1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2

265 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Lễ Tục Trong Ngôi Nhà Ngưòi Việt
Tác giả Vũ Hồng Thuật
Trường học Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam
Thể loại Nghiên Cứu
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 19,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 cuốn sách Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giới thiệu tới người đọc các nội dung: Trưng bày ngoài trời - Những vấn đề bảo quản; truyền thông và công chúng; tư liệu nghe nhìn trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

CÁC LỄ TỤC TRONG NGÔI NHÀ NGƯÒl VIỆT ■ •

ỏ TRIỆU SON - THANH HOÁ

v ũ HÒNG THUẬT

Ngôi nhà là nơi sinh tụ làm ăn của con nguòi qua các thế

hệ khác nhau Theo quan niệm của người dân, "an cư mỏi lạc nghiệp" Đồng thòi, ngôi nhà còn là nơi thò cúng ngưòi chết

"về" nhận hương hoả của con cháu trong các ngày sóc, vọng, giổ, tết Bỏi vậy, trong quá trình sống, con ngưòi rất chú trọng đến các nghi lễ và tập tục (gọi tắt là lể tục) nhằm phụng thò các vị thần linh, chân linh, vong linh1, mong sao được "âm phù dương trợ" cho gia chủ được bình an, làm ăn phát đạt, mùa màng tốt tươi

Ỏ bài viết này chỉ tập trung giỏi thiệu các lễ tục trong khuôn viên ngôi nhà ngưòi Việt, gồm: nhà ỏ, bếp, khu chăn nuôi, vuòn ỏ vùng Triệu Sơn - Thanh Hoá, phục vụ cho trưng bày ngoài tròi tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

1 - KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

Huyện Triệu Sơn có từ năm 1966, do sáp nhập một số xã thuộc các huyện Thọ Xuân, Đông Sơn, Nông Cống Hiện nay

1 Các vị thàn linh gồm Thổ công, Thổ địa, Chân linh là thân tộc đã qua đời Vong linh là những người chết không có ai thờ tự.

Trang 2

huyện Triệu Sơn tiếp giáp huyện Nông Cống về phía Nam, huyện Như Xuân phía Tây, huyện Thọ Xuân phía Bắc và huyện Đông Sơn về phía Tây, có 33 xã, gồm các dân tộc Kinh, Thái, Mưòng.Huyện thuộc vùng hán trung du và đồng bằng, có sông Nhà

Lê và quốc lộ 37A chạy qua

Tù năm 1945 trỏ về trước, đặc điểm kiêu trúc dân gian ỏ đây là nhà ỏ kiêm thò tự Nhà thường có 4 hoặc 6 hàng cột, đàu hồi bit đốc, vì kèo "giá chiêng" hoặc "chồng giưòng, con nhị" kết hộp Nhà làm 3 gian, 5 gian hoặc 7 gian Hai gian đầu hồi làm buồng ngủ và chứa lương thực, gian giữa làm nơi thồ

tự, các gian còn lại là nơi ngủ cùa con cái và tiếp khách Trang trí kiến trúc dân gian phổ biến là cỏ cây, hoa lá, nhu: tùng, cúc, trúc, mai và các con vật linh nhu: rồng lá, hổ phù, dời, sấu ỏ các phần kẻ, bẩy, đàu đốc bức thuận, của ra vào, quá giang

2 - CẤC LỄ TỤC KHI LÀM NHÀ.

2.1 Chọn đất làm nhà

Đất chọn làm nhà là miếng đắt vuông vức, bàng phẳng, xa nghĩa địa; tránh đất đình, chùa, đền, miếu Việc chọn đất làm nhà được thầy địa lý đảm nhiệm Hưỏng nhà thường là hưỏng Nam: "Lấy vộ hiền hoà, làm nhà hưỏng Nam"

Các điều kiêng kỵ khi làm nhà:

- Phía trưỏc không có vật gì chán giữa cung nhà, đặc biệt phải tránh đầu đốc nhà phía trước đâm thẳng vào gian giũa nhà mình

- Cổng hai nhà không đâm thẳng vào nhau

Theo quan niệm nếu không tránh các điều trên, gia chủ làm

ăn không phát đạt, mọi điều xui xẻo thưòng đến

Trang 3

Chọn được đất, gia chủ sắm lễ gồm đĩa xôi, con gà, trầu, rượu, vàng mã nhò thầy địa ]ý thắp hương, khấn vái xin phép Thành Hoàng, Thổ địa được làm nhà vào ngày tháng đã ấn định Gần đây,

do dân số ngày càng đông, nên việc chọn đất làm nhà không cồn áp dụng như trưỏc nữa, phải phụ thuộc vào chính quyền xã cấp đất Nếu phần đất ỏ được cấp không hộp vối tuổi của gia chủ, gia chủ đến nhồ các vị pháp sư làm bùa để yểm, cầu mong làm

là muốn sửa chữa nhà tuỳ theo bản mệnh tuổi của mình thì làm nhà tốt hay xấu) Khi làm nhà phải xem tuổi đàn ông: "lấy vộ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông" - dân gian đã từng nói vậy

2.3 Chọn gỗ.

Gổ làm nhà được ngưòi dân địa phương chọn rất kỹ, như

gỗ, tre, luồng phải là cây thẳng, không dùng cây cụt ngọn, cây hai chạc (một gốc 2 cây), cây đổ nằm, cây dây quấn Đặc biệt, kiêng không chặt cây có chim quạ làm tổ, cây sét đánh đem về làm nhà.Việc chặt tre, luồng, gỗ làm nhà được chọn ngày giò rất kỹ, phải tránh giò hoả, ngày sát chù Trưỏc khi chặt phải thắp hương cáo Thổ công, Thổ địa và gia tiên

2.4 Chọn thợ làm nhà và các điêu kiêng kỵ.

Ngoài việc chọn tuổi, chọn gỗ đé làm nhà, gia chủ còn phải chọn thợ làm nhà Thợ làm nhà không chi chọn thợ giỏi mà còn

Trang 4

phải chọn thợ cả là ngưòi không có tang, ốm đau, gia đình thuận hoà, con cháu phưong trưởng Ngày phát mộc (cát đầu gỗ) cũng phải chọn ngày, giò Tránh cung ngày hoả và thưòng chọn ngày

vũ, đại cát, hoàng đạo Ngày cắt đầu gỗ cũng là ngày cát sào mực Sào mực được chia thành các khoảng cách đều nhau (tính bằng cm) để đo cao, thấp, dài, rộng của ngôi nhà Khi cát sào mực phải đo từ gốc về ngọn vì theo quan niệm nếu cắt sào mực

mà đo từ ngọn xuống gốc sẽ làm cho gia chủ làm ăn lụi bại.Cát đầu gổ phải cắt 4 cây gỗ chính trưỏc ngôi nhà, (cột cái) của gian giữa, sau đó mỏi cắt đến các cột khác Xà ngang nối giữa 2 đầu cột cái còn gọi là quá giang Khi lắp 2 mặt xà ngang phải lắp hai mặt đổi chỉnh nhau Ví dụ: một cây gỗ xẻ ra làm hai xà ngang khi lắp xà ngang của hai gian giữa phải cho hai mặt giữa của cây úp vào nhau Nếu không làm như vậy, vợ chồng sẽ ly thân, gia chủ làm ăn lục đục

Theo quan niệm của ngưòi dân khi làm nhà phần đầu cây cột cái ỏ gian phía sau nhà thường được cắt xẻ làm đôi, sau đó ghép lại nhằm sự tiếp nối làm ăn, phúc, lộc, thọ cho con cháu không ngừng phát triển Gian giữa nhà là gian chính đặt bàn thò gia tiên Do vậy, khi lắp rui mè chú ý không đặt vào chính giữa gian nhà mà phải đặt lệch sang hai bên Ngưòi ta quan niệm: nếu không đặt lệch tựa như chiếc cây đổ vào nhà - nơi

"cư ngự" của ông bà tổ tiên, bị coi là phạm "huý", gia đình bị

"quỏ", làm ăn kém phát triển và dễ xẩy ra tang tóc

2.5 Nghi lễ động thổ và dựng nhà.

Trưổc đây, nhà nghèo khung nhà làm bằng tre, luồng, lộp bàng lá kè, rạ; nhà giàu khung làm bằng gỗ, mái lộp ngói, tưòng xây

Trang 5

Ngày cát đầu gỗ cũng có thể là ngày động thổ để xây nhà

Lễ vật cúng động thổ gồm 1 con gà, đĩa xôi, trầu cau, ruọu, vàng mã, hương hoa Ngưòi thắp hương khấn vái có thể là ngưòi đứng tuổi làm nhà hoặc thầy cúng đứng ra đảm nhiệm Nghi lễ làm xong, vàng, sổ đem hoá, sau đó ngưòi đứng tuổi làm nhà cầm cuốc, xẻng đào 4 góc tượng trưng cho bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Cách thức đào từ trái qua phải, mỗi góc đào

9 nhát

Dựng nhà: Sau khi làm xong phàn mộc và nề, gia chủ chọn

ngày giò tốt, lễ c ấ t nóc hay lễ Thượng lương Nóc nhà rất quan

trọng: "con không cha như nhà không nóc" Không có nóc không thành nhà Đúng ngày, giò đã chọn, gia chủ bác đòn chính của nóc nhà lên đỉnh sưòn nhà Mặt trái đòn nóc được chạm nổi 2 vòng trôn bát quái ỏ 2 đầu nóc để trừ tà ma Mặt phải đòn nóc được ghi hàng chữ Hán đề quốc hiệu, ngày, tháng, năm làm và mong mọi sự tốt lành sẽ đến Chũ Hán thưòng viết trên thượng

lương nhu sau: T uế thứ Kỷ Sửu niên, trọng đông, nhị thập lục

nhật, kiến tân gia đại thắng lợi Tạm dịch là: Vào ngày 26 tháng

2 năm Kỷ Sửu làm nhà mói, mọi sự tốt lành sẽ đến.

Hai mặt phải của xà ngang 2 bên gian giữa nhà cũng được ghi hàng chữ Hán như sau:

- Phú quý tự khang ninh Nghĩa là: Sự giàu có khang ninh

Trang 6

Điều tối kỵ là từ khi làm đòn nóc đến khi dựng không được

ai bước qua, nhất là đàn bà, con gái Ngưòi ta quan niệm ràng: bưỏc qua đòn nóc "hèm" ám vào để lên nhà, gia chủ làm ãn lụi bại và dễ xảy ra tang tóc

3 - CÁC NGHI LẾ TRONG NGÔI NHÀ.

Sau khi làm xong nhà, gia chủ phải làm thủ tục nhập

nhà mỏi, gọi là nhập trạch tân gia Lễ nhập trạc h được coi

ngày giò kỹ luõng Khi chuyển lên nhà mỏi phải lập bàn thò Thổ công, bàn thò gia tiên, tiếp theo chuyển đồ dùng sinh hoạt, như: bếp, gạo, muối, xoong nồi, giường, tủ sau mỏi làm lễ trấn trạch Nội dung lễ cúng trấn trạch càu xin ba vị thần và bài vị được viết bâng chữ H án để ở bàn thò Thổ công như sau:

Dông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân Bản gia: Thổ địa Long mạch Tôn thần

Ngũ phương Ngũ Thổ phúc đức chính thần

3.1 Lễ cúng an trạch về nhà mới.

Lễ vật cho khoa cúng an trạch về nhà mỏi gồm: xôi, gà, hoa quả, trầu rưọu, vàng sổ để cúng Thổ công, Thổ địa, Thần tài Ngoài ra, làm Cổm canh cúng báo gia tiên và nấu cháo hoa, mía dóc vỏ tiện từng khúc, khoai lang luộc, cắt quần áo giấy cúng cho chúng sinh Nghi lễ cúng an trạch nhằm cầu cho gia chủ về nhà mđi làm ăn, may mắn xua đuổi ma quỷ Nghi lễ cúng an trạch thường mòi pháp sư hoặc thày cúng làm lễ Lễ an trạch

chịu ảnh hưỏng văn hoá Phật giáo thể hiện rõ trong các cãu niệm chú của phái mật tông và cung thỉnh đến đức Phật Bà

Quan Âm Bồ Tát

Trang 7

3.2 Nghi lễ cúng Thổ công

Hầu hết trong ngôi nhà ngưòi Việt đều có bàn thò Thổ công riêng, tại gian đầu hồi, gian giữa nhà hoặc phần phía trên của buồng Bàn thò Thổ công được trang trí đon giản gồm: bàn thò, bát hưong, mũ làm bằng giấy màu đỏ Trên bàn thò có ghi bài vị bàng chữ Hán giống như bài vị cúng an trạch

Khi thắp hương cúng tổ tiên đều phải thắp hưong xin phép Thổ công Thổ công chính là vị thần trông coi gia cư, giáng hoạ ban phúc cho gia đình tín chủ Nhò Thổ công, các hồn ma quỷ vãng lai không vào nhà Do vậy, trên bài vị thò Thổ công thưòng

viết chữ triện ỏ 4 góc: Sát quỷ trừ tà (xua đuổi tà ma, quỷ quái)

■ Tứ phúc, bình an (ban phúc, bình an).

Tín nguõng cúng Thổ công được chú trọng, gia đình nào cũng thiết lập một bàn thò, không kể chi thứ hay chi trưởng Các gia đình cúng Thổ công vào những ngày giỗ, tết, sóc, vọng

Lễ cúng tuỳ theo gia chủ, có thể cúng chay hoặc cúng mặn Trong những ngày sóc, vọng, ngưòi ta thưòng cúng hoa quả Đồ

lễ chỉ gồm có vàng mã, trầu, nưỏc, rượu, hoa quả Tuy nhiên, cũng có những nhà cúng mặn, đĩa xôi, con gà, miếng thịt, trưỏc cúng sau ăn, cốt tỏ lòng thành Những ngày giổ tết, các gia đình lãm cỗ mặn cúng Thổ công Ngoài ra, khi làm lễ cáo gia tiên đều thắp huong cúng Thổ công Nội dung giống như cầu khấn gia tiên Cúng Thổ công phải khấn đủ ba vị thần linh như ghi trong bài vị:

- Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân

- Thổ địa Long mạch Tôn thần

- Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần

Cúng xong, hết một tuần nhang gia chủ lấy vàng mã, số xuống đốt Khi đốt lấy rượu cúng trên bàn thò đổ vào đống

Trang 8

vàng mã đang cháy Ngưòi ta tin rằng khi vàng mã đốt đổ rưổu vào sẽ thành vàng, tiền, quần áo thật cho thần linh, vong linh, chân linh ỏ cõi âm.

Lể cúng Thổ công quan trọng nhất trong năm là lễ tiễn Ông Công, Ông Táo vào ngày 23-12 Âm lịch Lễ vật cúng Ông Công, Ông Táo gồm có xôi, chè, trầu, rượu, cau, nưổc lã, vàng mã, sổ,

mũ, áo Cũng vào ngày này, gia chủ làm lễ dựng cây nêu ỏ trưổc nhà Ồng Lê Văn Nghi, 95 tuổi, làm nghề thầy cúng ỏ xã Thọ Tiến quan niệm ràng: "Dựng cây nêu trưóc nhà nhằm bắc thang cho thần lên tròi tâu vổi Ngọc Hoàng công việc dưỏi trần gian trong một năm qua và là điểm đánh dấu cho thần tù trên tròi xuống trần gian vào ngày mồng 7 tết (hạ cây nêu) Mặt khác, trong thòi gian từ ngày 27 tháng chạp đến ngày mồng 7 tháng giêng, cây nêu thay cho vị thần trông coi toàn bộ gia cư cho gia chủ, xua đuổi tà ma, các vong linh không đến quấy phá" Khấn vái xong, lễ vật đem hoá; cá chép đem thả ra ao, hồ Ngày nay cá chép hiếm, ngưòi dân sỏ tại đã đốt cá chép làm bàng giấy

3.3 Thờ cúng tổ tiên

Đạo lý "Uống nuỏc nhỏ nguồn" thể hiện sâu đậm trong việc thò cúng gia tiên Mỗi gia đình đều thò vong linh tiên tổ, múc đậm, nhạt thé hiện rõ ỏ vai thứ trong dòng họ, gia đình Đứng đầu gánh vác trách nhiệm là nguòi con trưởng phải phụng sự thò tự tiên tổ tù ông Ngũ đại trỏ lại đến ông, bà, cô, dì, chú, bác hai bên nội, ngoại

Chúng tôi đã khảo sát tại Thanh Hoá 18 ngôi nhà, trong đó

ỏ Triệu Sơn 12 nhà, kết quả có 10 ngồi nhà gia chủ cho biết:

Chỉ con trai tnlỏng mỏi dược thò tự ông bà, khi nào con trai cả mất mói đến con trai thứ thò tự Nếu con trai ông trưởng đã lớn phải đảm nhiệm việc k ế sự hương hoả cho dòng tộc.

Trang 9

Một sắc lệnh ban hành năm 1511 như sau: "Trách nhiệm

thò cúng tổ tiên được giao cho đích tử Nếu đích tủ chết, sẽ lấy đích tôn Trong trường hợp không có đích tôn, sẽ dùng con thứ Nếu chính thất không có con trai, lú ấy sẽ chọn lựa đứa con trai khôi ngô nhất của một vợ thú*.

Việc bài trí bàn thò gia tiên trong mỗi gia đình được xếp theo ngôi thú từ cao đến thấp Có nhà tính từ ông Ngũ đại từ trên cao xuống thấp theo thứ tự bát hương Có nhà lại tính từ thấp lên cao và có nhà lại tính bát hương nào to nhất được coi

Thò cúng gia tiên trong ngày giỗ, tết thưòng làm cỗ mặn; còn ngày sóc, vọng chỉ cần thắp hương, hoa quả, vàng mã, trầu, rượu, nước lã, đèn dầu là đủ, miễn sao tấm lòng thành "Tâm động quỷ thần tri"

Tuy nhiên, khi trong gia đình xẩy ra một biến cố hay sự kiện

gì như: con ốm, thi cử, đi xa về đều có tháp hương khấn vái

tổ tiên và nêu lý do

Trước đây việc tháp hương, lau chùi đồ thò tự chỉ nam giỏi mỏi được phép đảm nhiệm Do hoàn cảnh gia đình và quan

1 R.Delosutal: La lustice dans lancien AnNam; B.EFEO, 1890 (Pháp luật An Nam xưa, tr.501).

Trang 10

niệm có thay đổi nên ngưòi phụ nữ (ngưòi vợ) đã được thắp hương thồ phụng; nhưng tỷ lệ còn thấp Việc thò tự trong gia đình ngưòi Việt có sự phân giỏi: chồng chủ trì việc thò cúng tổ tiên và các thần bảo hộ gia đình cũng như các vị Tiên sư, Thổ địa Cồn ngưòi vộ chăm lo việc thò cúng mưòi hai Bà mụ, bà

cô Tổ, Táo quân, thần chăn nuôi Trưỏc đây, đi chợ mua các

đồ lể vật về tháp hương, như: hoa quả, thịt, cá phải mang theo một ít nưổc lã từ nhà để khi mua được thứ gì lấy nưỏc bôi vào, nhằm mục đích làm cho các loài quỷ và súc sinh sộ, không được ăn trưỏc của các vị thần linh, gia tiên nhà mình Ngày nay

lễ tục này chỉ còn ỏ các gia đình có ông bà già Tục mua lễ vật

ỏ chợ về cúng ỏ nhà cấu một ít vút xuống đất cũng nhàm tránh cho ma quỷ không được ăn thuồng thấy ở các xã giáp hai huyện Thọ Xuân, Dông Sơn

Khi nấu đồ cúng ngưòi dân kiêng cho tỏi, kiêng không đưa lên mũi ngửi, quan niệm ngửi truỏc coi như là ăn Khi nấu không đưọc nếm, nấu cơm không được gõ 2 chiếc đũa cả vào nhau, và còn bao nhiêu tục kiêng khác nữa

3.4 Cúng trăn trạch:

Ngưòi ta tin ràng: nhà bị động, làm ăn xúi quẩy là do trong quá trình làm nhà mỏi hay sửa chũa, cơi nổi, hưỏng nhà, hưỏng ngõ đi vào nhà bị một con đưòng cắt ngang Trong gia đình làm ăn thấy không yên ổn thưòng đi đến nhà thầy cúng xem bói, chỉ dẫn Nếu động long mạch nặng phải xoay nhà, chuyển hưóng, nhẹ thì tạ lễ thần linh Lễ vật cúng trấn trạch gồm nưổc ngũ vị nấu lên tẩy uế xung quanh nhà, xôi, gà, vàng mã, trầu, rượu, sỏ, và một bộ quần áo cho Thồ địa Ngưòi cúng trấn trạch phải là pháp sư đảm nhiệm, ông vừa đi xung quanh nhà theo chữ triện: sát - quỷ - bình - an

Trang 11

Hương tháp một tuần lấy đồ mã đem hoá và lấy rượu đã cúng rót vào noi vàng mã đang cháy và nghi lễ kết thúc.

3.5 Các ngày lễ trong năm.

Ngưòi Việt ỏ Triệu Sơn, Thanh Hoá có tục lệ khao đất đầu năm Thòi gian từ ngoài 15 tháng Giêng trỏ đi các gia chủ đến

"ông đồng - bà cốt"1 xem quẻ đầu năm, làm lễ cầu an Ngưòi lãnh nhiệm bề âm làm việc cúng bái dâng tiến tiền, vàng, trầu cau, rượu, hoa quả của gia chủ lên của cha - mẹ xin xem quẻ đất cát cho gia chủ trong năm làm ăn ra sao? Theo tục lệ ỏ đây cứ 5 năm làm lễ khao đất một lần Lể vật khao đất làm cơm canh cúng gia tiên; xôi, gà cúng Thổ công;

Tết Đoan Ngọ là ngày lễ giữa năm phòng bệnh, trừ tà, đi sâu, thăm hỏi thầy giáo, vào ngày này, mỗi gia đình đều làm

tự Cháo hoa múc vào khuôn lá đa Mỗi một khuôn lá đa múc một thìa cháo và cám 1 que hương để ngoài cổng, sân, vưòn, đưòng Nguòi dân quan niệm: vào ngày này phải cúng cho chúng sinh cô hồn ăn thật no để được hưỏng phúc của các vong linh, cô hồn, chúng sinh, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt

1 "Ông đồng - bà cốt": những người đồng bóng, bối toán.

Trang 12

Khi tuần nhang đầu đã cháy hết, gia chủ đốt mã, phát lưong

và một tay cầm cây dâu, một tay cầm dao và miệng nói "Tất cả chúng sinh, cô hồn, nay gia đình tôi làm cỗ phát lương cho các vong linh, cơm cháo, gạo, muối, trầu thuốc, rượu, vàng, quần

áo đã đầy đủ, các vị ăn cho no rồi đi nơi khác không đưộc ỏ đây để cho gia đình yên ổn làm ãn Vong linh nào cố tình ỏ lại sẽ bị chém" Gia chủ cầm dao chặt 3 nhát vào cành dâu, rồi lấy cành dâu quất xung quanh nơi cúng cháo, sau đó nghi

lễ kết thúc

L ễ đêm giao thừa (tết Nguyên đán):

Chiều 30 tết mọi gia đình làm cơm mòi ông bà tổ tiên về

ăn tết cùng gia đình gọi là cúng tất niên Giò phút giao thừa của năm cũ và năm mỏi, mọi nhà sắm lễ vật cúng giao thùa

Lễ vật thưòng là con gà, hay chân giò lợn, bánh trái, hoa quả Cúng giao thừa ỏ tất cả bàn thò trong nhà và cúng ỏ ngoài sân Nội dung khấn cầu xin thánh, thần, tròi, phật, gia tiên phù hộ sang năm mỏi làm ăn phát đạt, con ngưòi khoẻ mạnh, mùa màng bội thu

Vào thòi điểm giao thừa, mọi nhà đều đốt pháo, ngoài ý nghĩa đón mùng năm mỏi còn mang ý nghĩa trừ tà ma Ngoài

ra, các gia chủ thưòng lấy vôi bột rác hoặc vôi nưóc vẽ, 3 vuông

7 tròn ỏ giũa sân, vẽ hình cung tên ỏ 4 góc sân nhàm cho ma quỷ sọ, vẽ cày bừa ỏ ngoài cồng Nếu gia chủ nào biết chữ Hán

thì viết hai chữ triện: sát - quỷ ỏ giữa sân.

Trong ba ngày tết, trong nhà đèn hưong lúc nào cũng phải thắp Theo quan niệm nếu hương đèn tắt là ồng bà, tổ tiên không ngự ỏ bàn thò, ma quỷ cô hồn ỏ ngoài sẽ vào trong nhà Mặt khác, huơng đèn cháy như muốn cả năm làm ãn may mắn

Trang 13

cầu mong sự no đù Câu ca thưòng nói "đói no hai bữa, đỏ lửa trong nhà" Bỏi vậy, trong ba ngày tết lúc nào bếp cũng đỏ lửa.

Các kiểu kiêng kỵ trong ngày tết:

- Kiêng không cho lửa ngày mùng 1 tết

- Kiêng không đánh võ cốc chén, bát đĩa

- Kiêng không cãi nhau

- Kiêng không quét rác trong 3 ngày tết vì sộ hót đổ thần tài

- Kiêng khồng đến xồng nhà là ngưòi bị ốm đau, đeo khăn trên đầu, tang, gia đình không được thuận hoà

- Đầu năm đi chơi xuân phải xem huổng và giò đi để cả năm làm ăn may mán

3.6 Các lễ tục và điều kiêng kỵ:

- Trong gia đình có ngưòi sinh đẻ, ỏ cửa buồng ra vào thưòng được yểm bùa để tránh ma quỷ, ngưòi có vía dữ đến thăm làm cho đứa trẻ bị ốm đau, hay khóc, giật mình Để phòng tránh điều đó ngưòi ta chôn ỏ cửa buồng (phần phía trong) con dao cùn hoặc chiếc đinh hay lưõi cày đã đuợc ngâm qua nuỏc tiểu Lấy cứt đứa trẻ ỉa làn đầu gọi là cứt keo bôi lên thành cửa buồng (nam 7 cái, nữ 9 cái) Txên giưòng nằm thưòng để con dao nhọn ỏ đầu giưòng Lấy mảnh sành, bát võ để 4 góc giưòng

- Khi đứa trẻ sinh ra đầy cũ phải cúng ỏ trong buồng tạ on

12 Bà Mụ và khi đầy tháng, đầy năm cúng báo gia tiên, Thổ công, sau đó mói cho đứa trẻ đi choi khỏi giuòng nằm

- Trong gia đình có tang ma, tục lệ quy định có buộc chân tay nguòi chết khi khâm liệm, sau đó, cho tử thi vào quan tài,

để dọc theo mái nhà, đầu quay vào phía trong, chân ra phía ngoài Khi khiêng quan tài đi chôn, không đưa qua cửa chính

mà phải đi cửa phụ Bàn thò ngưòi chết được lập riêng, đù 27

Trang 14

tháng mỏi đua bát hương lên thò chung tại bàn thò gia tiên Nếu nhà có ngưòi chết trùng tang phải mòi pháp sư về lập đàn tràng cúng siêu thoát và dán các lá bùa ỏ bổn góc nhà và cửa

ra vào

- Khi có nguòi nằm ngủ trong nhà, nhất là trẻ em, ngưòi ta kiêng không đậy giấy báo, khăn mặt, lên mặt ngưòi đang nàm ngủ Kiêng nằm ngủ quấn chiếu quanh ngưòi Đi làm đồng về không được cầm cuốc, xẻng để ỏ truỏc cửa nhà, hoặc đi qua sân không được vác trên vai

- Con gái đi lấy chồng, nhung vộ chồng không thuận hoà, phải về nhà mẹ đẻ Nếu đã có mang đến ngày sinh nỏ không được đẻ ưong nhà, mà phải làm riêng một gian nhà ra đầu hồi nhà, hay xó bếp, ngoài vưòn để đẻ và nuôi con; đến khi nào đầy tháng mổi đưộc vào trong nhà

- Trong quá trình làm nhà, gia chủ không đối đãi tốt vổi thợ, thợ sẽ phản lại gia chủ bàng cách: đóng đinh vào đỉnh cột cái hoặc ỏ hai đầu thượng lương, hoặc láy xương gà, xương

cá cho vào mộng láp ghép phần chỗ quá giang ngàm vào phần cột cái vói kẽ bẩy của mái hiên sẽ làm cho gia đình làm ăn lụi bại Câu ca của thợ mộc thuòng răn nhà chủ như sau: "Bà chắc tay cối xay bà lung lay" mang hàm y đe doạ

ám hại gia chủ

- Bậc thềm lên xuống của ngôi nhà thưòng làm bậc lẻ 1, 3,

5 Vì số lẻ là dương, cầu mong mọi sự tốt lành Nhà làm 3 bậc,

mang ý nghĩa 3 giai đoạn của đòi ngưòi là sinh, bệnh, lão Người

ta kiêng làm bậc thềm theo số chẵn vì số bậc này là âm, biểu

thị số chết: bệnh-tử.

- Trong bếp, vào những ngày sóc, vọng phải thắp hương ông

Táo hay còn gọi là ông đầu râu, ông bếp Khi nấu ăn ngưòi dân

Trang 15

kiêng không lấy củi, đũa bếp gõ lên thành bếp Đốt củi phải đốt từ gốc trưổc Nếu đun rom, rạ, tro bếp phải kéo về phía bên vần nồi cơm Bắc cơm ra ngoài phải gạt tro vào chổ vừa bác nồi cơm ra Nếu không làm như vậy ngưòi ta tin rằng hổ

sẽ vào nhà, mùa màng bị thất thu

- Trong bũa ăn nếu đứa trẻ bị hóc xương, một ngưòi trong nhà tự lấy muối bỏ vào bếp hoặc lấy bát nưỏc hất lên mái nhà,

ra xoay mâm một vòng tròn, xương hóc trong miệng sẽ ra ngoài

- Đũa cả ghế cơm không được dùng nấu canh, xào rau Làm như vậy gia đình hay cãi nhau

- Khi ăn cơm xong, thưòng đế lại một ít cơm trong nồi vổi quan niệm là để cho nhiều lúa gạo, lần sau lại có gạo nấu com

- Khi trâu, bò, lộn đẻ ngưòi dân thuòng lấy chiếc nùn rơm đốt cho cháy dỏ buộc vào cây xương rồng 3 cạnh rồi treo ỏ trưỏc cửa chuồng Mục đích là đánh vía những ngưòi có vía dữ nhìn vào làm cho con vật không cho con bú

- Trong mỗi gia đình, ngoài thò gia tiên, còn thò cây hương

ỏ ngoài sân Vào các ngày sóc, vọng, giỗ tết, cây hương thò Tròi

- Phật, vong hồn chết yểu của gia chủ Lể vật cúng ỏ cây hưong gồm có hoa quả, trầu cau, nưổc lã

- Thưòng truỏc nhà hay ỏ cổng ra vào có trồng cây dâu mang

ý nghĩa để trừ tà ma Ỏ ngoài cổng thưòng đặt chó đá đế giữ nhà, càu mong của cải trong nhà không bị thất thoát

Trưổc nhà thưòng trồng cau (chuối sau cau trưóc) vừa tăng phần cảnh quan trong khuôn viên, vừa mang ý nghĩa tôn giáo

Theo giáo sư Trần Lâm Biền: "Cây cau là nấc thang lên xuống

của thánh thần, sự giao hoà giữa tròi và đất đ ể cho con ngưòỉ

Trang 16

và vạn vật sinh sôi phát triển Mặt khác, cây cau tựa như cây nêu cắm ỏ trước nhà mang ý nghĩa trù tà m a"

Trưỏc nhà ngưòi Việt thưòng đào ao thả cá, không chỉ để tâng nguồn thực phẩm cho bữa ăn, mà còn để cân bàng sinh thái môi trường cảnh quan, là điểm yểm "huyệt" long mạch cho gia chủ làm ăn thịnh vượng Câu ca xưa vẫn thường nhác đến khi mua bán nhà phải chọn đủ các yếu tố là: nhà ngang, rẫy dọc, vưòn cau, ao cá là như vậy

- Gà, ngan ấp trứng nở con cho xuống ổ, ngưòi dân thưòng tính theo lịch trăng hay lịch nưổc thuỷ triều lên xuống Đầu tháng thì cho xuống buổi sáng, giữa tháng - buổi trưa, cuối tháng

- buổi chiều Khi cho gà xuống ổ lấy một bát nưổc hất lên mái nhà, miệng nói "nước chảy" ba lần rồi bắt 1 con gà hứng vào chỗ nưổc chảy, sau đó mỏi cho cả ổ xuống Theo quan niệm, làm như vậy gà nuôi không bị "khát nưỏc" mỏi sống được

- Khi chăn nuôi được lộn hay trâu bò đem bán, nhất là lợn, gia chủ thường phải cắt một túm lông đuôi vứt lại trong chuồng vổi ưổc muốn lần sau nuôi chóng lổn như con trưỏc

Trong làng có đám ma hay bốc mả, nguòi dân thưòng lấy dây buộc quan tài đem về buộc vào gốc cây ăn quả, thưòng bị sâu, ít quả, hoặc để lên trên gác chuồng trâu, bò tránh dịch bệnh Quan tài khi cải táng nguòi dân lấy về nhà trấn chuồng lộn cho lộn hay ăn chóng lốn

Trên đây là những lễ tục trong khuôn viên nhà ngưòi Việt

ỏ Triệu Sơn, Thanh Hoá, có nhũng lể tục tương đồng vỏi các

1 "Cây cỏ trong nghệ thuật tạo hlnh cổ của người Việt" - Tư liệu mỹ thuật trao đổi nghiệp vụ - Phòng tư liệu Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật.

Trang 17

tỉnh khác từ H à Tĩnh trở ra Việc sưu tầm các phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo trong ngôi nhà ngưòi Việt để phục

vụ cho khu trung bày ngoài tròi của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là điều cần thiết và tất nhiên còn phải tiếp tục

Vấn đề đặt ra ở đây là: Giổi thiệu cái gì? Trưng bày như thế nào để làm nổi bật phần hồn của ngôi nhà mà lễ tục là một phần không thể thiếu được Vậy có nên đưa phàn tái tạo lễ tục vào trong ngôi nhà để trưng bày, giỏi thiệu cho khách thăm quan nghiên cứu hay không? Nếu trưng bày thì phải làm như thế nào? Bỏi lễ tục bao hàm cả phàn văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, trong đó lễ tục lại luôn biến đổi theo thòi gian Cái mỏi và cái cũ đan xen vào nhau và trỏ thành tập tục của mỗi gia đình, mỗi địa phương, trong khi ngôi nhà ngưòi Việt trưng bày ỏ đây lại mang tính tiêu biểu cho cả một dân tộc trên phạm vi cả nưỏc

Mặt khác, ngôi nhà trưng bày ngoài tròi của ngưòi Việt tại Bảo tàng là ngôi nhà kiến trúc cổ, hiện vật gốc Phần trưng bày

lễ tục sẽ đưộc làm như thế nào; ta chỉ giỏi thiệu những gì mà chủ nhân ngôi nhà có hay giói thiệu cả lễ t \ c cùc địa phương

mà ngôi nhà đó là đại diện?

Theo tôi, việc trưng bày kiến trúc dân gian nhà ngưòi Việt khu vực ngoài tròi theo quan điểm như sau:

Một là, việc nghiên cứu, sưu tầm, trung bày kiến trúc dân

gian nhà ngưòi Việt ỏ Bắc Bộ từ Thanh Hoá trỏ ra phải thực hiện tái tạo toàn bộ khuôn viên, không thể chỉ tái tạo nguyên bản ngôi nhà đã sưu tầm được Bỏi vì, chưa hẳn ngồi nhà đó

đá đại diện cho phần kiến trúc dân gian của ngưòi Việt ỏ đồng bằng Bắc Bộ, nhất là phần lễ tục

Trang 18

Hai là, phàn khuôn viên, sân, vưòn, ao, cây ăn quả, cây

hương, công trình phụ phải phù hộp vỏi môi trưòng cảnh quan của địa phương

Ba lù, việc dựng ngôi nhà ngưòi Việt theo nguyên bản tại

Bảo tàng phải đi liền vói việc sưu tầm hiện vật của phần nội thất ngôi nhà như: giường, tủ, bàn ghế, đồ dùng sinh hoạt khác, cũng phải theo nguyên bản mỏi có giá trị nghiên cứu khoa học, tính hấp dẫn vói công chúng

Bốn là, việc trung bày các hiện vật trong nội thất không thể

thiếu được phần lễ tục Bỏi vì, phần lễ tục được ví như mạch máu nuôi dưõng co thể sổng của phần kiến trúc, nhất là khi giỏi thiệu về phong tục, tập quán, cách thức sinh hoạt của gia đình ngưòi Việt

Năm là, ngôi nhà trưng bày ỏ Bảo tàng phải hội đủ các điều

kiện về mặt kiến trúc, mỹ thuật, phong tục, tập quán, nếp sống sinh hoạt, văn hoá gia đình một cách đầy đủ để giổi thiệu cho khách thăm quan nghiên cứu

Trang 19

LỊCH TRE CỦA NGƯÒl MƯÒNG

C HU VĂN K H Á N H

"Lịch Tre" là một di sản văn hoá truyền thống độc đáo của ngưòi Mưòng cồn được lưu truyền đến ngày nay Trải qua thăng trầm lịch sử vỏi bao nhiêu biến động của thòi gian, cùng quá trĩnh giao lưu văn hoá trong nội địa và khu vực, lịch Mưòng không cồn nguyên bản, nhung sự hiện diện của nó cũng đủ minh chứng cho sự tồn tại của những trí thức về tự nhiên cùa ngưòi Mưồng đã phát triển đến một trình độ nhất định Điêu khó khăn nhất trong quá trình khảo cứu lịch Mưòng là hệ thống cơ sỏ thiên văn

và lịch pháp đâ bị mai một, nhung chúng tôi cũng mạnh dạn đưa ra những giả thuyết trong chừng mực các cứ liệu khoa học cho phép

I CẤU TẠO LỊCH MƯỜNG

Ngưồi Mưòng gọi bộ lịch của họ là Sách Đoi (hay Khách

Doi) vì nó lấy sự vận hành của sao Đoi và Mặt Trăng để tính

lịch, còn gọi là "Lịch Tre" bỏi nội dung lịch đưộc khắc trên các thẻ tre Một bộ lịch hoàn chỉnh bao gồm 12 thẻ tre, trên đó khắc những vạch ký hiệu ngày, tháng và các hiện tượng tự nhiên khác Những ký hiệu này không được chuẩn hoá thành hệ thống chung, mà mỗi khu vực có những quy ưổc riêng Có thể chia làm 3 phần chính: 1) phần tháng được vạch ỏ phần đầu thẻ tre, mỗi tháng có một ký hiệu tương ứng; 2) phần ngày được khắc

Trang 20

các khấc nhỏ bên sưòn của thẻ; 3) trong lòng thẻ ghi những ký hiệu ngày có hiện tượng tự nhiên: Đó là các ngày mưa, ngày bão - tròi có thể có mưa hay bão; ngày cá đi - có thể kiếm cá; ngày hao lỗ - tránh buôn bán hay trao đổi hàng hoá; còn ngày Doi vào có điều may mắn do ngoại cảnh đem đến nhưng tránh làm các việc lốn Có nhiều vùng còn đưa vào lịch các ngày khách, ngày thú đi ăn, ngày ma

Những ký hiệu thường thấy ghi trên lịch tre

gà gáy, mặt tròi mọc, giữa ngày, mặt tròi lặn, mọi vật ngủ yên Nếu lịch của dân tộc Chaldée tính ngày bắt đàu tù lúc mặt tròi mọc, lịch Ấ Rập tính ngày bắt đầu từ lúc mặt tròi lặn, còn lịch Trung Quốc tính ngày tù nửa đêm thì lịch Mưòng lại tính ngày bắt đầu từ thòi điểm trưỏc bình minh (Gà gáy) Dưỏi đây là tên gọi các giò trong lịch Mưòng (xem bảng tr 250)

Mỗi thẻ tre đều khắc 30 khấc ngày, chia làm 3 đoạn rõ ràng tưong úng vối 3 tuần trong tháng, gióng như cách chia tháng làm 3 tuần trong âm lịch: Thượng tuần - tuần Cây, Trung tuần

- tuần Lôồng và Hạ tuần - tuần Cối Riêng tuần Lôồng có lịch khác lệch sang cạnh kia của thẻ tre 10 ngày đàu trong tháng đưộc gọi là ngày Cây 1, ngày Cây 2 ngày Cây 10; 10 ngày giữa tháng gọi là ngày Lôồng 1, ngày Lôồng 2 ngày Lôồng 10; 10 ngày cuối tháng được gọi là ngày Cối 1, ngày Cối 2 ngày Cối

10 Cách chia tháng làm 3 tuần mỗi tuần 10 ngày rất có thể

Trang 21

03Õ 0 /(ủ O)

? D> c

'5-«D

O) c

«<ơ cõD>

cco- òcơ) c

cõ o_ Q- O) c c

c c 'tủ •— *cữ

^ - ' 2 - S w c = J £ ^

u "

'< u (Ợ X ơ * z _ c Õ - C ^<D

>Cữ- -C

*C-o

-ca O)

c

'í£ ; õ

>cợ-c J5 c

£ .n -C ^ _c

2 s ỸN 00 <N *- c\í CM cg òj

o

£ 0 co p

-C -C C\J co

Cũ /g O) a 3 I

^ 3 D) 4—co S<1) <ữ* ca cơ

>o

ơ) ^ c \ j c o t ư ) 0 N c o ơ ) O Ị r c \ J 5 5 g ị O

Trang 22

xuất phát từ chợ phiên truyền thống Trong sách "Ngưòi

Mưòng", Jeanne Cuisinier viết: "Loại chợ do ngưòi Annam lập

ra cứ 10 ngày họp một lân, theo cách chia tháng kiểu cổ; các chợ do chính quyền Pháp lập ra thì họp hàng tuần" Còn thuật níiữ "Lôồng" và "Cối" do biến âm của chữ "Trong" và "Cuối" Điêu này thể hiện rõ ràng nhất trong Bắt chừ đốt, đó là thuật ngữ "Kơn Tlông", "Sươm Tlông", "Kim Tlông" tương ứng với

tiếng Việt là "Cây Trong", "Thưỏm Trong", "Kim Trong" để đối

ứng vđi Sa (hay Tha) có nghĩa là ra, là ngoài Sau đó thuật ngữ

"Lôồng" được bảo lưu và biến âm trong tiếng Việt thành "Mồng" dùng để chỉ 10 ngày đàu tháng lịch âm

Bảng thống kê các ký hiệu tháng trén lịch Mường thường thấy

Tháng lịch

Mường

Lịch Tân Lạc (mường Bi)

Lịch Tân Lạc KH:

35.96-31-13

Lịch Mãn Đứò KH:

35.92-1-41

Lịch tre KH: 125

Lịch Mường KH:117

Trang 25

II CÁCH TÍNH LỊCH CỦA NGƯỜI MƯÒNG HIỆN NAY

Hiện nay ngưòi Mưòng tính lịch khá đơn giản, họ sử dụng lịch âm do Nhà nưổc phát hành để đối chiếu tìm ra ngày, tháng

lịch Mưòng Nguyên tắc đối chiếu là "ngày lui, tháng tiến", tức

ngày của ngưòi Mưòng chậm hơn lịch âm (mà họ thường gọi là Quan lịch) 1 ngày, cụ thể cứ ngày mồng 1 lịch Mưòng ứng vói ngày, mồng 2 lịch âm Còn tháng lịch Mưòng lại đi trưóc tháng

âm lịch Nguyên tắc này không được thống nhất giữa các vùng

của ngưòi Mưòng, trong sách Người Mường, Jeanne Cuisinier

cho biết: "Ỏ vùng miền Tây, năm của ngưòi Mưòng sóm hơn năm của ngưòi Annam kém một ngày đầy 3 tháng, o vùng miền Đông, chỉ sỏm hơn có một tháng 0 vùng trung tâm thì hai

tháng" Dại Nam nhất thống chí cũng chép rằng: "Thổ dân huyện

Bất Bạt và Mỹ Lương, hàng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy ngày mồng 2 làm đầu tháng, gọi là ngày lui tháng tiến, lại gọi là "ngày nội" dùng trong dân gian, còn ngày theo quan lịch thì gọi là "ngày ngoại", chỉ dùng trong việc quan" Nhu vậy, nếu vùng Mưòng nào tính lịch đi trưổc âm lịch 3 tháng thì tháng Giêng lịch Mưòng tương ứng vỏi tháng 10 âm lịch, như trường hợp lịch muòng Bi; nếu đi trưỏc hai tháng thì đầu năm trùng vói tháng 11 (Một) âm lịch như các lịch vùng Bất Bạt,

Mỹ Lương; nếu đi trưỏc 1 tháng thì đầu năm trùng vói tháng

12 (Chạp) âm lịch

Nếu tháng âm lịch đủ hay thiếu thì tháng tương ứng của ngưòi Mưòng cũng theo đó để tính thiếu đủ, tháng âm lịch nhuận thì tháng Mưòng tương ứng cũng nhuận Họ cũng coi đầu năm từ tháng 4 lịch Mưòng, tức là tháng Giêng lịch âm, chỉ chệch đi 1 ngày do quy tắc "ngày lui" mà thôi Thực chất họ ăn tết theo âm lịch

Trang 26

III P H É P TÍNH LỊCH c ổ TRUYỀN CỬA NGƯỜI MƯÒNGVấn đề quan trọng nhất của lịch pháp là phép chia ngày tháng và cách đặt nhuận Hiện nay, lịch pháp Mưòng đã bị thất truyền Cũng dể hiểu là trong xã hội cũ hệ thống hành chính đều phải thống nhất sử dụng lịch âm, lịch tre chỉ được sử dụng trong dân gian Mặt khác, do lịch âm tính trước được tuần trăng, nguyên tá c.đ ặt nhuận rất mật xác đảm bảo độ dài trung bình năm chính xác cao Cho nên, ngưòi ta chỉ đơn giản sử dụng phép đối chiếu vỏi âm lịch để tính ngày, tháng tương ứng vừa đảm bảo độ chính xác, vừa thống nhất vổi lịch của Nhà nưỏc Do vậy, rất khó khăn cho việc tìm lại phép lịch cổ truyền của ngưòi Mưòng.

1 Cách tính tháng

Điều mà chúng ta có thể đoán định một cách chắc chắn là

Sách Đoi tính tháng theo độ dài tuần Trăng Do Mặt trăng vận

động vối vận tốc không đều trên Bạch đạo (vỏi độ dài trung bình là 29,530588 ngày) nên trật tự tháng thiếu (29 ngày) và tháng đủ (30 ngày) trong lịch âm dương Đông Á không tuân theo một quy tắc nhất định, còn loại âm lịch cổ Ai Cập, Hy Lạp, Ấ Rập lại quy tắc hoá quy luật tháng thiếu tháng đủ

Trong bộ Sách Doi tất cả các thẻ tre đều khác 30 vạch ngày

Điều này không có nghĩa là tất cả các tháng ngưòi Mưồng đều xếp 30 ngày, bỏi nếu như vậy thì lịch vừa không theo sát chu

kỳ Trăng, vừa bỏ qua yếu tố thòi tiết Nghĩa là phải có những tháng thiếu, nhưng tháng thiếu là ỏ những tháng nào? Chúng tôi cho rằng có lẽ ngưòi xưa đã định số ngày trong tháng bằng cách xác định ngày đầu tháng là ngày có Trăng non, giống như

lịch Ấ Rập và lịch Do Thái cổ đại Theo quy tác "ngày lui, tháng

liến" thì ngày mùng 1 lịch Mưòng tuơng ứng vối ngày mùng 2

Trang 27

âm lịch Lịch pháp âm lịch chọn ngày đầu tháng là ngày Giao hội, lúc ấy Mặt Trăng nàm giữa Mặt Tròi và Trái Dát, nên chúng ta không nhìn thấy Trăng Nhưng đến ngày mùng 2, Trăng đâ lệch đi khoảng 13°, có một vành sáng luỡi liềm gọi là

Trăng non Nguòi Mường lấy ngày đó làm mùng 1 Quá trình

thay đổi pha Mặt Trăng trong tháng được ghi lại trong bài ca dao mà chúng tôi sưu tầm được ở mưòng Bi:

Ngày một nắng lá thai Ngày hai nắng lá ngả Ngày pa nắng lại liềm Ngày pổn tóng đốn clôốc tôồn Ngày đăm nhăm kháng

Ngày khấu tôống đấu clôốc tôồi Ngày pảy tẹp tày clêênh clăng Ngày thám đét nhạm clêênh clăng Ngày chín tù tịn hôốc clêênh clăng

Dịch nghĩa:

Ngày một bằng lá thai (lá cỏ tranh) Ngày hai bầng lá ngả (lá cây chít) Ngày ba lưõi liềm

Ngày bốn trăng sáng quầng Ngày năm giữa tháng

Ngày sáu đóng dấu đồi Ngày bảy mọi vật đều ngủ say trăng mới lên Ngày tám trẻ khóc vào ban đêm trăng mới lên Ngày chín con diều hâu gọi trăng lên

Trang 28

2 Phép đặt nhuận

Thông thường các loại lịch âm dương đều có quy tắc đặt nhuận, để trùng khổp yếu tố tuần Trăng và chu kỳ vận động của Mặt Tròi có chi phối đến sự thay đổi thòi tiết có tính quy luật Lịch âm dương Á Đông tính chu kỳ chuyển động thực của Mặt trăng trên quỹ đạo vỏi độ dài trung bình là 29,530 588

ngày, cho nên có tháng 29 ngày (tháng thiếu) lại có tháng 30 ngày (tháng đủ) không theo quy luật nhất định Lịch pháp Trung

Hoa và phương Tây lấy mốc đầu tháng cố định là thòi điểm

không Trăng (giao hội) Để năm âm lịch đuổi kịp năm thòi tiết

(tức là thòi gian Mặt Tròi biểu kiến trở lại điểm Xuân phân), ngưòi ta đặt thêm 1 tháng nhuận vào một số năm nhất định

theo luật 19 năm có 7 năm nhuận (thập cửu niên thất nhuận) gọi là chương, tương ứng vỏi chu kỳ Meton của âm lịch Hy Lạp.

Tháng nhuận không đặt cố định vào một tháng nhất định,

mà nó phải căn cứ vào lịch Tiết khí (một loại lịch Mặt trời) để

xác định tháng nhuận Thiên văn cổ Phương Đồng chia Hoàng

đạo (quỹ đạo chuyển động biểu kiến của Mặt trời trong một năm) làm 12 phần bàng nhau, khỏi từ điểm Xuân phân (là một trong

hai giao điểm, của Hoàng đạo vói Xích đạo tròi) gọi là 12 cung

Hoàng đạo, đặt tên theo Thập nhị Địa chi, mỗi cung 30° Thòi

điểm Mặt tròi chuyển cung gọi là trung khí, thòi điểm Mặt tròi đến giũa cung gọi là tiết khí Nếu coi chuyển động cùa Trái đất

quanh Mặt tròi theo quỹ đạo hình tròn vỏi vận tốc bình hành, thì thòi gian giữa 2 trung khí hay tiết khí liên tiếp bằng 30,43685

ngày gọi là Bình nguyệt, các K hí này gọi là Bình khí Từ năm

604, Lưu Chưỏc làm lịch Hoàng Cực đã cải cách tính theo Định

khí, tức là tính chuyển động không đều của Trái đát trên quỹ

đạo hình elip quanh Mặt tròi Như vậy, thồi gian trung bình

của tuần Trăng (29,530588 ngày) ngắn hơn thòi gian trung bình

Trang 30

-Mặt tròi vạch hết một cung Hoàng đạo (tức Bình nguyệt 30,43685 ngày), cho nên sẽ có tháng Mặt tròi không chuyển cung, tháng ấy không chứa thời điểm trung khí Lịch pháp Á Dông đặt tháng không Trung khí làm tháng nhuận và được gọi

tên của tháng trước Nhưng lại xuất hiện nhuận giả đó là hai

tháng không trung khí tương đổi gần nhau, cho nên ngưòi ta định lệ tháng không trung khí cách tháng không trung khí kế trung bình 32,5 tháng thì nhuận Thòi điểm Trái đất đi ngang qua điểm Cận nhật vỏi tốc độ nhanh nhất, cho nên lịch hiện nay không khi nào có tháng một, chạp và giêng nhuận

Thoạt xem Sách Đoi không tính đến yếu tố Mặt Tròi, chỉ

có 12 thè tre ghi 12 tháng Trăng Tuy vậy, điều làm chúng ta chú ý là có một yếu tố thiên văn duy nhất được ghi trong lịch

đó là các ngày Đoi vào của mỗi tháng Sao Doi có hình dạng như chùm nho nhấp nháy, chính là sao (Pleiades) thuộc chồm Kim Ngưu (Taurus), mà nguòi Việt gọi là sao Rua hay Tua rua Trong thiên văn Trung Hoa cổ đại sao Rua có tên là sao Mão,

một trong hai mươi tám sao (Nhị thập bát tú) "Kinh thư" của

Khổng Tử cho biết, ngay từ thòi vua Nghiêu, ngưòi ta đã tiến hành quan sát thòi điểm sao Mão, sao Điểu (a Hyđra), sao Hoả (a Scorpius), sao Hư (/? Aquarius - Verseau) vượt kinh tuyến trên khi Mặt Tròi lặn để xác định bốn thòi điểm quan trọng trong năm (Xuân phân, Thu phân, Đồng chí, Hạ chí) để tính lịch (Bảng trang bên)

Những ngày được coi là Đoi vào hay ngậm Doi là ngày chứa

thòi điểm Mặt Trăng vượt sao Tua rua Mặt Trăng dịch chuyển một vòng trên tinh cầu hết 27,321661 ngày gọi là tháng Sao, đây cũng chính là khoảng thòi gian trung bình giữa hai làn liên tiếp Mặt Trăng đi vào sao Đoi Cũng trong thòi gian này, Trái Đất đã chuyển động được một phần trên quỹ đạo của nó quanh

Trang 31

Mặt Tròi, nên để trỏ lại điểm Giao hội Mặt Trăng phải tiếp tục vận động thêm một đoạn nữa Thòi gian trung bình của hai lần Mặt Trăng đi vào điểm Giao hội là 29,530588 ngày, dài hơn tháng sao 2,208927 ngày Trên tất cả các bộ lịch tre chúng tôi đã khảo sát ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và trong dân bản,

đều ghi thống nhất ngày Lồng 4 tháng Chiêng là ngày Đoi vào (ngoại lệ có lịch tre của Mãn Dức ghi ngày Lồng 5), cồn các ngày

Đoi vào khác mỗi lịch ghi một cách Trong đó bộ lịch Mưòng, sưu tầm ỏ Tân Lạc mang ký hiệu kho số 35.96-31-13 chỉ ghi ngày Đoi vào duy nhất vào ngày Lồng 4 tháng Chiêng Từ đó cho

phép chúng ta suy luận, ngày Lồng 4 tháng Chiêng chứa hiện

tượng thiên văn quan trọng liên quan đến lịch pháp Mưòng.Chúng tôi cho ràng ngưòi Mưòng cổ xưa đã sử dụng sao Đoi

làm công cụ trung gian để ghép hai yếu tổ âm - dương trong lịch Tre Họ lấy ngày Lồng 4 tháng Chiêng (ngày 15 tháng 10) làm mốc cố định để theo dõi Đoi vào Bỏi lẽ, thòi điểm này

Trăng tròn thuận lợi cho việc quan trác hơn các ngày khác trong tháng Có một điều rất lý thú là trong 19 năm (tức là một Chương của âm dương lịch Trung Hoa, hay một chu kỳ Meton) chứa xấp xỉ 254 lần Trăng trỏ lại sao Đoi:

13 lần Năm nhuận có 384 ngày chứa 14,055 lần vào Đoi, nghĩa

là 14 lần vào Đoi và dư 1 ngày 11 giò 55 phút 19 giây

Trang 32

Chồm sao Tua rua (Kim Ngưu - Taurus) chiếm một phần trên Hoàng đạo tù 60° đến 90° Hoàng kinh thuộc cung Song

Tử (Gemini) Đối diện vổi nó qua tâm là chòm sao Thần Nông (Scorpio) thuộc cung Nhân Mã (Sagittarius) từ 240° đến 270° Hoàng kinh, sỏ dĩ tên cung Hoàng đạo và tên các chòm sao không trùng khớp vổi nhau là do hiện tượng tuế sai tích tụ lại qua nhiều năm Khi Trăng vượt sao Đoi (Tua rua) vào thòi điểm Trăng tròn có nghĩa là thòi điểm đó Trái đất chuyển động trên quỹ đạo về phía chòm sao Kim Ngưu (Tua rua) Đó cũng

là thòi điểm Mặt tròi biểu kiến quét một cung từ 60° đến 90° Hoàng kinh, thuộc chòm sao Thần Nông (xem hình sau)

Như vậy, thòi gian Mặt tròi biểu kiến chuyển động trên cung 60° đến 90° chính là thòi gian từ tiết Tiểu tuyết đến Đông chí (tức khoảng thòi gian từ ngày 22 (hoặc 23) tháng 11 đến 21 hoặc 22 tháng 12 dương lịch) Khoảng thòi gian này sẽ chứa 1 ngày Trăng tròn (có những trường hờp chứa 2 ngày Trăng tròn),

đó chính là ngày chứa thòi điểm Trăng tròn vượt sao Đoi

Trang 33

Phải chăng xưa kia ngưòi ta đã theo dõi Doi vào ngày Lôồng

4 tháng Chiêng (15-10 hoặc 15-11 âm lịch) hàng năm, nếu năm nào vào ngày này Trăng còn cách xa sao Đoi và phải đến ngày

Lôồng 6 (túc ngày 17 tháng 10 âm lịch) mỏi vào Doi thì tháng

ấy sẽ là tháng nhuận và lấy tháng kế tiếp sau (chứa ngày ngày Lôồng 4 Trăng vượt sao Đoi) làm tháng Chiêng Phép đặt nhuận

ấy đạt được độ dài trung binh năm nhu âm lịch, nghĩa là cứ 19 năm 'có 7 năm nhuận (13 tháng), nhưng trật tự năm nhuận không trùng khỏp vỏi âm lịch Nếu ngày nay chúng ta muốn tính lịch Muòng theo phép cổ truyền này thì chỉ cần đối chiếu vỏi âm lịch theo nguyên tắc sau:

- Ngày Cây 1 lịch Mưòng (ngày đầu tháng) tương ứng với ngày mùng 2 âm lịch

- Định tháng đầu năm bằng cách xem trong khoảng từ tiết Tiểu tuyết đến tiết Đông chí chứa ngày Trăng tròn nào thì lấy tháng ấy làm tháng Chiêng lịch Mường (tức tháng đầu năm)

- Năm nào có 13 tháng thì lấy tháng cuối làm tháng nhuận

Tháng nhuận này, ngưòi Mưòng xưa gọi là tháng dư hay một

tên gọi khác, đó là câu hỏi vẫn chưa có lý giải, nhưng ngày nay những tháng nhuận (được xác định thông qua phép đối chiếu vỏi âm lịch) được trỏ lại đếm bàng thẻ tre của tháng kế trưổc cùng tên Chính vì sao Đoi có ý nghĩa thiên văn, lịch pháp quan trọng như vậy nên ngưòi Mưòng mới gọi lịch này là

Sách Doi Kết quả đối chiếu thử nghiệm, chúng tôi thấy, phần

lỏn tháng chứa hiện tượng vào Doi ỏ ngày Rằm (tháng Chiêng

lịch Mưòng) trùng vối tháng 10 hay tháng 11 âm lịch Do vậy, khi tính lịch bằng cách đối chiếu "ngày lui, tháng tiến so vỏi âm lịch thì nhiều vùng Mưòng lấy tháng 10 âm lịch làm đầu năm, một số vùng khác thì lấy tháng 11 âm lịch làm đàu năm Còn

Trang 34

có nơi lấy tháng 12 âm lịch làm đầu năm hoàn toàn không xuất phát từ hiện tượng thiên văn này mà có lẽ do yếu tố văn hoá địa phương nào đó quy định(?).

Cách định nhuận dựa vào các hiện tượng tự nhiên khả biến

cỏ tính quy luật này, chúng ta còn tìm thấy trong lịch Chaldée

và lịch Do Thái Các nhà làm lịch Chaldée cổ đại đã quan sát các chòm sao quanh đường Hoàng đạo, họ nhận thấy ràng, mổi tháng Mặt Tròi theo sau những chòm sao nhất định và đó là chòm sao đặc trưng của tháng ấy Tháng nào không thấy chòm sao đặc trưng đi truỏc, họ mỏi biết lịch đã lệch vỏi thòi tiết và tháng kế liền sau sẽ là tháng nhuận Trong lịch Do Thái, tháng đầu năm gọi là tháng Nisan có ngày lễ Thiên Thường dâng Thiên Chúa bông lúa mạch đầu mùa Nhưng đến ngày lễ của năm nào mà lúa mạch chưa chín có nghĩa lịch đã vượt trưỏc thòi tiết và Giáo hoàng quyết định tháng ấy là tháng nhuận Adar thuộc về năm trưốc.

Tóm lại, lịch pháp Mưòng cổ xưa có những đặc trưng cơ bản sau:

Là loại lịch âm dương, tính theo vận động thực của Mặt

Trăng và năm thời tiết.

Ngày bắt đầu từ thòi điểm trưóc bình minh và được chia làm 16 giỏ tính theo các hiện tượng tự nhiên.

Tháng tính theo tuần Trăng thực, lấy ngày Trăng non làm đầu tháng, cuối tháng là ngày Giao hội Trật tự tháng thiếu,

đủ trong năm không tính trước được, mà xác định cụ th ể ỏ từng tháng.

Tháng được chia làm 3 tuần: Cây, Lôòng và c ố i phản ánh chu kỳ chợ phiên cổ truyền.

Trang 35

Phép đặt tháng nhuận dựa vào chu kỳ Giao hội vái sao Doi

của Mặt Trăng.

Năm thường có 12 tháng và năm nhuận có 13 tháng.

rv PHÉP BẮT CHỪ ĐỐT CỦA NGƯÒI MƯỜNG

Đến nay ngưòi Mưòng còn lưu hành phép bắt chừ đốt để

tính ngày tốt, ngày xấu và ngày mùa vụ Họ sử dụng 3 ngón tay cùa bàn tay trái (ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn) để lập

sơ đồ tính Chín đốt ngón tay được chia thành 8 "cung", tức

là mỗi đốt một cung, trừ đốt giũa của ngón giữa, tạo thành

sơ đồ hình vuông, được tính theo thứ tự sau đây: cung 1 là đốt dưỏi của ngón giữa, cung 2 là đốt dưỏi của ngón trỏ, cung

3 là đốt giữa của ngón trỏ, cung 4 là đốt trên của ngón trỏ, cung 5 là đốt trên của ngón giữa, cung 6 là đốt trên của ngón nhẫn, cung 7 là đốt giữa của ngón nhẫn và cung cuối cùng

là đốt duổi của ngón nhẫn Tiếp đến, họ tiến hành phối hợp các thuộc tính thòi gian, không gian và các yếu tố khác trong cuộc sống

Cấu trúc sơ đồ bắt chù theo nguyên tắc cân đổi giữa các

cặp đơn, cặp đôi, cao-thấp, trong-ngoài, nam-nữ Cần bàn thêm

thuật ngữ Nam, Nữ ồ đây không đơn thuần chỉ giổi tính, mà

nó có ý nghĩa như là thuật ngữ "âm-dương" trong Dịch học, nghĩa là một cặp đối lập nhau như: trai-gái, đực-cái, tổi-sáng, cứng-mềm, tốt-xấu, tối-sáng Họ quan niệm, nửa vòng từ cung

Thưỏm ngàng đến cung Kim trong là nửa vào, từ cung Khoá hỏ

đến cung Cây tha là nửa ra Sự phối thuộc các yếu tố phương

vị rất đặc biệt, các cung không được phân bố đều theo các

phương vị mà họ quan niệm cung Thưóm ngàng thuộc phương Tây, cung Khoá hỏ thuộc phương Đông, ba cung Cây trong,

Trang 37

'CO (*)

Trang 38

Thưỏm trong và Kim trong thuộc phương Nam, ba cung còn lại

là Cây tha, Thưóm tha và Kim tha thuộc phương Bác Nhìn vào

bản so đồ bắt chừ chúng ta thấy sự kết họp chặt chẽ yếu tố thòi gian và không gian (Xem ỏ trang 265)

Cách xem ngày, giò:

- Bước 1: Xác định tháng: các tháng được phối hộp trong

các cung cố định Ngưòi ta xem tháng cần tìm thuộc cung nào

- Bước 2: Xác định ngày: từ cung chứa tháng đã tìm được,

đếm xuôi theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ cung kế tiếp được tính là ngày mồng 1

- Bước 3: xác định giò: biết ngày rồi, ta làm tương tự như cách xác định tháng Lấy cung kế tiếp làm giò đầu (Ca cáy)

đếm xuôi theo chiều kim đồng hồ đến giò đang cần tìm thuộc cung nào

Dược kết quả, ngưòi ta xem đặc tính của các ngày, giò

đó tốt hay xấu để quyết định tiến hành công việc Ngưòi

Mưòng tránh nhất những giò, ngày, tháng rơi vào cung Thưóm

ngàng là cung xấu nhất Dó là cung của quỷ thần, cho nên tháng

Chiêng là tháng kỵ, thưòng không làm việc lổn, ngoài việc cúng

tế của thầy Mo Chữ Thướm nói nên điềm máu, nên các việc

xuất hành, dụng vọ gả chồng, làm nhà tuyệt đói phải kiêng, nhưng lại thuận lợi cho việc đi săn bắn Những việc lón không

dừng lại được nếu rơi vào tháng Thưóm thì phải chọn ngày, giò là cung Cây Cung Thưóm trong xấu vỏi những việc ỏ trong nhà, Thưốm tha lại xấu vỏi những việc xuất hành, những việc được tiến hành ở ngoài nhà Cũng như cung Thưốm ngàng, cung Khoá hỏ là cung xấu cho tất cả mọi việc và cần phải

tránh Bốn cung đôi là những cung tốt, trong đó cung Cây

Trang 39

tốt nhất và cung Kim tốt vừa Cung Cây trong tốt nhất cho

nhũng việc trong nhà, chẳng hạn như cưỏi hỏi, làm nhà

Cung Cây tha tốt nhất vổi những việc ngoài gia đình như xuất

hành, đi buôn bán

Để luận giải ngày, giồ tốt, xấu ngưòi ta căn cứ vào đặc điểm của cung cụ thể mà ngày, giò đã lưu tại đó Nhìn chung, những tháng đôi là những tháng tốt, cạc tháng đơn là những tháng xấu, nhưng trong tháng tốt cũng có những ngày xấu, đó là ngày

Thưóm ngàng và Khoá hỏ và ngược lại trong những tháng xấu

cũng có những ngày tốt như ngày Cây tha và Cây trong Dân

mưòng Bi có câu tục ngữ chọn ngày:

Làm nhà Cây trong

Toọc moong (săn thú) Thưóm ngàng

Làm mùa, làm màng rặng Cây.

Do chưa nâng lên thành những nguyên tác chặt chẽ, cố định

và được lưu hành qua các văn bản thành văn, nên phép bát chù đốt được áp dụng một cách uyển chuyển thông qua việc luận giải của các thầy mo Mỗi thầy mo có một cách hiểu riêng của mình dẫn đến một hệ quả là cùng một việc nhưng mỗi thầy mo lại nhìn nhận ỏ một khía cạnh khác nhau Độ chính xác của sự việc, hiện tượng bao giò cũng là thưổc đo trĩnh độ "cao tay" của các thầy Mo

Trang 40

nhiên Thoạt nhìn tưởng như lịch Mưòng là một loại âm lịch chỉ tính theo sự vận hành của Mặt Trăng, song nó đã "khéo léo" lồng ghép yếu tố thòi tiết vào chu kỳ vận hành của sao Doi Dây chính là điểm đặc biệt nhất của lịch Mưòng mà ta không tìm thấy ở các hệ lịch pháp khác trên thế giối Xác lập

ra cách tính lịch, người Mưòng đâ có phương tiện để khám phá

ra những quy luật tự nhiên, cũng như công cụ để hoạch định mùa vụ trong canh tác nông nghiệp Tuy còri nhiều vấn đề tồn tại chưa giải quyết được, nhưng dù sao chăng nữa, lịch Mưòng còn lại cho đến ngày nay đã là một sự kỳ diệu, khẳng định bản sắc mạnh mẽ của dân tộc này

Tài liệu tham khảo

- Dại Nam nhất thống chí, NXB Khoa học xã hội.

- Hoàng Xuân Hãn - Lịch và Lịch Việt Nam, Tập san Khoa

học xã hội, Paris, số đặc san tháng 2-1982

- Lê Thành Lân - Lịch hai th ế kỷ và các lịch vĩnh cửu NXB

Thuận Hoá, Huế 1995

- Jeanne Cuisinier - Người Mưởng, NXB Lao động - 1995.

- Kiều Bá Mộc - Lịch mưòng Bi, một di sản văn hoá độc

đáo, trong sách Người Mường với văn hoá cổ truyền mưdng Bi

- Sỏ Văn hoá Thông tin Hà Sơn Bình 1988.

Ngày đăng: 08/07/2022, 15:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê các ký hiệu tháng trén lịch Mường thường thấy - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
Bảng th ống kê các ký hiệu tháng trén lịch Mường thường thấy (Trang 22)
Bảng cấu trúc lịch Mường Bi Chạp Chín § Lỗ - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
Bảng c ấu trúc lịch Mường Bi Chạp Chín § Lỗ (Trang 23)
Hình  1:  Vì kèo  tam  giác  ba  cột  của  ngưdi  Si  La  ỏ  Xeo  Hai - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 1: Vì kèo tam giác ba cột của ngưdi Si La ỏ Xeo Hai (Trang 42)
Hình 2:  Vì kèo ba cột, trốn  cột  giữa - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
Hình 2 Vì kèo ba cột, trốn cột giữa (Trang 43)
Hình  4:  Vì  kèo  ba  cột  -  trốn  cột  giữa  nỉiưng  có  thêm  một  cột  phụ  phía - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 4: Vì kèo ba cột - trốn cột giữa nỉiưng có thêm một cột phụ phía (Trang 44)
Hình  5:  V ì  kèo  hai  cột,  có  thêm  một  cột  phụ  phía  sau - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 5: V ì kèo hai cột, có thêm một cột phụ phía sau (Trang 44)
Hình  6:  Vì kèo  bốn cột - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 6: Vì kèo bốn cột (Trang 45)
Hình 8:  Vì  kèo  bốn  cột,  trốn cột trong  phía sau - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
Hình 8 Vì kèo bốn cột, trốn cột trong phía sau (Trang 46)
Hình  9:  Vì bốn  cột, trốn cả  hai  cột  trong nhưng có  thêm một  cột  phụ chính giữa. - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 9: Vì bốn cột, trốn cả hai cột trong nhưng có thêm một cột phụ chính giữa (Trang 46)
Hình  10:  Mặt bằng sinh hoạt  của  một  gia  đình người  Si La ò  bản  Xeo  Hai - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 10: Mặt bằng sinh hoạt của một gia đình người Si La ò bản Xeo Hai (Trang 49)
Hình  11.  Mặt  bằng  sinh hoạt  của  một gia  đình  ngưdi  Si  La  ò  bản Xeo  Hai - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 11. Mặt bằng sinh hoạt của một gia đình ngưdi Si La ò bản Xeo Hai (Trang 50)
Hình  12:  Mặt  bằng  sinh hoạt  của một gia đình ngưdi  Si  La - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 12: Mặt bằng sinh hoạt của một gia đình ngưdi Si La (Trang 51)
Hình  13:  Mặt  bằng  sinh  hoạt  của  gia  đình  ông  Hù  Chà  Toaỉy  80 tuổit - Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Tập 2): Phần 2
nh 13: Mặt bằng sinh hoạt của gia đình ông Hù Chà Toaỉy 80 tuổit (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w