Cuốn sách Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa kiến trúc là công trình tập hợp những bài nghiên cứu của một số giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với những cán bộ, giảng viên và sinh viên ngành văn hóa, ngành kiến trúc. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 1 cuốn sách.
Trang 1TRCTONG DAI HOC VAN HOA THANH PHO HO CHI MINH
NGtfT NGUYEN D'lNH THANH
(Chu bien)
Trang 2B ộ V Ă N H Ó A , T H Ế T H A O V À D ư LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP HÒ CHÍ MINH
Di Sản Văn HoáBảo Tồn Và Phát Triển
Trang 4LỜI GIỚI T H IỆ U
Trên cơ sở điều kiện khí hậu, môi trường và kinh tế - xã hội, các công trình kiến trúc ờ Việt Nam có những bản sắc riêng biệt: có tính dân tộc và tính địa phương phong phú, phong cách giản dị, bố cục cân xứng, hài hòa, có sự kết hợp chặt chẽ với cảnh quan thiên nhiên, giàu tính dân gian Các công trình này đã góp phần tạo ra sự đa dạng của
di sản nước nhà
Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản ở Việt Nam ngày càng được xã hội quan tâm Bên cạnh những di sản văn hóa phi vật thể
và các di sản vật thể khác, kiến trúc và các di tích được chú trọng đầu
tư trùng tu, bảo tồn Tuy nhiên, thực tế công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản này còn nhiều vấn đề bất cập cần có những biện pháp khả thi và kế hoạch lâu dài
Thời gian gần đây, trên thực tế nhu cầu của xã hội cũng như sự giao lun, trao đổi với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành di sản văn hóa đã nhận được nhiều nguồn tài liệu liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung, các di sản kiến trúc và di tích nói riêng Tuy nhiên, vì nhiều lý do, các cán bộ, đặc biệt là sinh viên các Trường cao đẳng, đại học trong ngành vẫn chưa có nhiều điều kiện tiếp cận các tài liệu chuyên ngành này Ờ trong nước, trước nay đã có một số công trình nghiên cứu về di sàn văn hóa cũng như về công tác bảo tồn và phát huy di sàn văn hóa Nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu chưa đầy đủ, phong phú và đa dạng
Cuốn sách “Di sản Văn hóa: Bảo tồn và Phát triểrì' chuyên đồ Kiến trúc là công trình tập họp những bài nghiên cứu của một số giáo
sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam Nội dung cuốn sách nhàm giới thiệu về một số di sản kiến trúc cũng như hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các di sản này; về việc tiếp cận một sổ kinh nghiệm bảo tồn di sản kiến trúc của một số quốc gia trên thế giới
Mặc dù còn một sổ vấn đề khoa học cần được tiếp tục nghiên cứu
và bổ sung, nhưng với những gì có được, cuốn sách 11 Di sản Văn Hóa:
Bảo tồn và Phát triển” chuyên đề kiến trúc là một đóng góp mới t-ong
Trang 5sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với những cán bộ, giảng viên
và sinh viên ngành văn hóa, ngành kiến trúc
Bên cạnh đó, cuôn sách còn là món quà nhân dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh - một địa chỉ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực văn hóa - thông tin và khoa học xã hội nhân văn
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
TM Ban Biên tập Hiệu trưỏng Trưòng Đại học Văn hóa TP HCM
NGƯT TS Trần Văn Ánh
5
Trang 6M Ụ C L Ụ C
Trang
1 Võ X u â n Đàn
Nét đặc thù của di sản kiến trúc Việt N a m 09
2 Trinh Thi Hòa• •
Một số vấn đề về di sản kiến trúc ở Việt Nam qua các văn bản phápluật hiện hành 18
3 N guyễn Thịnh
Đặc điểm di tích kiến trúc Việt Nam và vấn đề bảo tồn di tíchkiến tr ú c 31
4 Phan Thanh H ải
Quy hoạch và cấu trúc kinh thành Huế thời N guyễn 44
5 L ư u H ùng
Yeu tố phi vật thể gắn những công trình kiến trúc Tây nguyên thể hiện
ờ Bảo tàng Dân tộc học Việt N am 67
6 Phạm Lan H ương
Di tích đình Vẽ (xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà N ộ i) 74
7 N guyễn Thái Hòa
Chùa Diên Thọ - Ngôi chùa làng tiêu biểu ở Quảng T r ị 85
8 Vỗ Văn H oàng
Tam quan chùa Bà Mụ - Đối mặt cùng thời g ia n 95
9 Vũ H oài A n
Thành Điện Hải 102
10 Đinh Thị Thanh Thủy
v ề di tích đường hầm Dinh Gia L ong 112
Trang 715 Pltcim Văn Lơi• •
Nhà ở của người Triêng - Xu hướng biến đồi và phát triển 157
16 B ùi Thị H ồng Loan - Nguyễn Tlìị Kim Hoàng
Chùa Vĩnh Tràng ở Thành phố Mỹ T h o 172
17 Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Đình Tân Thạch - Di tích kiến trúc nghệ thuật ở Ben T re 178
18 Nguyễn X uân H oanh
Không gian văn hóa ngôi nhà Việt cổ truyền ở Vĩnh Long 183
Trang 8N É T Đ Ậ C T H Ù C Ủ A DI SẢN K IÉN T R Ú C V IỆ T NAM
PGS TS Võ X uân Đàn*
Kiến trúc là một ngành khoa học nghệ thuật, ư u việt của kiến trúc là sự phản ánh đậm và rõ nét bộ mặt xã hội cùa cộng đồng dân cư Kiến trúc thể hiện lối sống, nền văn hóa và môi trường sống của một cộng đồng và được xem như nghệ thuật tổ chức không gian sinh hoạt con người
Kiến trúc Việt Nam có lịch sử phát triển và tồn tại lâu dài, phong phú trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Có thể phân chia lịch sử kiến trúc Việt làm ba thòi kỳ lớn, mang tính bao quát rộng về thời gian và không gian với những nét đặc thù cùa mồi thời kỳ:
1 Kiến trúc Việt Nam thời dựng nước
- Kiến trúc giai đoạn Nhà nước Âu Lạc
- Kiến trúc thời đấu tranh của nhân dân chấm dứt chế độ đô hộ cúa phương Bắc từ thế kỷ I đến cuối thế kỷ thứ IX
2 Kiến trúc Việt Nam thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Quốc gia phong kiến độc lập
Thời kỳ này có thể phân thành năm giai đoạn phát triển của kiến trúc Việt Nam, tương ứng với năm thời kỳ lịch sử huy hoàng của dân
a) Kiến trúc thời Lý từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII
b) Kiến trúc thòi Trần - Hồ từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV
c) Kiến trúc thời Hậu Lê từ thế kỳ XV đến thế kỷ XVII
d) Kiến trúc giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nừa đầu thế kỷ XIX
3 Kiến trúc Việt Nam giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước
♦ PG S TS - Trường Đại học Ngoại ngừ - Tin học Tp Hồ Chí Minh.
Trang 9Di sản kiến trúc Việt Nam đều mang dấu ấn lịch sử, để lại những nét đặc điểm riêng của mỗi thời kỳ phát triển, mỗi giai đoạn, mỗi triều đại đã tồn tại trong lịch sử dân tộc Song cũng có những nét đặc thù của di sản kiên trúc Việt Nam vừa mang tính khái quát, tông hạp chung của kiến trúc Việt Nam lại vừa phản ánh được nét đặc thù của kiến trúc các vùng miền mang dấu ấn riêng của từng thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Chúng ta có thể điểm qua các nét đặc thù của di sản kiến trúc Việt Nam như sau:
M ột là: Có nét đặc thù chung của kiến trúc Đông Nam Á Các
quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam là cái nôi xuất hiện loài người, là một khu vực văn hóa cổ, là trung tâm nông nghiệp lúa nước lớn Trước khi tiếp biến văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc và Tây phương, Đông Nam Á đã có nền văn hóa riêng của mình với sức sống mãnh liệt, rực rỡ và với sức mạnh đặc biệt ấy nó có thể đồng hóa được tất cả những cái gì từ bên ngoài vào để thành sở hữu của chính mình, thành sắc thái của khu vực và của mỗi quốc gia Trước khi xuất hiện văn hóa
Án Độ, vùng Đông Nam Á đã có nhiều công trình kiến trúc tại mỗi quốc gia Thời gian, khí hậu đã cướp đi gần hết, chỉ còn lại đến ngày nay một số ít công trình cự thạch rải rác trong vùng Đông Nam Á, thế hiện được ý niệm về kiến trúc như bố cục hướng tâm và tính hoành tráng mặc dù chưa thật nghệ thuật Trải qua nhiều thế kỷ ở mồi quốc gia với truyền thống kiến trúc của quá khứ, với tài năng sáng tạo phi thường đã xuất hiện những trường phái, những mẫu hình kiến trúc hiện đại, vừa mang nét chung của khu vực Đông Nam Á, vừa mang sắc thái riêng của mỗi quốc gia, của dân tộc mình
H ai là: Dấu ẩn tôn giáo trong di sản kiến trúc Việt Nam Các tôn
giáo cổ như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo từ Ẩn Độ, Trung Hoa được truyền vào nước ta từ đầu công nguyên có xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ, để lại dấu ấn sâu sắc trong cộng đồng dân tộc Phật giáo, Nho giáo đã từng giữ vai trò là ý thức hệ của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam
Trong di sản kiến trúc Việt Nam, các tôn giáo đã để lại nhiều dấu
ấn của mình trong các công trình kiến trúc như chùa tháp, văn miếu,
10
Trang 10cung quán tại khắp các vùng miền, thành thị, nông thôn, nhiều nhất là các công trình mang dấu án Phật giáo đặc biệt ở các triều đại Đinh, Lê,
Lý, Trần Đáng chú ý nhất là loại hình kiến trúc chùa tháp của đạo Phật thời Lý - Trần còn lưu lại đến ngày nay Ngoài ra, di tích, dấu vết còn lại của các cung điện, kinh thành, phủ đệ cho ta thấy vật liệu, kỹ thuật, kct cấu nền móng, khung nhà có nhiều đặc điểm gần gũi với kiến trúc tôn giáo đương thời như Kinh đô Hoa Lư, Kinh thành Thăng Long, Đông Kinh, Lam Kinh, Tây đô, Kinh thành Huế
Ba là: Tính cách dân tộc và tính cách địa phương vùng miền
phong phú phù hợp với phong cách sinh hoạt, tập quán và khí hậu của con người trên đất nước Việt Nam
Các công trình kiến trúc quốc gia đều được xây dựng ở những vùng trung tâm thể hiện sự cố kết của cộng đồng dân tộc, thể hiện sự trường tồn, bền vừng của triều đại, dân tộc, đất nước Toàn dân có sự đóng góp công sức, tiền của để xây dựng, tìmg địa phương vùng miền mang dậm bản sắc của địa phương, tạo thành những quần the văn hóa - môi trường tự nhiên có sắc thái riêng “Ngoài việc biết tận dụng địa hình trong trường hợp đồng bằng cũng như trong trường hợp dốc núi hay sử dụng những yếu tố thiên nhiên như đá, nước, cây xanh, tố tiên chúng ta thời kỳ này còn thành thục trong việc biết làm cho môi trường kiến trúc phù hợp với khí hậu, biết chú ý đến hướng nhà và thiết kế hành lang để đón gió và chống mưa nắng, làm mái lớn che lấp một phần không gian nhà để tránh bức xạ nhiệt, thiết kế sân thượng để cải tạo khí hậu” 1 Lịch sử kiến trúc Việt Nam qua các thời đại đã để lại trên mặt đất hay dưới lòng đất một nền nghệ thuật kiến trúc độc đáo với nhiều công trình đồ sộ như lâu đài, cung điện, thành quách và chùa tháp với quy mô lớn trong đó có những công trình được công nhận là
di sàn văn hóa thế giới như Kinh thành Huế, Kinh thành Thăng Long, thành An Tôn Đã có học giả nhận xét về thành An Tôn “Công trình này là một trong những kiến trúc đẹp nhất của kiến trúc An Nam”2
Ị f)ặ n g Thái Hoàng (1977), Nhìn lại quá trình phát triên cùa kiến trúc Việt Nam làu đời vờ phong ph ú -
n g h iên cứu lịch sù, số 5 (176), Viện Sừ học, Hà Nội, 1977, tr.79.
2 l-ouis Bezacier “ La citadellc des H ồ” Indochinc iddustré - NO 78-79-12/1942.
Trang 11Bốn là: Loại hình kiến trúc, trang trí phong phú, đa dạng, có tính
thống nhất và hài hòa
Di sản kiến trúc Việt Nam từ thể kỷ XI đến giữa thế kỷ XX thời
kỳ nào cũng vậy, thời sau phong phú, đa dạng, hài hòa hơn thời kỳ trước nhưng đều mang tính thống nhất xuyên suốt Những hình mẫu kiến trúc tiêu biểu thường quy về các dạng:
- Di sản kiến trúc kinh thành: nếu tính từ trước thế kỷ XI có kinh thành Cổ Loa, Hoa Lư rồi đến Thăng Long là thủ đô của nhà nước phong kiến độc lập của nhiều triều đại Các thành Thăng Long, Tây
Đô, Huế, Sài Gòn - Gia Định là loại thành có kiến trúc kiên cố, vững chắc, nghệ thuật thơ mộng nhất của nước Việt Nam, trong đó Tây Đô (thành Nhà Hồ) là loại thành đá kiên cố vào bậc nhất trong lịch sử xây dựng thành quách ở Việt Nam Mỗi dạng kiến trúc kinh thành tuy có nét riêng về sự hoành tráng, kiên cố, phong phú, trang trí nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc, tính thống nhất trên nhiều khía cạnh của mỗi công trình kiến trúc thành quách Việt Nam
- Di sản kiến trúc tôn giáo: là loại hình kiến trúc đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam, từ vùng núi xa xôi hẻo lánh đến vùng Trung du, đồng bằng, miền biển và hải đảo, từ đầu nước đến cuối nước Tiêu biểu là các loại hình kiến trúc: chùa, tháp, đình, thánh thất, lăng tẩm, mộ táng Mồi tôn giáo đều có nơi thờ phụng riêng, tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, phản ảnh tính đa thần giáo của Việt Nam, tiêu biểu là Phật, Nho, Đạo giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành, Hồi giáo và các tôn giáo bản địa như Cao Đài, Hòa Hảo
Nổi bật nhất trong di sản kiến trúc tôn giáo ờ Việt Nam là kiến
trúc các chùa, tháp của Phật giáo Ngày nay trên các vùng miền đất nước ta còn lưu lại những kiến trúc Phật giáo từ nhiều thế kỷ trước đây như chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), chùa Một Cột (Hà Nội), tháp Báo Thiên (Hà Nội) , tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi - Hà Nam), tháp Chương Sơn (Hà Nam), tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc), tháp Phổ Minh (Nam Định), chùa Thiên Mụ (Huế)
- Di sản kiến trúc lăng mộ: có bước phát triển từ đơn giản đến sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội, đến những lăng tẩm đồ sộ, nguy nga,
12
Trang 12hoành tráng dành cho các bậc vua chúa mà đỉnh cao của di sản kiến
trúc này là các lăng tẩm của vua chúa nhà Nguyễn tại Thành phố Huế
như các lăng tẩm vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Đồng Khánh
đèn nay vẫn còn như nguyên vẹn “Khu vực được chọn làm lăng
thường có địa hình rộng rãi, thoáng đãng Mỗi lăng mộ là một tổ hợp
các kiến trúc gồm mộ phần (nơi đặt thi thể) và các miếu điện để phục
vụ việc thờ cúng tế lễ” 1
- Di sản kiến trúc cung điện, phủ đệ và nhà ở trong lịch sừ, phát triển của dân tộc Việt Nam mang dấu ấn cùa kiến trúc truyền thống
dân tộc như hài hòa với thiên nhiên, môi trường, gần gũi với những
yếu tố Phật giáo, với tín ngưỡng dân gian như yếu tổ phong thủy,
hướng xây dựng và yếu tố địa lý, khí hậu Quy mô, hình dáng, kiểu
cách có sự khác nhau do tính chất phân tầng của xã hội từ đó mà nhu
cầu sử dụng vật liệu, kỹ thuật, kết cấu nền móng, kiểu dáng có nhiều
điểm khác nhau, tạo được nét phong phú, đa dạng về mặt xã hội và
nghệ thuật trong xây dựng cung điện, phủ đệ và nhà ở trong mỗi thời
đại lịch sử, mỗi triều đại trong chế độ phong kiến và chế độ dân chủ xã
hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
N ăm là: Qua di sản kiến trúc Việt Nam ta thấy có sự tiếp cận,
tiếp biến với văn hóa kiến trúc Trung Hoa, Nam Á và phương Tây tạo
nên tính đa dạng, rộng mở của kiến trúc Việt Nam vừa mang tính dân
tộc sâu sắc vừa mang tính thời đại trong mỗi thời kỳ lịch sừ mà dân tộc
ta đã trải qua
Di sản kiến trúc Việt Nam thể hiện sự tiếp biến có chọn lọc nền
văn hóa kiến trúc nhân loại với những nét mới phù họp với phong cách
dân tộc để tiếp nhận và phát triển trong quá trình di lên, mang tính
sáng tạo, rộng mở Nét văn hóa kiến trúc Trung Hoa, Nam Á, phương
Tây còn nguyên giá trị trong kiến trúc Thăng Long - Hà Nội, trong
Kinh thành Huế, Đà Nằng, Hội An, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh
1 Hà Văn Tấn (2002), K hảo cổ học Việt Nam tập ỊII, khào cổ học lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học Xà
h ộ i, Hà Nội, tr 144.
Trang 13Di sản kiến trúc Việt Nam cho chúng ta thấy đang tiếp cận, đi tới một nền kiến trúc hoàn mỹ trong nền kiến trúc của nhân loại nói chung
và trong khu vực Đông Nam Á nói riêng
Sáu là: có sự kết họp các yếu tố chính trị, quân sự xã hội trong
các trung tâm - công trình kiến trúc tiêu biểu trong quá trình xây dựng nền kiến trúc Việt Nam
- Công trình kiến trúc Thăng Long - Hà Nội được xây dựng vào đầu năm 1010 dưới triều nhà Lý, vùng đất được chọn đáp ứng được mọi yêu cầu phát triển của một kinh đô của một nước đang phát triển của thời kỳ độc lập tự chủ v ề vị thế của Thăng Long, trong chiếu dời
đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Lý Công u ẩn viết: “ Ở chính giữa bờ cối đất nước, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi, vị trí thích trung với bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, tiện cho chiều hướng thuận nghịch của núi sông Ở đó, địa thế vừa rộng vừa phang, vùng đất vừa cao vừa sáng, dân cư không lo nạn lụt lội, đắm đuối, muôn vật cũng rất phong phú, tốt tươi Ngắm khắp nước Việt ta, dụng đó là thắng địa, thậl là nơi then chốt của bốn phương hội lại và cũng là nơi đô thành bậc nhất của
đế vương muôn đời” 1
- Trải qua hàng ngàn năm mặc dù có những bước thăng trầm của lịch sử, Thăng Long vẫn là quần thể kiến trúc tiêu biểu, rộng mờ, được nhiều đời kế tiếp nhau xây dựng, chỉnh trang, quy hoạch ngày càng hoành tráng thể hiện được khả năng phòng thủ trước sự tấn công của quân xâm lược, bảo vệ vương triều, tạo được điều kiện cho sự phát triển toàn diện trong suốt một ngàn năm tồn tại đúng như Lý Công uẩn
đã viết trong chiếu dời đô “là thắng địa, nơi then chốt của bổn phương hội lại và cũng là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”
- Kinh thành Huế: Khi được giao vào trấn thủ vùng Thuận Hóa, vùng đất “phía Bắc có núi ngang và sông Gianh hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi đá bia vững bền Núi sẵn vàng, biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng Neu biết dạy dân, luyện binh
1 Nguyễn Phan Ọ uang - Võ Xuân Đàn (2000), Lịch sử Việt Nam từ nguồn g ố c đến năm 1884, Nxb Thánh
phố Hồ Chí Minh, tr.4 3 1.
14
Trang 14đc chông chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời” 1 Năm 1538, khi vào đến Thuận Quảng rồi sau đó đến các đời chúa Nguyễn Phúc Trân, Nguyễn Phúc Chu và sau cùng là chúa Nguyễn Phúc Khoát mới định được kinh đô nhà chúa ở Đàng trong là Phú Xuân và đây cũng là cơ sờ để Nguyễn Ánh tiếp tục xây dựng Kinh thành Huế và trở thành thủ đô của vương triều Nguyễn tồn tại từ năm
1802 và đến năm 1945 trở thành c ố đô Huế - Thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện nay Kinh thành Huế có lối kiến trúc vừa mang tính dân tộc rõ rệt, vừa có ảnh hưởng của kiến trúc ngoại nhập qua các bước phát triển khác nhau trong thời gian từ năm 1802 đến năm 1945 Phòng thành xây dựng theo kiểu Vauban do ảnh hưởng của
kỹ thuật phòng thủ phương Tây Yeu tố quân sự của Kinh thành Huế thể hiện khá rõ rệt đặc biệt là hệ thống pháo phòng thủ cứ cách 50m có một khẩu pháo và pháo ở các pháo đài quanh thành để bảo vệ kinh thành Tại Đại nội Huế có khoảng 150 kiến trúc lớn nhỏ làm nổi bật nét kiến trúc nghệ thuật Huế Trải qua hơn hai thế kỷ, một số kiến trúc tiêu biểu vẫn còn tồn tại như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Hiển Lâm các, Thái Bình thư lầu như những chứng nhân của một thời huy hoàng của Kinh thành Huế, là những kỷ niệm bằng vật thể cho muôn đời con cháu chiêm ngưỡng và kính phục
- Thành Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: thành Gia Định được xây dựng từ năm 1689, ban đầu là phủ Gia Định - phiên trấn Dinh, là vị trí phòng thủ chiến lược, bảo vệ an ninh từ Phan Thiết đến Rạch Giá Năm 1790, Nguyễn Ánh xây dựng thành Gia Định với quy mô lớn, nhưng sau đó cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi và cuộc xâm lược của thực dân Pháp đã tàn phá thành Gia Định
- Pháp chiếm Sài Gòn đã biến một đô thị cổ thành một thành phố phục vụ cho hoạt động kinh tế, thương nghiệp, là tổng hành dinh để phục vụ cho mục đích lấn chiếm cả Đông Dương Hình thái kiến trúc theo mô hình đô thị của Pháp như mẫu mực về đường phố, có sự cân bàng giữa bề rộng lòng đường và chiều cao các khối nhà, hệ thống cây xanh, kỹ thuật xây cất hiện đại sừ dụng đến xi măng, bê tông, tường
1 Hà Văn Tấn (2002), K hảo cổ h ọ c Việt Nam tập ///, Khảo cổ học lịch sừ Việt N am , Nxb Khoa học Xã
hợi, 1 ỉà Nội, tr.265.
Trang 15chịu lực, kính, sắt thép, cửa cuốn Trong xây cất có chú trọng tìm sự hài hòa với cảnh quan chung, với những nét thanh tú nhất định của kiến trúc trong bối cảnh thiên nhiên.
Thời gian Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam trong đó có Sài Gòn, Mỹ đã đổ nhiều tiền bạc xây dựng Sài Gòn dưới danh nghĩa là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa nên được tăng cường thêm nhiều yếu tố tạo thành nền kiến trúc của Sài Gòn có tầm cỡ quốc tế hiện đại, được xếp vào hàng các thành phố phát triển nhanh, có trang bị hiện đại trong thời kỳ trước 19751
Từ năm 1975 đến nay, Sài Gòn được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh và sau 35 năm thành phố tiếp thu, kế thừa những thành quả kiến trúc của gần 300 năm trước, tiếp bước có chọn lọc những giá trị quý báu của di sản kiến trúc thời trước để hoàn chỉnh trước mắt và trong tương lai một thành phố có nền kiến trúc văn minh, hiện đại Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp cận được những giá trị của những tiêu chí kiến trúc mà nhân loại đã đưa ra như: giá trị sừ dụng, vững chắc, đẹp, bền vừng mang tính nhân văn và môi trường nhưng vẫn giữ vững bản sắc văn hóa kiến trúc của dân tộc
Thăng Long - Huế - Sài Gòn là nơi hội tụ đủ những nét đặc thù của di sản kiến trúc Việt Nam: Thăng Long ngàn năm văn hiến, Huế thành phố bài thơ, Sài Gòn viên ngọc Viễn Đông thành đồng tổ quốc, một chuỗi dài phát triển nền kiến trúc Việt Nam mang đậm đà bản sắc dân tộc nhưng không bao giờ từ bỏ những giá trị văn hóa kiến trúc của nhân loại, luôn tiếp biến để bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng
di sản văn hóa kiến trúc của cộng đồng dân tộc Việt Nam với nhiều sắc tộc tạo nên những nét đặc thù của di sản kiến trúc Việt Nam
1 Trằn Văn Giàu - Trần Bạch Đằng (chù biên) (1998), Địa chí văn hỏa thành ph ố HÒ C h í Minh, tập III,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.469-516.
16
Trang 16TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Thái Hoàng (1977), Nhìn lại quả trình phủi triển của
kiến trúc Việt Nam lâu đời và phong phủ - nghiên cứu lịch sử, số 5
(1 76), Viện Sử học, Hà Nội
2 Hà Văn Tấn (2002), Kháo cổ học Việt Nam tập III, khảo cổ
học lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3 Louis Bezacier “La citadelle des Hồ” Indochine iddustré - N° 78-79-12/1942
4 Nguyễn Phan Quang - Võ Xuân Đàn (2000), Lịch sử Việt Nam
từ nguồn gốc đến năm 1884, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
5 Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng (chủ biên - 1998), Địa chí
văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập III, Nxb TP Hồ Chí Minh.
Trang 17M Ộ T S Ố V Ấ N Đ È VÈ DI SẢ N KIÉN T R Ú C Ở V IỆ T NAM
- Luật di sản văn hóa, công bố theo Lệnh sổ 09/2001/ L-CTN ngày 12-7-2001 của Chủ tịch nước
- Nghị định sổ 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa
- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24-7-2001 của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin Phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sừ-văn hóa và danh lam thắng cành đến năm 2020
- Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh1
- Luật sừa đổi, bổ sung một sổ điều của Luật di sản văn hỏa, còng
bố theo Lệnh sổ 08/2009/L-CTN ngày 29/6/2009 của Chủ tịch nước
Có thể nói, tất cả những văn bản kể trên thông qua nội dung và những quy định trong đó đều nhằm tạo cơ sở pháp lý và khoa học cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của DSVH Việt Nam Tuy nhiên, DSVH Việt Nam là một khái niệm rộng, gồm nhiều loại hình
♦ Nguyên Giám đốc Bào tàng Lịch sử Việt Nam - TP Hố Chí Minh.
1 Theo Quyết định số 05/2003/Q Đ -BV H TT ngày 06/2/2003 cùa Bộ trường Bộ Văn hóa - Thông tin.
18
Trang 18kliác nhau, vì vậy, trong khuôn khổ của bài viết này, tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến loại hình di sàn kiến trúc ở Việt Nam thể hiện qua các văn bản pháp luật hiện hành, cụ thể gồm các vấn đề sau:
1 Vấn đề khái niệm, tiêu chí và phân loại
'['heo quan niệm của Việt Nam, các di sàn văn hóa gồm có hai lĩnh vực: Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể (tất nhiên, sự phân chia như vậy chỉ mang tính tương đối) Khái niệm di
sàn kiến trúc mà tôi đề cập trong bài này có thể hiểu là các di tích kiến
trúc - nghệ th u ậ t (cụm từ này thường được sử dụng trong các văn bản
pháp luật cũng như chuyên môn), bời các di tích kiến trúc - nghệ
thuật trước hết chính là các di sản có giá trị về mặt kiến trúc (ở Việt
Nam, thêm hai chữ nghệ thuật để chỉ những di tích là công trình kiến trúc có các yếu tố nghệ thuật như: các tác phẩm điêu khắc, chạm trổ, các đồ vật được sơn son thếp vàng hay khảm xà c ừ là những yếu tố cấu thành nên di tích hoặc chúng được tồn tại cùng di tích để sử dụng cho các nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo ) Và, ở góc độ nào đó, cũng
có thể hiểu theo cách “Kiến trúc là nghệ thuật thiết kế và xây dựng các
cóng trình, tổ chức các môi trường không gian, phục vụ cho cuộc sổng
vờ hoạt động cùa con người”
Hiện nay, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ở Việt Nam liên quan trực tiếp đến các di sản kiến trúc với việc sử dụng cụm từ “Di tích kiến trúc - nghệ thuật”, đó là “Luật di sản văn hóa” (Luật DSVH) được công bố theo Lệnh số 09/2001/L-CTN của Chủ tịch nước vào
ngày 12/7/2001 Cụ thể là, theo điều 28 của bộ luật trên, di tích kiến
trúc - nghệ th u ậ t là “quần thế các cóng trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giả trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử"2 Như vậy, có thể hiểu, các di sản kiến
trúc cần được bảo tồn có thể là một quần thể, cũng có thể chỉ là một công trình riêng lẻ và tiêu chí của loại di sản này là phải có giá trị tiêu biểu về mặt kiến trúc, nghệ thuật, tuy nhiên, di sản đó có thể chi liên
1 T ừ điền bách khoa Việt Nam -Tập 2.
2 O iều 28 - khoản 1 - mục đ, Luật Di sản văn hóa.
Trang 19quan đến một giai đoạn và cũng có thể nhiều giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Sau Luật DSVH, ngày 11/11/2002, Nhà nước ta đã ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP của Chính phú quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật di sản văn hóa, trong đó, khái niệm di tích kiến
trúc-nghệ thuật đã có sự sửa đổi, bổ sung, thể hiện qua việc xác định
“các di tích kiến trúc nghệ thuật không chỉ là những công trình kiến trúc, nghệ thuật, mà còn bao gồm cả tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị
có giá trị trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật” 1 Hiện nay, theo quy định trong “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
di sản văn hóa” (ban hành ngày 29/6/2009) lại có sự sửa đổi và bổ
sung thêm với việc xác định các di tích kiến trúc nghệ thuật là “Công
trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị
và địa điếm cư trú có giá trị tiêu biêu của một hoặc nhiều giai đoạn phái triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam"2.
Qua đó, có thể thấy, khái niệm di tích kiến trúc - nghệ thuật từ sau khi ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP và “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa” đã được mở rộng và hoàn chỉnh hơn cho phù hợp với thực tiễn, bởi “Nếu như trước đây, đối tượng di tích kiến trúc chi là các công trình kiến trúc, các tòa nhà riêng biệt thì giờ đây đối tượng đã bao gồm cả các quần thể kiến trúc, môi trường thiên nhiên và kiến trúc bao quanh di tích đó”3, đồng thời,
“Trong khái niệm mới về di tích kiến trúc có cả một cơ cấu kiến trúc
đô thị, trong đó không phải từng ngôi nhà riêng biệt mà là cả một đường phố với sự biến đổi năng động cùa nó, cả một quảng trường hoặc toàn bộ cơ cấu của một vùng dân cư đã trờ thành đối tượng cần được nghiên cứu và bảo vệ”4
v ề tiêu chí của một di sản kiến trúc, trong các văn bản pháp luật trên đều đề cập đến cụm từ “có giá trị tiêu biểu”, điều đó chứng tỏ,
1 Điều 14, Nghị định số 92/2002/N Đ -CP cùa Chính phù quy định chi tict thi hành một số điều của Luât di sản văn hỏa.
2 Điều 1 - mục 10, Luật sửa đồi, bồ sung một số điều cùa Luật di sản văn hóa.
3 Nguyễn Khởi (2002), Báo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc, Nxb Xây dựng, Hà Nội, tr 105.
4 Nguyễn Khởi (2002), Sđ d , tr 105.
20
Trang 20không phải di sản kiến trúc nào cũng cần giữ lại, hay nói cách khác,
việc giữ lại các di sản văn hóa nói chung, di sản kiến trúc nói riêng phụ
thuộc vào giá trị của nó
v ề việc phân loại, trong chương III (điều 13) của “Nghị định số
92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật di sản văn hóa” với tiêu đề: “Bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hóa vật thể”, các di sản văn hóa vật thể dưới dạng
di tích được chia ra 4 loại hình, gồm: Di tích lịch sử, di tích kiến trúc -
nghệ thuật, di tích khảo cố, danh lam thắng cảnh Như vậy, di tích kiến
trúc - nghệ thuật là một loại hình của di sản văn hóa vật thể, đồng thời
là một trong các thành tố cấu tạo nên khái niệm “Di sản văn hóa Việt
N am ” Riêng di tích kiến trúc - nghệ thuật lại được chia ra các loại: Di
tích tín ngưỡng tôn giáo; Di tích thành quách, lăng mộ; Di tích đô thị
cổ, khu phố cổ, dinh thự, nhà ở dân dụng, vườn cảnh 1
2 Vấn đề xếp hạng và xác định phạm vi các khu vực bảo vệ
di tích
Xét từ góc độ quản lý, trong cả 3 văn bản đề cập ở phần trên đều
quy định các di sản văn hóa vật thể dưới dạng di tích (trong đó có các
di tích kiến trúc - nghệ thuật) được chia ra 3 cấp độ, hay nói cách khác,
được xếp hạng theo 3 cấp, gồm: Di tích cấp tỉnh, Di tích cấp quốc gia,
Di tích cấp quốc gia đặc biệt Cụ thể đối với loại hình di tích kiến trúc
nghệ thuật, theo quy định mới trong “Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật di sản văn hóa” thì những công trình kiến trúc, nghệ
thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có
giá trị tiêu biểu trong phạm vi địa phương sẽ được xếp hạng di tích cấp
tỉnh theo quyết định xếp hạng của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh2/
nếu di tích đó có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến
trúc nghệ thuật Việt Nam sẽ được xếp hạng di tích quốc gia theo quyết
định xếp hạng của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch3; Còn
] Phần 2 - mục 2.2, Q uyết định số 1706/2001/ỌĐ-BVHTT ngày 24/7/2001cùa Bộ trưởng Bộ Văn hóa
-Thômg tin phê duyệt Q uy hoạch tồng thề bào tồn và phát huy giá trị đi tích lịch sữ - văn hóa và danh lam
th ả n g cánh đến năm 2020.
2 Đnều 1 - mục 10 -1 b, Luật sữa đổi, bổ sung một số điều cùa Luật di sàn văn hỏa.
3 Điiều 1- mục 10 -2.b, Luật sửa đồi, bồ sung một số điều của Luật di sàn vãn hóa.
Trang 21nếu di tích đó có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật Việt Nam sẽ được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định xếp hạng của Thủ tướng Chính phủ1.
Ngoài ba loại di sản kiến trúc được phân chia như trên xét từ góc
độ quản lý, từ thực tế, ta thấy còn có một loại nữa, đó lả những di tích
có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia và có giá trị nổi bật toàn cầu được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, mà tính đến nay, Việt Nam đã có 9 di sản văn hóa thế giới gồm: 4 di sản văn hóa vật thể (Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Khu tháp Mỹ Sơn, Hoàng Thành Thăng Long) và 5 di sản văn hóa phi vật thể (Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hội Gióng) Ngoài ra, còn có 2 di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và 2 di sản tư liệu thế giới là Bia tiến sĩ -Văn Miếu Quốc Tử Giám và Mộc bản triều Nguyễn
Trong số 4 di sản văn hóa vật thể của chúng ta được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như vừa đề cập ở trên, có 3 di tích thuộc loại hình di tích kiến trúc - nghệ thuật (di sàn kiến trúc) đã được xếp hạng “Di tích quốc gia đặc biệt” theo Quyết định số 1272/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/8/2009, đó là Quần thể kiến trúc c ố
đô Huế, Khu đền Tháp Mỹ Son và Độ thị cổ Hội An (Điều ỉ-M ục
2,3,4).
Cùng với việc xếp hạng di tích, trong các văn bản pháp luật hiện hành đều có đề cập đến việc quy định khu vực bảo vệ di tích, theo đó, mỗi di tích, trong đó có các di tích kiến trúc - nghệ thuật, có 2 khu vực bảo vệ, gồm:
a) Khu vực bảo vệ ỉ là vùng có các yếu tố gốc cẩu thành di tíchb) Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I
Nếu trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chi có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch ủ y ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, đổi với di tích quốc gia do
1 Điều 1 - mục 10-3.b, Luật sửa đồi bồ sung một sổ điều cùa Luật Di sản văn hóa.
22
Trang 22Bộ trưưno Bộ Văn hóa Thê thao và Du lich quvêt định, đôi với di tíchquôc gia đặc biệt do Thú tướng Chinh phủ quyêt định1.
Diều cỉáne lưu ý là việc quy định các khu vực báo vệ như vậy phai dược các cơ quan nhà mrớc có thấm quyền xác định trên Bàn đồ địa chính, trong biên ban khoanh vùng bao vệ của hồ sơ di tích và phái được cam mốc giới trên thực địa Dồng thời, phai thực hiện theo nguyêntăc:
- Khu vực bào vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bàng
và khónu gian Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiòp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di lích, việc xây dựnu phải dược sự đồng ý bàng văn bản của người có tham quyền xếp hạng
di tích đó
- Việc xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích ớ khu vực bảo vệ II đối với di tích cấp tỉnh phái được sự đồng ý bằng vấn bán của Chú tịch ủ y ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quôc gia đặc biệt phái được sự đông ý băng văn bàn cúa
Bộ trướng Bộ Văn hóa, Thê thao và Du lịch Tuy nhiên, cần nhớ rằng, việc xây dựng công trình không được làm ảnh hường đến yêu tố gốc cấu thành di tích, cánh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái cúa
3 Vấn đề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
Có thể nói, các điều khoản liên quan đến vấn đề bảo quản, tu bổ,
phục hồi di tích giữa “Luật di sản văn hóa” (điều 34) và “Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật di sàn văn hóa” (điều ỉ-m ục 15,) không
có sự khác biệt về nội dung mà chỉ là sự chuyển đổi vị trí và rút gọn câu từ, trong đó, theo tôi, có một vấn đề rất quan trọng là đề cập đến
1 Diều 32 I.uật I)i sán văn hỏa vả Diều I - mục 13, Luật sứa dồi, bổ sung một số diều cũa l.uật Di sân
v # n ỉiỏ ii
2 Điều 16 - khoán 1 - phần c, Nehi định số 92/2002/NĐ-CP cùa Chinh phù quy định chi tiết thi hành một
s ò điều cùa Luật di sản vãn hóa.
Trang 23các yêu cầu cần phải bảo đảm khi bào quản, tu bổ, phục hồi di tích nói
chung, di tích kiến trúc nghệ thuật nói riêng, cụ thể là:
a) Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích;
b) Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích Đổi với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và
“Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh (Theo Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 6/2/2003 của Bộ trưởng Bộ văn hoá thông tin), bao gồm những nguyên tăc sau:
- Chỉ tiến hành bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trong trường hợp cần thiết và phải lập thành dự án và dự án cùng với hồ sơ thiếl kế kỹ thuật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích
- Ưu tiên cho các hoạt động bào quản, gia cố di tích trước khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật tu bổ và phục hồi
24
Trang 24- Việc thay thế kỹ thuật hay chất liệu bàng kỳ thuật hay chất liệu mới phải được thí nghiệm trước để bảo đảm kết quả chính xác khi áp dụng vào di tích.
- Chi thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới của di tích khi có đủ chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ ràng giữa bộ phận mới thay thế với những bộ phận gốc
- Bảo đảm an toàn cho bản thân công trình và khách tham quan.Ngoài một số nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại hình
di tích như trên, trong phần IV, mục 2 của “Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin Phê duyệt Quy hoạch lổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thẳng cảnh đến năm 2020” của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) còn đê cập đến cả những định hướng rất cụ thế cho từng loại hình di tích, theo đó, vấn đề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích loại hình kiến trúc - nghệ thuật dưới dạng di tích tín ngưỡng tôn giáo được hiểu như sau:
- Ưu tiên cho việc tu bổ và bảo quản hiện trạng của di tích Mọi
sự thay thế các thành phần gốc phải được cân nhắc thận trọng Trong trường hợp thực sự cần thiết phải tiến hành công việc trên thì phải sử dựng vật liệu cùng chất liệu với vật liệu gốc
- Các di vật gắn với di tích như: các pho tượng, đồ thờ cúng phải bảo quản chu đáo, tránh việc sơn phủ bằng loại SCO! mới làm mất màu thời gian Trường hợp đặc biệt phải sơn thếp lại thì phái áp dụng công nghệ và kỹ thuật truyền thống
- Giữ gìn các cây cổ thụ trong khu di tích
- Không xây dựng nhà trưng bày bổ sung tại di tích, đồng thời, phải hạn chế tối đa các công trình tôn tạo trong khu vực bảo vệ di tích, tránh làm tổn hại đến cảnh quan khu di tích
Đối với các di tích kiến trúc - nghệ thuật dưới dạng thành quách, lăng mộ thì phải:
- Đảm bảo khoảng cách giữa thành với các công trình xây dựngkhác
Trang 25- Bảo tồn hiện trạng các vòng thành, cổng thành, hào thành, các
di chỉ khảo cổ học
- Tiến hành gia cố những chỗ bị hư hỏng, đồng thời có thể khôi phục một số đoạn hào, cổng thành theo dủng kiến trúc vốn có của di tích
Còn với các di tích dưới dạng đô thị cổ, khu phố cổ, dinh thự, nhà ở dân dụng, vườn cảnh , những định hướng cụ thể trong công việc trên gồm:
- Đảm bảo sự cân bằng giữa vấn đề bảo tồn di sản văn hoá và phát triển đô thị cũng như giữa khu đô thị cổ và đô thị mới để có thể vừa bảo tồn các mặt giá trị đô thị cổ, vừa đáp ứng được các nhu cầu về điều kiện sống hiện đại cho cư dân trong đô thị đó Mặt khác, phong cách kiến trúc và độ cao của các công trình xây mới trong khu vực tiếp giáp di tích cần hài hòa với di tích
- Bảo tồn nguyên vẹn về mặt kiến trúc đối với các phố và khu phố mang đậm các giá trị kiến trúc cổ Trong quá trình thực hiện việc giãn dân thì không xây dựng mới các công trình có kiến trúc khác biệt, các phố và khu phố khác thì gìn giữ các công trình kiến trúc cổ tiêu biểu
- Việc cải tạo nội thất và trang bị kỹ thuật hiện đại không được gây ảnh hưởng đến nội thất vốn có của di tích, đồng thời, các công trình hạ tầng, dịch vụ trong khu phố cổ không được phá vỡ cảnh quan vốn có và gây ô nhiễm môi trường
- Trong quá trình bảo tồn di tích phải duy trì các truyền thống văn hóa và môi trường sống đô thị, phát triển du lịch và bảo tồn, phái huy giá trị văn hóa phi vật thể như lối sống, lễ hội, các nghề thủ công truyền thống
Từ nội dung của các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến các di sản văn hóa nói chung, di sản kiến trúc của dân tộc nói riêng, tôi có một vài suy nghĩ sau:
T h ứ nhất: Cho đến nay, chúng ta đã có một hệ thống văn bản
pháp lý liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH dân tộc, trong dó có các di sản kiến trúc, tạo điều kiện thuận lợi cho
26
Trang 26việc thực thi công việc trên Đặc biệt, các văn bản pháp luật càng ngày
càng được hoàn thiện, do vậy, đáp ímg thiết thực hơn nhu cầu của thực
tiễn Điêu đó chứng tỏ sự quan tâm của nhà nước ta đối với sự nghiệp
bao tồn và phát huy giá trị DSVH của nước nhà Chính nhờ có hệ
thông văn bản pháp luật đó cùng với sự cố gắng của đội ngũ làm công
tác quản lý cũng như chuyên môn trong hoạt động bảo tồn DSVH mà
hiện nay, chúng ta mới có được một neuồn DSVH phong phú và đa
dạng với 3042 di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc
gia (gồm: 1416 di tích lịch sử, 1430 di tích kiến trúc - nghệ thuật, 76 di
tích khảo cổ, 120 danh lam thắng cảnh) và 5347 di tích cấp tỉnh; Gần 3
triệu di sản dưới dạng hiện vật đang lưu giữ tại 119 bảo tàng công lập
(bảo tàng nhà nước) và khoảng 1000 đơn vị di sản văn hóa phi vật thể
hiện lưu giữ trong các bảơ tàng, các di tích, các cộng đồng , chưa kể
số di sản có trong các sưu tâp tư nhân (theo thống kê của Cục DSVH
tỉnh đến tháng ỉ 1/2009).
T h ứ hai: Trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật, khi thấy
có những vấn đề bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn cùa hoạt
đồng bảo tồn và phát huy giá tri DSVH, trong đó có các di sản kiến
trúc, nhà nước ta đã có sự sửa đổi và bổ sung nhằm đem lại hiệu quả
thiết thực hơn cho công việc trên Điều đó thể hiện qua việc ban hành
“Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa”, trong đó
có việc đưa vào văn bản pháp luật trên những khái niệm, những nội
dung mới liên quan đến các di sản kiến trúc Qua đó, cho thấy sự đổi
mới tư duy của nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng các văn bàn
pháp luật
Thử ba: Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tham khảo và
nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, tôi thấy còn có vài điều
phân vân như sau:
- Có sự chưa nhất quán về vấn đề phân loại di tích giữa các văn bản, cụ thể là trong chương III của Nghị định 92, ở điều 13, di tích
được phân ra 4 loại hình, gồm: Di tích lịch sử, di tích kiến trúc- nghệ
thuật, di tích khảo cỗ, danh lam thắng cảnh, nhưng ở điều 4 với tiêu đề
“Phân loại di tích” trong “Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày
24-7-2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Phê duyệt Quy hoạch
Trang 27tông thê bảo tôn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam
thắng cảnh đế năm 2020” thì lại phân di tích ra 4 loại hình: Di tích lịch
sử-văn hóa, di tích kiến trúc-nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam
thắng cành Theo tôi, điều trên vừa không nhất quán, vừa không hợp
lý, bởi trong khái niệm “Di tích lịch sử-văn hóa” đã có loại hình di tích
lịch sử, di tích kiến trúc- nghệ thuật và di tích khảo cổ
- Trong các văn bản pháp luật đề cập đến khái niệm “Danh lam
thắng cảnh ” đều xác định “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên
nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với
công trình kiến trúc có giả trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa h ọ c ” Theo tôi,
chỉ nên gọi là danh lam thắng cảnh khi ở đó vừa có cảnh quan thiên
nhiên có giá trị thẩm mỹ (cảnh đẹp nổi tiếng) hoặc có giá trị khoa học
(địa chất, địa mạo; đa dạng về sinh học; nơi có sự tiến hóa của hệ sinh
thái), vừa có công trình kiến trúc có giá trị lịch sử như: Động Hương
Tích (Hà Nội) có chùa Long Vân, chùa Thiên Trù, chùa Tuyết Sơn;
Động Tam Thanh (Lạng Sơn) có chùa Tiên; Yên Tử (Quảng Ninh) có
chùa Đ ồng Còn những nơi không có công trình kiến trúc (thường là
ngôi chùa nổi tiếng vì danh lam có nghĩa là ngôi chùa nổi tiếng) thì chỉ
nên gọi là thắng cảnh như: Vịnh Hạ Long (Quãng Ninh), Hồ Xuân
Hương (Lâm Đồng), Biển Hồ (Pleiku), Núi Bà Đen (Tây Ninh)
UNESCO đã phân chia di sản ra 3 loại rõ ràng, gồm: Di sản văn hóa (nhân tạo); Di sản thiên nhiên (thiên tạo); Di sản hồn hợp (vừa thiên tạo, vừa nhân tạo) Phải chăng, khái niệm “danh lam thắng cảnh” của
Việt Nam thuộc loại “Di sản hỗn họp” theo quan niệm của UNESCO ?
T h ứ tư: Tôi cho rằng, các văn bản pháp luật ban hành là để mọi
tầng lớp nhân dân biết mà làm theo, do vậy, những từ ngữ, khái niệm
phải dễ hiểu, tuy nhiên, chỉ riêng về lĩnh vực các di sản kiến trúc, tôi
thấy có những từ ngữ, khái niệm mà chỉ có những nhà chuyên rriôn
hoặc những người làm công tác quản lý loại di sản trên mới hiểu được,
chẳng hạn, các cụm từ “Công trình kiến trúc, nghệ thuật”, “quần thể
kiến trúc”, “tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú” 1 Vì vậy,
theo tôi, sau khi có “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản
1 Điều 1 -mục 9, Luật sửa đổi, bồ sung một số điều của Luật di sàn văn hóa, số 08/2009/L-CTN ngày
29/6/2009 của Chủ tịch nước.
Trang 28ván hóa” nên có một văn bản dưới luật nào đó để giải thích rõ các từ ngừ, khái niệm sử dụng trong văn bản đó, đồng thời, hướng dẫn cụ thể
về việc thi hành các điều khoản Và, điều quan trọng nữa là cần phải tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để mọi người dân biết, hiểu và thực hiện
T hứ năm: Đối với việc bảo tồn các DSVH nói chung, di sản kiến
trúc nói riêng, vấn đề xây dựng và ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật là vô cùng cần thiết, song, nếu chỉ có khung pháp lý thì chưa
đù mà cùng với điều kiện đó, các cấp lãnh đạo cần quan tâm đến việc
đầu tư nguồn kinh phí thỏa đáng và đặc biệt là lun tâm đến vấn đề đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công việc trên, làm sao để có
được đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nhất là trong việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, bởi trình độ chuyên môn kém sẽ dẫn đến việc làm hư hỏng, thậm chí, hủy hoại di tích, một sai lầm mà bản thân những người đó sẽ không bao giờ có cơ hội sửa chữa
Tóm lại, các DSVH nói chung, di sản kiến trúc nói riêng là nguồn sử liệu quý giá mà bao thế hệ tiền nhân đã bỏ nhiều công sức, tiền của và cả xương máu để sáng tạo ra, gìn giữ và trao truyền cho thế
hệ chúng ta Nguồn sử liệu đó có tính xác thực và sức thuyết phục cao, góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu, nghiên cứu bản sắc văn hóa của dân tộc ta, do vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị các di sán nói trên không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng như vừa trình bày ở phần trên, mà của cả các tổ chức và các cá nhân thuộc mọi thành phần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nếu xác định
và làm được như vậy, tin chắc ràng, các DSVHVN, trong đó có di sản kiến trúc, sẽ trường tồn và phục vụ thiết thực cho xã hội hiện tại cũng như mai sau
Trang 29TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24-7-2001 của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin Phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sừ - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020
2 Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh (Theo quyết định số/2003/QĐ-BVHTT ngày 6/2/2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin)
3 Luật di sản văn hóa, theo Lệnh số 09/2001/L-CTN ngày 12-7-
2001 của Chủ tịch nước về việc công bố Luật di sản văn hóa
4 Luật sửa đổi, bổ sung một sổ điều của Luật di sản văn hóa, số 08/2009/L-CTN ngày 29/6/2009 của Chủ tịch nước
5 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa
6 Nguyễn Khởi (2002), Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc,
Nxb Xây dựng, Hà Nội
30
Trang 30Đ Ặ C Đ IÉ M DI TÍCH KIÉN T R Ủ C V IỆ T N A M
VÀ VẮN Đ È BẢO TÒ N Dí T ÍC H K IÉ N T R Ú C
N guyễn Thịnh
Hơn lúc nào hết, khi đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, vấn đề bào tồn di sản kiến trúc được đặt ra nhiều câu hỏi và cần một đáp án chính xác Hàng ngày, thường thấy các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, nào là, ờ đâu đó đã
“biến một di tích trăm tuổi thành di tích một tuổi”, hay ở di tích khác là
“phục hồi một kiến trúc di tích kiến trúc bằng những vật liệu mới”
Đe góp phần đi tìm lời giải cho những vấn đề trên, bài viết xin đề cập đen việc tìm hiểu một số vấn đề về đặc điềm di tích kiến trúc của nước
ta và những nguyên tắc bào tồn những di tích ấy Từ đặc điểm và nguyên tắc tìm ra những biện pháp, phương án cụ thể cho từng di tích,
cụ thể là các di sản, di tích kiến trúc
Di sản là khái niệm rộng, bao gồm di sản thiên nhiên và di sản văn hóa Di sản văn hóa bao gồm di sàn văn hóa phi vật thể và di sản vật thể Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cánh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia1
- Đại hội lần thứ 17 của UNESCO đã thông qua “Công ước về Bảo vệ di sản Văn hóa và thiên nhiên”, di sản được hiểu:
Di sản Văn hóa bao gồm các loại hình như sau:
- Di sản kiến trúc (monuments) là các công trình kiến trúc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính khảo cổ học, các bia
ký, các hang động cư trú và các bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị toàn cầu;
- Nhóm công trình xây dựng (groups o f buildings) là các nhóm công trình hoặc liên kết mà, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất
* Nguyên giảng viên T rường Đại học Vãn hóa Hà Nội.
1 Điẻu 4 - M ục 2, Luật Di sàn văn hóa.
Trang 31hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị toàn cầu;
- Các di chỉ (sites) là các công trình của con người hoặc công trình kết họp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực các
di chỉ khảo cổ học, mà xét theo quan điểm lịch sừ, thẩm mỹ, dân tộc hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
Di sản thiên nhiên bao gồm các loại hình:
- Các cấu tạo địa chất, địa văn (geological and /ormations) và
khu vực được khoanh vùng chính xác, làm nơi cư trú cho các loài động vật và thảo mộc bị đe dọa mà, xét theo quan điểm về bảo tồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
- Các di chỉ (cảnh vật) tự nhiên (natural sité) hoặc các khu vực tự nhiên đã được khoanh vùng cụ thể (có ranh giới được xác định) mà, xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn vẻ đẹp thiên nhiên là có giá trị nổi tiếng toàn cầu” 1
Di tích là những đối tượng thể hiện kết quả hoạt động trực tiếp của con người còn sót lại, còn nguyên vẹn và không nguyên vẹn của quá khứ, có quy mô to nhỏ và chức năng khác nhau, nó phản ánh văn hóa và lịch sừ của một thời đại nhất định Phàm những gì không di chuyển đi được đều gọi là di tích
Di tích được Hội đồng quốc tế về di tích và di chi (ICOMOS) định nghĩa trong Hiến chương Venice (1964), như sau: “Các di tích lịch sử của các thế hệ con người, thấm đượm một thông điệp từ thời quá khứ, đến ngày nay còn như nhân chứng sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa Nhân loại ngày càng ý thức rõ ràng tính thống nhất của các giá trị con người và coi các di tích như một di sản chung Con người tự nhận thức có trách nhiệm chung phải gìn giữ bảo vệ các
di tích đó Bổn phận của chúng ta ngày nay là phải chuyển giao cho
1 Hội đồng quốc tế về di tích và di chì (International coucil on monumets and sites Icomos), 2001, Các
văn bàn hiến chương và công ước quốc tế vé bảo tồn và trùng tu (ỉnternationaỉ charters conservation
a n d restoration), ICOMOS xuất bản, Paris, Trung tàm Di sàn c ố đô Huế dịch (2002), Huế.
32
Trang 32các thế hệ mai sau muôn ngàn di tích đó với đầy đủ vẻ rực rỡ huv hoàng đích thực của chúng” 1
Khái niệm di tích lịch sừ không những chỉ một công trình đơn lẻ
mà còn chỉ cả những khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích một nen văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịc h sử Khái niệm này không những áp dụng với các công trình nghệ thuật to lớn mà còn áp dụng cả với những công trình khiêm tốn hơn, vốn đã cùng thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa
Chúng ta hiểu theo Luật Di sản Văn hóa: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khou học”
Di tích lịch sử bao gồm: di tích khảo cổ, di tích lịch sử (di tích lịch sử lưu niệm sự kiện lịch sử và di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc - nghệ thuật
Theo nhà văn hóa Đào Duy Anh: “Kiến trúc là xây đắp nhà cửa, thành lũy (constructive) Kiến trúc, trong từ Hán Việt ỉ i ^ ĩ được ghép bởi từ “kiến ỈỀ” nghĩa là dựng lên và “trúc ỉ a ” là làm việc thợ đất, hoặc thợ gỗ”2 Kiến trúc là tổng hợp nghệ thuật và khoa học của việc xây dựng bối cảnh đời sống xã hội nhân loại Nghệ thuật là chỉ tài năng
và cách làm “Đặc điểm của nghệ thuật là phản ánh, là tái tạo lại hiện thực dưới hình thức những hình ảnh nghệ thuật mà giác quan có thể tiếp thu được Như mọi hệ tư tưởng, nghệ thuật là do cơ sở kinh tế của
xã hội quyết định”3
Có thể hiểu kiến trúc là sự kết hợp kỹ thuật, nghệ thuật và bổi cảnh nhằm đáp ứng sinh hoạt đời sống của nhân loại Bản chất của kiến trúc có hai yếu tố, đó là nội dung và hình thức Nội dung kiến trúc chỉ công năng của kiến trúc, hình thức kiến trúc là chỉ nghệ thuật Công năng là chỉ giá trị sừ dụng của kiến trúc
1 Hội đồng quốc tế về di tích và di chi: Các vân bàn hiển chương và còng ư ớc quốc tê về bảo tôn và
trùng tu, Paris, sđd.
2 p à o Duy Anh (2005), Từ điển H àn Viêty Nxb, Văn hóa - Thông tin, TP HÒ Chí Minh, tr.379, 928.
3 M Rôdentan và p Iuđin (1976), T ừ điển triết học, Tái bản lấn thứ ba, Hà Nội, tr.6 18.
Trang 33Các yếu tố nghiên cứu kiến trúc thường đề cập đến: địa điểm và cảnh quan, mặt bằng, mặt đứng và chiều cao, kết cấu (xà, cột, tưòng vách và nền) cùng với vật liệu xây dựng.
Di tích kiến trúc được hiểu theo Luật Di sản Văn hóa: “Là quần thể các công trình kiến trúc hoặc những công trình kiến trúc đưn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, của một hay nhiều giai đoạn lịch sử”
Vì vậy, để tìm hiểu đặc điểm di tích kiến trúc nước ta, trirớc hết cần nhận rõ bối cảnh địa lý - lịch sử - văn hóa đất nước, đó được xem như điều kiện, hằng số của giá trị di tích kiến trúc Việt Nam
Việt Nam: điều kiện địa lý “m ở”.
Trên bản đồ thế giới rộng lớn, Việt Nam chỉ là một nưTC nhỏ, giống hình chữ “S” , nằm khiêm tốn ở rìa bán đảo Đông Dương, thuộc Đông Nam Á lục địa, tựa lưng vững chắc vào lục địa châu A mênh mông về phía Tây Bắc và nhìn ra Thái Bình Dương với chiều dài bờ biển trên 3.000 km về phía Đông Nam Diện tích lãnh thổ chỉ cỡ trung bình (331.700 km2), còn kém Indonêxia, Mianma và Thái Lan nhung dân số lại tương đối cao (trên 80 triệu người), đứng thứ hai khu vực
Ở phía ngoài lãnh thổ đất liền, còn thềm lục địa với vô số các đảo nhỏ và quần đảo lớn nhỏ bao bọc; gần nhất là các đảo của Vịnh Hạ Long, xa nhất là các quần đảo Hoàng Sa và Tnrờng Sa trong biển Đông, cũng như các đảo Phú Quốc và Thổ Chu ở Vịnh Thái Lan
Lãnh thổ đất liền khoảng 2/3 diện tích là đồi núi nhưng cũng có những đồng bằng châu thổ rộng lớn phì nhiêu, hai vựa lúa ở hai đầu đất nước là đồng bàng châu thổ sông Hồng ở phía Bắc và đồng bang sông Cửu Long ở phía Nam Giữa hai châu thổ đó là một chuỗi đồng bằng nhỏ phân bố dọc theo duyên hải miền Trung, từ Thanh Hóa đến Phan Thiết - như đòn gánh hai vựa lúa ờ hai đầu đất nước
Việt Nam là một bán đảo nhỏ trong bán đảo Đông Nam Á lục địa, những khối núi và cao nguyên ở Việt Nam hoặc là liên tục những mạch núi từ Hoa Nam, Bắc Lào, hoặc ngược lại lan ra trên rrọt phần lãnh thổ của những nước kế cận “Điều đó làm cho Việt Nam từ trước
34
Trang 34đón nay vẫn là một lãnh thổ tương đối “mở” ra các nước lân cận,
không kể về phía biển” 1
Nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm: mùa
đông tương đối khô và mát, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều do sự xâm
nhập cùa tín phong bán cầu Nam đổi hướng khi lên đến Bẳc bán cầu, là
vùng đất cùa các cơn bão lụt và rừng thưa Một mạng lưới sông suối
chănti chịt dã chia cắt từ hàng chục triệu năm với sự tiếp tay của khí
hậu nhiệt ẩm làm cho đá dễ bị phong hóa và làm cho đường đi lối lại
không đến nỗi khó khăn, kể cà trên dãy Trường Sơn
Việt Nam - ngã tư đường gặp g ỡ của các dân tộc và các nền
vàn hóa.
- Với điều kiện địa lý đó, Việt Nam đã trở thành ngã tư những luồng di dân từ những thời kỳ xa xưa và gặp gỡ cửa nhiều luồng văn
hóa từ cổ đại đen cả thời cận đại
Những phát hiện của khảo cổ học từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ
XX ở miền Bắc đã nêu ra giả thuyết về sự tồn tại của con người trên
dải đất này từ 25 vạn năm về trước Những chứng cứ xác thực hơn thu
thập được trong các di chỉ thuộc nền văn hóa trước văn hóa Hoà Bình
và gần kề với Hòa Bình (hậu kỳ Pleistoxen đầu Holoxen), phát triển
liên tục sang thời đại đá mới và sơ kỳ đồ đồng từ nhiều di chỉ ở vùng Phú Thọ, Thanh Hóa, Quảng Ninh cho ta thấy đó là văn hóa bản địa
Vào thời Hùng Vương (vài thế kỷ trước Công nguyên cho đến
đầu Công nguyên), tức là vào thời kỳ nền văn hóa Đông Sơn, những người Việt cổ này ngoài việc săn bắt, hái lượm, còn biết làm ruộng
nước và nương rẫy, làm mảng hay thuyền để đánh cá ở sông nước và ở biển Những tiền đề để hình thành Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời
ở vùng trung châu Bắc Bộ
Sự pha trộn các tộc người xảy ra mạnh mẽ bắt đầu từ thế kỳ I-II,
khi những cuộc xâm lược liên tiếp kéo dài của các thế lực phong kiến phương Bắc (bắt đầu từ nhà Tây Hán đến đời Ngũ Quý), tạo điều kiện cho nhiều luồng di cư từ phương Bắc đến, mặc dù bị đứt quãng do
1 I ê Bá Thào (2002), Việt Nam lãnh thồ và các vung địa ỉý, tái bàn ẳn thứ hai, Nxb Thế giới, Hà Nội,
Trang 35nhiều cuộc khởi nghĩa của các anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng năm 40 - 43, Bà Triệu năm 248, Lý Nam Đế năm 544-602 (kể chung cho nhà Tiền Lý).
Trong khi đó, ở miền Nam, cũng bẳt đầu từ thế kỷ I - II, sự xum nhập của nền văn hóa Ấn Độ được thông qua hàng loạt cuộc nhập cư của các dòng người từ phía Tây đến và của những tộc người nguồn gốc Malayo - Polynêdiên, mang theo kỹ thuật chế tác đá, nghề đi hiển và một số nghề thủ công
Như vậy, Việt Nam là một ngã tư gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa, trong đó quan trọng nhất là hai luồng văn hóa Trung Hoa và A n
Độ
Vào thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Châu Âu, nhiều thương nhân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp
đã đến thương cảng Hội An và phố Hiến Chữ viết của Việt Nam, lúc
đó đã có do sự mượn của chữ Hán để chuyển thành chữ Nôm, thì được thay thế bằng chữ La Tinh hóa Đen cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược bằng quân sự ở Việt Nam, nó trở íhành chừ Quốc ngữ, đồng thời, có sự tiếp nhận văn hóa Tây Âu thông qua văn hóa Pháp với trên 80 năm đô hộ của chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam
Cũng phải kể thêm đến sự tuyên truyền của lối sống Mỹ ờ miền Nam Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ XX tại các thành thị, nhưng ảnh hưởng này không mấy sâu sắc
Sự gặp gỡ nhiều luồng văn hóa trên lãnh thố Việt Nam trong thực
tế đã mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực Trong đó, những ảnh hưởng tích cực chiếm ưu thế Tuy nhiên, nền văn hóa hàn địa không vì thế mà bị đồng hóa hoặc biến dạng, trái lại nó còn được phong phú thêm nhờ sự tiếp nhận có chọn lọc Đó cũng là sự diễn tiến tiếp biến văn hóa mà những di sản, di tích kiến trúc phong phú còn thể hiện trên đất nước ta
Tính thống nhất và đa dạng văn hóa của quốc gia đa dân tộc.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em, các dân tộc sống xen kẽ và không có lãnh thổ tộc người riêng biệt Mỗi dân tộc còn giữ được những nét văn hóa riêng thể hiện trong ngôn ngữ, cách
36
Trang 36pliát âm, phương thức quần cư và cách thiết kế nhà ở, các phong tục tập quán, lễ nghi và các thao tác trong sản xuất.
Từ góc độ nhóm ngôn ngữ tộc neười, ở Việt Nam đã phần nào thê hiện được tính đa dạng của cả khu vực Đông Nam Á Trên cái nền vàn hóa bản địa, ta thấy các mảng văn hóa khác nhau: văn hóa lúa nước ở đồng bàng châu thố (Việt - Mường), văn hóa thung lũng của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái, văn hóa nương rẫy ở núi cao và cao nguyên của các dân tộc của cư dân Môn - Khmer, sắc thái văn hóa biên của cư dân Nam Đảo Trên cái nên bản địa ây, còn có thêm sắc thái vùng Trung nguyên, văn hóa Tạng - Mianma mang hơi hướng du mục của cư dân Trung Á, văn hóa Mông Dao từ vùng trung tâm Châu
Á, chúng thâm nhập, đan kết, tiếp biến giữa các yếu tổ bản địa và ngoại lai, tạo nên bức tranh đa sắc vô cùng phong phú của văn hóa các dan tộc Việt Nam” 1
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng phác họa ra các “vùng văn hóa”, nhưng trong bức tranh đa sắc tộc cư trú xen kẽ ở Việt Nam, chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được “cảnh quan văn hóa” ờ Việt Nam, có cả đặc điểm tự nhiên như địa hình, khí hậu, thủy văn, động thực vật và những công trình do con người sáng tạo ra như kiến trúc, nhà cửa, đồng ruộng, kênh máng, giao thông cùng những phong tục tập quán
Từ cái nhìn đó, chúng ta thấy có 7 vùng cảnh quan văn hóa: Cảnh quan văn hóa Trung du đồng bằng Bắc Bộ, cảnh quan văn hóa Việt Bấc, cảnh quan văn hóa Tây Bắc, cảnh quan đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ, cảnh quan văn hóa Nam Trung Bộ, cảnh quan văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên, cảnh quan văn hóa Nam Bộ
Với điều kiện địa lý - lịch sử - văn hóa trên nó quy định nên những đặc trưng, đặc điểm của di sản, di tích kiến trúc Việt Nam
Di tích kiến trúc có những đặc điểm sau:
Di tích kiến trúc là những sản phẩm của các thế hệ người trải qua thời gian còn tồn tại đến ngày nay, nó là kết tinh của một quá trình
1 Phan Hữu Dật (1999), s ắ c thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược p h á i triên đất nước,
N xb Khoa học - Xã hội, Hà Nội, tr.25.
Trang 37sáng tạo của con người Vì vậy, nó là chứng cứ vật chất xác thực về
quá trình phát triển của lịch sử mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại
Khái niệm xác thực (Authentique) được hiểu bao gồm: ‘"Tùy theo
tính chất của di sản văn hóa, bối cảnh văn hóa của di sản đó, và sự biến
chuyển của nó trong thời gian mà phán xét về tính xác thực với một
loạt các nguồn thông tin khác nhau Các dạng thông tin có thể bao gồm
hình thức và thiết kế, vật liệu và chất liệu, cách sử dụng và chức năng,
truyền thống và kỹ thuật, vị trí và nơi dựng lập, tinh thần và cách thể
hiện (tâm linh và tình cảm), những yếu tố bên trong và bên ngoài của
di sản Việc sử dụng những nguồn thông tin đó sẽ cho phép dựng lên
được các chiều kích nghệ thuật, lịch sử, xã hội và khoa học của di sản
văn hóa được khảo sát” 1 Vì vậy, di tích chẳng những là tư liệu để
nghiên cứu quá khứ, hiểu về quá khứ mà nó còn là nguồn cảm xúc
mạnh mẽ về quá khứ Nó vô ngôn, không tự nói về mình, do đó, có thể
kiểm tra bất cứ lúc nào nếu ai muốn
Mỗi di tích kiến trúc đều gắn với một địa điểm nhất định, gắn với
một cộng đồng văn hóa nhất định, một thời điểm lịch sử nhất định
Nghĩa là di tích tồn tại ở chính nơi đã sinh ra nó cùng cảnh quan thiên
nhiên và văn hóa, phong tục, lễ hội ở đó
Mỗi di tích kiến trúc đều gắn với nhiều “lớp” văn hóa qua thời
gian, nhiều khi không còn sừ dụng như chức năng mục đích ban đầu
của nó Nói cách khác có nhiều ý nghĩa trên một di tích
Mồi di tích kiến trúc được xây dựng bằng nhiều chất liệu, vật
liệu khác nhau; tổng họp về giá trị: giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá
trị kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nước ta đa dạng về hình thức, phong phú về sự
tồn tại, về quy mô và về tính toàn vẹn
Với điều kiện trên, di tích kiến trúc Việt Nam rất phong phủ, đa
dạng về loại hình cũng như sự hiện tồn của nó.
- Căn cứ vào chủ thể sáng tạo, chúng ta thấy di tích kiến trúc Việt Nam rất đa dạng và phong phú, thể hiện di tích kiến trúc của nhiều dân
1 C ác văn bản hiến chương và công ước quốc tế về bào tồn và trùng tu, Vân kiện Nara vẽ tỉnh xác thvr
( ỉ 994), sđd.
38
Trang 38tộc, mồi dân tộc có những di tích kiến trúc riêng, tạo ra bức tranh di tkh đa dạng và phong phú.
- Căn cứ vào niên đại khởi dựng, chúng ta thấy di tích kiến trúc
kí' 0 dài qua nhiều thời đại, từ cố đại đến thời cận kim
- Căn cứ vào chức năng của di tích, có thể chia di tích kiến trúc ra làm các loại sau: Di tích kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng, di tích kiến trúc thành lũy, di tích kiến trúc lăng mộ, di tích kiến trúc dân gian, di tích kiến trúc cung điện dinh thự và di tích kiến trúc đô thị
- Căn cứ vào sự hiện tồn của di tích, có thể chia di tích kiến trúc
ra làm 2 loại sau: Di tích kiến trúc bị hư hại hoàn toàn chỉ còn phế tích tròn địa điểm và di tích còn nguyên vẹn nhưng đã qua tu sửa nhiều lần
- Căn cứ vào vật liệu xây dựng, có thể chia di tích kiến trúc ra làm 3 loại sau: Di tích kiến trúc đá, di lích kiến trúc gạch và di tích kiến trúc gỗ
Tóm lại, di tích kiến trúc là hiện trường của lịch sừ, hiện trường
của lịch sử không thê tải sinh, vì chỉ nó là duy nhât Chỉ có thê đên di
tích, người ta mới có cảm xúc trực tiếp thông qua việc xem xét hiện trường, người ta mới gần gũi cảm thụ cảnh vật Thời gian và không gian của di tích là một thế thống nhất, là cái có thể nhận biết bàng cảm xúc, có thể sờ mó đến thực thể của lịch sử Có thổ nói, đứng trước di tích là để suy tưởng hình ảnh cùa lịch sử qua thời gian Nó cung cấp cho ta tính tưởng tượng, sự liên tưởng kỳ diệu vượt qua rất nhiều cái trước mắt là di tích Sự hoang phế hay đổ nát, những sót lại của di tích làm cho sự liên tường, sự tưởng tượng đến xa xăm một cách vô hạn về thời gian và không gian Như P.Ănghen đã phân tích từ trực giác đến
tu duy trừu tượng khoa học như sau: “Trước hêt người ta tạo ra mội sự
trừu tượng vể những sự vật cảm giác được, và sau đó người ta muốn trỏng thấy thời gian và ngửi thấy không giarì'x Vì thế, cần nhấn mạnh,
đây là thuộc tính cơ bản nhất của di tích
Sự còn lại của di tích kiến trúc ở nước ta đến nay không còn nhiều so với những điều mà chúng ta biết được qua tư liệu sử sách Ví
dụ, khi nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc thời Lý Trần, tư liệu trong
] Phơriđơrich Ánghen (1976), Biện chứng cùa tự nhiên, Từ diên triết học, tr.967.
Trang 39Thiền Uyển Tập Anh có ghi: Ở Thăng Long có 72 chùa lớn hay trong Tâm tổ Thưc Lục ghi tới 147 chùa mà nay tại những địa chỉ và di tích
ấy chỉ còn vài chùa
Nhìn chung những di tích kiến trúc, từ sự tồn tại của bản thân kiến trúc, chúng ta có thể chia làm hai loại:
- Một số ít công trình còn lại trên mặt đất, số di tích này còn rất ít
từ thế kỷ XIV, XV như vết tích chùa Thái Lạc, Chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Nội) Thế kỷ XVI, như đình Tây Đằng Thế kỷ XVII, còn nhiều hơn một chút
- Phần nhiều di tích bị hủy hoại hoàn toàn, chỉ còn lại phế tích gạch đá là những vật liệu bền chắc
Nhìn lại một số đặc điểm di tích kiến trúc gạch đá qua các di vật của các phế tích cho thấy:
- Thời Bắc thuộc, các di tích đã phát hiện như: Khu di tích Hoa
Lư (Ninh Bình), Luy Lâu (Bắc Ninh), tháp Nhạn (Hồng Long, Nam Đàn, Nghệ An)
v ế vật liệu: gạch đa số là màu xám, màu đỏ nhạt và thường có hoa văn ở rìa cạnh, hình khối chữ nhật, kích thước lớn, có một số có ghi chữ Giang Tây Quân (Ỷ X H ặ), thời nhà Đường Các di tích này hoàn toàn đổ nát
- Thế kỷ X: Phát hiện chủ yếu ở khu di tích Hoa Lư như tường thành, tường gạch, các nền móng cung điện
Đặc điểm vật liệu: gạch lát nền có kích thước lớn (74cm X 47cm),
độ nung thấp, mềm, dễ bị mùn, có một số chữ Đại Việt Quốc Quân
- Thời Lý: Các di tích đã phát hiện gồm: chùa Phật tích (chùa Vạn Phúc, xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh), Tháp Tường Long (thị xã Đồ Sơn, Hải Phòng), tháp Chương Sơn (xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, Nam Định), chùa Lạng, chùa Hương Lãng (xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, Hải Dương)
Đặc điểm vật liệu: vật liệu đất nung được kết hợp song song với vật liệu đá Gạch chủ yếu là gạch bìa, có kích thước cỡ trung bỉnh 40cm X 25cm X 5cm Một số gạch có chữ:
40
Trang 40fĨÈí ỉrfn J k "Ỹ: ^L1 <F-ìn Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (1058).
v ỉ l1tl-! )n, ỈỀ l_'r'í" ìu Chương Thánh Gia Khánh thất niên tạo (1066)
JL Ít''ị:-ìẾ Lý gia đệ tam đế Long Phù Nguyên
Hóa niên tạo
^ MW> ^ ì a Lý gia đệ tam đế Chương Thánh Gia Khánh niên tạo (1065)
- Thời Trần: Đã phát hiện di tích gạch đá ở khu di tích Kiếp Bạc (Hải Dương), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Lấm (Đảo Thừa Cống, huyện cẩm Phả, Quảng Ninh), chùa Hồ (xã Hà Đông, huyện Hà Trung, Thanh Hóa)
Kiến trúc gạch đá: Thành Tây Đô (thành Nhà Hồ, xã Tây Giai, huyện Vĩnh Lộc)
Kiến trúc lăng mộ: có lăng mộ Trần Anh Tông ở Tam Đường, Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh)
Đặc điểm vật liệu: phổ biến là gạch hình chữ nhật, có kích cỡ:
- Thời Lê: Các di tích đã phát hiện ờ khu Hoàng thành Thăng
long: Điện Kính Thiên là nơi thiết triều của vua Lê, được xây dựng từ
thời Lê sơ Tòa này được xây dựng trên nền cũ của điện Thiên An và điện Càn Nguyên của thời Lý Trần Phần lớn kiến trúc này đã bị phá húy từ thế kỷ XIX, nhung nền móng vẫn còn giữ nguyên vẹn Đoan Môn ỈM p*] là cửa chính đi vào trung tâm cấm thành Các di tích còn lại, qua khai quật năm 2000 đã làm rõ nền móng, đường nền lát gạch vồ và sán lát gạch vuông Hậu Lâu và Bắc Môn cũng tìm thấy nền kiến trúc