1 2 MBTH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II BÀI TIỂU LUẬN LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC LÝ LUẬN DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TÊN BÀI TIỂU LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM, LIÊN HỆ THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2022 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 1 Chương 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 2.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
- NĂM 2022
Trang 2Chương 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 21.1 Khái niệm dân tộc và quản lý nhà nước về công tác dân tộc 21.2 Phương pháp quản lý nhà nước về công tác dân tộc 41.3 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về công tác dân tộc 51.4 Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc 7
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em, trong đó
có 53 dân tộc thiểu số Các dân tộc thiểu số ở nước ta chiếm 13,8% dân số cảnước, phân bố trên địa bàn rộng lớn với 3/4 lãnh thổ, tập trung chủ yếu ởvùng miền núi, biên giới có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế,
an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái Đồng bào dân tộc luôn phát huytruyền thống đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, kề vai sát cánh trongđấu tranh chống giặc ngoại xâm, khắc phục thiên tai và xây dựng đất nước.Công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sựnghiệp cách mạng của nước ta Thực hiện chính sách dân tộc, chăm lo đờisống của đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ màcòn là tình cảm đền ơn, đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
Huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là huyện có vị trí chiến lược quantrọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh trên tuyến biên giới Việt -Campuchia của của tỉnh, đồng thời cũng là địa phương có nhiều dân tộc thiểu
số cùng sinh sống Vì vậy, những năm qua, huyện Chơn Thành đã có nhiềuchủ trương, biện pháp thiết thực để thực hiện quản lý nhà nước về công tácdân tộc trên địa bàn huyện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng gópvào sự phát triển mọi mặt của địa phương Tuy nhiên, việc quản lý nhà nước
vể công tác dân tộc vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, như: việc ban hành vănbản chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện quản lý nhà nước về công tác dântộc đôi khi còn chậm; công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình triểnkhai thực hiện tại cơ sở của cơ quan chuyên môn về công tác dân tộc còn hạnchế; bố trí công chức làm công tác dân tộc còn bất cập, chưa ổn định; việcphân công công chức theo dõi, tổ chức thực hiện công tác dân tộc tại một số
xã chưa được chú trọng Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề “Quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam, liên hệ thực tiễn thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước hiện nay”
có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn
Trang 4Phần II: NỘI DUNG Chương 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Khái niệm dân tộc và quản lý nhà nước về công tác dân tộc
* Quan niệm về dân tộc
Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung
một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị - xã hội, cóngôn ngữ và văn hoá chung, thống nhất Theo nghĩa này, nói tới dân tộc là nóitới quốc gia Sự hình thành dân tộc gắn liền với sự ra đời của nhà nước, đó lànhà nước dân tộc Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơnnhất như Nhật Bản, Triều Tiên; cũng có thể là nhiều tộc người, là dân tộc đatộc người như Việt Nam, Trung Quốc và hầu hết các nước khác Nhà nướcdân tộc phải là nhà nước độc lập, có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền Dân tộckhông chỉ là một cộng đồng người hay cộng đồng đa tộc người mà còn là mộtcộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội và văn hoá gắn với nhà nước và nhữngđiều kiện lịch sử nhất định
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể (Ví dụ: Việt Nam là
một quốc gia đa dân tộc, là quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoàitộc người Kinh chiếm đa số về số dân, còn có 53 tộc người thiểu số khác:Tày, Nùng, Hmông, Bana, Êđê ) Khi nói dân tộc - tộc người là nói theonghĩa hẹp Tộc người trong quốc gia - dân tộc có nhiều tộc người hợp thành làmột thành phần trong cơ cấu của dân tộc - quốc gia đó Các tộc người bìnhđẳng (thiểu số cũng như đa số), cùng sinh sống, có chung chế độ chính trị,nhà nước, luật pháp, kinh tế, văn hoá nhưng lại có văn hoá tộc người riêngcủa mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống…)
Như vậy, dân tộc - quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lậpchủ quyền Trong khi đó, dân tộc - tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hoátộc người
Trang 5* Quan niệm chung về quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai phạm vi nghĩa rộng và nghĩa hẹp.Thứ nhất, quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động củanhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiệncác nhiệm vụ, chức năng của nhà nước Chủ thể của quản lý nhà nước theonghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nước của bộ máy nhà nước bao gồm ba hệthống cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhân dân cũng là chủ thể củaquản lý nhà nước theo nghĩa rộng khi thực hiện quyền trưng cầu dân ý - bỏphiếu toàn dân, hoặc tham gia quản lý nhà nước bằng các hình thức khác Các
tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội,… cũng là chủ thể của quản lý nhà nướctheo nghĩa rộng nếu được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng nhà nước Thứ hai, quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý do các cơquan hành chính nhà nước thực hiện Đó là hoạt động chấp hành hiến pháp,pháp luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó, vì thế còn gọi làhoạt động chấp hành và điều hành nhà nước (hay thường gọi đơn giản là hoạtđộng chấp hành và điều hành) Chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa hẹpchủ yếu là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu làChính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức vàcác cán bộ, công chức trực thuộc Vì vậy, trong thực tiễn quản lý và lý luậnkhoa học pháp lý chúng còn được gọi là các cơ quan quản lý nhà nước
* Quan niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệthống quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước (trong đó trước hết và chủ yếu là cơ quan hànhchính nhà nước), cá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, luật và để thihành Hiến pháp, luật nhằm tác động đến công tác dân tộc để đạt được mụcđích đã được xác định trước Khách thể quản lý nhà nước về công tác dân tộcbao gồm quản lý toàn bô ̣các hoat động kinh tế – xã hội diễn ra trong đời sống
Trang 6gắn với vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số để không ngừng nângcao đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào.
1.2 Phương pháp quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Về phương pháp quản lý, người ta phân biệt 2 nhóm:
Một là, nhóm các phương pháp của các ngành khoa học khác được các
cơ quan nhà nước sử dụng (như phương pháp thống kê, toán học hoá, tâm lý
-xã hội học và sinh lý học)
Hai là, nhóm các phương pháp quản lý hành chính nhà nước
Riêng nhóm các phương pháp quản lý hành chính nhà nước, người taphân chia thành bốn phương pháp, cụ thể:
Phương pháp giáo dục, thuyết phục là phương pháp tác động về tinh
thần, tư tưởng đối với con người để họ giác ngộ lý tưởng, ý thức chính trị vàpháp luật, nhận biết được việc làm nào là tốt, là vinh, là thiện, việc làm nào làxấu, là nhục, là ác Từ ý thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng, nên họ sẽ cótrách nhiệm, có lương tâm, có kỷ luật, không vi phạm pháp luật Trong xã hộiXHCN ở nước ta, đây là phương pháp hàng đầu
Phương pháp tổ chức là phương pháp đưa con người vào khuôn khổ, kỷ
luật, kỷ cương bằng cách đề ra quy chế, thực hiện nghiêm quy chế và kiểmtra, giám sát cũng như có chế tài minh bạch để khen thưởng, xử phạt
Phương pháp kinh tế là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động gián
tiếp đến khách thể quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và đòn bẩy kinh tếnhằm làm cho khách thể quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình mà tự giácthực hiện bổn phận một cách tốt nhất
Phương pháp hành chính là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể
quản lý nhà nước đến các khách thể quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính,tức là các mệnh lệnh có tính bắt buộc, dứt khoát và đơn phương, một chiều Trong bốn phương pháp cụ thể của nhóm các phương pháp quản lý hànhchính, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, phương pháp giáo
Trang 7dục, thuyết phục được nổi lên hàng đầu Do vậy, phải làm thường xuyên, liêntục Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng, có tính khẩn cấp; phương phápkinh tế là cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước;phương pháp hành chính là rất cần thiết nên phải được sử dụng một cách đúngđắn Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quản lý một lĩnh vực nhạy cảm,
do đó, trong thực tế không dùng một phương pháp quản lý đơn lẻ, mà trongtừng lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ và vùng dân tộc khác nhau có nhữngphương pháp quản lý phù hợp Thông thường các cơ quan có chức năng quản
lý nhà nước thường áp dụng tổng hợp các nhóm phương pháp trên trong quản
lý nhà nước Do tính đặc thù của công tác dân tộc nên các cơ quan quản lýthường áp dụng đồng thời các nhóm phương pháp nói trên và một số phươngpháp chuyên biệt như: quản lý bằng pháp luật; quản lý bằng bộ máy tổ chức;quản lý bằng chính sách cụ thể (chương trình mục tiêu, dự án ); quản lý bằngthanh tra, kiểm tra, tổng kết
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước ViệtNam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; … Nhà nước thực hiện chínhsách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nộilực, cùng phát triển với đất nước [8, Điều 5] Quốc hội có quyền quyết địnhchính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước (khoản 5, Điều 70 Hiếnpháp 2013) Hội đồng Dân tộc ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhưcác Ủy ban của Quốc hội còn có một số nhiệm vụ như: nghiên cứu và kiếnnghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hànhchính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi
và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; được mời tham dự phiên họp của Chínhphủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc Khi ban hành quy định thực
Trang 8hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng Dân tộc [8,Điều 75] Việc thực hiện các chính sách dân tộc là một trong những nhiệm vụcủa Chính phủ (khoản 9, Điều 8 - Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001) Theo
đó, đối với lĩnh vực dân tộc, Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
Thứ nhất, quyết định chính sách, các biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo
thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng pháttriển, thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, quyền dùng tiếng nói, chữviết của các dân tộc, giữ gìn, phát huy và làm giàu bản sắc văn hóa, truyềnthống tốt đẹp của các dân tộc; chống mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
Thứ hai, quyết định chính sách cụ thể, các biện pháp ưu tiên phát triển
mọi mặt ở các vùng dân tộc thiểu số, xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện cácchương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa,từng bước nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các vùng căn cứ địa cách mạng
Thứ ba, thực hiện chính sách ưu tiên phát triển giáo dục, nâng cao dân
trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chương trình chăm sóc sức khỏe cho đồng bàomiền núi, dân tộc thiểu số; có quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng cán bộ là người dân tộc thiểu số [3, Điều 13]
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quyđịnh về nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện đối vớicông tác dân tộc như sau: Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dânhuyện trong việc thực hiện chính sách dân tộc là: “Quyết định biện pháp thựchiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dântrí của đồng bào các dân tộc thiểu số, bảo đảm thực hiện quyền bình đẳnggiữa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhaugiữa các dân tộc ở địa phương” [9, khoản 1, Điều 15]
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện trong việc thực hiệnchính sách dân tộc như sau:
Trang 9Thứ nhất là, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chínhsách dân tộc; tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cảithiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộcthiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng có khó khăn đặc biệt
Thứ hai là, bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữ gìn, tăngcường đoàn kết và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương Thứ ba là, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án củahuyện đối với các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng
có khó khăn đặc biệt [9, Điều 93]
Trên cơ sở đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật dưới luật đã được banhành, trong đó có thể kể đến các văn bản quan trọng như: Nghị đi ̣nh số05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc – vănbản có tính pháp lý cao nhất của ngành từ khi thành lập đến nay; Nghị định số84/2012/NĐ-CP ngày 12/10/2012 của Chính phủ về quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc; Quyết định số 449/QĐ-TTg, ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược công tácdân tộc đến năm 2020; Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg, ngày 4/6/2013 củaThủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thựchiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015; Quyếtđịnh số 551/QĐ-TTg, ngày 4/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ (Chương trình135) về hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặcbiệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn;Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg, ngày 4/12/2012 về chính sách cho vay vốnphát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn
2012 – 2015
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Trong quá trình triển khai hoạt động quản lý nhà nước về công tác dântộc ở nước ta, nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc ngày càng đượcxác lập rõ hơn, gồm:
Trang 10Một là, ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu
quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc
Hai là, ban hành các văn bản quy phậm pháp luật về công tác dân tộc;
xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, cácchương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ pháttriển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đốivới vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nângcao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Ba là, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung
ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vựccông tác dân tộc
Bốn là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng
dân tộc thiểu số
Năm là, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện
chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành phápluật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộctheo quy định của pháp luật
Sáu là, tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộchiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện Tuyên truyền về truyềnthống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trongcộng đồng Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợphát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trongcuộc sống