà cứu vớt chúng sinh Còn hướng Đông là hướng của các thần2 Từ việc chọn hướng, có thể thấy thâm ý sâu sắc của người xưa khi dựng chùa Hội Sơn

v ề tổng thể kiến trúc, chùa được bố trí theo dạng chữ tam - là dạng kết cấu phổ biến tại Nam Bộ Chùa Việt Nam nói chung và chùa miền Nam nói riêng đều là tổng thể của các công trình kiến trúc liên kết với nhau nhờ ý nghĩa thờ tự cũng như công năng sử dụng Miền Nam vốn được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều phù sa, màu mỡ, đất đai bằng phẳng, ít đồi núi “cảm quan của người miền Nam cũng ưa thích sự trải rộng, hòa mình vào thiên nhiên”3 nên kiến trúc chùa miền Nam không đồ sộ, cao lớn với đầu đao cong vút như các ngôi chùa ở miền Bắc mà rất thích họp với tình hình sinh hoạt, điều kiện khí hậu của địa phương với mái chùa có độ dốc, thấp dần về phía các đầu góc mái, lợp ngói âm dương, các góc mái được trang trí hình lân, long, vừa

có tác dụng thẩm mỹ, vừa là nơi thoát nước mưa

Nhìn chung, chùa Hội Sơn có bố cục tổng thể hợp lý, hài hòa mang phong thái của người miền Nam - ưa thích sự phóng khoáng, trải

1 Bùii V ăn T iến (2000), C h ù a B ú t Tháp, N xb K hoa học Xã hội, Hà N ội, tr.35.

2 T r ầ n Lâm Biền (1 9 9 6 ), C hùa Việt, N xb V ăn hóa - T hông tin , Hà N ội, tr.63-64.

3 Lâim Nhân (2000), Chùa G iác Viên, luận vãn thạc sĩ, tr.29.

Trang 17

rộng Toàn bộ không gian kiến trúc của chùa kết hợp dung hòa với cỏ cây hoa lá, địa thế núi sông ôm bọc tạo nên vẻ đẹp mộc mạc, thanh tịnh, đồng điệu giữa những khối kiến trúc cứng cáp và thiên nhiên mềm mại, nhẹ nhàng.

Các công trình kiến trúc của chùa Hội Sơn được xây dựng với sự kết hợp giữa chất liệu truyền thống và hiện đại như gỗ, đá, vôi, xi măng, gạch ngói được bố trí theo lối truyền thống: cổng tam quan, tiền đường, chánh điện, nhà tổ, giảng đường, khu mộ tháp, nhà trù, nhà tăng

Cổng tam quan của chùa có kết cấu khung gỗ tròn và mái ngói,

định vị giữa con đường dốc thoải hướng bên phải chùa Tam quan có nghĩa là ba điều nhìn, xem, quan sát (gồm: không quan - nhìn vào sự vật, thật ra cái gì cũng là không; đà quan - sự vật gì cũng có biến hóa,

có đủ cả, cái gì cũng là có; trung quan - không phải là không mà cũng không phải là có Nó là giữa, vừa có, vừa không Con đường đi vào cửa Phật là đi vào cái chân thật ấy)1 Với chùa Hội Sơn, tam quan là gạch nối liên kết giữa đời sống trần tục và chốn thiền môn c ổ n g tam quan ở đây không kín cửa, cao tường mà luôn rộng mở (không có cửa) như tính dung hòa giữa đạo và đời ở đây có bức hoành đề "Ểr Ịil

# ” (Hội Sơn cổ tự) Dòng chữ Hán được chạm khắc thanh thoát, cỡ chữ to, đậm Bên cạnh là các dòng lạc khoản và đề từ viết, nhỏ hơn, biên năm Kỷ Mùi (năm 1979) Toàn bộ các chữ đều được khắc nổi và sơn son trên nền gỗ đã bạc màu Thông thường, đi cùng với hoành phi

ỉà câu đối được treo hai bên dọc theo chân trụ của tam quan, tuy nhiên

ở chùa Hội Sơn lại không thấy thể thức này

Ngoài cổng tam quan trên, chùa Hội sơn còn hai cong khác, một cổng sau được xây dựng khoảng năm 2000 với chất liệu bê tông cốt thép, sơn màu vàng, cửa bằng gỗ chắc chắn, c ổ n g này thường đóng kín và chỉ mở vào những ngày lễ lớn; một cổng khác ở đối diện với lối vào chánh điện, hướng thẳng xuống sông Đồng Nai Theo nhận định của chúng tôi, đây mới là cổng chính nguyên thủy của chùa Có thể lý giải nhận định này như sau: trong văn hóa dân gian Nam Bộ, dòng

Trang 18

sông c ó một vị trí rất quan trọng, là một đặc trưng của môi trường thiên nhiên ở đây Đối với văn hóa vật chất của người dân, dòng sông

là nơi cung câp nước, phù sa cho ruộng vườn, là ranh giới địa phương

và cũng là con đường giao thông huyết mạch Cửa ngõ sông chính là nơi họp chợ, nhiều cư dân sinh sống trên sông và cất nhà ven sông Đối với đời sống tinh thần, nhiều loại hình văn hóa dân gian, nhiều lễ hội, nhiều tín ngưỡng và một số loại hình nghệ thuật dân gian hình thành từ môi trường sông nước Do đó, có thể nói rằng chùa Hội Sơn khi được xây dựng cũng đã dựa vào đặc điểm trên Hơn nữa, con đường đất dẫn vào chùa hiện tại, trước đây rất heo hút, khó đi lại, hai bên toàn rừng cây rậm rạp, cỏ mọc chen cả lối đi Ngoài ra, cổng này được xây dựng công phu, lối đi lát đá rất tỉ mỉ và có dấu hiệu của sự tu sửa nhiều lần

Từ những yếu tố trên, có thể khẳng định cổng này là cổng tam quan chính của chùa Hội Sơn Hiện nay, cổng này vẫn là hướng đi của khách du ngoạn bằng đường thủy

Tiền đường có dạng kết cấu của một ngôi nhà rường miền Trung

với 3 gian hai chái Hệ thống vì kèo của ngôi nhà này liên kết theo kiểu thức truyền thống bằng mộng, tạo độ sít vừa phải nhưng vô cùng chắc chắn Từ trước ra sau hàng cột dọc có 4 vì kèo Từng vì kèo đều gồm những chiếc kèo thẳng liên kết theo kiểu kèo chồng, đuôi của kèo sau chồng lên đầu của kèo trước Các cột cái, cột quân và cột hiên trong cùng một vì được nối với nhau từng đôi một bằng những chiếc kèo theo cấu trúc trên Vì vậy, từ dưới nhìn lên ta chỉ thấy các đầu kèo được chạm khắc công phu, che đi đuôi kèo và những khuyết điểm của

sự liên kết Chiếc kèo dưới cùng (kèo nối từ cột quân ra cột hiên) có thân uốn cong hướng lên phía trên nâng đỡ mái đua (thuật ngữ dân gian gọi là kẻ) Trong khi đó, hai cột cái lại được nối với nhau bằng hai lần kèo, ngoài hai chiếc kèo trên cùng được nối với nhau nhờ con xỏ (được gọi là giao nguyên) còn có xà ngang (gọi là trếnh) được nối ở lưng chừng cột, mang chức năng là chiếc quá giang Có tất cả 4 trếnh

đều được chạm khắc công phu mô típ “long ẩn vâ n ” ở thân và đầu

rồng uốn lượn ở hai đầu trếnh Tại các trếnh ở chùa không có áp quả hay con tôm như kết cấu khung nhà rường của miền Trung, mà đã được lược bỏ đi một số chi tiết cho phù hợp với không gian của một ngôi chùa thờ Phật

Trang 19

Trước cửa hành lang và tiền đường có bức hoành đề # |-L| # - Hội Sơn tự, được làm bằng xi măng đắp nổi, các nét chữ và màu sơn

đã sờn bạc, viền xung quanh của hoành phi nổi lên tạo chiều sâu cho bức hoành Đối diện qua trục giữa của hoành phi này là 3 câu đối, tất

cả đều được viết bằng chữ Hán, từng cặp một đối xứng nhau Hai bên hông của hành lang này còn một cặp câu đối, cũng đối nhau qua trục giữa của cửa ra vào Toàn bộ được viết trên nền xi măng sơn màu xám, chữ trắng nổi lên rất rõ ràng

Bên trong nhà tiền đường, đối xứng qua trục giữa, từ ngoài vào

bố trí bên phải là chuông, trống, bên trái là mõ, phách Cạnh đó đặt các

tủ đựng kinh kệ và nhang đèn cho khách hành hương sử dụng khi chầu

Thông thường, trước tiền đường, các ngôi chùa bài trí bàn Ihờ Tiêu Diện và Hộ Pháp Tuy nhiên, tại chùa Hội Sơn, cửa chính vào tiền đường được mở thường xuyên, cách bài trí tượng thờ cũng thay đổi, do đó, bàn thờ Tiêu Diện và Hộ Pháp đối xứng nhau, gần cửa ra vào Trên bàn thờ Hộ Pháp có đặt tượng Hộ Pháp đứng, mình mặt áo xanh, mắt trừng hung dữ Trước tượng Hộ Pháp là tượng Địa Tạng ngồi trên tòa sen, tay cầm Tích trượng

Chánh điện là phần kiến trúc quan trọng của một ngôi chùa Ờ

chùa Hội Sơn, chánh điện được kết cấu theo kiểu “tứ trụ” hay còn gọi

là “tứ tượng” - là kết cáu phổ biến thường gặp ở các ngôi đình, chùa cổ Nam Bộ Tứ trụ - tức bốn trụ cái ở giữa rồi mở rộng ra xung quanh nhờ

8 kèo đấm và 8 kèo quyết Bốn cây đại trụ ở chánh điện của chùa được làm bàng gồ quý, có đường kính khoảng 30cm đặc biệt trên thân có đôi câu đối chữ và hoa văn chạm liền một khối Đôi câu đổi khấc bàng chữ Hán, được phiên âm và dịch nghĩa như sau:

Di Đà kinh trung, Hồng Danh kinh trung; kinh kinh nguyện âm siêu dương thịnh.

Lãng Nghiêm hội thượng, Đại Bi hội thượng; hội hội cầu quốc thái dân an.

(Trong kinh Di Đà, trong kinh Hồng Danh; kinh nào cùng nguyện cho âm siêu dương thịnh

Trang 20

1 rên hội Lăng Nghiêm, trôn hội Đại Bi; hội nào cũng cầu cho nước thịnh dân an).

Giữa chánh điện là bức hoành phi bàng chữ Hán với nội dung:

'i% H ’' (Vạn Đức Hồng Danh) và trang trí bằng bao lam chạm

lộng đề tài La Hán

Chùa được bài trí theo nguyên tắc “tiền Phật hậu Tổ” Trên bàn thờ chánh điện, theo hàng ngang: tầng cao nhất thờ bộ tượng Tây Phương tam thánh gồm: Di Đà, Quan Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát; tầng giữa thờ tượng Thích Ca Mâu Ni mang dáng dấp và ảnh hưởng của Khmer, Địa Tạng Vương Bồ Tát và Quan Âm Bồ Tát; tầng dưới cùng thờ tượng Phật Di Lặc Theo hàng dọc thì trục chính là bộ tượng Tam Thế Phật

Hai bên bên chánh điện là hai án thờ đặt các bộ tượng Thập Bát

La Hán, Thập Điện Diêm Vương và một số vị như: Thiện Hữu, Ác Hữu, Thái Thượng Lão Quân, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Quan

Âm Tống T ử

Màu sắc và ánh sáng trong chánh điện được phối hợp với kiến trúc hòa thành một tổng thể nghệ thuật Ánh sáng chiếu vào chánh điện chủ yếu là ánh khúc xạ và phản xạ Tất cả các tượng thờ, bệ thờ đều được sơn son thiếp vàng Trong không gian ấy kết họp với khói nhang càng nổi lên rất rõ chỗ mờ chỗ tỏ, chỗ nhạt chỗ đậm, chỗ sáng chồ

tố i thể hiện triết lý “sắc sắc không không” của nhà Phật

N hà tổ ở phía sau chánh điện là gian thờ các vị tổ sư có công

trong việc gìn giữ và phát triển chùa Hội Sơn Trong gian thờ này, ở giữa đặt tượng Đạt Ma sư tổ và các vị tổ sư khác, hai bên thờ các vị Ni

sư Thích Nữ Như Thanh và Ni sư Thích Nữ Như Tiên Đổi diện với bàn thờ các vị tổ sư trên là bàn thờ Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn

Toàn bộ không gian nhà tổ nằm trong kết cấu kiến trúc chung của ngôi nhà chánh điện

K hai sơn đường cách chính điện bởi sân thiên tĩnh Ngôi nhà này

được kết cấu theo dạng thức của ngôi nhà tiền đường với ba gian hai chái, liên kết với nhau nhờ hệ thống vì kèo và mộng Khai Sơn đường

là nơi thờ tổ Khánh Long và giảng kinh

Trang 21

Cả ba ngôi nhà tiền đường, chánh điện và khai sơn đường, đều nằm trên một trục dọc liên kết với nhau theo cách gọi của dân gian là

“sẳp đọi”, tức là các dãy nhà xếp liền kề, từ trước ra sau nổi với nhau bởi hai hành lang hai bên gọi là tây lang và đông lang Chùa Hội Sơn trước đây vẫn có 2 hành lang này, nhưng đến năm 2001, để m ở rộng không gian thờ tự và nội thất, nhà chùa đã cho xây tường từ lan can của hành lang

Ngoài các công trình kiến trúc kể trên, chùa Hội Sơn còn rất nhiều công trình phụ khác như: trung nghĩa đường, nhà khách, nhà túc, hóa đường, nhà trai, tòa bát giác thờ Chuẩn Đề, Phật Đản sanh và khu

mộ tháp trong đó có tháp của thiền sư Khánh Long

3 Giá tri của di tích chùa Hôi Sơn

* Giá trị lịch sử:

Vị trí tọa lạc của chùa Hội Sơn hiện nay là địa bàn sinh sống của

cư dân lưu vực sông Đồng Nai thuộc thời đại kim khí có niên đại khoảng 3000 - 4000 năm Di chỉ khảo cổ học được phát hiện tại bến

đò, dưới chân chùa Hội Sơn đã củng cố thêm sự tồn tại và phát triển lâu đời của con người trên vùng đất Gia Định xưa và khu vực Nam Bộ

Chùa Hội Sơn là một trong những ngôi chùa có mặt sớm tại vùngđất Gia Định, với niên đại khoảng hơn 200 năm Chùa do Hòa thượng Khánh Long khai sơn từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX Chùa

đã trải 13 đời truyền thừa Trong quá trình phát triển, Chùa Hội Sơn đã tích lũy các giá trị truyền thống và để lại nhiều dấu ấn qua những lần trùng tu

Lịch sừ hình thành và phát triển của ngôi chùa cũng gắn liền với lịch sử pháp triển của vùng đất Sài Gòn - Gia Định

* Giả trị nghệ thuật của chùa Hội Sơn được thể hiện qua các

mảng trang trí với nhiều chất liệu và hệ thống tượng thờ bài trí trong toàn khuôn viên

Ngoài phong cách trang trí truyền thống của người Việt, chùa còn mang phong cách trang trí hiện đại của châu Âu Những màng trang trí từ nội thất cho đến ngoại thất hội tụ hai yếu tố truyền thống và hiện đại thể hiện nét độc đáo riêng của ngôi danh tự này

Trang 22

Các bộ mái trang trí nhiều đề tài như ngư hóa long, lưỡng long triêu nhật ở nóc mái; long hý thủy ở các góc mái; hình lá đề ở diềm

m ái ơ các gờ cột, ô cửa sổ, tường hành lang trang trí hoa văn hiện đại và con tiện theo phong cách phương tây Các tảng đá kê chân cột trong chánh điện và tiền đường trang trí lá sen cách đ iệu

Trang trí trong nội thất có nhiều loại hình như: bao lam, phù điổu hoành phi, câu đối, liễn đối, tượng thờ và nhiều hình thức trang trí khác ngoài việc trang trí còn mang tính lịch sử thể hiện qua phong cách và nội dung, đó là những minh chứng cho sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và tâm thức người Việt ở vùng đất phương Nam Từ các đề tài và cung cách thể hiện phần nào thấy được tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây với lòng yêu thiên nhiên, con người, và quê hương đất nước

Bao lam ở chùa Hội Sơn được chạm khắc công phu với nhiều kỹ

thuật khác nhau, thể hiện nhiều đề tài phong phú về đời sống dân gian

và Phật tích Đặc biệt là bao lam chư Phật chạm lộng hai mặt ở chánh điện, được chạm khác theo hai dạng, phần trên chạm lộng kéo dài ra thành bức rèm giữa chánh điện, phần dưới liên kết với cột cái tạo nên một cặp câu đối chữ và hoa văn đi liền một khối hết sức độc đáo Hay bao lam “La Hán thượng kỳ thú” kết hợp với các loại hoa, dây hoa ở nhà tổ Đây là một trong những bao lam lớn nhất ở Hội Sơn, bao lam này liên kết với các cột quân tạo thành một bức liễn dài từ đầu hồi này sang đến đầu kia của nhà tổ Các hoa văn trang trí và những nét chạm khắc kéo dài từ đầu cột xuống đến gần chân cột đề tài hoa dây, các 0

hoa dây quấn quýt, bao phủ lấy nhau không cụ thể một loại hoa nào

Các đề tài, các hoa văn trang trí trên được chạm, đục tinh tế trở ncn

thanh mảnh, nhẹ nhàng và sống động

H oành p h i và câu đối: chùa Hội Sơn có nhiều hoành phi và câu

đối phân bố rải rác khắp chánh điện, tiền đường, nhà tổ, khai sơn đường, nhà túc, nhà trù Đa số các hoành phi và câu đối của chùa Hội Sơn đều được chạm khắc trên gỗ và viết bằng chữ Hán Các hoành phi

và câu đối ở chùa thường đi liền với nhau thành bộ chứa đựng ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục con người và thể hiện triết lý Phật giáo

Trang trí trên hoành phi và câu đối là các đề tài phúc đáo, chữ Vạn

Trang 23

cách điệu, long ẩn vân, phù đồ, bát bửu !.'rong các hoành phi và câu

đối, đặc biệt nhất phải kể đến bức hoành phi “Vạn đức hồng danh” do vua Khải Định tặng, bức “tông phong vĩnh chấn” do thiền sư Huệ Đạt tặng và hơn hết là cặp câu đối chạm liền một khối hoa và chữ ở đại hùng bửu điện

H ệ thống tượng thờ: Hơn 200 năm tồn tại và phát triển, chùa

Hội Sơn có hệ thống tượng thờ tương đối phong phú, đặc biệt là bộ tượng thờ bằng gỗ có tuổi đời khá cao Qua từng giai đoạn, các bộ tượng và cách bài trí tuy có sự thay đổi nhất định nhưng không đáng kể

và ngày càng bổ sung nhiều hơn với các chất liệu mới là thạch cao và

xi măng

Hệ thống tượng tròn được bố trí rộng khắp ngôi chùa, trong nhà

và cả ngoài trời, nhiều nhất vẫn là trong chánh điện với các bộ tượng

Di Đà tam tôn, Tam thế Phật, thập bát La Hán, thập điện Diêm Vương, tượng Kim Cang, tượng Địa Tạng, Hộ Pháp, Quan Âm tống tử, Bồ Tát Đại Thế C hí Đáng chú ý nhất là bộ tượng Di Đà tam tôn: gồm ba bức Di Đà, Quan Âm và Đại Thế Chí đều được tạo tác trong tư thế đẹp

và mang phong thái đặc sắc, có niên đại từ đầu đến giữa thế kỷ XIX Bên cạnh đó, phải kể đến tượng Di Đà được vớt lên từ sông Đồng Nai, với các đường nét chạm trổ mộc mạc, thô sơ mang dáng dấp của một pho tượng Phật Khmer

Nhìn chung hệ thống tượng thờ của chùa Hội Sơn vô cùng phong phú được bổ sung, chế tác qua nhiều giai đoạn khác nhau Cùng những nét tương đồng với phong cách tượng thờ ở Nam Bộ, những tượng thờ

ở đây còn thể hiện một cái nhìn riêng về nghệ thuật và cách thể hiện riêng về đề tài Phật giáo Hệ thống tượng thờ chính là một phần giá trị nghệ thuật mà chùa Hội Sơn hiện đang gìn giữ, bảo tồn

Ngoài hệ thống tượng thời, chùa Hội Sơn còn lưu giữ hệ thống các di vật khác như bàn thờ, đồ pháp khí với sự đa dạng về kiểu dáng và loại hình, độc đáo về chạm khắc và hoa văn trang trí

* Giá tri văn hóa 0

Với lịch sử lâu đời, chùa Hội Sơn đã đi vào đời sống của người dân thông qua vẻ đẹp tự nhiên và các hình thức sinh hoạt Phật giáo

Trang 24

Tại chùa Hội Sơn, các ngày lễ được tổ chức thường xuyên nhưng

gián lược một số nghi thức góp phần tiết kiệm thời gian, tiền của cùa

nhân dân Các buôi lễ có tính chất định kỳ hàng ngày, hàng tháng,

hàng năm hay theo mùa dành cho các tu sĩ trong chùa, các Phật tử và

cộng đồng như: Lễ chúc tán, Lễ bố tát, các ngày vía Quan Âm, vía tổ

khai son; các đại lề Phật Đản, Vu Lan, thượng nguyên, hạ nguyên,

trung nguyên, mùa an cư kiết hạ, lễ cầu siêu vẫn dược tiến hành đều

đặn nghiêm túc Ngoài các iễ hội, chùa Hội Son còn đi vào đời sống

của người dân thông qua các hoạt động từ thiện xã hội như: chẩn tế,

khám chữa bệnh miễn phí cho người dân nghèo

Những hoạt động đó là sợi dây gắn kết iíiáo lý nhà Phật với cuộc

sống của con người hiện đại, thể hiện tinh thần nhập thế sâu sắc của

Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói riêng

Tóm lại, chùa Hội Sơn không chỉ là một không gian thờ Phật,

một nơi tu hành của các tăng sĩ mà còn là nơi hội tụ nhiều giá trị về

lịch sử, văn hóa, đặc biệt là kiến trúc nghệ thuật Với vẻ đẹp tự thân và

qua thời gian bồi tụ, những giá trị ấy thực sự góp phần hình thành nên

bán sắc văn hóa, truyền thống của vùng đất Nam Bộ và của dân tộc

Việt Nam

***

Với những giá trị đã nêu, Chùa Hội Sơn xứng đáng là di tích lịch

sử - văn hóa cấp quốc gia cần thiết phải được bảo tồn và phát triển

Ngày 07/01/1993, Chùa Hội Sơn đã được Bộ Văn hóa - Thông

tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch

sử - văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định sổ 43/QĐ-BVHTT

Việc công nhận di tích cấp quốc gia đối với chùa là một tác động

tích cực trong việc bảo tồn và phát huy di tích Tuy nhiên để góp phần

giúp di tích “sống” trong sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện

đại, cần tiến hành một số biện pháp nhằm bảo vệ và phát huy giá trị

của di tích như:

- Xây dựng hồ sơ khoa học sâu và đầy đủ về di tích, nhằm phục

vụ công tác bảo quản, gia cố và phục hồi nguyên trạng di tích

Trang 25

- Nghiên cứu và đánh giá toàn diện về di tích nhàm giúp di tích được gìn giữ một cách khoa học và toàn vẹn.

- Đào tạo và tư vấn chuyên môn cho tàng sĩ cũng như ban trụ trì chùa Hội Sơn nhằm giúp họ hiểu và bảo vệ di tích tốt hơn

Ngoài việc bảo tồn, gìn giữ, tu bổ di tích, thì sử dụng, khai thác

và phát huy giá trị di tích được xem là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ di tích

Việc phát huy di tích cần có sự phối hợp giữa ban quản lý chùa Hội Son, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và cộng đồng để phát huy di tích tốt nhất và giúp người dân yêu quí, tôn trọng di tích

Khai thác giá trị kinh tế từ di tích thông qua hoạt động du lịch là cần thiết vừa mang tính giáo dục, giải trí vừa đem lại cho di tích nguồn kinh phí để trùng tu di tích

Phát huy tinh thần tốt đẹp của Phật giáo thông qua các lễ hội, các hình thức sinh hoạt nhằm giáo dục đạo đức con người nhất là các thế

hệ thanh, thiếu niên

Thiết nghĩ, vấn đề bảo tồn, gìn giữ, tu bổ di tích chùa Hội Sơn không chỉ là trách nhiệm của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng mà còn là mối quan tâm chung của cả cộng đồng Bên cạnh đó,

để di tích thực sự tồn tại và phát huy hết những giá trị nội lực, cần có

sự phối họp hài hòa giữa nhiều yếu tố trong đó có việc giáo dục ý thức tôn trọng và yêu quý các giá trị truyền thống của nhân dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin,

Hà Nội

2 Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb

Thanh Niên, Hà Nội

3 Lâm Nhân (2000), Chùa Giác Viên, Luận văn thạc sĩ.

4 Nguyễn Quảng Tuân - Huỳnh Lứa - Trần Hồng Liên (1993),

Những ngôi chùa ở Thành p hố Hồ Chỉ Minh, Nxb TP Hồ Chí Minh.

5 Trương Ngọc Tường - Võ Văn Tường (2006), Những ngôi

Trang 26

Tên tự gọi của dân tộc Chơ Ro là Chrau - Jro, trong đó Chrau có

nghĩa là Người hay Nhỏm người, Tập đoàn người, còn Jro là một danh

từ riêng chỉ cộng đồng của họ (Viện Dân tộc học 1984, tr 205) Ngoài

ra, người Chơ Ro còn được gọi bằng các danh từ có âm gần như vậy: Châu Ro, Chro, Chrau, Jơ Ro, Dơ Ro , hay bàng một danh từ phiếm chỉ: người Thượng Trong các tài liệu, sách báo từ sau năm 1975, tộc danh Chơ Ro được sử dụng chính thức Người Chơ Ro là lớp cư dân

cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Đông Dương, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, thuộc chi miền núi phía Nam Trước khi có mặt trên những địa bàn cư trú hiện nay, người Chơ Ro phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi thấp, về phía Đông Nam của tỉnh Đồng Nai Dựa trên một số kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở Đông Nam bộ, đồng thời liên kết với những dấu vết nhân chủng và ngôn ngữ, tộc người Chơ Ro (cùng với một số tộc người Mạ, Xtiêng ) là hậu duệ của cư dân cổ Môn - Khơ

me và là dân bản địa sinh sống lâu đời ở Đông Nam bộ ngày nay Cuộc Sống của các cư dân này đã có ít nhiều liên kết chặt chẽ, nhằm quản lý khu vực sinh sống rộng lớn của mình

Tại Đồng Nai, địa bàn sinh sống của người Chơ Ro chủ yếu ở 5 huyện, thị: Long Khánh (chủ yếu ở các xã Xuân Vinh, Xuân Bình), Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ), Định Quán (xã Túc Trưng), Vĩnh Cừu (xã Phú Lý), Long Thành (xã Phước Thái) Người Chơ Ro ở Đồng Nai có 15.145 người, xếp thứ ba sau người

* Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 27

Kinh và người Hoa (Báo cáo tổng kết của Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đồng Nai 2005).

Kinh tế truyền thống của người Chơ Ro ở Đồng Nai là kinh tế nương rẫy Nguồn sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Xưa kia, họ khai thác vùng đồi núi - nơi cư trú của mình - để trồng trọt theo lối du canh du cư, do đó, cuộc sống của họ nghèo khó

và không ổn định Sau này, họ đã biết biến rẫy thành đất định canh và cải tạo nương rẫy thành ruộng nước Vì vậy, đời sống của họ có phần khá hơn

Cùng với nông nghiệp nương rẫy và ruộng nước, việc làm vườn, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm là những hoạt động kinh tế bổ trợ Hai nghề thủ công chính của người Chơ Ro là đan lát và dệt vải Tuy nhiên, chỉ có nghề đan lát bằng tre mây nứa là phổ biến Nghề dệt vải dần dần bị mai một và hiện nay đã mất hẳn

Vốn văn nghệ dân gian của người Chơ Ro khá phong phú, với nhiều thể loại: truyện kể, thơ ca trữ tình, múa, hát đối đáp Các câu tục ngữ, phương ngôn đúc kết những kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, kinh nghiệm về ứng xử với thiên nhiên và cuộc sống xã hội của họ

Người Chơ Ro tin mọi vật đều có linh hồn và tin vào sự chi phối con người của các thần linh Đó chính là nguyên nhân của các kiêng kỵ

và các lễ cúng tế Họ quan niệm có hai thế giới tồn tại Thế giới thứ nhất là cuộc sống của con người và vạn vật trên trái đất mà họ cảm nhận được Thế giới thứ hai là của những lực lượng siêu nhiên, ma quỷ, các vị thần Chính thế giới thứ hai mới thiêng liêng và quyết định cuộc sống loài người Thầy bóng là cầu nổi giữa con người với các đấng thần linh Người Chơ Ro có tín ngưỡng đa thần, mà điển hình

là với các loại: thần lúa (ỵang va), thần rừng (yang bri), thần suối (yang dai), thần rẫy iyang mir), thần mộng {yang mờ)

2 Khái quát tình hình nghiên cửu

So với một số các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, thì số lượng các công trình nghiên cứu và khảo sát của các tác giả người Pháp về người Chơ Ro không nhiều Tiêu biểu có một số tác giả p De

Trang 28

công trinh nghiên cứu cùa các tác giả này có nhấc đến người Chơ Ro hoặc làm đối tượng so sánh với tộc người Stiêng - một tộc ntíười bản địa sinh sống trên cùng địa bàn Những bài viết đó nghiêng về việc miêu tả các phong tục tập quán một số khía cạnh kinh tế, văn hóa, kỹ thuật, và cảnh quan địa lí về vùng Chơ Ro và con người Chơ Ro Nhũng tài liệu này có giá trị để tìm hiểu nhiều mặt về người Chơ Ro trong thời điểm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX v ề khách quan, không ít những công trình bài viết trên đây đã giúp cho người Pháp có thêm những hiểu biết về vùng đất, con người ở Đông Nam Bộ, nơi mà

họ bắt đầu công cuộc bình định thực dân trong những năm đầu thế kỷ XX

Người Chơ Ro còn được nhắc đến trong các tài liệu nghiên cứu

từ giữa thế kỷ XX, do một số học giả người Pháp khác Tuy nhiên, các tài liệu này không trực tiếp nghiên cứu về người Chơ Ro, mà chỉ lấy người Chơ Ro là đối tượng so sánh với dân tộc Mạ sống cùng địa bàn

Tiêu biểu là cuốn sách X ứ người Mạ lãnh thổ của thần linh của tác giả

J Boulbet, dịch giả Đỗ Vân Anh, Phân Viện Văn hoá thông tin tại TP

Hồ Chí Minh, NXB Đồng Nai 1999

Các tác giả người Mỹ, một mặt kế thừa những công trình nghiên cứu của người Pháp trước đó về người Chơ Ro, mặt khác, những cuộc khảo sát các nhóm người Chơ Ro nằm về phía Tây bắc Sài Gòn thuộc vùng do quân đội Mỹ và Sài Gòn kiểm soát trong tập sách dày nhiều chương, do các tác giả: L.Joan Schrock, William Stockton, J.Elaine

(] 966), Minority groups in the Republic o f Viet Nam, Headquaters,

Department of the Army Cuốn sách này được biên soạn theo đơn đặt hàng của Dộ Quốc phòng Hoa kỳ, xuất bản năm 1966, có dành một chương riêng để giới thiệu tổng quan về môi trường sống, cấu trúc xã hội, luật tục, phương pháp canh tác, tín ngưỡng, phong tục tập quán

về người Chơ Ro ở Việt Nam

Tác giả Joachim Schliesinger có nhắc đến người Chơ Ro trong

hai công trình nghiên cứu của ông: Hill Tribes o f Viet Nam

Introduction and Overview, (Các sắc tộc ở Việt Nam - giới thiệu và tổng quan), tập 1, và tác phẩm Hỉll Tribes o f Viet Nam - Pro/ìle o f the existing hill tribes group (Các sắc tộc ờ Việt Nam - Miêu tả sơ lược về

Trang 29

cuộc sống của các nhóm tộc người), tập 2, nhà xuất bản White Lotus,

Bangkok, Thailand, xuất bản năm 1997 Trong 2 tác phẩm này, tác giả Joachim Schliesinger không nghiên cứu chuyên sâu về tộc người nào, ông giới thiệu tổng quan về các tộc người ở Việt Nam, sự phân loại của các nhóm tộc người ở Việt Nam trong lịch sử, giới thiệu tổng quan

về môi trường sống, cấu trúc xã hội, luật tục, giáo dục, y tế, phương pháp canh tác, đặc điểm văn hóa tín ngưỡng và phong tục tập quán của các tộc người trải qua các thời kỳ

Từ sau năm 1975, do nhu cầu của đất nước, ngay sau khi miền Nam được giải phóng, các học giả trong nước đã bước đầu nghiên círu

về người Chơ Ro trên các lĩnh vực như: kỹ thuật trồng trọt, tín ngưỡng dân gian, văn nghệ dân gian, cưới xin, ma chay, kiến trúc, ngành nghề thủ công Trong những công trình nghiên cứu này, phải kế đến hai tập

sách: Những vấn đề về dân tộc học Miền Nam Việt Nam, Ban Dân tộc

học - Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm

1978 và Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Viện

Dân tộc học - Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản năm 1984

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến “Tây Nguyên Tiềm năng và Triển vọng”

của Ngô Văn Lý và Nguyễn Văn Diệu (1992)

Tiếp theo là một số công trình nghiên cứu tổng quan về người

Chơ Ro trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam như: “Việt Nam - hình

ảnh cộng đồng 54 dân tộc” của Thông tấn xã Việt Nam xuất bản năm

2006; “Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam” do Nguyễn Văn Huy chủ biên, xuất bẳn năm 1997 Báo cáo về “Các dân tộc thiểu số ở Việt

Nam thế kỷ X X ’ của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2000 đã

dành một phần giới thiệu về người Chơ Ro với vai trò là dân tộc bản địa ở hai tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu Ngoài ra, một vài công trình nghiên cứu khác về kiến trúc hay văn nghệ dân gian của người

Chơ Ro cũng được xuất bản như: “Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt

Nam” của Nguyễn Khắc Tụng (1994); “Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai” của Huỳnh Văn Tới (1998) Đặc biệt, “Người Châu Ro ở Đồng Nai” của Chi hội Văn nghệ Dân gian Đồng Nai xuất bản nàm

1998 là tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về người Chơ Ro trên địa bàn của tỉnh

Trang 30

Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu trên đã giới thiệu khái quát văn hoá của người Chơ Ro ở một số phương diện: văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể bàng các phương pháp tiếp cận và các mục đích nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi

sâu nghiên cứu lĩnh vực: “Kiến trúc nhà ở cổ truyền của người Chơ Ro

Cẩu trúc gia đình truyền thống của người Chơ Ro gồm nhiều thế

hộ, chung sống trong một nhà dài Mỗi cặp vợ chồng sau khi lấy nhau,

họ lại nối phía sau căn nhà dài thêm một hoặc hai gian cho gia đình

mới Mỗi gia đình lớn thường có một ông đầu nhang (trưởng họ) để

phụ trách việc nghi thức, nghi lễ cũng như quyết định các công việc

chung Khi ông đầu nhang mất, con trai trưởng sẽ thay thế vị trí của

ông ta Gần đây, hình thức tiểu gia đình được xác lập và ngày càng trở nôn phổ biến; theo đó là sự hình thành các ngôi nhà sàn với quy mô và diện tích nhỏ hon

3.2 N hà sàn

Công việc quan trọng trước khi dựng nhà là chọn đất và hướng nhà Theo quan niệm của người Chơ Ro, việc này có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống trong tương lai của gia đình và dòng họ Khu đất dựng

Trang 31

nhà thường do nam giới lớn tuổi trong gia đình tìm chọn Đất được chọn thường là nơi gần suối, tiện cho việc sinh hoạt thường ngày của

gia đình sau này Theo tục lệ, trước khi dựng nhà, ông đầu nhang vạch

một đường thẳng nhò, rồi xếp bảy hạt gạo trên đường thẳng đó và úp một cái bát lên trên Sáng hôm sau, nếu bảy hạt gạo còn nguyên vẹn và không bị xê dịch, đất đó được coi là tốt cho việc dựng nhà Trong trường hợp này, người Chơ Ro cho rằng đất ở đó yên ổn, không bị côn

trùng (như mối mọt) gây hại và là điềm báo sự đồng ỷ của thần linh

Tục lệ này không chỉ có ở người Chơ Ro mà còn ở một số dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn Tây Nguyên, chẳng hạn như tục bói tìm đất của người Gia rai

Việc dựng một ngôi nhà sàn dài đòi hỏi không ít thời gian và nhân công, đặc biệt là khâu chuẩn bị nguyên vật liệu Nguyên liệu dể làm nhà là các loại gỗ rừng, tre, nứa, lồ ô, cỏ tranh, lá trung quân, díìy mây Các loại gỗ rừng được dùng làm cột nhà phải nguyên cây và vẫn còn vỏ; các loại tre, nứa, lồ ô được dùng để làm vách và sàn nhà; lá trung quân, cỏ tranh được dùng để lọp mái; dây mây để buộc Đặc biệt,

về nguyên liệu, gỗ làm cột nhà phải tròn, thẳng và không có các loại dây leo bám trên thân cây Những người già ở ấp Đức Thẳng (xã Túc Trưng, huyện Định Quán) giải thích ràng “chọn cây có dây leo bám xung quanh để làm cột nhà thì cuộc sống gia đình sau này sẽ không thoải mái, hay bị ràng buộc” Dụng cụ làm nhà của người Chơ Ro tương đối đơn giản, chỉ gồm các loại chà gạc, dao côi, búa

Thời gian tiến hành dựng nhà thường vào mùa khô Đây là lúc thời tiết nắng ráo, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển nguyên liệu

Hon nữa, vào mùa mưa, nguycn liệu bị ướt nên việc buộc dây mây sẽ

không được chắc chắn Công việc dựng nhà thường kéo dài trong khoảng 4 tuần

Khi làm nhà, người Chơ Ro cần sự chung sức giúp đõ của tất cả các thành viên trong gia đình, họ hàng và những người xóm giềng Họ

làm đổi công cho nhau, gọi là vần công Thông thường, thay vì trả tiền

công cho những người đến giúp đỡ, gia chủ lo cơm nước cho họ Khi các gia đình khác dựng nhà, họ lại sang làm giúp

Trang 32

Khi dựng nhà dài, người Chơ Ro đào bốn hố đất và chôn ở đó

bôn cây cột Sau đỏ, ông đầu nhang hoặc già làng khấn thần đất và

dùng dây mây do hai đường chéo của bốn cột gỗ đó Nếu hai đường chéo bàng nhau là được; nếu hai đường này không khớp nhau, họ nhổ cột lên rồi chôn lại và tiếp tục đo Trường hạp cột phải nhổ lên và chôn lại ba lần mà hai đường chéo vẫn không bằng nhau, chủ nhà sẽ bỏ khu đat đó, tìm nơi khác dựng nhà Theo quan niệm của họ, việc hai đường

chéo của bốn góc nhà không bàng nhau chứng tỏ thần đất không hùi

lòng khi họ dựng nhà Và nếu chủ nhà vẫn cố dựng nhà trên khu đất

đó, sau này con cái sẽ ốm đau, bệnh tật, làm ăn không thuận lợi và không hạnh phúc

Nhà dài của người Chơ Ro được bố trí theo trục hướng bắc -

nam Cửa chính thường quay về hướng nam Nhà dài được bố trí sao

cho vuông góc với hướng di chuyển của mặt trời, để hàng ngày, mặt

trời đi ngang qua nóc nhà Người Chơ Ro không làm cửa hướng tây

hoặc hướng dông vì họ quan niệm rằng nếu mặt tròi sẽ đi dọc theo

chiều dài căn nhà thì các thành viên trong gia đình sẽ bị nóng bức và

đau ốm thường xuyên

Đe làm một ngôi nhà, cần phải dựng khung và mái nhà Khi dụng

bộ khung mái nhà, người dân dùng cây tre thẳng làm thành những vì kèo, rồi cột chúng lại bằng dây mây chằng khít, chặt và đẹp Phương pháp cột bằng dây mây của người Chơ Ro cũng rất độc đáo, theo kiểu quấn và rút Ngoài việc đảm bảo độ chắc chắn, còn có yếu tố thẩm mỹ Trước khi cột dây, người ta ngâm mây vào nước để dây mềm, nhờ vậy,

sẽ dễ cột và rút Kèo trên mái nhà phải được buộc đều theo cùng một

phía: hoặc cùng bên phải, hoặc cùng bên trái; nếu không, theo quan

niệm, mọi người trong gia đình hay mâu thuẫn, số lượng lớp lá lợp mái phải là số chẵn Theo quan niệm về cặp đôi của người Chơ Ro, mọi thứ đều phải có cặp, như bộ chiêng gồm có 6 chiếc, ba cặp; trỉa lúa, trỉa bắp khi gieo hạt phải là 4 hạt hoặc 6 hạt (hai cặp hoặc ba cặp)

Vì vậy, số lượng lớp mái phải tránh số chẵn Sau đó là việc lắp ráp bộ khung nhà trên nền đất bằng phẳng Tiếp theo, kèo của mái nhà được đặt khớp với các đầu cột đã được dựng sẵn Khi khung nhà đã tương đối hoàn chỉnh, người ta tiến hành hoàn thiện các phần còn lại của ngôi nhà Sàn nhà được làm bằng thân tre đập dập, trải ngang đều trên

Trang 33

khung sàn nhà và được buộc chắc chắn bằng dây mây Trên sàn nhà dài, ngoài các đà ngang, dọc đã được dựng sẵn, người ta đặt một thanh

gỗ lớn có bề ngang khoảng 20 - 25cm, phẳng lệch về phía tây, dọc theo suốt chiều dài của căn nhà Mọi người trong dòng họ và gia đình đi lại trên thanh gỗ này để tránh tiếng động, làm phiền người khác Vách nhà cũng được làm bằng thân tre đập dập và cột bằng dây mây rùng Vách nhà của người Chơ Ro khá độc đáo, thường được đặt nghiêng khoảng

15 độ Theo lời giải thích của các già làng, làm như vậy để tạo chỗ dựa lưng khi ngồi và căn nhà sẽ rộng rãi, thoáng hơn Trên nhà sàn cùa người Chơ Ro không có bàn ghế; họ dựa lưng vào vách nhà để ngồi nói chuyện, uống nước Đồng thời, dọc theo vách ngang tầm mắt người ngồi được để hở để đón nhận ánh sáng, lưu thông không khí và dễ dàng quan sát phía ngoài

Thông thường, đầu nhà dài được làm cố định Gian đầu tiên sẽ

dành cho già làng hoặc ông đầu nhang Phần phía sau cứ tiếp tục nối

dài từng gian một theo sự phát triển của các gia đình trong dòng họ Mỗi khi có con gái trong gia đình cưới, người ta làm thêm m ột gian mới tiếp nối với ngôi nhà theo hướng bắc Khi không thể nối dài hon được nữa, họ tiếp tục làm một nhà dài khác song song với ngôi nhà cũ

Bàn thờ thần thường được bố trí ờ giữa ngôi nhà dài, theo hướng

mặt trời mọc Trước bàn thờ, họ đặt các đầu nhang của các gia đình lớn trong dòng họ và chỉ có những ông đầu nhang mới được phép cúng

thần trên bàn thờ trong các dịp lễ Bếp của mỗi gian nhà (mỗi gia đình) được đặt ở góc bên trái, phía tây Khi ngủ gần bếp, họ kiêng nàm vuông góc với bếp hoặc quay chân về phía bếp vì sợ gia đình sẽ không mạnh khoè, dễ bị bệnh tiêu chảy Nếu họ nằm quay đầu về phía bếp, người nhà cảm thấy nóng bức, khó chịu trong cơ thể Khi ngủ, chi nên nằm song song với bếp Phía cửa ra vào của mỗi ngôi nhà thường treo

tổ ong vò vẽ khô (không còn ong) Theo quan niệm của người dân, họ làm vậy là để nếu có con ma vào nhà quấy phá gia đình, nó sẽ nhìn thấy tổ ong đầu tiên Con ma sẽ đếm, các lỗ của tổ ong nhưng khó thực hiện vì tổ ong có nhiều lỗ nên đếm nhầm và phải đếm đi đếm lại nhiều lần, đến khi trời sáng vẫn chưa đếm xong Bời vậy, ma sẽ không vào được nhà để quấy phá gia đình

Trang 34

3.3 Kho thóc

Kho thóc của người Chơ Ro được làm sau khi đã hoàn thành ngôi nhà dài Mỗi gia đình đều làm một kho thóc gầr.1 nhà ở Lúa là cây lương thực chính được người Chơ Ro coi trọng Họ không để lúa chung với con người vì sợ làm ô uế thần lúa Kho được làm lớn hoặc nhó tuỳ theo lượng sàn phẩm thu hoạch và sổ nhân khẩu trong gia đình Thông thường kho thóc của đồng bào có diện tích là 6m2 (2m X

3m) Kho được thiết kế theo dạng nhà sàn, có bốn cột, sàn cao khoảng l,5m Hướng của kho ngược lại hoàn toàn so với hướng của ngôi nhà dài; cửa kho quay về hướng mặt trời mọc Theo quan niệm của người Chơ Ro, chiều dài của kho thóc phải song song với hướng di chuyển của mặt trời để ánh nắng sưởi ấm lương thực của họ Ở phía dưới sàn, nơi tiếp giáp giữa cột và sàn kho, người ta dùng các mảnh gỗ là tiết diện của thân cây gồ tròn (dày khoảng lOcm, đường kính 50 - 70cm), được cắt làm đôi và khoét lỗ ờ giữa sao cho khi lắp ghép, mảnh gỗ này vừa khít với thân cột nhằm ngăn cản các loại thú (chuột, sóc ) leo lên kho ăn lúa

Trong suốt quá trình làm nhà, gia chủ thường tổ chức hai lần cúng thần đất và tổ tiên Lần thứ nhất là khi chọn đất làm nhà; lần thứ hai - khi khánh thành nhà Lễ vật (thông thường là gà, lợn, dê, rượu, bánh, trái ) nhiều hay ít là tùy khả năng kinh tế của gia đình, dòng họ

Sau này, nhà sàn dài của nhiều gia đình cùng dòng họ đã dần dần

bị thay thế bằng các nhà sàn nhỏ của từng gia đình Các ngôi nhà nhỏ nằm cận kề nhau, tập trung khoảng 10 đến 15 nóc nhà thành từng ấp Mỗi ngôi nhà khoảng 30 - 40m2, sàn cao 1,2 - l,5m , cầu thang lên ở

phía đầu hồi Phần giữa nhà là nơi sinh hoạt chung của cả gia đình

Phía cuối nhà là nơi ngủ, được ngăn cách bằng các vách liếp và trải chiếu lùng (đan từ cây lùng) Các ngôi nhà thuộc tiểu gia đinh này vẫn tuân thủ nguyên tắc hướng nhà như đã trình bày ở trên

Tại ấp Lý Lịch (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai), hiện nay, một số hộ nghèo người Chơ Ro được UBND tỉnh, huyện và các hội từ thiện hỗ trợ xây nhà tình thương Các ngôi nhà tình thương này thường có hướng quay ra mặt đường, vì vậy, không tuân thủ theo hướng*nhà mà người Chơ Ro từng lựa chọn Qua khảo sát của chúng

Trang 35

tôi, người Chơ Ro chủ yếu dùng những ngôi nhà tình thương này để tiếp khách chứ không ở Họ làm một ngôi nhà sàn nhỏ khác bôn cạnh

và theo người dân, họ vẫn thích ở nhà sàn hon nhà gạch Đây cũng là nơi duy nhất người dân Chơ Ro còn ở nhà sàn Ở các khu vực sinh sống khác của người Chơ Ro ở tỉnh Đồng Nai, nhà gạch đã thay thế nhà sàn

Tuy nhiên, về nội lực, thế hệ trẻ người Chơ Ro rất mong gìn giữ

bản sắc văn hoá dân tộc mình Nhiều người dân Chơ Ro ở ấp Đồng

Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán mong muốn bảo tồn nếp sinh hoạt trên ngôi nhà sàn Ấp Lý Lịch (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) là nơi còn khá nhiều nhà sàn Nhà nước đã giúp đỡ xây dựng nhiều ngôi nhà tình thương với nguyên liệu mới là gạch và mái ngói để thay cho một số nhà sàn cũ nát Tuy nhiên, người dân Chơ Ro vẫn có thói quen sống trong nhà sàn; do vậy, hàng ngày họ sinh hoạt ở đó, còn ngôi nhà mái ngói chỉ là nơi ngủ đêm hoặc là dành cho khách đến choi Già làng Văn Lương và những người dân Chơ Ro trong ấp Trung Sơn (xã Xuân

Trang 36

Trường, huyện Xuân Lộc) phấn khởi vì họ đã dược Nhà nước cho phép xây dựng lại ngôi nhà rông theo kiểu truvền thống tại giữa ấp Những người dân ở đây cũng mong cán bộ văn hoá của xã, huyện, tỉnh giúp

đỡ họ tổ chức các sinh hoạt cộng đồng theo phong tục cổ truyền để ngôi nhà rông phát huy tác dụng, đồnu thời cũng là biện pháp tuyên truyền giáo dục những nét văn hoá đẹp của người Chơ Ro

Chính vỉ vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu kiến trúc nhà ở cổ truyền cùa người Chơ Ro nói riêng, các dân tộc ở Việt Nam nói riêng, cả trong lĩnh vực vật chất và lĩnh vực tâm linh, nhằm tim ra nhũng yếu tố

cổ truyền còn phù hợp cần được phát huy và những yếu tố đã lồi thời cần thay đổi là việc làm cần thiết và có ý nghĩa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ban Dân tộc học - Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí

Khoa học xã hội, Hà Nội

2 Báo cáo tổng kết của Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đồng Nai (2005)

3 Các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam thể kỳ X X (2000), Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội

4 Chi hội Văn nghệ Dân gian Đồng Nai (1998), Người Châu Ro

ở Đồng Nai, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai.

5 Nguyễn Văn Huy (chủ biên) (1997), Bức tranh văn hoú các

dân tộc Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

6 Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Diệu (1992), Tây Nguyên Tiềm

năng và Triển vọng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí

Minh

7 Phân viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật tại Thành phố Hồ

Chí Minh, Dịch giả Đỗ Vân Anh (1999), Xứ người Mạ lãnh thổ của

thần linh, Nggar Maá, Nggar Yaang, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai.

8 Tổng cục Thống kê (1999), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt

hỉ am ì 999 - kết quả điểu tra toàn bộ, Nxb Thống kê, Hà Nội.

Trang 37

9 Thông tấn xã Việt Nam (2006), Việt Nam - ỈTinh ảnh cộng

đồng 54 dân tộc, Nxb Thông tấn, Hà Nội.

10 Huỳnh Văn Tới (1998), Bản sắc dân tộc và vãn hóa Đồng

Nai, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai.

11 Nguyễn Khắc Tụng (1994), Nhà ở cơ truyền các dãn tộc Việt

Nam, Tập 1, Nxb Xây dựng, Hà Nội.

(các tỉnh phía Nam), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Trang 38

Đ ỊA Đ Ạ O AN THỚI

M Ộ T C Ô N G T R ÌN H KIẾN T R Ú C Q U Â N s ự Đ Ặ C BIỆT

NGƯT N guyễn Đình Thanh*

“Địa đạo củng cố sức sống và sức chiến đấu của các ấp chúng ta Chúng tạo cho các lực lượng vũ trang, cho quân du kích và nhân dân một nền an ninh tương đổi, nhưng chúng chỉ có giá trị nếu chúng giúp ích cho bộ đội trong cuộc chiến đấu Chỉ coi địa đạo là hầm trú ẩn thì

bỏ mất nhiều thuận lợi lớn lao của chúng” 1 Trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều địa đạo đã được hình thành và trở thành nghệ thuật chiến tranh du kích của nhân dân Việt Nam Địa đạo là “hệ thống công trình phòng thủ được đào sâu trong lòng đất, gồm một số đường hầm, nối liền các trận địa ờ những hướng khác nhau, để trú ẩn và cơ động chiến đấu Trong địa đạo có dự trữ nước, lương thực, vũ khí và có nơi ăn, ở, sinh hoạt”2 Góp phần cho chiến thắng của toàn dân tộc và sau này là một đơn vị trong hệ thống di tích chiến tranh hầm ngầm5, địa đạo An Thới - bót Việt Cộng luôn là niềm tự hào của người dân Tây Ninh

Địa đạo An Thới nằm trên địa bàn ấp An Thới, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Di tích địa đạo này gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam và được công nhận Di tích Lịch sử Văn hoá cấp quốc gia năm 1993

1 Vài nét về xã An Tinh

Xã An Tịnh - tên gốc Bình Tịnh, là vùng đất được khai phá đầu tiên ở Tây Ninh (năm Gia Long thứ 8,1809) và là xã được thành lập sớm nhất của tỉnh Tây Ninh Bình Tịnh được phong hiệu đặt tên chính thức thuộc tổng Bình Cách, huyện Thuận An, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định Năm 1818, dân làng Bình Tịnh nhường một số đất cho ông Đặng

* Trường Đại học Vãn hóa TP Hồ Chí Minh

1 John Penycate và Tom M angold (1988), Hầm Cù Chi, Nxb Văn Nghệ TP HCM, tr.75.

2 Hội đồng Q uốc gia chi đạo biên soạn (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập ỉ (A - Đ), Trung tâm

biên soạn T ừ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr 780.

3 John Penycate và Tom Mangold (1988), Hầm Củ Chi, Nxb Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, tr.308.

Trang 39

Văn Trước - người miền Trung vào lập nghiệp, tách thành làng Phước Lộc Năm 1836, Bình Tịnh và Phước Lộc được đổi tên là An Tịnh và Gia Lộc thuộc tổng Hàm Ninh Hạ, Huyện Quan Hoá, tỉnh Tây Ninh Năm 1872, An Tịnh được tách ra để lập thêm một làng mới là làng An Hoà (nay là xã An Hoà) Năm 1890, An Tịnh thuộc quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh; năm 1959 thuộc quận Phú Đức, tỉnh Tây Ninh; năm

1963 thuộc quận Phú Đức, tỉnh Hậu Nghĩa, nay thuộc huyện Trảng Bàng tỉnh Tây N inh1

Phía Đông và Nam xã An Tịnh giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp xã An Hoà, xã Gia Lộc và thị trấn Trảng Bàng, phía Bac giáp xã Lộc Hưng Xã An Tịnh gồm có 8 ấp: An Thành, An Phú, An Bình, An Thới, An Khương, An Đước, Suối Sâu, Bàu Mây

Khí hậu ở xã An Tịnh nói riêng cũng như toàn tỉnh Tây Ninh nói chung tương đối ôn hoà, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng tư năm sau và tương phản rất rõ với mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) Chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định Mặt khác, xã An Tịnh nằm sâu trong lục địa,

ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác Nhiệt độ trung bình năm ở xã An Tịnh là 27,4 0 c , lượng ánh sáng quanh năm nhiều, mỗi ngày trung bình có 6 giờ nắng

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 - 2200 mm, độ ẩm trung bình trong năm vào khoảng 70 - 80%, tổc độ gió l,7m /s và thổi điều hoà trong năm An Tịnh chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu

là gió Tây - Tây Nam vào mùa mưa và gió Bắc - Đông Bẳc vào mùa khô

Từ khi thực dân Pháp đặt chân đến Tây Ninh, nơi đây đã diễn ra

các cuộc chiến đấu tiêu biểu của Trương Quyền, lãnh binh Tòng và

phong trào Thiên Địa hội Trong 9 năm kháng chiến chổng Pháp, quân dân An Tịnh đã tiêu diệt gần 2.000 tên địch, bắt sống 600 tên, gọi hàng

400 tên và thu 300 súng các loại Trong 15 năm đánh Mỹ, quân dân An Tịnh đã diệt 5.627 tên địch, bắt sống 900 tên, gọi hàng 800 tên, thu 864 súng các loại, phá huỷ 368 xe cơ giới, 3 máy bay2

1 Sở Văn hoá Tây Ninh, Bảo tàng Tây Ninh (2001), Táy Ninh Di tích Lịch sừ, tr 16, 17.

Trang 40

Nam ở địa đầu của tỉnh trên quốc lộ 1, An Thới - An Tịnh phải đổi phó với nhiều cuộc càn quét lớn nhò của địch Để chuẩn bị cho các cuộc hành quân Mỳ thường đổ quân chốt chặn (bàng trực thăng) hoặc bằng hành quân cơ giới (MI 13 - M48), trong đó An Thới thường xuyên là một trong những điểm tập trung đánh phá của Mỹ.

Do điều kiện tự nhiên kết hợp với truyền thống yêu nước của nhũn dân xã An Tịnh và tính chất chiến lược của vùng đất này nên Huyện uỷ Trảng Bàng đã quyết định đào địa đạo tại An Thới để làm nơi trú ấn và chiến đấu chống đế quốc Mỹ

2 Địa đạo An Thứi

An Thới nằm sát quốc lộ 1, sát chi khu căn cứ Trảng Bàng, nằm

ở trung điểm căn cứ Đồng Dù - Địa đạo Ben Dược, Củ Chi, vùng tam giác sắt và căn cứ địa Bời Lời; phía Tây giáp thị trấn Trảng Bàng, phía Đông giáp rừng Rong (ấp Lợi Hoà Đông) phía Nam giáp ấp An Bình, phía Bắc giáp xã Lộc Hưng

An Thới có độ cao trung bình (10-15m) so với mặt nước biển Đường đi đến địa đạo đều dễ dàng thuận tiện:

Từ Tp Hồ Chí Minh theo quốc lộ 22 đến suối Sâu - địa đầu tỉnh Tây Ninh (50km), từ suối Sâu đến ngã tư An Bình (2km) rẽ phải 2,5

km tới An Thới; hoặc từ thị trấn Trảng Bàng xuống (2km) gặp ngã tư

An Bình (quốc lộ 22) rẽ trái 2.5 km tới địa đạo An Thới

Phần trên mặt đất của di tích gồm các hàng tầm vông, các luỹ tre gai lâu đời trong khu dân cư thuộc ấp An Thới Phần địa đạo được khoét sâu trong lòng đất, cách mặt đất từ 5-7m; chiều cao trung bình

l,6m ; chiều ngang trung hình l,2m Toàn hộ địa đạo được hố trí theo

hình chữ z , hiện tại còn lại chiều dài 750m gồm 2 đoạn:

Đoạn thứ nhất: 361 m có bổn cửa lên xuống, bốn ụ chiến đấu, một

số lỗ thông hơi Khu vực này trước đây có bố trí bãi mìn, hầm chông, hào giao thông, công sự để phối hợp, vận động chiến đấu

Đoạn thứ 2: 369m có ba cửa lên xuống, bốn ụ chiến đấu, cùng với hệ thống phòng ngự như bãi mìn, hầm chông, hào giao thông

Nối liền giữa hai địa đạo là những hàng tre, hàng tầm vông và hào giao thông được bố trí theo ý định tác chiến lúc bấy giờ Toàn bộ

Ngày đăng: 08/07/2022, 16:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w