Báo cáo “Giải mã biểu tượng hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc trong Hồng lâu mộng” được triển khai trên hai phương diện: mối quan hệ của hòn ngọc với nhân vật chính và nghệ thuật xây dựng hòn ngọc. Khi giải mã biểu tượng hòn ngọc dựa trên mối quan hệ của hòn ngọc với nhân vật chính, báo cáo chỉ ra được sự tương quan có thể giải thích giữa biểu tượng với sự ra đời, kết thúc, số phận, tính cách của nhân vật, khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa tác giả và văn hóa cộng đồng, đồng thời giải thích những lí do làm nên đặc điểm khác biệt của nhân vật chính trong tác phẩm, khẳng định tư tưởng mới mẻ của nhà văn trong việc xây dựng nhân vật.
Trang 1GIẢI MÃ BIỂU TƯỢNG HÒN NGỌC CỦA GIẢ BẢO NGỌC
TRONG HỒNG LÂU MỘNG
Trương Thanh Chúc, Lớp K62CLC, Khoa Ngữ văn
GVHD: PGS.TS Trần Lê Bảo
Tóm tắt: Báo cáo “Giải mã biểu tượng hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc trong Hồng lâu mộng” được
triển khai trên hai phương diện: mối quan hệ của hòn ngọc với nhân vật chính và nghệ thuật xây dựng hòn ngọc Khi giải mã biểu tượng hòn ngọc dựa trên mối quan hệ của hòn ngọc với nhân vật chính, báo cáo chỉ ra được sự tương quan có thể giải thích giữa biểu tượng với sự ra đời, kết thúc,
số phận, tính cách của nhân vật, khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa tác giả và văn hóa cộng đồng, đồng thời giải thích những lí do làm nên đặc điểm khác biệt của nhân vật chính trong tác phẩm, khẳng định tư tưởng mới mẻ của nhà văn trong việc xây dựng nhân vật Bên cạnh đó, báo cáo cũng
đi sâu vào việc xem xét biểu tượng ở các khía cạnh nghệ thuật như nghệ thuật khắc họa biểu tượng, vai trò của hòn ngọc đối với cốt truyện, xây dựng hòn ngọc trong không gian và thời gian nghệ thuật để từ đó góp tiếng nói đề cao giá trị của bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng cũng như tài sáng tác của tiểu thuyết gia
Từ khóa: biểu tượng, giải mã biểu tượng, Thông linh bảo ngọc, Giả Bảo Ngọc, Hồng lâu mộng, văn
hóa – văn học
I MỞ ĐẦU
Hồng lâu mộng là một trong những bộ tiểu thuyết có giá trị lớn nhất của văn học cổ điển Trung Quốc Một trong những thành công lớn của Hồng lâu mộng là khả năng phản
ánh bộ mặt xã hội Trung Hoa đương thời thông qua các biểu tượng văn hóa Nằm trong hệ
thống các biểu tượng của Hồng lâu mộng, hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc là một biểu tượng
quan trọng, phản ánh thế giới quan của tác giả trong cách xây dựng nhân vật và phản ánh văn hóa cộng đồng vào tác phẩm Với lí do chủ yếu như trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu và
khai thác hình ảnh hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc như một “mã văn hóa” dưới đề tài: “Giải
mã biểu tượng hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc trong Hồng lâu mộng”
Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là chỉ ra được cơ sở dẫn đến việc
hình thành biểu tượng hòn ngọc trong Hồng lâu mộng, giải thích được mối tương quan giữa hòn ngọc với nhân vật chính để làm rõ thêm giá trị nội dung và nghệ thuật của Hồng lâu mộng Từ đó rút ra vai trò của việc giải mã những biểu tượng văn hóa từ biểu tượng
văn học trong mỗi tác phẩm
II NỘI DUNG
Từ việc xác định mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Hòn ngọc – một “mã văn hóa”, một biểu tượng của Hồng lâu mộng
Trong chương đầu tiên, báo cáo trình bày khái quát về biểu tượng trong đó có khái niệm biểu tượng và ý nghĩa văn hóa của biểu tượng trong đời sống nhận thức của con người cũng như trong việc tìm hiểu một tác phẩm văn học
Trang 2Ngoài ra, chúng tôi nhấn mạnh vào vai trò của các biểu tượng đối với Hồng lâu mộng mà hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc là một biểu tượng tiêu biểu Hồng lâu mộng có cả
một hệ thống biểu tượng phong phú, song “Thông linh bảo ngọc” là biểu tượng quan trọng hơn cả Để tác giả có sự sáng tạo biểu tượng đó trong tác phẩm thì không thể không nhắc tới những yếu tố tiền đề về văn hóa, xã hội và cá nhân tác giả Việc hình thành biểu tượng
hòn ngọc trong Hồng lâu mộng là dựa trên tài năng của tiểu thuyết gia song cũng có cơ sở
nhất định
Chương 2: Biểu tượng hòn ngọc trong sự tương quan với nhân vật Giả Bảo Ngọc
Trong chương 2, chúng tôi tập trung làm rõ sự gắn bó giữa hòn ngọc với các khía cạnh đời sống cũng như tính cách của nhân vật Giả Bảo Ngọc Sự ra đời và kết thúc của Bảo Ngọc có liên quan đến hòn ngọc giải thích cho sự ảnh hưởng của tư tưởng Triết học cổ đại phương Đông, của tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo tới tác giả Hòn ngọc còn gắn bó chặt chẽ với cuộc đời, số phận của Giả Bảo Ngọc một cách kì lạ nhưng có thể giải thích được trên cơ sở văn hóa Không những thế, dựa trên những đặc điểm, tính chất của hòn ngọc, chúng tôi cũng đưa ra được lí do hình thành những nét tính cách đặc biệt khác thường của nhân vật Giả Bảo Ngọc
Thông qua những khía cạnh đó, chúng tôi rút ra nhận xét hòn ngọc là một biểu tượng lớn chi phối rất nhiều tới nhân vật chính Điều đó khẳng định thái độ tôn trọng của nhà văn đối với việc xây dựng hình tượng đồ vật trong tác phẩm Những giá trị nội hàm về văn hóa của tác phẩm có thể được chỉ ra thông qua việc giải mã biểu tượng
Chương 3: Biểu tượng hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc từ điểm nhìn nghệ thuật
Xác định được vai trò của chủ thể sáng tạo trong việc sáng tác một tác phẩm văn học,
chúng tôi đi vào việc chỉ ra nghệ thuật khắc họa biểu tượng hòn ngọc của tác giả Hồng lâu mộng, vai trò của hòn ngọc đối với sự vận động cốt truyện, vị trí của hòn ngọc trong thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật của Hồng lâu mộng Hòn ngọc của Giả Bảo
Ngọc không chỉ là một sáng tạo về nội dung mà còn là một sáng tạo nghệ thuật mang tính thẩm mĩ cao
III KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:
- Biểu tượng hòn ngọc trong Hồng lâu mộng (cũng như nhiều biểu tượng khác) nắm
giữ nhiều ý nghĩa về văn hóa cần được khai thác và khẳng định giá trị
- Giải mã biểu tượng hòn ngọc dưới góc độ liên ngành văn hóa – văn học giúp người nghiên cứu khám phá được nhiều khía cạnh khác nhau về nhân vật chính trong tác phẩm và thế giới quan của nhà văn khi sáng tác tác phẩm
- Đồng thời, xem xét việc xây dựng hòn ngọc của Giả Bảo Ngọc trên bình diện nghệ thuật cũng cho thấy tài năng sáng tạo của tác giả Tào Tuyết Cần và khẳng định tầm vóc của bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Trần Lê Bảo, Giải mã văn học từ mã văn hóa, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, 2011
[2] Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Phạm Vĩnh Cư dịch, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, 1997
Trang 3[3] Trần Xuân Đề, Tác giả, tác phẩm văn học phương Đông (Trung Quốc), NXB Giáo
dục, 2000
[4] Nguyễn Thị Diệu Linh, Thực – Hư trong Hồng lâu mộng, Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Văn học châu Á, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 2003
[5] Phạm Ninh (Chủ biên), Lịch sử văn học Trung Quốc – Quyển III, nhóm dịch Bùi
Hữu Hồng, Nguyễn Văn Thạc, Nguyễn Thúc Đính, Trương Chính, NXB Văn học,
Hà Nội, 1964
[6] Trương Khánh Thiện, Lưu Vĩnh Lương, Mạn đàm về Hồng lâu mộng, Nguyễn Phố
dịch NXB Thuận Hóa, Tp Hồ Chí Minh, 2002
[7] Lương Duy Thứ, Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội, 2000
Trang 4CHU VĂN AN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ, TRUYỀN THUYẾT
VÀ TÍN NGƯỠNG, PHONG TỤC, LỄ HỘI DÂN GIAN
Nguyễn Thế Hưng, Lớp K62CLC, Khoa Ngữ văn
GVHD: TS Nguyễn Việt Hùng
I MỞ ĐẦU
Chúng tôi lựa chọn đề tài “Chu Văn An từ lịch sử, truyền thuyết đến tín ngưỡng nghề dạy học ở Việt Nam” trước hết mong muốn tìm hiểu về cuộc đời ông một cách toàn diện
và thống nhất những điểm cốt lõi nhất dựa trên các tài liệu sử sách, truyền thuyết được truyền miệng về ông, từ đó hiểu thêm về đạo đức và nhân cách vô cùng cao cả của ông Việc tìm hiểu lại sử sách là việc cần thiết trong xã hội hiện nay
Việc tìm hiểu về thầy giáo Chu Văn An, ngoài nguồn văn liệu, thi liệu, sử liệu để lại, chúng tôi đã tới những nơi thờ tự thầy ở Văn Miếu (Hà Nội), quê ngoại thầy (Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội), mảnh đất gắn bó với ông vào những năm cuối đời (núi Phượng Hoàng, thị xã Chí Linh, Hải Dương) và mảnh đất gắn với truyền thuyết về người học trò đặc biệt của thầy (Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội)… với mong muốn tìm hiểu những phong tục,
lễ hội, tín ngưỡng dân gian, sinh hoạt văn hóa liên quan đến ông
Trong đề tài này, chúng tôi đặt ra những mục đích nghiên cứu như sau: Sưu tầm tư liệu để tổng hợp một cách toàn diện về con người Chu Văn An dưới góc độ lịch sử; nhìn nhận thầy Chu Văn An dưới góc nhìn truyền thuyết; mô tả tín ngưỡng, phong tục, lễ hội liên quan đến thầy Chu Văn An và xây dựng mối liên hệ giữa hình tượng thầy Chu Văn An giữa lịch sử, truyền thuyết và văn hóa dân gian
II NỘI DUNG
Từ việc xác định mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1: Chu Văn An trong lịch sử
Trong chương này, chúng tôi đã nhìn nhận Chu Văn An ở hai góc độ sau:
Một là, dưới góc độ lịch sử dân tộc, chúng tôi đã rút ra những nét cốt lõi bản chất
nhất về ông, một tấm lòng luôn hướng về phát triển sự học, phát triển giáo dục; một tấm lòng cương trực, trong sạch và cứng cỏi trước những gì đặt ra cho đất nước; bên cạnh đó ông còn là một bậc lương y tận tâm cứu người đẹp đạo, một nhà thơ luôn ưu thời mẫn thế, đau đáu trước thời đại biến suy Tất cả đã tạo nên một Chu Văn An muôn đời ngưỡng vọng
Hai là, dưới góc độ lịch sử nghề dạy học, trong sự đối sánh với các nhà giáo trước và
sau Chu Văn An, chúng tôi rút ra kết luận về tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của thầy giáo Chu Văn An đến sự phát triển của nền giáo dục nước nhà Những việc làm của thầy có ảnh hưởng lớn đến các nhà giáo khác ở giai đoạn sau này
Trang 5Chương 2: Chu Văn An trong truyền thuyết
Trong chương 2, chúng tôi đề cập đến những vấn đề sau:
Một là, dưới góc độ truyền thuyết, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tổng cộng 14
truyền thuyết về ông được ghi trong các tài liệu sưu tầm Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu thực tế những gì còn lại trong nhân dân vùng thờ ông Bằng cái nhìn đối chiếu với đặc trưng thể loại truyền thuyết nói chung, chúng tôi đã nhận ra những đặc điểm cơ bản nhất về nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết về Chu Văn An
Hai là, trên cơ sở hình tượng Chu Văn An được nhìn nhận toàn diện trong lịch sử và
truyền thuyết ở phần trước, chúng tôi xây dựng mối liên hệ hữu cơ giữa truyền thuyết và lịch sử về Chu Văn An để từ đó nhận thấy sự chuyển biến và tiếp nối trong tâm thức nhân dân về Chu Văn An
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xây dựng những nghi vấn chưa được giải quyết để mở
ra hướng nghiên cứu mới
Chương 3: Chu Văn An từ góc độ tín ngưỡng, phong tục, lễ hội dân gian
Trong chương 3, chúng tôi đã đề cập đến những vấn đề sau:
Một là, tổng hợp một cách có hệ thống chi tiết về các phong tục, lễ hội, tín ngưỡng
dân gian về Chu Văn An ở những địa điểm có tổ chức Đó là các địa điểm mà chúng tôi đi điền dã như: đền Chu Văn An (Chí Linh, Hải Dương), văn miếu Mao Điền (Cẩm Giàng, Hải Dương), đình Nội (Thanh Liệt, Hà Nội), miếu Thổ Kỳ (Thanh Liệt, Hà Nội), Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)
Hai là, rút ra mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội, phong tục, tín ngưỡng dân
gian trên cơ sở đối chiếu so sánh những điểm tương đồng và sự phát triển của hai loại hình này Trên cơ sở kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy một biểu hiện của đặc trưng nguyên hợp của văn học dân gian được thể hiện rõ trong thực tế đời sống nhân dân
III KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi rút ra những kết luận sau:
- Trên phương diện nghiên cứu lịch sử: Chu Văn An là một trong những nhà giáo
mẫu mực nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam Ông đã có nhiều cống hiến cho nền giáo
dục nước nhà
- Trên phương diện nghiên cứu văn hóa – văn học: Chu Văn An lần đầu tiên được
nghiên cứu trên góc độ truyền thuyết, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng dân gian Đó là những
di sản vô cùng quý báu của dân tộc, cần được gìn giữ, bảo tồn và phát triển mạnh mẽ
- Trên phương diện địa lí – xã hội: Tên tuổi của thầy giáo Chu Văn An gắn bó với cả
hai mảnh đất: quê ngoại Thanh Liệt và vùng đất ông sống những năm cuối đời là Chí Linh
- Trên phương diện chuyên ngành: Bài viết đã đem lại cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm
khi thực hiện nghiên cứu về văn học dân gian, nhất là văn học dân gian ở địa phương
- Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài: Chúng tôi đề xuất tiến hành nghiên cứu Chu Văn An
dưới góc độ du lịch tâm linh – hướng đi mới của ngành du lịch trong giai đoạn hiện nay
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Việt Hùng, Cẩm nang kiến thức Văn học dân gian trong nhà trường, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2012
[2] Nguyễn Việt Hùng, Bình giảng Truyền thuyết, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013
[3] Ban quản lí di tích Chí Linh, Chu Văn An với di tích Phượng Hoàng, NXB Thanh
Hóa, Tp Thanh Hóa, 2012
[4] Phạm Thị Loan, Nguyễn Thị Duệ - nhân vật lịch sử và truyền thuyết, Luận văn Thạc
sĩ, 2012
[5] Lê Thị Thuận, Ngô Tạo Long, Tập san Di sản Văn hóa 3 miền, số 1, 2014
[6] Huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội, Chu Văn An – Người thầy của muôn đời,
NXB Chính trị Quốc gia, 2012
[7] Đảng ủy và UBND xã Hoàng Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, Hoàng Liệt: Truyền thống và
hiện tại, NXB Chính trị Quốc gia, 1999
[8] Vũ Tuấn Sán, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 137, 1971
[9] Trần Lê Sáng, Cuộc đời và thơ văn Chu Văn An (Hoàng Trung Thông đề tựa), NXB
Hà Nội, 1981
[10] Trần Lê Sáng, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp: ba bậc thầy của nền
giáo dục Việt Nam, NXB Giáo dục, 1990
Trang 7THƠ XƯỚNG HỌA TRONG MẠN HỨNG THI TẬP CỦA PHƯƠNG ĐÌNH NGUYỄN VĂN SIÊU
Triệu Thu Duyên, Lớp K60A, Khoa Ngữ văn GVHD: TS Nguyễn Thị Thanh Chung
Tóm tắt: Thơ xướng hoạ dần trở thành nét đẹp trong văn học truyền thống Các giá trị của thơ ca
xướng hoạ truyền thống ấy vẫn được gìn giữ và phát huy cho đến nay Thơ xướng hoạ của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có nhiều giá trị, biểu hiện ở cả nội dung và nghệ thuật Với đề tài này, báo cáo tiến hành nghiên cứu thơ xướng hoạ từ mặt văn bản đến giá trị thơ Xuất phát từ việc nghiên cứu văn bản chữ Hán, kết hợp với những kiến thức về tác giả, thời kì văn học sẽ là nền tảng nghiên cứu, khám phá các giá trị thơ xướng hoạ của Phương Đình Đồng thời, qua việc nghiên cứu về thơ xướng hoạ cho ta thấy được chân dung tinh thần và tài năng thơ ca của Nguyễn Văn Siêu
Từ khoá: Thơ xướng hoạ, Nguyễn Văn Siêu, Mạn hứng tập
I MỞ ĐẦU
Nguyễn Văn Siêu là người có nhiều đóng góp lớn, không chỉ trong sự nghiệp văn học, mà những cống hiến của ông cho đất nước còn được người đời ghi nhận Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Siêu sáng tác đa dạng, phong phú ở nhiều thể loại, có nhiều công trình lớn, đồ sộ Việc nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp thơ ca của ông đã có rất nhiều
công trình lớn nhỏ Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu về Mạn hứng tập, nhất là về
thơ xướng họa trong tập thơ này Thơ xướng họa là một mảng thú vị để nghiên cứu, tìm
hiểu các giá trị cả về nội dung lẫn nghệ thuật thơ Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài
“Thơ xướng họa trong Mạn hứng tập của Phương Đình Nguyên Văn Siêu”
Trong đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là: Thơ xướng họa trong
Mạn hứng tập của Nguyễn Văn Siêu từ văn bản đến giá trị Mục đích nghiên cứu của đề tài là: khảo sát, nghiên cứu văn bản thơ xướng họa trong Mạn hứng tập, tìm hiểu các giá trị
thơ từ nội dung đến nghệ thuật biểu hiện
II NỘI DUNG
Từ việc xác định đối tượng và mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi tiến hành trển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 Khảo sát và giới thiệu thơ xướng họa trong Phương Đình Mạn hứng tập
1 Giới thiệu về thơ xướng họa
倡 xướng (đề ra) 和 họa (làm theo), 倡 和 xướng họa hiểu đơn giản là cùng nhau ứng
đáp Xướng họa là hình thức đối đáp xuất hiện sớm trong thơ ca, ban đầu chỉ là sáng tác
theo ngẫu hứng cá nhân, sau phát triển thành một dòng, một hiện tượng, một hình thức đối đáp tiêu biểu của Đường thi
1.1 Các thể thức họa thơ Đường luật
a Họa hạn vận: Là phải họa theo sự hạn định trước Người ra đề và cho vần nào thì
người họa lại phải dùng vần ấy Họa hạn vần không có bài xướng để dựa theo, khi họa cần đảm bảo các yêu cầu: Thứ nhất, diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn Thứ hai, sử dụng đúng
5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định
Trang 8b Họa phóng vận: Là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại, các vần trong bài
họa phải dựa theo y như các vần trong bài xướng, ý nghĩa có thể phụ theo hoặc cho rộng thêm hoặc trái hẳn đề (phản đề)
Họa phóng vận còn được chia thành:
- Họa nguyên vận: Là họa đúng 5 vần của bài xướng, hạ vần đúng theo thứ tự cách
hạ vần của bài xướng Trong cách họa nguyên vận, thường có bao hàm họa ý (hoặc đối ý)
và đối luật với bài xướng Nếu không đối luật được thì có thể họa luật
- Họa đảo vận: Là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên
- Họa hoán vận: Là thay đổi vị trí các vần của bài xướng tuỳ theo ý người họa, sắp
xếp lại sao cho vần điệu cho phù hợp
- Họa tá vận: Tá vận là mượn vần, họa tá vận là bài họa chỉ mượn 5 vần của bài
xướng để làm một bài khác mà nội dụng không liên quan đến bài xướng
1.2 Các yếu tố cơ bản trong thơ xướng họa
a Bài xướng: Có thể lựa chọn một bài thơ đã có sẵn từ thời trước, của các bậc tiền
nhân, hoặc chọn bài do người khác làm trước “thách đố” cho người khác đáp lại
b Bài họa: Bài đối đáp lại bài xướng Bài họa cần đảm bảo các yếu tố: Thứ nhất, họa vần (họa theo 5 vần, tức 5 tiếng cuối của các câu 1-2-4-6-8 của bài xướng, không được vì
bí từ mà sửa đổi, sai một vần trong đó, thì bài họa không thành công: Xuất Vận) Thứ hai,
bài xướng nói lên ý gì thì bài họa phải nói lên ý đó hoặc tán rộng thêm ý nghĩa (hoặc đối ý) Thứ ba, bài xướng gieo luật gì thì bài họa phải đối lại luật đó (trong thơ xướng họa có
hàm nghĩa đối đáp), bài xướng gieo luật bằng thì bài họa phải gieo luật trắc và ngược lại Tóm lại, thơ xướng họa thể hiện sự đối đáp ứng phó của người “xướng” thơ và người
“họa” thơ Họa thơ là “vẽ lại hình ảnh của bài xướng, tuỳ vào bài xướng người họa thơ mà chọn “cách vẽ” trung thực hay sáng tạo theo cá tính riêng của mỗi cá nhân Đây là những nét khái quát cơ bản nhất về thơ xướng họa Đường Luật, với các thể thơ khác, cách thức xướng họa có thể thay đổi, nhưng về cơ bản đảm bảo được những yếu tố trên
2 Về văn bản
Mạn hứng tập là tập thơ lớn của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, hiện có ở bản khắc
in và bản chép tay
2.1 Văn bản khắc in
Phương Đình Mạn hứng tập có một quyển khắc in, được in thành nhiều biệt tập,
vựng tập:
5 方 亭 漫 興 集 (Phương Đình Mạn hứng tập) VHv.236/1-4
6 方 亭 漫 興 集 (Phương Đình Mạn hứng tập) VHv.838/1-4
Trang 92.2 Văn bản viết tay
Ngoài bản khắc in, các bài thơ trong các tập thơ của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu
còn được ghi lại ở các bản viết tay: gồm các quyển 璧 垣 藻 鑑 (Bích viên tảo giám), 方 亭
雜 誌 類 (Phương Đình tạp chí loại), 方 亭 詩 集 (Phương Đình thi tập) Tuy nhiên, các bài thơ xướng họa trong Mạn hứng tập chỉ được viết lại trong 璧 垣 藻 鑑 (Bích viên tảo giám)
璧 垣 藻 鑑 (Bích viên tảo giám) một quyển, 79 trang Đặc điểm chi tiết của văn bản
này như sau:
8 Cách trình bày Không có khung trang, không kẻ cột
10 Trang đầu Có một dấu (hình elip) của thư viện Viễn Đông bác cổ,
một số kí hiệu (hình vuông) ghi năm của thư viện Rách
hai góc trên và dưới
12 Kích cỡ chữ Một trang mười cột, số chữ trong mỗi cột khoảng 30 đến
40 chữ
3 Khảo dị văn bản
Chúng tôi tiến hành khảo sát sự dị biệt câu chữ ở các văn bản Trong tổng số 29 bài thơ xướng họa, có 7 bài thơ được viết lại trong Bích viên tảo giám Từ việc so sánh giữa
bản khắc in và bản chép tay, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt giữa hai văn bản:
- Thứ nhất, khác nhau ở nhan đề bài thơ Cả 7 bài thơ đều có sự khác nhau ở nhan đề Nhan đề ở bản viết tay có lược bớt một số chữ, có chữ viết giản thể, chữ dị thể
- Thứ hai, trong bài thơ, chúng tôi thống kê được: số lượng chữ khác biệt trong bài thơ: nhiều nhất: 6 chữ khác biệt (1 bài); 5 chữ khác biệt (3 bài); 3 chữ khác biệt (2 bài), 1 chữ khác biệt (1 bài)
Trang 10Từ đó, chúng tôi đi đến kết luận và chọn thiện bản là bản khắc in Bên cạnh đó, bản viết tay là văn bản bổ sung cho bản cơ sở cả về chữ viết và nội dung ý nghĩa của các bài thơ
Chương 2: Giá trị thơ xướng họa trong Phương Đình Mạn hứng tập
1 Bức tranh thiên nhiên trong thơ xướng họa
Thiên nhiên vẫn luôn là cảm hứng của thi nhân Trong Mạn hứng tập, những bài thơ
xướng họa về thiên nhiên không nhiều, nhưng qua đó ta cũng thấy được vẻ đẹp con người tinh thần của nhà thơ qua một số bài thơ xướng họa tiêu biểu Thiên nhiên trong thơ xướng họa vẫn luôn mang tính ước lệ, tượng trưng của thi ca cổ Song hành với việc miêu tả thiên nhiên, các nhà thơ luôn khéo léo lồng ghép vào đó những nỗi niềm tâm sự của mình
2 Lời đối đáp tâm tình giữa những người bạn tâm giao
Nguyễn Văn Siêu giành nhiều trang thơ của mình để viết những lời tâm tình với bạn
bè Ông vốn là người có rất nhiều bạn Qua thơ xướng họa, người đọc thấy được sự chân thành của Nguyễn Văn Siêu trong tình bạn Báo cáo phân tích một số cặp bài thơ xướng họa tiêu biểu để thấy được nét đẹp ấy trong tâm hồn, phẩm chất, nhân cách của một con người tài năng, đức độ
Cách thức đối đáp thơ xướng họa vốn là điều kiện để những người bạn tri kỉ đối đáp, trò chuyện, luận bàn văn chương, thế sự Bản thân người làm thơ thường đối đáp lại những vần thơ mình yêu thích, hay vần thơ của những người bạn tâm giao, hay thể hiện tài năng, học vấn ở những cuộc thi thơ xướng họa Phương Đình Nguyễn Văn Siêu làm thơ họa tặng bạn bè, làm thơ đối đáp tâm tình của những người bạn thân thiết, có khi ông lại là người xướng thơ với những cảm xúc, suy tư của chính mình
Nguyễn Văn Siêu rất trân trọng tình bạn Ông làm thơ là để gửi gắm những tâm tư của mình với bạn bè, thơ xướng có bạn họa đáp lại quả niềm vui Đây là cách thức trao đổi tâm tình của những người tri kỉ, vốn “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”
3 Tâm sự của bậc trí thức yêu nước thể hiện trong thơ xướng họa của Mạn hứng thi tập
Một khía cạnh cao hơn của của tình bạn, đó chính là tấm lòng yêu nước, thương dân
“ái quốc, ưu dân”
Nguyễn Văn Siêu là bậc chân Nho mẫu mực Ông không chỉ được người đời biết đến bởi tài văn chương thơ phú, mà còn bởi những việc làm góp công, góp sức dựng xây đất nước Trên chốn quan trường, Nguyễn Văn Siêu luôn quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của người dân, đi sứ học hỏi kinh nghiệm của nước bạn để canh tân đất nước Khi đã cáo quan về quê, ông chọn cho mình công việc dạy học, đào tạo cho đất nước những con người tài đức
Là bậc trí thức yêu nước, Nguyễn Văn Siêu luôn trăn trở, lo lắng cho dân, cho nước Mỗi trăn trở, suy tư của mình ông đều gửi gắm vào thơ ca Qua việc phân tích một số bài thơ tiêu biểu, báo cáo đi đến việc khẳng định tấm lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn
Văn Siêu
4 Kết hợp đa dạng các thể thơ
Trong sự nghiệp thơ ca của mình, Nguyễn Văn Siêu không chỉ chọn cho mình những
đề tài phong phú mà hình thức thể hiện cũng rất đa dạng Thể thơ trong thơ xướng họa của Mạn hứng thi tập cũng rất đa dạng Theo thống kê, trong tổng số 29 bài thơ xướng họa: có