1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội của thủ đô viêng chăn nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào giai đoạn 1990 đến nay

153 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn - nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 1990 đến nay
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 768 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các công trình đó, các tác giả đã phân tích làm rõ tính hai mặtcủa FDI đề xuất các chính sách giải pháp thiết thực của nhà nước đối với việctận dụng FDI tác động đến phát triển kin

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) là một loại hình đầu tư phổ biếntrong giai đoạn hiện nay khi hầu hết các quốc gia trên thế giới mở cửa nềnkinh tế của mình và hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế Đối với các nướcđang phát triển, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế mà việc thu hút đầu tưnước ngoài trở thành nhân tố quan trọng cho sự phát triển Trong các nguồnđầu tư nước ngoài thì đầu tư trực tiếp (FDI ) Có vai trò và ý nghĩa quan trọnghàng đầu, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước đang phát triển nhằmđồng thời đạt 3 mục tiêu: Thu hút nguồn vốn tài chính cho phát triển kinh tế -

xã hội; thu hút công nghệ tiên tiến từ nước ngoài và thu hút kinh nghiệm quản

lý từ nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là động năng, có tác độngtích cực kích thích đối với đầu tư trong nước

Thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào là trung tâm chính trị - kinh

tế - văn hóa của cả nước Do đó yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải đẩymạnh thu hút FDI

Tuy vậy, nước CHDCND Lào nói chung và Thủ đô Viêng Chăn nóiriêng, còn ở trình độ phát triển rất thấp so với khu vực và thế giới Vì vậy,việc thu hút đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng là nhu cầu kháchquan và thiết yếu để đưa kinh tế phát triển nhanh và bền vững

Hơn 20 năm thực hiện đường lối đối mới, mở cửa nền kinh tế thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào Thủ đô Viêng Chăn đã đạt được thành tựu khá ấntượng song,so với tiềm năng và yêu cầu còn hết sức khiêm tốn Để góp phầnphân tích và đánh giá cũng như tìm kiếm giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnhhơnnữa FDI vào Thủ đô Viêng Chăn Với những kiến thức đã thu nhận được trongquá trình học tập tại khoa kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tôi lựa

Trang 2

chọn đề tài làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân kinh tế, chuyên ngành kinh tế

-chính trị: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế

- xã hội của Thủ đô Viêng Chăn - nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 1990 đến nay”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài trên phạm vi cả nước (CHDCND Lào)

đã có nhiều công trình nghiên cứu và được công bố như:

- Ban quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài “luật về phát triển và quản lý đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào”, 1994.

- Báo cáo về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Lào từ năm 1992 – 2010,

Bộ kế hoạch và đầu tư

Trong các công trình đó, các tác giả đã phân tích làm rõ tính hai mặtcủa FDI đề xuất các chính sách giải pháp thiết thực của nhà nước đối với việctận dụng FDI tác động đến phát triển kinh tế xã hội ở Lào nói chung và Thủ

đô Viêng Chăn nói riêng

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác của ViệtNam mà tác giả tham khảo để làm khoá luận:

- Lê Bộ Lĩnh: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Nxb KHXH H 2002.

- Vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài ở các nước Asean - kinh nghiệm đối với Việt Nam Trần Danh Tạo, Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kinh

tế - chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Hà Nội 1993

Khóa luận kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học về FDI để thựchiện đề tài khoá luận nhằm góp phần thúc đẩy việc thu hút và tận dụng FDICHDCND Lào nói chung và Thành Phố Viêng Chăn nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận

+ Mục đích của khóa luận:

Trên cơ sở phân tích vai trò, và việc thực hiện đầu tư trực tiếp nướcngoài tại Thủ đô Viêng Chăn trong thời gian qua, khoá luận góp phần nâng

Trang 3

cao nhận thức lý luận về thu hút FDI và tác động FDI đến sự phát triển kinh tế

xã hội, thông qua sự tác động của FDI

Khóa luận đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăngcường thu hút và tận dụng nguồn vốn FDI thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội,gia tăng nhân tố tác động tích cựu, hạn chế các nhân tố tác động tiêu cực

+ Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Đánh giá vai trò của FDI đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hộitại Thủ đô Viêng Chăn

- Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tác động đếnphát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Thủ đô trong thời gian qua và những vấn

đề đang đặt ra

- Từ những hạn chế, khoá luận đề xuất phương hướng, giải pháp nhằmnâng cao tính hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thủ đô trong thời giantới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

+ Đối tượng nghiên cứu:

- Khóa luận tập trung nghiên cứu về vai trò, những tác động tích cực vàtiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa bàn Thủ đô Viêng Chăn

+ Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề tác động của FDI tại Thủ đô Viêng Chăn từnăm 1990 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó coi trọng một số phương phápđặc trưng sau: phương pháp phân tích, tổng hợp và dùng chỉ tiêu thống kê đểđối chiếu so sánh việc tận dụng vốn FDI trong những năm qua

6 Những đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận

Trang 4

Từ cách tiếp cận về sự tác động FDI trên cả hai phương diện: tích cực

và tiêu cực trên địa bàn Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào, khoá luậnphân tích căn cứ và điều kiện để đẩy mạnh thu hút FDI theo quan điểm bềnvững

7 Kết cấu của khóa luận

Dự kiến, khóa luận sẽ có 3 chương (Ngoài phần mở đầu, kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo):

Chương 1 : Nhận thức chung về FDI và tác động của nó đối với phát triển kinh tế – xã hội của các nước đang phát triển

Chương 2 : Thực trạng tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn 1990 đến nay

Chương 3 : Phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI trong giai đoạn 2011 – 2015 của thủ đô Viêng Chăn

Trang 5

Chương 1 Nhận thức chung về FDI và tác động của nó đối với phát triển kinh tế -

xã hội của các nước đang phát triển 1.1.Nhận thức chung về FDI.

1.1.1 Khái niệm và bản chất của FDI (Foreign Direct Investment)

+ Khái niệm

Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (gọi

là FDI) là một trong những hình thức đầu tư nước ngoài Nó ra đời do yêu cầukhách quan của quá trình toàn cầu hoá kinh tế FDI là chuyển dịch vốn đầu tư

từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích thu được lợi nhuận cho cácchủ thể đầu tư nước ngoài, đồng thời góp phần đưa lại những lợi ích kinh tế,

xã hội nhất định đối với các nước tiếp nhận đầu tư

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tài chính quốc

tế như: IMF, WB, ADB… và nhiều công ty đa quốc gia của các nước pháttriển đang nắm giữ một lượng vốn rất lớn Vì vậy, họ luôn muốn chuyểnlượng vốn đó ra nước ngoài, tạo các luồng đầu tư trên thế giới Các nhà đầu tưthường tìm thấy lợi thế so sánh trong đầu tư quốc tế Khi nền kinh tế của cácnước tư bản phát triển mạnh, vốn tích luỹ nhiều, đầu tư trong nước khó khăm,cho nên họ chuyển lượng vốn đó ra nước ngoài đầu tư FDI là phương thức đểnhà đầu tư khai thác triệt để lợi thế so sánh, đồng thời góp phần thúc đẩy quátrình phát triển kinh tế - xã hội của các nước tiếp nhận đầu tư

Trong xu thế toàn cầu hóa, FDI ngày càng được mở rộng trên phạm vitoàn cầu Sự đầu tư đan xen lẫn nhau không chỉ dừng lại giữa các nước pháttriển và các nước chậm phát triển mà còn cả các nước chậm phát triển vớinhau

Hiện nay, có nhiều lý thuyết khác nhau, hoặc có những cách tiếp cậnkhác nhau về FDI

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài,nhưng theo tác giả thì khái niệm dưới đây là tương đối xác đáng

Trang 6

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) là hình thức đầu tư quốc tế mà người bỏ vốn đầu tư và người sử dụng vốn đầu tư đều là chủ thể Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ cho phép và trực tiếp tham gia điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh tương ứng với lượng vốn của mình đã bỏ ra đầu tư”.

Đầu tư nước ngoài có các loại hình đầu tư gồm:

 FDI (Đầu tư trực tiếp)

 FPI (Đầu tư gián tiếp)

 ODA (Hỗ trợ phát triển)

- Đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI (Foreign Portfolio Invstment).Khoản 3 điều 3 luật đầu tư quy định “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu

tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác mà nhà đầu

tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”

Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biêngiới Nó chỉ hoạt động mua tài sản tài chính của nước ngoài nhằm kiếm lời.Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào hoạt động quản lý vànghiệp vụ của doanh nghiệp

+ Bản chất FDI

Mục đích kinh tế hay nói cách khác là mục tiêu lợi nhuận được đặt lênhàng đầu Mục đích cuối cùng của FDI chính là lợi nhuận, khả năng sinh lợicao hơn khi sử dụng đồng vốn ở các nước bản địa

Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng chính là hình thức đầu tư không trở

thành nợ Đây là nguồn vốn có tính chất "bén rễ" ở các nước bản địa nên

không dễ rút đi trong thời gian ngắn

Ngoài ra, FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà đi kèm vớivốn là cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết kinh doanh và năng lực Marketing

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tiếng Anh là: (Foreign Direct

Investment - FDI ) là một hình thức đầu tư nước ngoài Sự ra đời phát triển

Trang 7

của nó là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế Cho tới nay, FDI đang là hoạt động rất phổ biến ở hầu hết các quốc

gia trên thế giới, song vẫn chưa có một khái niệm hoàn toàn thống nhất, màđược định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào các góc độ tiếpcận và nghiên cứu khác nhau Một khái niệm đều cố gắng khái quát hóa bảnchất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Để hiểu rõ hơn về bản chất của FDI, chúng ta xem xét một số khái niệm sauđây:

- Theo Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (2005):

“đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này”.

- Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI được định nghĩa là: “Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó”.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ): đó là nhà đầu tư nước ngoài (tổchức hoặc cá nhân) mang vốn đầu tư đến để trực tiếp tổ chức hoạt động sảnxuất kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi

- Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm:

“Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu

ít nhất 10% có quyền biểu quyết Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty” Tuy nhiên, không phải tất cả các

quốc gia đều sử dụng, mức 10% làm mốc xác định FDI Trong thực tế cónhững trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏhơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong

Trang 8

khi có nhiều trường hợp chủ đầu tư sở hữu hơn 10% tài sản của doanh nghiệpnhưng vẫn chỉ là những người đầu tư gián tiếp.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) là nguồn vốn đầu tư chủ yếu của tưnhân, một phần của Nhà nước đầu tư vào một quốc gia nào đó nhằm kiếm lợinhuận thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh ngay tại nước nhận đầu tư

Nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài gọi là: nước chủ nhà hoặc nướcnhận đầu tư (Host Country) và nước của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài gọilà: nước đầu tư (Home country)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) xảy ra khi một nhà đầu tư từ mộtnước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hútđầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là căn cứ đểphân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cảnhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinhdoanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công

ty mẹ” với “công ty con” hay “chi nhánh công ty”

Vốn viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance ODA) Đây là nguồn vốn viện trợ song phương hoặc đa phương với một tỷ lệ

-là viện trợ không hoàn lại, phần còn lại ưu đãi: lãi suất thấp, còn thời gian dàihay ngắn tùy thuộc vào từng dự án Đây cũng là nguồn vốn của Chính phủnước ngoài hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông các tổ chức quốc tế, tổ chứcliên Chính phủ, phi Chính phủ hoặc là nguồn ODA hỗn hợp bao gồm mộtphần của Chính phủ nước ngoài, một phần do các doanh nghiệp hoặc tổ chứcphi Chính phủ đóng góp Phần lớn ODA có kèm theo các điều kiện và cácgiày buộc do bên cho vay đưa ra

Như vậy, dù xét trên góc độ nào thì FDI cũng được nhìn nhận là mộtphương thức đầu tư phổ biến trong giai đoạn hợp tác phát triển kinh tế quốc tếhiện nay, là sự chuyển dịch tư bản quốc tế từ những nước có hiệu quả đầu tưthấp tới những nước có hiệu quả đầu tư cao Đồng thời, FDI cũng chính là

Trang 9

nhân tố tạo nên sự tăng trưởng bền vững và ổn định phát triển kinh tế đối vớimỗi một quốc gia cũng như trong phạm vi toàn cầu.

1.1.2.Vai trò của FDI đối với nước tiếp nhận

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai tròquan trọng trong nền kinh tấy các nước tiếp nhận Trước hết, FDI là nguồnvốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư xã hội và góp phần cải thiện cán cânthanh toán trong giai đoạn vừa qua Các nghiên cứu gần đây của Freeman(2000), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003), Nguyễn Mại (2004) đều rút ra nhậnđịnh chung rằng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọngvào GDP với tỷ trọng ngày càng tăng Khu vực này góp phần tăng cườngnăng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thôngthị trường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hànghóa), đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận laođộng Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ và các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trongnước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất Các dự án FDIcũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ củangười lao động làm việc trong các dự án FDI, tạo ra kênh truyền tác động tràntích cực hữu hiệu Phần dưới đây sẽ khái quát vai trò của FDI đến tổng thểnền kinh tế

FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triểnkinh tế - xã hội Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăngtrưởng kinh tế Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồnchủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước Vốn trong nước được hìnhthành thông qua tiết kiệm và đầu tư Vốn nước ngoài được hình thành thôngqua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI Với các nước nghèo

và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với phát triểnkinh tế Những quốc gia này luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn đầu tư, hoạtđộng sản xuất và đầu tư nội bộ ở những nước này như là một “vòng đói nghèo

Trang 10

luẩn quẩn” (theo Paul A Samuelson) Để phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy, các nướcnghèo và đang phát triển phải tạo ra “một cú huých lớn”, mà biện pháp hữuhiệu là tăng vốn cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tế

để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng So với những hình thứcđầu tư nước ngoài khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ưu điểm cơ bảnsau đây:

- FDI không để lại gánh nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư khácvới các hình thức đầu tư khác như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặccác hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành tráiphiếu ra nước ngoài đều để lại khảm nợ nước ngoài

- FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối

ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư

- Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước sở tại như đầu tư giántiếp Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực 1997

đã cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của khủng hoảng thường lànhững nước nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Nên FDI mang tính

ổn định hơn so với những khoản đầu tư khác

Tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóahiện đại hóa Phần lớn vốn FDI đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ,trong đó có những ngành chủ chốt như xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác chếbiến dầu khí, hóa chất và sản xuất thiết bị và hàng tiêu dùng FDI góp phầnlàm tăng tỉ trọng của những ngành này trong nền kinh tế đồng thời tạo điềukiện để hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.Khu vực có vốn FDI còn giúp hình thành các ngành công nghiệp và dịch vụhiện đại như điện tử, tin học, viễn thông, lắp ráp ô tô và xe máy, giúp chuyểngiao công nghệ và kĩ năng quản lí tiên tiến nâng cao hiệu quả và sức cạnhtranh của nền kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận theo nhiều phương diện:

Trang 11

chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu theo nguồnvốn, cơ cấu vốn đầu tư…

- Với sự phát triển mạnh mẽ, khoa học công nghệ đã tạo ra bước ngoặtcho sự phát triển của lực lượng sản xuất, nó nâng cao năng suất lao động,đồng thời tác động một cách sâu sắc đến mọi mặt của đời sống, khiến chophân công lao động ngày càng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế.Cùng với sự phát triển đó, nhu cầu chuyển giao công nghệ cũng gia tăng Nhờ

đó luồng FDI toàn cầu cũng gia tăng đối với các nước đang phát triển và cácnước chậm phát triển

- Nền kinh tế thế giới phát triển sẽ là động lực to lớn thúc đẩy luồngđầu tư quốc tế nói chung và luồng FDI nói riêng Trong những thập kỷ tới,theo dự báo, nền kinh tế thế giới sẽ bước vào giai đoạn phục hồi sau thời kỳkhủng hoảng vào những năm cuối của thế kỷ XX, đây là tín hiệu đáng mừngcho những nước đang phát triển, nơi đang là thị trường đầy tiềm năng cho thuhút FDI

- Trình độ phát triển của các quốc gia trên thế giới có thể nhận thấydòng vốn FDI giữa các quốc gia là rất đa dạng, đã xuất hiện những nước vừa

là nơi cung cấp những luồng vốn đầu tư vừa là địa chỉ tiếp nhận FDI

Trang 12

Trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 644 tỷ USD (2004) phầnlớn nhà đầu tư sẽ đầu tư vào các nước đang phát triển, các nước này có vốnđầu tư nước ngoài đến 166 tỷ USD, vì các nước này còn thiếu vốn và muốnphát triển đất nước của mình, vì vậy, nhà đầu tư sẽ có lợi thế và môi trườngđầu tư hợp lý, còn Đông á và Nam á đã tiếp nhận FDI 77 tỷ USD.

Trong giai đoạn 2 thập kỷ qua, FDI của thế giới tăng lên rất nhanh, sựgia tăng của FDI thế giới trung bình là 11%/năm, từ con số 59 tỷ USD củanăm 1982 tăng lên 644 tỷ USD năm 2004 Đồng thời tổng sản phẩm của thếgiới (GDP) tăng lên 3,5 lần Cho nên, sự phân chia đầu tư trực tiếp nướcngoài trong GDP thế giới tăng lên từ 0.5% năm 1982 thành 1.6% trong năm2004

Từ năm 2004 đến năm 2006, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã liêntục tăng Năm 2005, FDI trên thế giới đạt 916,3 tỷ USD, tăng 29% so với năm

2004 và năm 2006, đạt trên 1.200 tỷ USD, tăng 34,3% so với năm 2005

Thứ hai, Các chủ thể bên trong

- Vị trí địa lý là yếu tố quan trọng đầu tiên thuộc môi trường nước nhậnđầu tư cần được xem xét khi quyết định đầu tư Nếu như vị trí địa lý thuận lợicho việc giao lưu, vận chuyển hàng hóa sẽ giúp cho nhà đầu tư thực hiệnđược tốt hơn mục đích của mình, thì điều kiện tự nhiên không những ảnhhưởng trực tiếp đến các yếu tố đầu vào mà còn quyết định tính chất, chấtlượng của đầu ra

- Sự ổn định về môi trường chính trị, kinh tế, xã hội là một điều kiện tấtyếu để phát triển kinh tế Ngoài ra nó cũng ảnh hưởng rất quan trọng tới việcthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội ổnđịnh làm cho các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng và yên ổn sản xuất kinhdoanh Do đó, nước chủ nhà thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư

- Luật pháp và cơ chế chính sách là một yếu tố hết sức quan trọng ảnhhưởng đến khả năng đầu tư cũng như khả năng tiếp nhận đầu tư Hệ thốngluật pháp giúp cho các nhà đầu tư nắm bắt được các quy định về thuế, các

Trang 13

mức thuế, sự phân chia lợi nhuận cũng như tài sản và môi trường cạnh tranh.

Cơ chế chính sách phản ánh khả năng sinh lợi của vốn đầu tư, cũng như đảmbảo an toàn cho sự sinh lợi của đồng vốn Thủ tục hành chính bao gồm tất cảnhững thủ tục cơ bản để một nhà đầu tư được phép đầu tư ở một nước, thủ tụchành chính rườm rà sẽ làm hạn chế mọi ưu thế về môi trường đầu tư của nướcnhận đầu tư Vì vậy nó cần được quan tâm điều chỉnh cho phù hợp trong tìnhhình mới nhằm thu hút FDI

- Nguồn lao động dồi dào, năng động, chi phí nhân công rẻ cũng là mộtnhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI

- Kết cấu hạ tầng không những phản ánh được trình độ phát triển củamột quốc gia, mà còn tạo ra bộ mặt của đất nước và môi trường cho hoạt độngđầu tư

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng là một yếu tố rất quan trọng và ảnhhưởng rất nhiều đối với việc thu hút và thực hiện FDI

+ Các hình thức cơ bản của FDI mà nhà đầu tư thực hiện trong giai

đoạn hiện nay là gồm những hình thức sau đây:

* Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là bằng văn bản ký kết giữa hai bên hoặc

là nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở nước chủ nhà đầu tư, trong đóquy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên mà không thànhlập Pháp nhân mới

* Doanh nghiệp liên doanh.

Doanh nghiệp được thành lập tại nước nhận đầu tư trên cơ sở hợp đồngliên doanh ký kết giữa hai bên hoặc là nhiều bên để tiến hành đầu tư,kinhdoanh Các bên liên doanh cùng nhau tham gia vào quá trình quản lý, điềuhành doanh nghiệp, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp theo tỷ lệgóp vốn của các bên liên doanh Theo quy định của Luật này, phần góp vốncủa bên nước ngoài không bị hạn chế ở mức cao nhất nhưng không được thấphơn 30% vốn pháp định của liên doanh Doanh nghiệp được thành lập dưới

Trang 14

hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn mang tư cách pháp nhân của nước chủnhà Thời gian đầu tư cho phép của hình thức này không quá 50 năm Trongtrường hợp đặc biệt, thời gian của dự án có thể kéo dài đến 70 năm Tuỳnhiên, tuy thuộc quy mô và lĩnh vực đầu tư mà Nhà nước có thể định về thờigian hoạt động của các dự án khác nhau.

*Doanh nghiệp 100% có vốn đầu tư nước ngoài FDI.

Hình thức này doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nướcngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp, toàn bộ vốn củamình, sau đó nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về những kết quảsản xuất kinh doanh Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công tytrách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo Pháp luật của nước chủ nhà,được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư Trong đóvốn pháp định của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư Trongtrường hợp đặc biệt có thể bằng 20% vốn đầu tư,trong quá trình hoạt động của

dự án Chủ đầu tư nước ngoài không được phép giảm vốn pháp định, đồngthời muốn tăng vốn cũng phải xin phép với nước chủ nhà

Ngoài các hình thức nêu trên, FDI còn có các hình thức đầu tư đặc thùkhác như:

- Hình thức xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT).

Đây là các văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vớinhà đầu tư nước ngoài để xây dựng , kinh doanh các công trình kết cấu hạtầng trong một thời gian nhất định Hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài đượcchuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủ nhà

- Hình thức xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO).

Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước chủnhà với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng.Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển giao công trình

đó cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư về quyền

Trang 15

kinh doanh công trình đó trong thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư vàlợi nhuận hợp lý.

- Hình thức Xây dựng - Chuyển giao (BT).

Là các văn bản ký kết giữa Nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà

và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sau khixây dựng hoàn thiện nhà đầu tư có thể chuyển giao công trình đó cho nướcchủ nhà

-Hình thức khu chế xuất.

Là hình thức xây dựng một khu vực lãnh thổ, được nhà nước quyhoạch riêng nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến hoạtđộng để chế biến hàng công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu…

1.2 Tác động của FDI đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển

1.2.1 Tác động tích cực.

Thứ nhất, Tác động đến tăng trưởng kinh tế

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi FDI như là mộtcông cụ hữu hiệu nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tếcho quốc gia của mình, đặc biệt là đối với các nước đang và kém phát triển ởcác nước này, vấn đề đầu tiên mà họ gặp phải bao giờ cũng là vấn đề vốn đầu

tư và trình độ khoa học kỹ thuật

Từ những năm 1950, các nhà kinh tế của Liên hợp quốc đã nhận định:với sự thiếu hụt về vốn là một hạn chế chủ yếu của tăng trưởng kinh tế ở cácnước kém phát triển Tuy nhiên việc tích lũy nội bộ trong nước không đủ đemlại nguồn vốn cần thiết cho quá trình phát triển, mà có sự hỗ trợ từ bên ngoài.Thực chất của việc làm này thực hiện “ đi tắt đón đầu”, tận dụng các khoa học

kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm tổ chức, quản lý… mà thế giới

đã tạo ra trước đó vào nước mình, thay vì họ phải tốn rất nhiều chi phí, côngsức và tiền của bỏ ra để nghiên cứu, chế tạo mới Trong đó FDI có ưu thế nội

Trang 16

bật hơn hẳn các nguồn vốn đầu tư của các nước, nên nó được chọn làm bànđạp chủ yếu tác động đến phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tăng trưởng kinh tế.

Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia tiếp nhậnđầu tư phụ thuộc rất nhiều vào những đặc tính của từng quốc gia đó Bên cạnh

đó, mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quantrọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại tăng trưởng kinh tế làmột nhân tố quan trọng để thu hút vốn FDI của các quốc gia đang phát triển

Do đó việc thu hút FDI của mối quốc gia đang phát triển là nhằm mụctiêu tăng cung về vốn và chuyển giao khoa học công nghệ… cho các doanhnghiệp trong nước, để tạo ra những quy mô sản phẩm của nền kinh tế chotừng thời kỳ Trong đó phải kích thích cho tăng đầu tư xã hội, tăng thu nhậpquốc dân, tăng kim ngạch xuất khẩu đó là điều kiện sẽ tác động đến tăngtrưởng kinh tế, trong đó:

- Tác động gián tiếp (còn gọi là tác động tràn), FDI tác động tới cácdoanh nghiệp trong nước qua bốn kênh chính: Tạo sức ép cạnh tranh trên thịtrường, từ đó buộc các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới côngnghệ; lưu chuyển lao động từ doanh nghiệp FDI đến các doanh nghiệp trongnước; chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; liên kết giữadoanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước để sản xuất sản phẩm Tuynhiên, việc tác động có các mức độ rất khác nhau và tùy thuộc từng loại hìnhdoanh nghiệp

- Những tác động trực tiếp lớn nhất của dòng vốn FDI đến tăng trưởngkinh tế là làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công

ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách nhà nước và ổn địnhkinh tế vĩ mô, tác động đến việc di chuyển lao động và chuyển giao côngnghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

Thứ hai, Nâng cao thu nhập

Trang 17

Trong phạm vi thế giới đầu tư quốc tế là sự quốc tế hóa tư bản, là quốc

tế hóa quan hệ giữa tư bản và lao động, là quốc tế hóa sản xuất giá trị thặng

dư Với các nước đang phát triển tác dụng của FDI chủ yếu là tăng thêm tíchlũy và bù đắp vào lỗ hổng ngân sách và dự trữ nhà nước Do tỷ lệ tư bản đầu

tư trong nước thấp đến thu ngân sách trong nước cũng thấp hoặc thâm hụt.Muốn đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đó, tăng thêm thu nhập quốc gia, nhànước phải có những biện pháp có chủ trương, chính sách để huy động nguồnvốn từ bên ngoài, tạo mọi điều kiện để thu hút được vốn trợ giúp ODA cả vốnđầu tư FDI vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vì nó là nguồn vốn quantrọng tác động đến gia tăng thu nhập kinh tế quốc dân

Sự hoạt động của FDI trên phạm vi toàn cầu đã mang lại nhiều lợi íchcho nền kinh tế của mỗi quốc gia và toàn thế giới đặc biệt đối với các nướcđang phát triển, thông qua hoạt động của doanh nghiệp FDI làm tác động chothu nhập của các quốc gia tăng lên do sự đóng góp từ thuế thu nhập, thuế xuấtnhập khẩu các mặt hàng… của doanh nghiệp này, hơn nữa cũng tác động đếnthu nhập cho nhân dân lao động được tăng lên

Nhìn vào nền kinh tế của một số nước ASEAN và các nước NIES Châu

á có thể thấy hoạt động của FDI đã tác động góp phần rất lớn làm tăng thêmthu nhập cho một số quốc gia, vùng lãnh thổ: Hồng Kông, Xingapo, ĐàiLoan, Hàn Quốc Thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia này làkhẳng định được mức độ phát triển kinh tế - xã hội, cũng như tổng thể ngànhcông nghiệp của một nước

Thứ ba, Tạo ra việc làm mới cho nước nhận FDI

Vốn FDI là lực lượng vốn quan trọng trong tạo việc làm trực tiếp vàgián tiếp Đây là một tất yếu phổ biến của doanh nghiệp FDI, bởi vì tranh thủlao động rẻ là một trong những mục tiêu chiến lược của họ Theo UNCTĐông Âu ước tính FDI đã tạo được việc làm cho khoảng 45 triệu lao động vàogiữa những năm 1970 ở các nước có Công ty mẹ và công ty chi nhánh; đếngiữa những năm 1980 đạt gần 650 triệu lao động và đến những năm đầu của

Trang 18

thập kỷ 1990 con số này tăng lên 70 triệu lao động Điều này cũng đã đượcchỉ ra trong nhiều tài liệu, đặc biệt là trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới(WB).

Nhìn chung FDI thường tạo việc làm ở các ngành công nghiệp và dịch

vụ hơn là trong nông nghiệp và các ngành khác Tỷ lệ lao động trong cácngành công nghiệp chiếm khoảng 4/5 tổng số lao động được FDI tạo ra.Nhiều việc làm còn được tạo ra một cách gián tiếp thông qua các hoạt độngliên kết kinh tế, cung cấp dịch vụ cho các công ty nội địa Theo Báo cáo Đầu

tư Thế giới năm 1994: đầu những năm 1990, nếu tính cả số việc làm được tạo

ra một cách trực tiếp và gián tiếp thì ước tính FDI đã tạo việc làm cho khoảng

150 triệu lao động, chiếm khoảng 3% lực lượng lao động thế giới; trong đótạo việc làm trực tiếp cho 73 triệu lao động, tương đương với 10% tổng sốviệc làm trong sản xuất phi nông nghiệp hiện có Và có gần 60 % nhân viênlàm việc ở công ty mẹ, còn 40% là làm việc ở các tổ chức khác nhau ở nướcngoài Hơn một nửa số việc làm ở nước ngoài là của các nước phát triển, còn47% là ở các nước đang phát triển Đây là đội ngũ lao động quan trọng đểphát triển nguồn lực lao động cho nền kinh tế thế giới, nhất là các nước đangphát triển

Vào đầu những năm 1980, cứ 1 tỷ USD với tính cách là vốn đầu tưnước ngoài đảm bảo cho gần 30.000 chỗ làm việc ở các nước đang phát triển

và gần 11.000 chỗ làm việc tại các nước công nghiệp phát triển Tầm quantrọng của FDI đối với việc làm luôn gắn với động thái dòng vốn FDI trên thếgiới Sự tác động này của FDI ở các nước đang phát triển đã góp phần cảithiện bức tranh lao động và việc làm ở khu vực này Đối với các nước đangphát triển, đầu tư trực tiếp của FDI tạo ra những công ty, nhà máy, cơ sở sảnxuất mới, tăng thêm cơ hội việc làm cho người lao động Vấn đề đặt ra đốivới nước tiếp nhận FDI là phải làm sao tiếp nhận được kỹ thuật - công nghệmới, đồng thời lại giải quyết được việc làm cho người lao động Đối với nướcđầu tư, một trong những động cơ chủ yếu khi tiến hành đầu tư trực tiếp vào

Trang 19

các nước đang phát triển là tìm kiếm nguồn lao động rẻ, nâng cao sức cạnhtranh của hàng hóa do Công ty sản xuất Còn đối với nước tiếp nhận thì phảilàm sao tiếp nhận được kỹ thuật - công nghệ mới, hiện đại hóa nền kinh tế vàgiải quyết việc làm Do vậy, để giải quyết việc làm, nưíc đầu tư thường hướngđầu tư nước ngoài vào những ngành cần nhiều nhân công như: ngành dệt, chếbiến nông sản, thủ công mỹ nghệ.

FDI tác động đến phát triển nguồn lực lao động theo hai cách trực tiếp

và gián tiếp Trực tiếp là thông qua các dự án đầu tư,đào tạo lực lượng laođộng địa phương để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của dự án Cách gián tiếp

là tạo ra các cơ hội (thông qua các liên kết kinh tế, cung cấp dịch vụ ), độnglực (cạnh tranh) cho sự phát triển của lực lượng lao động nhằm mang lại thunhập cao ở các nước đang phát triển, các tác động này có vai trò rất lớn đốivới phát triển nguồn lực lao động, đặc biệt là đội ngũ lao động có trình độchuyên môn, kỹ thuật và quản lý

Thứ tư, Phát triển ngoại thương

Một trong những vai trò nổi bật của FDI thúc đẩy thương mại quốc tếphát triển, là tổng giá trị thương mại của các chi nhánh doanh nghiệp FDI ởnước ngoài đều tăng lên; phần lớn sản phẩm của doanh nghiệp đã tập trungvào hàng chế tạo và hướng vào xuất khẩu Trong hơn một thập kỷ qua, giá trịthương mại của doanh nghiệp FDI ở khu vực Đông Nam á tăng lên nhanhchóng Bên cạnh đó, việc trao đổi giữa các chi nhánh trong nội bộở các nướcngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại củanhiều nước

Vai trò nổi bật của FDI trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế pháttriển có thể được minh họa qua các số liệu về hoạt động thương mại quốc tếnhư sau: giá trị thương mại toàn cầu tăng do tổng giá trị thương mại của FDIluôn tăng, chẳng hạn, tổng giá trị thương mại của các Công ty chi nhánh ởnước ngoài đã tăng bình quân 8% năm trong giai đoạn 1982 - 1994 Phần lớnsản phẩm của FDI tập trung vào hàng chế tạo và hướng vào xuất khẩu Trong

Trang 20

hơn thập kỷ qua, giá trị thương mại của các doanh nghiệp FDI ở khu vựcĐông Nam á tăng lên nhanh chóng Đến giữa những năm 1990, giá trị thươngmại của các doanh nghiệp này ở nước ngoài đã lớn hơn giá trị nhập khẩu củacác khu vực Nam á, Đông á và Đông Nam á.

Theo thống kê của Báo cáo Đầu tư Thế giới (World Investment ReportWIR)cho thấy, giá trị thương mại của các Công ty chi nhánh TNCs đã tăngnhanh ở các khu vực trên thế giới Trong đó, khu vực Nam á, Đông á và ĐôngNam á tăng lên rất nhanh, từ 193 tỷ USD năm 1982 lên tới 871 tỷ USD năm

1994 Mặt khác, và năm 1997 cho thấy, tổng giá trị thương mại thực hiện ởnước ngoài của FDI lớn nhất thế giới đã đạt tới 2.000 tỷ USD năm 1995, tăng26% so với năm 1993 Điều này nó lên rằng FDI đã đóng vai trò rất to lớn đốivới thúc đẩy thương mại thế giới phát triển

* Tăng khả năng xuất khẩu:

Vai trò thúc đẩy thương mại quốc tế của doanh nghiệp FDI được thểhiện thông qua tổng giá trị xuất khẩu và doanh thu của các Công ty chi nhánh

ở nước ngoài cũng như tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ nước đầu

tư Xét theo những tiêu chí này, Báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR) năm 2005cho thấy tổng giá trị xuất khẩu của FDI ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng từ

730 tỷ USD năm 1982 lên tới 1.498 ỷ USD năm 1990, đến năm 2003 và 2004con số này đã tăng tương ứng lên tới 3.073 tỷ USD và 3.690 tỷ USD Nhưvậy, từ năm 1982 đến năm 2004, tổng giá trị xuất khẩu từ các Công ty chinhánh FDI ở nước ngoài đã tăng lên 500% Cùng lúc đó, tổng giá trị xuấtkhẩu hàng hóa và dịch vụ vô hình cũng tăng tương ứng từ 3.247 tỷ USD năm

1982 lên tới 11.069 tỷ USD năm 2004, tức là khoảng 500%

Trong những năm gần đây, với chiến lược đa quốc gia và tạo ra cácliên kết giữa thương mại và đầu tư, các công ty mẹ thường xuyên chuyển giaotrực tiếp các công nghệ, nguyên liệu và dịch vụ cho các chi nhánh của mình ởcác nước khác Việc mở rộng và phát triển chi nhánh của nhà đầu tư trực tiếp

Trang 21

nước ngoài đã góp phần to lớn đối với thúc đẩy xuất khẩu của các nước đangphát triển.

1.2.2 Tác động tiêu cực

Dù hoạt động của FDI đạt được những kết quả to lớn nêu trên Nhưnghoạt động của FDI cũng đem đến không ít những tác động tiêu cực đối vớikinh tế - xã hội của các quốc gia như:

- Sự mất cân đối về ngành nghề,vùng lãnh thổ: Mục đích cao nhất củacác nhà đầu tư là nhằm kiếm được lợi nhuận cao Do đó những lĩnh vực,ngành, dự án nào sẽ có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quantâm, còn những lĩnh vực, dự án mặc dù có vai trò rất cần thiết cho dân sinh,nhưng không đem lợi nhuận thỏa đáng thì nhà đầu tư sẽ ít quan tâm đến Mặtkhác, các nhà đầu tư nước ngoài trong khi họ lựa chọn địa điểm để triển khai

dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế

- xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển,cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án đầu tư nướcngoài nhất Trong khi đó, các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi cần thiếtđược đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyềnđịa phương có rất nhiều ưu đãi nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm

Tình trạng đó đã dẫn đến một nghịch lý là: những địa phương có trình

độ phát triển cao thì thu hút được đầu tư nhiều, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.Trong khi đó những vùng có trình độ kinh tế kém phát triển thì có ít dự án đầu

tư nước ngoài và tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài gây ảnh hưởng công nghiệp truyềnthống, do doanh nghiệp của FDI được chiếm lĩnh thị trường trong nước khiếncho các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh và phụ thuộc với các doanhnghiệp to Đồng thời doanh nghiệp nội địa cũng bị đe dọa từ công ty nướcngoài, có thể làm phá sản hoặc làm thủ tiêu các doanh nhân nhỏ nội địa vì họkhông đủ sức cạnh tranh về quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 22

- Mặc dù Lào là nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhưng dothiếu vốn và công nghệ nên phải kêu gọi đầu tư nước ngoài vào khai thác Do

đó, tài nguyên thiên nhiên đang đứng trước nguy cơ bị khai thác cạn kiệt vàgây ô nhiễm môi trường sinh thái

- Nhà đầu tư lợi dụng trình độ công nghệ và quản lý yếu kém của Lào,một số nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng con đường FDI để chuyển giaonhững công nghệ, máy móc, thiết bị lạc hậu vào Lào

- Nguồn vốn FDI do các chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và sửdụng theo các mục tiêu kinh doanh của họ, cho nên họ thường đầu tư vào cácngành, các lĩnh vực, các khu vực có hiệu quả kinh tế cao, do đó nhiều khikhông trùng hợp với mong muốn của nước nhận đầu tư như Lào

- Mặc dù FDI bổ sung nguồn vốn cho Lào, nhưng về lâu dài làm giảm

tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa Tác động này xuất phát từ quyền lực thịtrường của các công ty đa quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao và chuyển ra nướcngoài Bằng các phương pháp cạnh tranh khác nhau, các công ty xuyên quốcgia có thể làm phá sản các doanh nghiệp trong nước và làm cho một số ngànhsản xuất truyền thống không thể phát triển được

1.3 Bài học kinh nghiệm Việt Nam và thành Phố của Việt Nam

1.3.1 Thủ đô Hà Nội - Việt Nam

Sau khi Việt Nam ban hành Luật đầu tư nước ngoài từ năm 1987 đếnnay, khối lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung vàcác địa phương nói riêng, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội đã tăng lên nhanh chóng.Tính đến năm 2002 đã có 43 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đầu tư vào

Hà Nội, và tổng số có 530 dự án FDI có hiệu lực Nếu tính đến thời điểm20/5/2004, Hà Nội có 506 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng số đăng ký là7,676 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện là 3,6 tỷ USD Hà Nội có gần 500 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động và 950 văn phòng đại diệncủa các công ty nước ngoài, đã xây dựng và đưa vào vận hành 173 công trình

Trang 23

gồm 128 nhà máy, 7 khách sạn 5 sao, 12 khách sạn 4 sao, 26 khu căn hộ, vănphòng cho thuê đạt tiêu chuẩn quốc tế Dự kiến, đến 2010, thành phố sẽ cấpgiấy phép cho 960 dự án FDI, đưa tổng vốn đăng ký lên 15.813 tỷ USD, vốnthực hiện đạt 6 tỷ USD.

Bảng 01: Các nước hàng đầu đầu tư tại Thủ đô Hà Nội (1998 - 2003)

(Nguồn: FDI Transnationl Corporation Profesỏ: Francesco Abbate 2006).

Trong những năm qua, kinh tế của Việt Nam nói chung và Hà Nội nóiriêng có khả năng thu hút FDI vào tất cả các lĩnh vực kể cả công nghiệp nặnglực như: công nghiệp nặng chiếm 21%, công ty nhẹ chiếm 13% và côngnghiệp chế biến chiếm 6% của tổng số vốn FDI Trong đó Hà Nội chiếm26%, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 19% của tổng số vốn FDI cả nước (1998

- 2003)

B ng 02: Nh ng d án FDI ang th c hi n l n nh t t i H N iảng 02: Những dự án FDI đang thực hiện lớn nhất tại Hà Nội ững dự án FDI đang thực hiện lớn nhất tại Hà Nội ự án FDI đang thực hiện lớn nhất tại Hà Nội đang thực hiện lớn nhất tại Hà Nội ự án FDI đang thực hiện lớn nhất tại Hà Nội ện lớn nhất tại Hà Nội ớn nhất tại Hà Nội ất tại Hà Nội ại Hà Nội à Nội ội

đầu tư

Tổng vốn(1000USD)

1 Công ty TNHH phát triển khu phố mới

Nam Thăng Long

Singgapore 2.110.674

2 Hợp doanh Bưu chính viễn thông (BB) Nhật Bản 332.000.000

4 Hợp doanh thông tin di động Thụy Sĩ 324.600.000

5 Công ty liên doanh phát triển Bắc Thăng

Long

Thái Lan 236.000.000

6 Công ty TNHH đèn hình Orion - Hanel Hàn Quốc 178.584.000

9 Công ty liên doanh xây dựng cơ sở hạ tầng Hàn Quốc 152.000.000

10 Công ty TNHH Coralis Việt Nam Lúc xăm bua 114.581.000

Trang 24

(Nguồn: Bộ kế hoạch và Đầu tư)

+ Kinh nghiệm của Hà Nội

Kinh nghiệm thành công trong kinh tế của Việt Nam nói chung và Thủ

đô Hà Nội nói riêng cho thấy rằng:

- Cần thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của FDI trongnền kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và điều kiện riêng củatừng địa phương Trên cơ sở đó có các chủ trương, chính sách và giải quyết tổchức, thực hiện tập trung thống nhất, đồng bộ

- Mọi chính sách, chiến lược phải phù hợp với giai đoạn và tình hình cụthể của đất nước và thay đổi theo xu hướng cạnh tranh của thế giới Hơn nữachiến lược của chính phủ các nước nhận đầu tư phải xem xét và cẩn thận, nếukhông có thể mất lợi thế và có xu hướng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo ýmuốn của họ

- Không ngừng bổ sung, sửa đổi kịp thời các cơ chế, chính sách ưu đãi,giảm nhanh chi phí đầu tư và cải tiến mạnh mẽ các thủ tục hành chính nhằmtạo sự hợp dẫn cho các nhà đầu tư

- Tổ chức và thực hiện tốt công tác xúc tiến đầu tư với các hình thức đadạng như quảng cáo, tuyên truyền, chủ động kêu gọi các nhà đầu tư, tạo điềukiện cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm

Kinh nghiệm thành công trong kinh tế của một số nước cho thấy cần cóchính sách huy động vốn trong nước để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quảnguồn ODA cho các dự án, mở đường cho hoạt động xuất nhập khẩu và thuhút FDI sau này, trong đó vấn đề mang tính quyết định là tính chủ động củanước tiếp nhận vốn vay Việc sử dụng vốn ODA không đúng dễ dẫn đến phụthuộc vào nước cho vay không chỉ về kinh tế mà có khi cả về chính trị Điều

đó đòi hỏi phải tìm kiếm thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác ngoàiODA, và FDI đã là một trong những nguồn được ưu tiên lựa chọn

Trang 25

- Cần có chính sách huy động vốn trong nước để tiếp nhận và sử dụng

có hiệu quả nguồn ODA cho các dự án, mở đường cho hoạt động xuất nhậpkhẩu và thu hút FDI sau này, trong đó vấn đề mang tính quyết định là tính chủđộng của nước tiếp nhận vốn vay Việc sử dụng vốn ODA không đúng dễ dẫnđến phụ thuộc vào nước cho vay không chỉ về kinh tế mà có khi cả về chínhtrị Điều đó đòi hỏi phải tìm kiếm thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài khácngoài ODA, và FDI đã là một trong những nguồn được ưu tiên lựa chọn

- Chính sách quản lý FDI có hiệu quả trong khuôn khổ chính sách pháttriển kinh tế của đất nước đó là vấn đề cấp bách Việc mở rộng tự do thươngmại thì chưa đủ vì sự không đồng đều của thị trường Cho nên nước chủ nhàphải tạo điều kiện bình đẳng trong kinh doanh và thu hút vốn đầu tư để pháttriển kinh tế đất nước, vấn đề ở đây là phải đảm bảo lợi ích từ việc thu hútFDI Đồng thời tạo điều kiện phát triển công nghiệp

Tuy nhiên, việc điều tra của OECD (2002) cho thấy kinh nghiệm củacác nước đang phát triển và các nước phát triển, Việc thực hiện tốt nhất để thuhút FDI có 3 nguyên nhân như sau:

- Việc cải cách nền kinh tế vĩ mô

- Tạo điều kiện thuận lợi về Luật có thể giúp thu hút FDI nhiều hơn

- Tiếp tục nâng cao kết cấu hạ tầng, kỹ thuật và nâng cao trình độ củanguồn nhân lực để tham gia có hiệu quả trong dự án đầu tư của nước ngoài

Môi trường tốt của FDI là tạo điều kiện bình đẳng đối với nhà đầu tư,đồng thời điều kiện và môi trường sản xuất kinh doanh có sự cạnh tranh lànhmạnh trong nước

Trang 26

Chương 2 Thực trạng tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn 1990 đến nay

2.1 Một số nét về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn

2.1.1 Vị trí địa lý về đặc điểm kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn

+ Vị trí địa lý

Viêng Chăn lổ một thành phố có lịch sử hình thành lâu đời Thời kỳnước Lào Lạn Xạng (nước Triệu Voi), Viêng Chăn được gọi lổ Thủ đô củađất nước do ông vua Xây-Nha -Xết-Thả -Thị-Lát sáng lập vào năm 1560 từ

đó đến nay, nó luôn là Thủ đô, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hộicủa đất nước trong các giai đoạn khác nhau

Thủ đô Viêng Chăn nằm ở miền Trung của Lào, hiện có diện tích tổngcộng lổ 3.920km2, giáp với 2 tỉnh như: phía Bắc giáp tỉnh Viêng Chăn, phíaNam Đông giáp với tỉnh Bo-Li-Khăm-Xay, vổ phía Tây là sông Mê Kông,ranh giới tự nhiên phía Tây giữa CHDCND Lào với Thái Lan có chiều dổi170km Theo số liệu tổng điều tra năm 2010 của Ban kế hoạch Thủ đô ViêngChăn, hiện dân số Thủ đô Viêng Chăn là 820.561 người, trong đó nữ chiếm52% Mật độ dân số ở Thủ đô Viêng Chăn cao nhất nước: 188 người/1km2

Thủ đô Viêng Chăn gồm có 9 huyện, trong đó có 4 huyện nội thành,vùng ngoại thành có 5 huyện, tất cả 500 làng, trong đó số làng nông thônchiếm 37% Diện tích đất nông nghiệp 56.318ha, trong đó ruộng mùa75.995ha, rừng 123.320ha, đất xây dựng 27.440ha, đồng cỏ và núi đá138.852ha, suối và ao hồ 5.850ha, nhiếu sông ngòi thuận lợi để xây dựng thủylợi cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Đồng thời có nhiều thuận lợi về sảnxuất công nghiệp, thủ công, dịch vụ, là trung tâm văn hóa, du lịch… Cư dân ở

Trang 27

đây có kết cấu phức tạp, có một quá trình phát triển lịch sử không đều, lại rất

đa dạng về ngôn ngữ, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng,văn hóa, nghệ thuật, có nguyên quán ở hầu hết các tỉnh, thành cả nước vổnước ngoài

+ Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn

Thủ đô Viêng Chăn hình thành hai khu vực phát triển kinh tế: khu vựctrung tâm của Thủ đô Viêng Chăn có dân sinh sống đông đảo nhất, tốc độphát triển kinh tế - xã hội cao hơn các khu vực khác; khu vực ngoại ô dân cưthưa thớt, sinh sống rải rác, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội chậm hơn

Hiện nay, Thủ đô Viêng Chăn là vị trí chiến lược quan trọng của cảnước, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của cả nước, là cửa khẩuquốc tế Thủ đô Viêng Chăn là nơi đặt trụ sở của các cơ quan Đảng, Chínhphủ và nhiều cơ quan tổ chức quốc tế

Thủ đô Viêng Chăn có rất nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi cho

sự phát triển về mọi mặt như: có diện tích trồng trọt; có sông, suối và thủy lợikhá; có đường giao thông, cả đường bộ, đường thủy và đường không, cónhiều nhà máy; có các trường đại học, các bệnh viện từ cấp thấp đến cấp cao.Đặc biệt, Thủ đô Viêng Chăn luôn nhận đơược chỉ đạo, hỗ trợ trực tiếp củaTrung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các ban, ngành của Trung ương.Trình độ dân trí chung của Thủ đô cao hơn các tỉnh

Nhân dân Thủ đô Viêng Chăn có trình độ văn hóa khá, tín ngưỡng vànếp sống đa dạng, có truyền thống yêu nước, có tình đoàn kết giúp đỡ nhau.Thủ đô Viêng Chăn là nơi tập hợp các tầng lớp trí thức đông nhất nước, là nơitập hợp lực lượng sản xuất và các phương tiện máy móc kỹ thuật hiện đại Hệthống chính trị từng bước được kiện toàn Nền kinh tế thành phố được mởrộng phát triển bình đẳng giữa các thành phần trước pháp luật Đời sống vậtchất và tinh thần người dân thành phố được cải thiện tốt hơn

Bởi tầm quan trọng trong vị trí vai trò là Thủ đô của đất nước, Thủ đôViêng Chăn luôn nhận được chỉ đạo, hỗ trợ trực tiếp của Trung ương Đảng,

Trang 28

Chính phủ Bên cạnh đó, Thủ đô Viêng Chăn có những huyết mạch giaothông quan trọng: Quốc lộ 13 xuyên dọc Thành phố từ phía Bắc xuống phíaNam Thành phố; tuyến đường thủy từ phía Bắc Thành phố xuôi về tỉnh Bo LiKhăm Xay Đó là những điều kiện quan trọng để phát triển giao lưu kinh tếvới các tỉnh bạn và cả nước.

Phía Tây Thành phố được bao bọc bởi con sông lớn là sông Mê Kông

đã tạo nên địa thế thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Về cơ bản, Thủ đôViêng Chăn có 2 vùng địa hình: Đồng bằng và miền núi

- Vùng núi: Tập trung ở phía Bắc và phía Đông Thành phố, phân bố ởcác huyện Xăng Thoong, Nà Xài Thoong và Pạc Ngừm, gồm những dãy núicao từ 100 đến 150m chạy theo hướng Đông Bắc - Đông Nhiều khu vực đồinúi cùng với yếu tố khí hậu, danh lam thắng cảnh đã tạo nên tiềm năng du lịch

to lớn như Phù Phạ Năng

- Vùng đồng bằng: Đồng bằng Thủ đô Viêng Chăn to nhất cả nước, đấtđai được hình thành trên nền phù sa có địa hình bằng phẳng, có nhiều loại đấtvới quy mô diện tích đều, có điều kiện phát triển nông nghiệp, rất phù hợp vớicây trồng nông nghiệp Nói chung,vùng đồng bằng có điều kiện thuận lợi chodân cư sinh sống tập trung, phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông thuận lợi Đây

là vùng không chỉ có thế mạnh nông nghiệp mà còn thuận lợi hơn vùng núi vàcác vùng trên cả nước trong việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung

Năm 1994, cầu hữu nghị chính thức được khánh thành, nối giữa Thủ đôViêng Chăn với tỉnh Nỏng Khai vương quốc Thái Lan, mở ra một hướng Cácngành nghề có thế mạnh gồm: du lịch, công nghiệp là những lĩnh vực có thếmạnh của Thủ đô Viêng Chăn, những ngành nghề đặc biệt phát triển là côngnghiệp thực phẩm, dệt lụa, kéo sợi bông, đóng đồ gỗ, làm hàng thủ công mỹnghệ… Ngoài ra Thủ đô Viêng Chăn còn có danh lam thắng cảnh nổi tiếngthu hút khách du lịch trong và ngoài nước như: khải hoàn môn Pa Tu Xayđược xây dựng vào thập niên 60 của thế kỷ XX, chùa Thạt Luang xây dựngvào khoảng thế kỷ XVI

Trang 29

Hiện nay, Thủ đô Viêng Chăn triển khai dự án đầu tư 100% vốn so cáctỉnh trong nước đã xây dựng nhà máy chế biến xuất khẩu Đây là một dự ángóp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số vùng trong nước Với ưu thếtài nguyên khoáng sản phong phú, giá trị sản xuất công nghiệp của Thủ đôViêng Chăn không ngừng nâng cao đầu tư năm 2010 sản phẩm ra ngày càng

đa dạng : nhà máy Bia, xi măng, luyện thép, giấy, gạch xây dựng

Năm 1994 Chính phủ Lào đã công bố sử dụng luật về phát triển vàquản lý đầu tư nước ngoài: FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Làovốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành đầu tư theo quy địnhcủa luật này

2.1.2 Điều kiện thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút và tiếp nhận FDI

+ Những thuận lợi

Thủ đô Viêng Chăn là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung

tâm văn hóa, khoa học, giáo dục kinh tế và giao dịch quốc tế lớn nhất của cả

nước CHDCND Lào Thủ đô Viêng Chăn là nằm ở phía Tây bắc nướcCHDCND Lào trên một nhánh sông Mê Kông, tiếp giáp với 2 tỉnh: Bo LyKhăm Xay và tỉnh Viêng Chăn, đặc biệt Năm 1994, cầu hữu nghị chính thứcđược khánh thành, nối giữa Thủ đô Viêng Chăn với tỉnh Nỏng Khai vươngquốc Thái Lan rất thuận lợi cho việc giao dịch thương mại Thủ đô ViêngChăn có dân số là 820.561 người với 3 dân độc cùng chung sống, trong đódân tộc Lào Lùm đã chiếm đại đa số nhiều nhất 83%, dân số còn lại là dân tộcthiểu số chiếm 17% dân số: Lào Sủng, Lào Thâng

Trong những thời gian qua, Thủ đô Viêng Chăn luôn là địa phươngđứng đầu cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, về đóng góp ngân sách quốcgia hàng năm, cũng như về tiềm năng và thực tế huy động các nguồn vốn đầu

tư cho phát triển, nhất là nguồn vốn FDI

Trang 30

Để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI, Thủ đô Viêng Chăn

đã tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn với đầy đủ các tiềm năng và các điềukiện thuận lợi như:

- Việc thu hút FDI của Thủ đô Viêng chăn có thuận lợi cơ bản trongthời gian qua, công cuộc đổi mới của đất nước được tiến hành trong môitrường hòa bình ổn định, tạo tiền đề thời cơ thuận lợi cho việc tập trung sứclực và trí tuệ vào xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội Việc thực hiện đườnglối đối ngoại mở cửa và đặc biệt là việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tạiLào, với nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện dần, đó là môi trường đầu tưthuận lợi cho thu hút FDI của Thủ đô Viêng Chăn

- Viêng Chăn là Thủ đô của nước CHDCND Lào và trung tâm chính trịkinh tế - xã hội của cả nước Mức đô thị hóa phát triển nhanh, nên ViêngChăn là một cơ sở cung cấp lương thực, thực phẩm ổn định với chất lượngcao

- Viêng Chăn là trung tâm kinh tế đất nước, có sông MêKông, có sânbay quốc tế, nhiều xí nghiệp công nghiệp, nhiều cơ sở thương mại, tài chính,

du lịch, y tế, đào tạo khoa học… Có sự ảnh hưởng tích cực đối với sự pháttriển nội vùng, các vùng lân cận cũng như cả nước

- Là vùng trọng điểm kinh tế đất nước, hạ tầng kỹ thuật cũng như hạtầng xã hội sẽ được phát triển theo các nhu cầu đòi hỏi của vùng trọng điểm,Thủ đô sẽ được quan tâm đầu tư mạnh về mọi mặt, đồng thời từ Thủ đô ViêngChăn giao lưu với các tỉnh rất thuận lợi, nhất là các tỉnh có cửa khẩu quốc tếvới nước ngoài, đặc biệt có biên giới giáp Thái Lan

- Người dân trong Thủ đô có trình độ dân trí và tay nghề khá cao, cókhả năng tiếp nhận nhanh chóng các công nghệ hiện đại cũng như trình độquản lý tiên tiến - tiềm năng thị trường Thủ đô rất lớn

- Thủ tục hành chính vè xem xét duyệt cấp giấy phép đầu tư cho các dự

án (nhất là các dự án công nghiệp) được tiến hành đơn giản, thuận lợi, nhanhchóng

Trang 31

- Các chi phí như: dịch vụ xã hội, thuê bất động sản, điện, nước… phục

vụ cho các doanh nghiệp thuận lợi, ổn định và thấp hơn so với một số đô thịthương mại khác ở Lào

- Các chính sách thuế được hưởng chế độ ưu đãi, đặc biệt là các dự áncông nghiệp và các dự án được khuyến khích đầu tư

+ Những khó khăn

Bên cạnh những thành tựu bước đầu trong việc thu hút nguồn vốn FDI,

so với tiềm năng, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô cũng như sovới các tỉnh khác trong phạm vi cả nước thì việc thu hút FDI còn có nhữnghạn chế tồn tại như sau:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài một số ngành còn sử dụng lãng phí tàinguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường Một mặt FDI còn ảnh hưởng đếnnhà kinh doanh trong nước không thể cạnh tranh với công ty nước ngoài cókinh nghiệm quản lý và kinh doanh

- Nếu chỉ có sản xuất và kinh doanh trong thành thị sẽ có sự chênh lệnhgiữa thành thị và nông thôn làm ảnh hưởng cho nhân dân chu chuyển vàothành thị

- Do các ngành kinh tế phải chịu ảnh hưởng của xu hướng biến độngcủa khu vực, thị trường trong nước và thế giới thu hẹp Vốn đầu tư nướcngoài giảm và triển khai chậm, vốn trong nước hạn chế và luôn thiếu hụt, cơ

sở hạ tầng tuy được cải thiện nhưng nhiều nơi trong Thủ đô Viêng Chăn còngặp khó khăn nêu chưa tạo được mối trường thuận lợi cho việc thu hút FDI

- Công tác quản lý chỉ đạo điều hành thiếu chặt chẽ, chậm đổi mới,trình độ đội ngũ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu năng động, hoạtđộng xúc tiến đầu tư và thương mại kém hiệu quả

Bên cạnh nhiều dự án đã triển khai tốt, tại Thủ đô Viêng Chăn trongthời gian qua, còn có số dự án triển khai chậm, thậm chí không triển khai màcác nhà đầu tư không báo cáo rõ nguyên nhân Song hiện nay nổi lên tronglĩnh vực này như sau:

Trang 32

- Việc giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn giữa địa phương có đấtvới các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài Nguyên nhân là do sự phối hợp giảiquyết giữa Thủ đô, huyện, thiếu chặt chẽ, đôi lúc chưa thống nhất với mụcđích chính là kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài Sự đền bù giữa các sự án thiếuthống nhất, dự án trước gây khó khăn cho dự án sau.

- Việc tuyển lao động của nhiều công ty nước ngoài chưa theo đúngquy định của luật lao động và những quy định của Thủ đô, do đó gây ra tìnhtrạng lộn xộn trong quản lý lao động, không tôn trọng quyền được lao độngtrong công ty của những người dân sở tại, đặc biệt là người có đất trong diệngiải phóng mặt bằng Khi bước vào sản xuất chưa có nội dung cơ chế trên cơ

sở của Luật lao động giữa chủ và thợ Không tạo điều kiện thuận lợi cho việcthành lập các tổ chức đoàn thể của người lao động trong doanh nghiệp

- Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giúp ủy bannhân dân Thủ đô quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài chưa chặt chẽ, như việc tuyển lao động, kiểm tra, kiểm soát, xử lýmôi trường chưa đi vào một mối thống nhất

Một trong những nguyên nhân các dự án liên doanh nước ngoài khôngtuyển được lao động Lào, đặc biệt là lao động sở tại (nơi doanh nghiệp đóng)

là vì việc chuẩn bị đào tạo cán bộ không được quan tâm đến Do vậy, cần phải

có quy hoạch dự kiến cán bộ sẽ tham gia các dự án liên doanh, từ đó có kếhoạch đào tạo cụ thể, nhằm chủ động chuẩn bị đội ngũ cán bộ đủ điều kiện cửvào tham gia quản lý cùng với các đối tác nước ngoài Đối với đội ngũ côngnhân bên cạnh nhân tố hấp dẫn nhà đầu tư về giá lao động sẽ còn một vấn đềquan trọng hơn là tay nghề, đức tính cần cù chịu khó, tính kỷ luật trong laođộng (mà đây là vấn đề còn yếu kém trong đội ngũ lao động của cả nước nóichung, Thủ đô Viêng Chăn nói riêng) Với vấn đề chất lượng lao động, cómột thực tế là hầu hết số lao động vào làm việc ở trong các doanh nghiệp FDIkhông qua đào tạo hoặc chỉ đào tạo kết hợp trong một số trung tâm dạy nghềcủa Thủ đô, tuy cũng có một số cán bộ có trình độ đại học song lại chấp nhận

Trang 33

làm việc trái với ngành nghề đào tạo, hoặc làm các công việc giản đơn Đểđáp ứng nhu cầu về chất lượng lâu dài phải có một chiến lược đào tạo đúnghướng.

Tóm lại: Trong những năm qua một vấn đề của việc thực hiện thu hútFDI đang trong giai đoạn khó khăn, vì sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới mà bắt đầu từ nước Mỹ, sau đó đã làm ảnh hưởng đến nềnkinh tế toàn cầu, làm tác động tới nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài của cácnước phát triển giảm xuống, và thu hẹp,… Nhưng do những chủ trương đứngđắn, kịp thời cùng với sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân Thủ đô cộng với sựphối hợp của các ngành địa phương và sự hỗ trợ của Trung ương, Thủ đô đãđạt một số thành tựu, tuy còn nhỏ bé so với nhu cầu, nhưng đó cũng là thànhcông bước đầu Những thiếu sót, tồn tại hạn chế nêu trên đang là những vấn

đề đặt ra cần phải được giải quyết

2.2 Khái quát về tình hình thu hút FDI của Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 1990 đến nay

+ Tình hình thu hút FDI của Thủ đô Viêng Chăn trong thời gian qua

Từ năm 1986 Đảng và Chính phủ Lào đã thực hiện chính sách kinh tếmới, mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài với nhiều hình thức như: hộinhập kinh tế khu vực, hợp tác kinh tế, vay vốn từ các tổ chức trong khu vực

và thế giới, giảm thuế nhập khẩu thành phẩm, nguyên vật liệu sản xuất đểxuất khẩu… Đảng và Nhà nước cũng tạo mọi điều kiện để thu hút vốn hỗ trợ

và đầu tư quốc tế Do sự hạn chế về nhiều mặt: địa lý, trình độ học vấn củanhân dân, nguồn vốn và sức ép từ xu hướng biến động thế giới đó là sự cạnhtranh về kinh tế ngày càng gay gắt Đồng thời cũng giảm chỉ tiêu nhập khẩunhững loại hàng hóa không cần thiết Vì vậy, Đảng và Nhà nước có chínhsách khuyến khích nhân dân từ sản xuất nhỏ tự cung tự cấp tiến tới sản xuấthàng hóa để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội từng bước phát triển tiến tớimột nước công nghiệp và hiện đại hóa Tư tưởng tiến tới một nước côngnghiệp và hiện đại đã được bắt đầu từ khi CHDCND Lào giành độc lập năm

Trang 34

1975 Trong đó đã học hỏi kinh nghiệm của các nước đã thành công trongviệc đổi mới cơ cấu kinh tế như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ViệtNam…

Trong năm đầu khi mới ban hành Luật đầu tư năm 1994, tốc độ tăng đầu

tư của cả nước nói chung cũng như Thủ đô Viêng Chăn nói riêng còn khá chậm,giai đoạn 1988 - 1991, có thể được coi là giai đoạn thăm dò, khởi động Chúng

ta còn chưa có kinh nghiệm, mặt khác nhà đầu tư nước ngoài còn thận trọngkhông dám mạo hiểm, họ còn nghiên cứu, làm thử để thăm dò cơ hội Do vậy, số

dự án trong thời gian này chưa nhiều, mức tăng trưởng vốn đầu tư còn chậm

Thức hiện Nghị quyết Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ VIII (2006),Đại hội Đảng bộ Thủ đô Viêng Chăn lần thứ IV (năm 2005) đã xác định rõ:

“việc mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài là nhu cầu mang tính chiến lược trong quá trình hội nhập vào nền kinh

tế thị trường, nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh theo kịp

đà phát triển chung của cả nước và các nước trong khu vực”.

Thủ đô Viêng Chăn tiếp tục củng cố xây dựng và phát triển kết cấu hạtầng, kể từ khi mở rộng quan hệ đối ngoại Hàng năm có rất nhiều người nướcngoài sang Lào với nhiều mục đích: kinh doanh, thương mại, du lịch… đó lànguồn thu nhập lớn và có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế đất nước

Trong giai đoạn năm 2006 - 2010, tốc độ tăng dự án đầu tư FDI của cảnước nói chung, cũng như Thủ đô Viêng Chăn nói riêng ngày càng tăng Từnăm 2006 đến 2010 toàn Thủ đô Viêng Chăn đã có 1.052 dự án được cấp giấyphép với tổng số vốn 3.353,54 triệu USD Số dự án thu hút được qua các nămngày càng tăng lên

Sơ đồ 2.1:Tình hình đầu tư nước ngoài (FDI ) ở Thủ đô năm 2006-2010

(Đơn vị: USD)

Trang 35

165549309 224717132 443277369

1724390064

3353542820

(Nguồn: Phát triển kinh tế và đầu tư ở Thủ đô Viêng Chăn, năm 2010)

Bảng 2.1: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thủ đô năm 2005-2010

( Đơn vị: USD)n v : USD)ị: USD)

(Nguồn: Báo cáo sở kế hoạch và đầu tư Thủ đô Viêng Chăn, 2010).

Trong bối cảnh xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đầu tư trực tiếp nước ngoàitrên địa bàn Thủ đô Viêng Chăn cũng như trên phạm vi cả nước tăng so vớinhững năm trước Với những biện pháp tích cực mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại và phát huy thế mạnh về điều kiện tự nhiên, địa lý thuận lợi… Năm

2006 đầu tư trực tiếp nước ngoài trên phạm vị cả nước giảm sút, song Thủ đô

Trang 36

Viêng Chăn vẫn có 171 dự án FDI So với 18 tỉnh trong cả nước Thủ đôViêng Chăn là đơn vị đứng thứ nhất về số lượng các dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài.

Hiện nay, Thủ đô Viêng Chăn có các chủ đầu tư thuộc 45 quốc gia của

4 châu lục, từ năm 2006 -2010 có 1.052 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàitrong đó Việt Nam là đầu tư nhiều nhất tại Thủ đô Viêng Chăn, riêng năm

2010 Việt Nam có 162 dự án và tổng số vốn là 1,527,469,157 USD, sau đó làTrung Quốc và Thái Lan

Bảng 2.2: Các nhà đầu tư hàng đầu tại Thủ đô Viêng Chăn từ năm 2005-2010.

Trang 37

(Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Thủ đô , năm 2010).

+ Phân theo ngành được đầu tư

Từ năm 2006 - 2010 vốn đầu tư đăng ký tập trung chủ yếu trong 10 lĩnhvực lớn: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và lĩnh vực khác

- Lĩnh vực nông nghiệp có 70 dự án với tổng số vốn đăng ký154,892,597 USD, chiếm 4,91%

- Lĩnh vực công nghiệp có 193 dự án với tổng số vốn đăng ký502,309,026 USD, chiếm 14,97%

Trang 38

- Lĩnh vực dịch vụ có 789 dự án với tổng số vốn đăng ký 2,686,341,197USD, chiếm 80,10%.

- Lĩnh vực khác có 530 dự án với tổng vốn đăng ký 924,517,944 USD,chiếm 27,56%

Bảng 2.3: Tổng số vốn FDI phân theo ngành từ năm 2006 - 2010

( Đơn vị: USD)n v : USD)ị: USD)

Thứ nhất, Tác động đến tăng trưởng kinh tế

Trong những năm qua, chính phủ Lào cũng như lãnh đạo Thủ đô luôncoi trọng công tác thu hút đầu tư từ nước ngoài Chính phủ liên tục cải thiệnmôi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước,trong đó đặc biệt coi trọng việc triển khai chương trình xây dựng pháp luật

Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập.Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa.Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có vốn từ nước ngoài,trong đó có FDI

Kết quả, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Thủ đô Viêng Chăn đã từngbước phục hồi, nhất là từ năm 2006 đến nay Tính chung 5 năm 2006-2010,Thủ đô Viêng Chăn thu hút được hơn 3.353,54 triệu USD góp phần bổ sungcho đầu tư phát triển và nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu của nền kinh

tế Do đó tác động đến tăng trưởng kinh tế-xã hội của Thủ đô Viêng Chănnhư:

Trang 39

- Tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân, đào tạocông nhân viên và tiếp thu công nghệ mới Phần lớn sản phẩm tạo ra để xuấtkhẩu như: điện, càfê, đường… Có sự cạnh tranh làm cho các nhà kinh doanhtrong nước hướng sử dụng công nghệ thiết bị máy móc hiệu quả hơn.

- Tạo cơ sở cho hệ thống tiền tệ trong nước ổn định để giảm sự mất cânbằng thương mại với nước ngoài từ việc xuất khẩu sản phẩm trong nước Làmcho thu nhập chính phủ tăng lên từ việc đánh thuế lợi nhuận và thuế hải quan.FDI là cơ cấu hợp thành làm cho kinh tế phát triển, có thể thấy từ sự tăng lên

về con số trong từng giai đoạn và làm cho GDP tăng Làm cho xã hội ổn định,không có thất nghiệp, không có tệ nạn xã hội

Các nhà đầu tư, các tổ chức quốc tế ngày càng tin tưởng vào môitrường đầu tư của Thủ đô Viêng Chăn nói riêng và Lào nói chung Lào là mộtđất nước ổn định và thanh bình, nền kinh tế Lào tiếp tục tăng trưởng cao và

thu nhập của người dân tăng lên năm 2010 GDP của Lào là 1.069 USD/người,

do vậy nhu cầu nội địa cũng tăng theo, cộng đồng quốc tế ngày càng tin tưởngvào những nỗ lực và quyết tâm hội nhập kinh tế khu vực và các tổ chức quốctế

Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh, liên kết

để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao Đồng thời, tăngcường các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp FDI đẩy mạnh xuất khẩu Bêncạnh đó, tăng cường và đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư nhằm vàocác địa bàn trọng điểm, các đối tác trọng điểm, các dự án sử dụng công nghệcao thuộc các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế

- Kết quả, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Thủ đô đã từng bước phụchồi, nhất là từ năm 2006 đến nay Tính chung từ năm 2006 - 2010, Thủ đô thuhút được 3.353,54 triệu USD, góp phần bổ sung cho đầu tư phát triển và nângcao năng lực sản xuất, xuất khẩu của nền kinh tế Do đó tác động đến tăngtrưởng kinh tế - xã hội của Thủ đô như:

Trang 40

- FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởngGDP bình quân của Thủ đô trong giai đoạn 2006 - 2010 trung bình đạt12,10%/năm trong khi cả nước chỉ đạt trung bình 7,70%/năm, năm 2006 đạt11,35%, năm 2007 đạt 11,8%, năm 2008 đạt 12,75%, năm 2009 đạt11,93%,năm 20010 đạt được 12,65%.

Bên cạnh đó thì chỉ tiêu GDP bình quân đầu người của Thủ đô Viêng

Chăn đã thể hiện xu hướng tăng với nhịp độ cao năm 2006 là 1.320 USD, năm 2007 là 1.466 USD, năm 2008 là 1.879 USD,năm 2009 là 1.920 USD và năm 2010 là 2.190 USD Theo điều tra củ sở kế hoạch và đầu tư Thủ đô cho

biết trong giai đoạn 2006 - 2010 mỗi năm FDI đã đóng góp vào GDP hơn27,83 %/năm

- Các nhà đầu tư, các tổ chức quốc tế ngày càng tin tưởng vào môitrường đầu tư của Lào nói chung và Thủ đô Viêng Chăn nói riêng Lào là mộtđất nước ổn định và thanh bình Nền kinh tế Lào tiếp tục tăng trưởng cao và

thu nhập của người dân tăng lên (năm 2010 GDP của Lào đạt 1.069

USD/người), do vậy, cộng đồng quốc tế ngày càng tin tưởng vào những nỗlực và quyết tâm hội nhập kinh tế khu vực và các tổ chức quốc tế

FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Trong 5 năm qua (2006 2010) thấy rằng kinh tế của Thủ đô chuyển dịch dần dần theo hướng côngnghiệp - nông nghiệp-dịch vụ Trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm41,33%, và nông nghiệp chiếm 53,02%, dịch vụ chiếm 5,65%

Thứ hai, Tăng thu ngân sách của Thủ đô

Về nguồn thu ngân sách Thủ đô, FDI đã tác động tăng thu ngân sáchnhà nước của Thủ đômỗi năm như:

Bảng 2.4: Tổng thu ngân sách nhà nước Thủ đô từ năm 2006 – 2010.

(Đơn vị: USD)n v : t kip)ị: USD) ỷ kip)

Tổng thu 2,004.23 2,765.21 3,375.39 3,067.21 3,540.78

Ngày đăng: 08/07/2022, 15:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17.ASEAN(2005),“Investment”, availableon the Internet www.aseansec.org.4947.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment
Tác giả: ASEAN
Năm: 2005
18. Ban quản lý đầu tư nước ngoài: “ Luật khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào”, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật khuyến khích và quản lý đầu tưnước ngoài tại CHDCND Lào
27. Phết sạ ly Khum sắp. “Nguyên tắc đầu tư”. Đại học quốc gia Lào 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc đầu tư
28. PSG.TS . Hoàng Thị Bích Loan “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài”NXBCTQGST năm2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhà XB: NXBCTQGST năm2008
29. Sỉnh khăm Bun tay, “kinh tế chính trị” Nxb Đại học Quốc gia Lào.Viêng Chăn 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế chính trị
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Lào.Viêng Chăn 2002
30. Sách kỷ niệm Thủ đô Viêng Chăn 450 năm: “Phát triển kinh tế và đầu tư tại Thủ đô Viêng Chăn”,năm 2010. www.vtc-investment.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế và đầutư tại Thủ đô Viêng Chăn
19.Báo cáo chính trị trình tại Đại hội Đảng bộ Thủ đô Viêng Chăn lần thứ V(tháng 01 năm 2010) Khác
20. Bộ Kế hoạch và Đầu tư : Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn áp dụng, NXB chính trị quốc gia, H.2001 Khác
21.Bộ kế hoạch và đầu tư: Báo cáo tổng kết về đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào đến 2010 Khác
22.Báo cáo điều tra thống kê kinh tế của Sở kế hoạch và đầu tư tại Thủ đô Viêng Chăn, từ 2006 - 2010 Khác
23.Các Mác: Tư bản, Quyển I, tập 3. NXB Chính trị quốc gia, H. 1995 Khác
24.Các Mác: Tư bản, Quyển III, tập 1. NXB Chính trị quốc gia, H. 1995 Khác
25.Lê Bộ Lĩnh: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. NXB KHXH, H2002 Khác
26. Luật về khuyến khích đầu tư và quản lý đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào.2004 Khác
31. Triển vọng phát triển kinh tế của nước CHDCND Lào (Báo cáo Hội thảo Đại học quốc gia Lào ngày 20/6/2000) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w