1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích chủ nghĩa thực dụng Mỹ và đánh giá về vai trò của trào lưu triết học này đối với sự phát triển của triết học

25 41 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 192,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Phòng đào tạo Sau Đại học BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Đề tài Phân tích chủ nghĩa thực dụng Mỹ và đánh giá về vai trò của trào lưu triết học này đối với sự phát triển của triết học Giáo viên hướng dẫn TS Tạ Thị Vân Hà TS Hồ Công Đức Họ và tên học viên Vũ Tuấn Tài Lớp TRHO28AN2 Mã số học viên 22AM0404014 Hà Nội, 72022 Bài tiểu luận triết học HV Vũ Tuấn Tài 22AM0404014 18 MỤC LỤC I Tổng quan triết học phương Tây hiện đại 1 1 Lịch sử ra đời triết học phương Tây h.

Trang 1

Phòng đào tạo Sau Đại học

*************

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài: Phân tích chủ nghĩa thực dụng Mỹ và đánh giá

về vai trò của trào lưu triết học này đối với sự phát

triển của triết học

Giáo viên hướng dẫn: TS Tạ Thị Vân Hà

Trang 2

MỤC LỤC

I Tổng quan triết học phương Tây hiện đại 1

1 Lịch sử ra đời triết học phương Tây hiện đại 1

2 Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại 2

2.1 Chủ nghĩa thực chứng 2

2.2 Chủ nghĩa hiện sinh 3

2.3 Chủ nghĩa Freud 4

2.4 Chủ nghĩa Thomas mới 5

3 Khái quát về triết học Mỹ hiện đại 7

II Phân tích chủ nghĩa thực dụng 8

1 Khái niệm chủ nghĩa thực dụng 8

2 Nguồn gốc chủ nghĩa thực dụng 9

3 Điều kiện, tiền đề hình thành chủ nghĩa thực dụng 10

4 Nội dung chủ yếu của chủ nghĩa thực dụng 10

III Vai trò của chủ nghĩa thực dụng đối với sự phát triển của triết học .14

1 Giá trị của chủ nghĩa thực dụng 14

2 Hạn chế của chủ nghĩa thực dụng 15

IV Kết luận 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

I Tổng quan triết học phương Tây hiện đại

1 Lịch sử ra đời triết học phương Tây hiện đại

Vào thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa nhân đạothời Phục hưng và chủ nghĩa lý tính thời cận đại thế kỷ XVII và XVIII

là vũ khí tư tưởng của giai cấp tư sản mới ra đời đại diện cho phươngthức sản xuất mới chống chủ nghĩa phong kiến, thần học và chủnghĩa Kinh viện Chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa lý tính thống nhấtvới nhau trong cuộc đấu tranh nhằm xác lập và phát triển chủ nghĩa

tư bản Đến giữa thế kỷ XIX, giai cấp tư sản nhiều nước Châu Âu lầnlượt giành được chính quyền, triết học tư sản thời Phục hưng và Cậnđại đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó trong cuộc cách mạng tưsản

Những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, giới hạn ở các sự vật, hiệntượng thuộc các lĩnh vực quan sát, tìm hiểu trực tiếp được, có nhàkhoa học cho rằng, loài người đã hoàn tất việc nghiên cứu các quyluật của giới tự nhiên Song, những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX, nhiều phát kiến khoa học ra đời, đồng thời sự hiểu biết về vũ trụcủa con người được mở rộng hơn Đi sâu vào lĩnh vực mới của thếgiới vi mô (nguyên tử) và thế giới đại vĩ mô (vũ trụ) khoa học đã thunhập được một khối lượng khổng lồ các thông tin và tri thức về giới

tự nhiên Có hai học thuyết cơ bản tiêu biểu cho tri thức mới ấy làthuyết lượng tử trong thế giới vi mô và thuyết tương đối về vũ trụ tạothành móng dọc và móng ngang cho ngôi nhà khoa học hiện đại

Mặt khác, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nước tư bản pháttriển phương Tây đã bỏ lại phía sau chủ nghĩa tư bản cổ điển để bướcsang chủ nghĩa tư bản độc quyền Giai cấp tư sản buộc phải đối phóvới sự phát triển của những lực lượng xã hội mới và các mâu thuẫn

xã hội ngày càng gay gắt Nhu cầu chống lại thần học và tôn giáonhư thời kỳ thế kỷ XVII, XVIII không còn Để phát triển sản xuất vàcủng cố sự thống trị của bản thân họ, giai cấp tư sản cần phát triển

Trang 4

khoa học và kỹ thuật Vì vậy, họ tìm cách điều hòa giữa khoa học vàtôn giáo Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất pháttriển mạnh, nhưng vẫn không đem lại tự do, bình đẳng, bác ái màtrái lại đem lại sự khủng hoảng tinh thần ngày càng sâu sắc Nhà sửhọc Đức Karl Heussi trong cuốn “Sự khủng hoảng của chủ nghĩa lịchsử” đã nói rằng “Trong mọi lĩnh vực đều vang lên nốt nhạc hoài nghi,phản lịch sử” Khi so sánh ý thức lịch sử thế kỷ XIX với thế kỷ XX,Simon cho rằng sự khác biệt của “Con người ở thế kỷ XX đã mất lòngtin vào lịch sử của mình” “Thế kỷ XX đã đến với chiến tranh, thấtvọng và bi quan Con người với nỗi lo sợ, tuyệt vọng trong dòng chảycủa lịch sử là không biết trôi về đâu” Còn nhà khoa học, nhà sử họcPháp F Braudel cho rằng “đã biết bao thay đổi, tất cả các khái niệm

lý tính đều bị bẻ cong hay đập nát”, “khoa học nơi ẩn náu và biểutượng của niềm tin thế kỷ XIX, đột nhiên hoàn toàn thay đổi, dẫnđến cuộc sống không ổn định, không rõ hướng đi”

Từ điều kiện lịch sử ấy, trong triết học phương Tây đã diễn ra sựtách biệt và đối lập giữa các trào lưu triết học khi phản ánh xã hộihiện có Nổi bật là trào lưu triết học duy khoa học duy tâm mà đạidiện là chủ nghĩa thực chứng; trào lưu triết học nhân bản phi lý tính

có các hình thức nổi bật là “triết học đời sống”, “triết học hiện sinh”

và “triết học Freud; trào lưu triết học tôn giáo có hình thức điển hình

là chủ nghĩa Thomas mới

Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại được hiểu lànhững trào lưu triết học không phải của chủ nghĩa Mác tồn tại trong

xã hội tư bản từ đầu thế kỷ XX đến nay Các trào lưu triết học phươngTây hiện đại không chỉ là của giai cấp tư sản mà còn của nhiều tầnglớp xã hội khác Xét về thực chất nó là hệ tư tưởng, thế giới quan củagiai cấp tư sản, ra đời và tồn tại gắn liền với chủ nghĩa tư bản và giaicấp tư sản Nét đặc thù của các trào lưu triết học phương Tây hiệnđại là sự phản ánh nhất định thực trạng của xã hội tư bản, sự khủnghoảng của ý thức hệ tư sản, những mâu thuẫn sâu sắc, những vấn đề

Trang 5

xã hội, tình trạng thực tế của con người trong xã hội hiện đại chưagiải quyết được Trong quá trình phản ánh ấy, nhiều nhà triết học đã

có những đóng góp nhất định vào sự phát triển các tư tưởng triếthọc

2 Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại

2.1 Chủ nghĩa thực chứng

Các triết gia thuộc trào lưu chủ nghĩa duy khoa học chủ trươngxây dựng triết học theo mô hình "các khoa học thực chứng" Theo

họ, triết học không nên nghiên cứu những vấn đề như bản chất của

sự vật, các quy luật chung của thế giới, v.v mà đi tìm phương phápkhoa học có hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất mới là nội dung chủyếu của việc nghiên cứu triết học

Trong các trường phái theo chủ nghĩa duy khoa học, trườngphái có ảnh hưởng lớn và lâu nhất là chủ nghĩa thực chứng Các nhàtriết học thực chứng cho rằng, chỉ có các hiện tượng hoặc sự kiện,mới là “cái thực chứng”, do đó họ không thừa nhận bất cứ cái gìngoài hiện tượng, không thừa nhận bản chất của sự vật, họ muốn lẩntránh vấn đề cơ bản của triết học, muốn loại trừ vấn đề thế giới quan

ra khỏi triết học truyền thống Auguste Comte cho rằng, triết họcphải lấy các sự vật "thực chứng", "xác thực" làm căn cứ

Chủ nghĩa thực chứng ra đời từ thế kỷ XIX Cùng với sự pháttriển của khoa học tự nhiên ở thế kỷ XX, nhất là sự ra đời hình họcphi Euclid, thuyết tương đối, cơ học lượng tử, phương thức tư duytruyền thống đã bị tác động rất mạnh Các phương pháp toán học,phương pháp lôgíc toán trở thành phương pháp đặc biệt quan trọngtrong khoa học tự nhiên Tuyệt đối hóa điều đó, một số nhà triết học

đã cho rằng, chính việc nghiên cứu các phương pháp đó mới lànhiệm vụ, nội dung chủ yếu của triết học Thậm chí có nhà triết họccòn cho rằng, việc toán học hóa, lôgíc học hóa triết học mới là lốithoát của triết học hiện đại

Trang 6

Trong các nhà triết học chủ trương lôgíc học hóa triết học cómột số người nhấn mạnh việc phân tích ngôn ngữ Trường phái coiviệc phân tích lôgíc ngôn ngữ là nội dung trung tâm của triết họcđược gọi là chủ nghĩa thực chứng mới, hoặc triết học phân tích Triếthọc phân tích được hình thành vào đầu thế kỷ XX Trong số các nhàsáng lập thì Russell và Wittgen Steinm là hai người có ảnh hưởng lớn.Russell coi nhiệm vụ phân tích hình thức và phân tích lôgíc là nộidung chủ yếu của triết học Ông chủ trương lấy lôgíc toán - lý hiệnđại làm cơ sở sáng tạo ra ngôn ngữ nhân tạo để đảm bảo sự nhất trígiữa cấu trúc cú pháp của mệnh đề và hình thức lôgíc của nó.

Đến những năm 20 của thế kỷ XX, trong triết học phân tích đãxuất hiện một chi phái lớn: Chủ nghĩa kinh nghiệm lôgíc, hoặc còngọi là chủ nghĩa thực chứng lôgíc Chủ nghĩa thực chứng lôgíc sửdụng những thành quả của toán học, đặc biệt là của lôgíc toán lý từđầu thế kỷ XX đến nay, đem tất cả các tri thức quy thành các mệnh

đề có thể dùng lôgíc toán để biểu thị Trên cơ sở đó, triết học chỉ cònnhiệm vụ tiến hành sự phân tích kết cấu lôgíc đối với tất cả mọimệnh đề khoa học dựa trên các tài liệu thực chứng (kinh nghiệm)

2.2 Chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh đầu thế kỷ XX có cội nguồn tư tưởng sâu

xa mà trực tiếp nhất là triết học phi duy lý ở thế kỷ XIX Đại biểu chủyếu của chủ nghĩa hiện sinh là các nhà triết học Martin Heidegger,Jean - Paul Sartre, Jaspers, Garbie Marcel

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học rất phức tạp.Quan điểm của những đại biểu của triết học này thường có sự khácnhau rất lớn Ngoài sự phân biệt về quốc gia như chủ nghĩa hiện sinhcủa Đức, chủ nghĩa hiện sinh của Pháp và chủ nghĩa hiện sinh của

Mỹ, còn có thể phân biệt chủ nghĩa hiện sinh theo thái độ đối với tôngiáo như chủ nghĩa hiện sinh vô thần và chủ nghĩa hiện sinh hữuthần Trên những vấn đề chính trị to lớn, giữa những nhà triết họchiện sinh cũng có những khác biệt lớn Nhưng tất cả những người

Trang 7

theo chủ nghĩa hiện sinh đều coi sự hiện sinh của cá nhân là nộidung cơ bản trong triết học của mình.

Các nhà hiện sinh phân biệt hai khái niệm hữu thể và hiện hữu(hiện sinh) Hữu thể là khái niệm chỉ một cái gì đó (một vật, mộtngười) đang tồn tại, đang có mặt, nhưng chưa là một cái gì đó cụ thể

cả, chưa có diện mạo, chưa có cá tính Đó là một tồn tại chưa sốngđích thực, vô hồn, tức là chưa hiện hữu Còn hiện hữu là một kháiniệm chỉ một cái gì đó không những là đang có mặt (tồn tại) mà cònđang sống đích thực với diện mạo riêng

Do đó hiện sinh không phải là giới tự nhiên hoặc sự vật, mà làcon người Bởi vì chỉ có con người mới có thể hiểu được sự tồn tại củabản thân và của sự vật khác, chỉ có con người mới hiện sinh Do đónhiệm vụ hàng đầu của triết học là phân tích về mặt bản thể luận đốivới hiện sinh, tức là mô tả sự tồn tại bản chất của con người tronghoạt động ý thức phi duy lý của các cá nhân Theo chủ nghĩa hiệnsinh, đó mới là bản thể luận duy nhất đúng Thực chất đây là bản thểluận triết học duy tâm chủ quan

2.3 Chủ nghĩa Freud

Chủ nghĩa Freud cũng là một trường phái có ảnh hưởng rất lớncủa trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý do nhà bệnh học tinhthần, nhà tâm lý học người Áo, Freud sáng lập Học thuyết và phươngpháp của Freud, có ý nghĩa thế giới quan và nhân sinh quan triết học,

có ảnh hưởng rộng lớn đối với các trường phái của chủ nghĩa nhânbản triết học phương Tây hiện đạ

Chủ nghĩa Freud hình thành vào đầu thế kỷ XX trong bối cảnhchủ nghĩa tư bản đang đi vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các mâuthuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, bệnh tâm thần trong xã hội pháttriển nhanh Sinh học, sinh lý học, tâm lý học, v.v., cũng có bước pháttriển mạnh mẽ, khiến cho những lý luận giải thích các hiện tượng

Trang 8

sinh lý và tâm lý của con người bằng quan điểm cơ giới dần dần đượcthay thế bằng những lý luận mới.

Lý luận về vô thức là bộ phận quan trọng trong hệ thống phântích tâm lý đầu tiên của Freud Ông chia quá trình tâm lý của conngười thành ba bậc: ý thức, tiềm thức và vô thức Sự suy nghĩ củacon người thường tiến hành giữa trạng thái vô thức và ý thức Ý thức

là tâm lý nhận biết của con người Thí dụ, một người nói với mìnhrằng trời sắp mưa, phải mau mau về nhà thì suy nghĩ đó tiến hànhtrong trạng thái ý thức, tuân theo những hình thức lôgíc Còn vô thức

là hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí, do bản năng, thóiquen và dục vọng của con người gây ra Hoạt động tâm lý này tiếnhành theo nguyên tắc khoái cảm, tức là do tình cảm và dục vọng chiphối, không bị hạn chế về thời gian, không gian và quy tắc lôgíc của

lý trí Con người thường suy nghĩ trong tình trạng vô thức như vô cớbực bội Tiềm thức là yếu tố trung gian, ở giữa ý thức và vô thức,hoạt động theo nguyên tắc của tính hiện thực Freud cho rằng, trong

vô thức ẩn giấu những xung đột bản năng, phải thông qua sự lựachọn và phê chuẩn của "tiềm thức" mới có thể trở thành ý thức

Theo ông, ý thức không phải là thực chất của hoạt động tâm lý

mà chỉ là một thuộc tính không ổn định của hoạt động tâm lý Vôthức mới là căn cứ hành vi con người Freud đánh giá cao tác dụngquan trọng của vô thức đối với hành vi con người Ông phân tíchnhững hành vi vô thức thường ngày như nói nhịu, viết sai, quên lãng,đưa nhầm, lấy nhầm, đánh mất, v.v và cho rằng nguyên nhân tâm lýcủa những hành vi đó chính là kết quả của những ước vọng bị dồnnén

Freud có cống hiến quan trọng trong việc đề xuất và nghiêncứu vai trò của vô thức trong hệ thống phân tích tâm lý, nhưng ôngsai lầm là đã khuếch đại tác dụng của vô thức đối với hành vi củacon người, không đánh giá đúng vai trò của ý thức và các điều kiện

xã hội

Trang 9

2.4 Chủ nghĩa Thomas mới

Vào cuối thế kỷ XIX một hình thái mới của triết học Thiên Chúagiáo đã xuất hiện ở phương Tây Bắt nguồn từ học thuyết của ThánhThomas ở Aquinos, hệ thống triết học tôn giáo này lấy Chúa làmnòng cốt, lấy đức tin làm tiền đề, lấy thần học làm căn cứ, và gọi làChủ nghĩa Thomas mới

Về nhận thức luận: Trong sự phân tích đối với tri thức, chủnghĩa Thomas mới một mặt thừa nhận tính khách quan của nhậnthức và tính đúng đắn của các phán đoán khoa học, mặt khác lạimưu toan dùng nguyên tắc tương đồng loại suy để từ chỗ thừa nhậnbản thể của thế giới hiện thực mà xác nhận bản thể của Chúa Vì bảnthể do Chúa sáng tạo ra ắt phải chứng minh cho bản thể của Chúanên trong sự tồn tại hữu hạn của thế giới hiện thực phải có phần của

sự tồn tại vô hạn của Chúa Từ đó rút ra kết luận là tri thức lý tínhphù hợp với đức tin của con người

Về triết học tự nhiên: Chủ nghĩa Thomas mới quả quyết rằng,các khoa học tự nhiên khi nghiên cứu thế giới vật chất tất nhiên phải

đề cập các vấn đề triết học như kết cấu và nguồn gốc của vật chất,v.v do đó phải lấy học thuyết về hình thức và vật chất của Aristotle

là cơ sở lý luận cho triết học tự nhiên Theo đó, vật chất là bảnnguyên hoàn toàn thụ động, là khả năng; hình thức là chủ động, làhiện thực; vật chất không thể tồn tại độc lập, nó cần có hình thứcmới giành được tính quy định của nó, mới thực hiện được sự tồn tạicủa nó Chính nhờ hình thức nên mới xuất hiện tính đa dạng củaphương thức tồn tại của vật chất Bởi vì Chúa là hình thức tối cao, làhình thức của các hình thức cho nên việc nghiên cứu của khoa học tựnhiên là quá trình không ngừng phát hiện ra Chúa, khẳng định Chúa

và không phủ nhận Chúa Vậy là khoa học và thần học đã hợp tác rấthoà thuận để phát hiện và chứng minh sự tồn tại vĩnh hằng củaChúa

Trang 10

Về lý luận chính trị xã hội: Chủ nghĩa Thomas mới phủ nhận sựtồn tại của các giai cấp, chủ trương thuyết tính người trừu tượng, coitrần thế là tạm thời, cuộc sống tương lai mới là vĩnh hằng Chủ nghĩaThomas mới chú ý đến sự kết hợp với thời đại mới, biết nắm lấynhững vấn đề bức xúc của xã hội để tôn giáo có thể phát huy vai tròcủa mình trong thời đại mới Họ cho rằng, xã hội hiện nay đang đứngtrước những vấn đề nghiêm trọng Bản thân khoa học, kỹ thuậtkhông đủ đảm bảo sự tiến bộ và hạnh phúc của nhân loại Khi conngười ra sức chinh phục giới tự nhiên thì họ mất đi ý thức về cuộcsống và tình yêu đối với Chúa Sự băng hoại về đạo đức đã trực tiếp

uy hiếp cuộc sống con người Để cứu lấy nhân loại người ta phải nhờđến đức tin, đến Chúa Như vậy, Chủ nghĩa Thomas mới đã sử dụngnhững mâu thuẫn có thực trong xã hội tư bản hiện đại để tuyêntruyền cho Chúa, đề cao vai trò của đức tin tôn giáo

Chủ nghĩa Thomas mới cũng giống như chủ nghĩa Thomas thờitrung cổ, vẫn lấy Chúa làm nguyên tắc tối cao, làm điểm xuất phát

và điểm kết của mọi sự vật Chỗ khác nhau giữa hai chủ nghĩa đó là:

để thích ứng với nhu cầu thời đại, chủ nghĩa Thomas mới đã thừanhận ở mức độ nhất định vai trò của khoa học, đã đi sâu hơn vàonhận thức luận và triết học tự nhiên để luận chứng cho sự nhất trígiữa tri thức và đức tin, khoa học và thần học

3 Khái quát về triết học Mỹ hiện đại

Sau phát kiến của C Columbus (1451 - 1506), nước Mỹ đượchình thành bởi những cuộc di dân từ khắp các châu lục trên thế giới.Trong những thế kỷ đầu, những người di cư chủ yếu loay hoay tìm kếsinh nhai mà không mảy may nghĩ đến triết học A Tocqueville (1805

- 1859) – nhà nghiên cứu về nước Mỹ khẳng định rằng, “không cómột nước nào người ta lại ít quan tâm đến triết học như ở Hoa Kỳ.Người Mỹ không có trường phái triết học riêng, và họ ít quan tâm đếnnhững trường phái triết học đang chia rẽ châu Âu

Trang 11

Thực tế nói trên đã dẫn đến hệ quả là nước Mỹ phải nhập khẩutriết học từ các nước châu Âu (điều này lý giải vì sao người ta xếp Mỹvào phương Tây) Các trường phái triết học từ châu Âu khi lưu chuyểnđến Mỹ không còn giữ được màu sắc xưa cũ như ở quê nhà nữa, mà

để thích ứng nó buộc phải biến đổi cho phù hợp với không gian mớivăn hóa mới Nếu như ở châu Âu, triết học được xem là sản phẩmcủa tư duy tư biện thể hiện tính hàn lâm, bị cuốn hút bởi những kháiniệm tinh tế; thì ở Mỹ, người ta cho rằng triết học là sản phẩm của tựnhiên, phù hợp với bối cảnh nhân sinh, người ta cần sự phù hợp vớilogic của thực tiễn, của đời sống chứ không cần sự phù hợp với logiccủa tư duy Hook (1902 - 1989) - nhà tư tưởng Mỹ vào thời hiện đại(cuối thế kỷ XX) cũng so sánh về cách thức tiếp cận triết học củangười Mỹ với người châu Âu rằng: “Các nhà triết học của chúng tôikhông đẩy chúng tôi ra đường phố, sinh viên của chúng tôi khôngchiến đấu trên những chiến hào cho chủ nghĩa hiện sinh hay cho chủnghĩa nào cả Chúng tôi quan tâm nhiều tới những giải pháp hơn làcho những sự cứu thế Chúng tôi chống lại những trừu tượng sa lầy”.Trên tinh thần đó, triết học nhân sinh ở Mỹ không xây dựng nội dungcủa nó bằng những khái niệm mà nó chú trọng đến thứ triết học tự

do, tung bay ngoài trời, không thích bàn đến những vấn đề trừutượng, chỉ chú tâm vào những vấn đề cụ thể mang tính lợi ích thiếtthân của con người H.S Commager (1920 - 1998) – nhà sử học củanước Mỹ nhận định: “Lý luận và lập luận trừu tượng làm cho người Mỹbực tức, và người Mỹ tránh những học thuyết triết học tối tăm, …như người khỏe tránh thuốc, không có một thứ triết học nào vượt rakhỏi giới hạn của ý chí mà lại làm cho người Mỹ có hứng thú, cho nên

họ cải tạo một cách không thương tiếc siêu hình học trừu tượngthành luận lý học thực tế” Tocqueville sau một thời gian miền màinghiên cứu cũng khẳng định rằng, “người Mỹ không có nhu cầu tìmtrong sách vở cái phương pháp triết học cho riêng mình, phươngpháp đó họ tìm thấy ngay trong bản thân họ” Ông miêu tả: “Vượtthoát khỏi tinh thần hệ thống, thoát khỏi cái ách của thói quen, khỏi

Trang 12

các châm ngôn sống gia đình, các quan điểm giai cấp, và một mức

độ nào đó là thoát khỏi các định kiến dân tộc; chỉ coi truyền thốngnhư một thứ thông tin, và chỉ coi các sự kiện đương xảy ra như mộtcách xem xét hữu ích để hành động khác đi và hành động tốt hơn;tìm tòi theo lối tự lực và chỉ tìm ngay bên trong bản thân mình cáinguyên cớ của sự vật, hướng tới kết quả mà không bị trói chân tróitay vào các phương tiện, và nhằm vào cái gốc vấn đề thông qua cáibiểu hiện bề ngoài”

Sau hơn ba thế kỷ khai địa lập quốc, vào cuối thế kỷ XIX, nước

Mỹ đã chính thức có trường phái triết học riêng, mang màu sắc bảnđịa của mình – chủ nghĩa thực dụng Chủ nghĩa thực dụng cũng chính

là chủ đề nghiên cứu chính của tiểu luận này và sẽ được làm rõ nộidung ở các phần tiếp theo

II Phân tích chủ nghĩa thực dụng

1 Khái niệm chủ nghĩa thực dụng

Khái niệm chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) có nguồn gốc từ

“Pragma” trong tiếng Hy Lạp, từ này có nghĩa là “thực tiễn” hoặc

“hành động” Trong đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, và hànhđộng là nguyên nhân dẫn tới hậu quả Chủ nghĩa thực dụng đã nhạybén nắm bắt lấy căn cứ này làm mục tiêu Vì vậy, một số nhà triết

học thực dụng đã tuyên bố triết học của mình là “triết học thực tiễn”,

“triết học hành động”, hay là “triết học đời sống”.

Chủ nghĩa thực dụng chính thức trở thành học thuyết triết họckhi Peirce công bố tiểu luận “Làm thế nào để tư tưởng của chủng tatrở nên sảng sủa”, và bài viết “Sự xác định của tín ngưỡng” đăngtrên “Nguyệt san khoa học phổ thông” - 1878 Tuy nhiên, có ý kiếncho rằng, trên thực tế, James mới là người đầu tiên đưa chủ nghĩathực dụng vào phạm trù triết học khi trong bài viết: “Khái niệm triếthọc và hiệu quả thực tế”, ông đã trình bày về chủ nghĩa thực dụng,

và thừa nhận, chính Peirce là người phát minh ra chủ nghĩa thực

Ngày đăng: 08/07/2022, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w