1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao cấp chính trị quan điểm của đảng về dân tộc, tôn giáo và mối quan hệ dân tộc tôn giáo trong nghị quyết đại hội XIII liên hệ thực tiễn công tác dân tộc, tôn giáo ở xã lộc thạnh, huyện lộc ninh, tỉnh bình phước

25 38 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 72,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC LÝ LUẬN DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TÊN BÀI THU HOẠCH QUAN ĐIỂM VỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÀ MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÔNG TÁC DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở XÃ LỘC THẠNH, HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2022 MỤC LỤC Trang PHẦN I MỞ ĐẦU 3 PHẦN II NỘI DUN.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VÀ TÔN GIÁO Ở XÃ LỘC THẠNH, HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

- NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC Trang

Chương 1

QUAN ĐIỂM VỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÀ MỐI QUAN

HỆ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG VĂN KIỆN ĐẠI

1.1 Vấn đề dân tộc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng 3 1.2 Vấn đề tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng 8 1.3 Quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo trong Văn kiện Đại hội

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO Ở XÃ LỘC THẠNH, HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

Trang 3

Phần I MỞ ĐẦU

Dân tộc và tôn giáo đều là những vấn đề lớn, cần phải quan tâm giảiquyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Trên thực tế, Đảng và Nhànước ta luôn đặc biệt quan tâm phát triển toàn diện chính sách pháp luật vềdân tộc, tôn giáo Đặc biệt trong những năm gần đây do sự phát triển của nềnkinh tế cùng với sự du nhập, giao thoa của nền nhiều nền văn hóa đã tạo ranhững tác động lớn trong mối quan hệ dân tộc – tôn giáo Điều này đòi hỏicông tác dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước phải sớm nắm bắt được nhữngtác động, những biến đổi này để có giải pháp khắc phục Trong các Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, vấn đề này cũng luôn được bàn đến, cónhững đánh giá về thực trạng cũng như giải pháp Trong đó, Văn kiện Đại hộiXIII của Đảng đã có những điểm mới về vấn đề dân tộc và tôn giáo cần đượcnghiên cứu, quán triệt sâu sắc trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Trong những năm qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết các vấn đề dântộc, tôn giáo và mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo đã được Đảng ủy, Ủy bannhân dân xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước quan tâm, chú trọng.Tuy nhiên bên cạnh cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tình những tồn tạihạn chế cần phải khắc phục Từ những lý do trên, học viên lựa chọn vấn đề:

“Quan điểm của Đảng về dân tộc, tôn giáo và mối quan hệ dân tộc tôn giáo trong Nghị quyết Đại hội XIII Liên hệ thực tiễn công tác dân tộc, tôn giáo ở

xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước hiện nay” làm đề tài viết thu

hoạch kết thúc môn Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam

Phần II NỘI DUNG

1 QUAN ĐIỂM V Ề DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÀ MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

1.1 Vấn đề dân tộc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Trước hết, Văn kiện Đại hội XIII vẫn tiếp tục khẳng định các nguyêntắc trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam, đó là “bảo đảm các dân tộc bình đẳng,

Trang 4

đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” [1, tr.50] Chúng ta cần thựchiện nguyên tắc tôn trọng giữa các dân tộc ở Việt Nam vì 54 dân tộc ở ViệtNam chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mỗi dân tộc có bản sắcvăn hóa riêng nên cần phải tôn trọng lợi ích của nhau trong quá trình pháttriển, tôn trọng bản sắc văn hóa riêng Trước đây, văn kiện Đại hội Đảng nói

là các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, nhưng hiện nay đặt bình đẳng trước đoànkết Điều đó là do bình đẳng chính là cơ sở để thực hiện đoàn kết dân tộc.Bình đẳng dân tộc là thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc ở ViệtNam Chỉ có thực hiện được điều này mới có đoàn kết thực sự giữa các dântộc ở Việt Nam Khi còn có sự chênh lệch giữa các dân tộc (chưa thực hiện tốtbình đẳng dân tộc) thì vẫn còn kẽ hở cho các thế lực thù địch để lợi dụngnhằm chia rẽ quan hệ giữa các dân tộc, giữa dân tộc Kinh với các dân tộcthiểu số Do đó, phải quan tâm thực hiện tốt bình đẳng dân tộc, mới có cơ sởthực hiện tốt đoàn kết dân tộc Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXIII có nhiều đánh giá về thành tựu và hạn chế trong chính sách dân tộc

Trong đánh giá thành tựu về xây dựng chính sách dân tộc ở Việt Namthời gian qua, Đảng ta khẳng định: “Hệ thống chính sách dân tộc được hoànthiện, đầy đủ hơn, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, phân cấp khá triệt để chocác địa phương tổ chức thực hiện, đã tích hợp một số chính sách, khắc phụcmột bước tình trạng dàn trải, chồng chéo về chính sách” [2, tr.45] Theo thống

kê, ở Việt Nam có khoảng 118 chính sách dân tộc hiện còn có hiệu lực đã baoquát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, như: đầu tư kết cấu

hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, văn hóa, xã hội, giáo dục, y

tế, pháp luật, chính trị…

Tuy nhiên, một hạn chế trong chính sách dân tộc được đề cập đến nhiềutrong những năm gần đây là chồng chéo, dàn trải thì chúng ta đang dần khắcphục những hạn chế này Trước đây, chính sách dân tộc chồng chéo về nộidung (cùng một nội dung nhưng ở nhiều chương trình, dự án khác nhau), ví

Trang 5

dụ như có 17 chính sách về tín dụng, 6 chính sách về nước sạch…

Chính sách dân tộc còn chồng chéo về địa bàn (ví dụ 80% số xã củaChương trình 30a nằm trong Chương trình 135, 43% xã của Chương trình 135nằm trong Chương trình 30a) Vì chồng chéo về nội dung, chồng chéo về địabàn nên sẽ chồng chéo về đối tượng thụ hưởng, đáng lẽ ra có thể tích hợp vớinhau nhưng lại không thể tích hợp với nhau vì chồng chéo về cơ chế quản lý(những chương trình có cùng nội dung, địa bàn nhưng không tích hợp được

do những bộ, ngành khác nhau quản lý với những cơ chế quản lý khác nhau,

cơ chế thanh quyết toán khác nhau)

Trước tình trạng đó, các bộ, ngành đã cùng trao đổi, thảo luận để thốngnhất đầu mối quản lý, tránh chồng chéo, tích hợp các chương trình có nộidung giống nhau, gần nhau thành những chương trình, dự án lớn Với nhữngthành tựu trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc thì đời sốngcủa đồng bào dân tộc thiểu số đã được nâng lên như Đảng ta khẳng định: Kếtcấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã làm thay đổi cơbản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Đời sống vật chất

và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khókhăn được cải thiện

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, chính sách dân tộc ởViệt Nam thời gian qua vẫn còn những hạn chế, việc tổ chức thực hiện còn cónhững bất cập cộng với điểm xuất phát của các dân tộc thiểu số thấp, nên đờisống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn khó khăn Về đời sống vật chất,Đảng ta khẳng định “tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của vùng dân tộc thiểu số

và miền núi vẫn còn rất cao, giảm nghèo thiếu bền vững” [2, tr.72,73] Tỷ lệ

hộ nghèo và cận nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số năm 2019 là 35,5%, gấp3,5 lần so với mức chung của cả nước là 10,2%, có 21 dân tộc thiểu số có tỷ

lệ hộ nghèo chiếm hơn 1/25 Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận và hưởng thụ cácdịch vụ xã hội cơ bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn do

Trang 6

khoảng cách từ nhà đến trường, đến các cơ sở y tế còn xa Do chất lượng củacác cơ sở giáo dục, y tế ở vùng sâu, vùng xa nơi đồng bào dân tộc thiểu sốsinh sống dù có nhiều cải thiện nhưng vẫn thấp hơn so với ở thành thị Chấtlượng dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số còn nhiều khó khăn, có mặt còn bất cập Vì vậy, trong đời sống kinh tế - xãhội của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều bất cập nổi cộm cần phải giảiquyết như tỷ lệ bỏ học, tái mù chữ còn cao, việc dạy tiếng dân tộc chưa đượcchú trọng Một số vấn đề bức xúc trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu

số như di cư tự do, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt… chưa được giảiquyết hiệu quả Cùng với đời sống vật chất thì đời sống văn hóa của đồng bàovẫn còn có những khó khăn

Những định hướng về chính sách dân tộc ở Việt Nam trong Văn kiệnĐại hội XIII cũng đã khẳng định tính toàn diện của chính sách dân tộc Từthực trạng đời sống vật chất của đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn hơnmặt bằng chung, Đảng ta chủ trương thực hiện đồng bộ các giải pháp giảmnghèo đa chiều, bền vững, bao trùm nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu

số, mà trước hết cần tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêuquốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miềnnúi giai đoạn 2021 -2030 Như vậy, chính sách dân tộc ở Việt Nam trước hết

là trong lĩnh vực kinh tế, nhằm nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu

số, khắc phục căn bản tình trạng chênh lệch phát triển, thu nhập, tạo sựchuyển biến rõ nét trong đời sống của đồng bào Để nâng cao mức sống củađồng bào dân tộc thiểu số thì phải thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo.Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thể hiện quan điểm mới về giảm nghèo đó làgiảm nghèo đa chiều, bền vững và bao trùm Trước tình trạng tái nghèo còncao thì việc giảm nghèo bền vững phải được đặt ra Giảm nghèo đa chiều thìtiêu chí không chỉ là thu nhập mà còn có nhiều các tiêu chí khác Giảm nghèobao trùm nghĩa là ở tất cả mọi người, mọi nơi Để thực hiện được giảm nghèo

Trang 7

đa chiều, bền vững và bao trùm thì phải tăng cường nội lực, nếu chỉ trông chờvào sự hỗ trợ của Nhà nước thì hết hỗ trợ lại có thể tái nghèo Chính sách dântộc ở Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề kinh tế mà còn hướng tới giảiquyết các vấn đề xã hội phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người,nhất là trẻ em, nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hòanhập, tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằngcác dịch vụ xã hội cơ bản Để đồng bào được hưởng thụ công bằng các thànhquả của sự phát triển thì phải công bằng trong tiếp cận các nguồn lực (vốn, tàinguyên, đất đai, giáo dục, y tế) Do đó, các chính sách dân tộc phải tạo điềukiện cho đồng bào tiếp cận với các nguồn lực, mà trước hết chính là các dịch

vụ xã hội như giáo dục, y tế Như vậy, chính sách dân tộc còn hướng đến giảiquyết các vấn đề xã hội Chính sách dân tộc còn hướng đến các vấn đề chínhtrị như xây dựng đội ngũ cán bộ và người có uy tín trong đồng bào dân tộcthiểu số

Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta còn chỉ ra những trọng tâm, lưu

ý trong chính sách dân tộc Để phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộcthiểu số, cần bố trí nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển, huy động, phân bổ, sửdụng, quản lý có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biếncăn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.Huy động được nhiều nguồn lực nhưng sử dụng, quản lý không hiệu quả thìcác nguồn lực đó cũng không phát huy tốt trên thực tế Mặc dù nguồn lực huyđộng từ Nhà nước, xã hội để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, songnhững nguồn lực đó cũng chỉ phát huy tốt tác dụng khi phát huy được nội lực,

vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định một nội dung trọng tâm là: “Có cơchế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộcthiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”[1, tr.170] Ý chí tự lực tự cường vươn lên, không có tâm lý ỷ lại trông chờ làmột điều kiện quan trọng để giảm nghèo bền vững Muốn khơi dậy ý chí tự

Trang 8

lực, tự cường của người dân thì vấn đề hoàn thiện cơ chế, chính sách cũng rấtquan trọng Nếu chính sách mang tính hỗ trợ vật chất đơn thuần cho ngườinghèo như hỗ trợ gạo, cho vay tiền, hỗ trợ tiền điện… thì nhiều người lạikhông muốn thoát nghèo để được nhận những hỗ trợ này Vì vậy, chính sáchgiảm nghèo của chúng ta đã chuyển từ trợ cấp, cho không sang hỗ trợ có điềukiện và hiện nay cần chuyển từ hỗ trợ vật chất sang có những hỗ trợ về cơchế, chính sách ưu đãi về cơ hội, điều kiện phát triển, như: hỗ trợ đi học, hỗtrợ về đào tạo nghề, giới thiệu việc làm hay hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm làm ra.Điều này sẽ góp phần khơi dậy ý chí tự lực tự cường của đồng bào dân tộcthiểu số, phát huy nội lực để sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại lực.

Trong chính sách dân tộc, Đảng ta còn rất chú ý đến tính đặc thù, chútrọng tính đặc thù trong từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định

và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc Đặc thù trong chính sách dân tộckhông chỉ trong khâu xây dựng chính sách và trong cả quá trình tổ chức thựchiện chính sách Đặc thù không chỉ là khác biệt giữa dân tộc đa số và thiểu số,

mà ngay giữa các dân tộc thiểu số cũng có những đặc thù riêng Đồng bào dântộc thiểu số ở đồng bằng, trung du hay ở miền núi cao, miền biển thì chínhsách cũng cần có tính đặc thù riêng Việc đảm bảo tính đặc thù sẽ làm chochính sách phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số và được tổ chức thực thi cóhiệu quả

1.2 Vấn đề tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lê nin về tôn giáo và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về tôn giáo đều khẳng định tôn giáo vẫn tồn tại lâu dài trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vẫn là nhu cầu tinh thần của một bộ phậnquần chúng nhân dân Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta cũng khẳng địnhvai trò quan trọng của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam, vì vậy cần được vận dụng vào để chứng minh cho luận điểm này.Khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của tôn giáo trong Văn

Trang 9

kiện Đại hội XIII có những điểm mới trong các văn kiện trước.

Trong các văn kiện trước, Đảng ta chỉ nói là phát huy những giá trị vănhóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo thì trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng takhẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồnlực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước” [1, tr.171] Nguồn lực

ở đây bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần Nguồn lực tinh thầncủa các tôn giáo chính là các giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo vànguồn lực vật chất của tôn giáo chính là nguồn lực vật chất của các tín đồ,chức sắc tôn giáo được thể hiện trong hoạt động của họ Nguồn lực vật chấtcủa các tôn giáo thể hiện ở việc các tín đồ và chức sắc tôn giáo thực hiện tốtcác đường lối, chính sách, pháp luật, các phong trào hoạt động của Đảng vàNhà nước, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển Đường lối, chính sách, phápluật, các phong trào hoạt động mà Đảng và Nhà nước ta đưa ra là để thực hiệncác mục tiêu của cách mạng, góp phần phát triển đất nước Để thực hiện đượccác chính sách, phong trào hoạt động đó phải có sự tích cực, tham gia của tất

cả mọi người dân Các tín đồ và chức sắc tôn giáo là một lực lượng đông đảotrong xã hội và khi các tín đồ và chức sắc tôn giáo thực hiện nghiêm đườnglối, chính sách, các phong trào hoạt động mà Đảng và Nhà nước ta phát độngchính là đang đóng góp vào sự phát triển của đất nước Các tôn giáo đã huyđộng một nguồn lực rất lớn cả tài chính, nhân lực từ các tín đồ, chức sắc và xãhội vào giải quyết những vấn đề xã hội của đất nước

Ngoài ra, việc các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tổ chức các sự kiện tôngiáo quốc tế mà các tín đồ, chức sắc tôn giáo đến tham dự vừa thúc đẩy kinh

tế phát triển vừa góp phần giới thiệu về một Việt Nam hòa bình, hữu nghị.Nguồn lực vật chất của tôn giáo đóng góp vào sự phát triển đất nước là rấtlớn, bên cạnh đó nguồn lực tinh thần là các giá trị văn hóa, đạo đức của tôngiáo cũng tác động tích cực đến sự phát triển bền vững đất nước như Đảng takhẳng định: Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn

Trang 10

và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khudân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội Giáo lý của các tôn giáokhuyên con người phải biết yêu thương những người xung quanh, làm việcthiện,… vừa góp phần củng cố đạo đức truyền thống của dân tộc như nhân ái,đoàn kết, vừa góp phần ngăn chặn những tệ nạn xã hội.

Nội dung của chính sách tôn giáo ở Việt Nam chính là chính sách vậnđộng, tuyên truyền trong đồng bào tôn giáo Nội dung của công tác vận động

đó đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII “Vận động, đoànkết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, đónggóp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1, tr.171] Nhưvậy, chính sách tôn giáo chính là vận động các chức sắc, tín đồ tôn giáo sốngtốt đời, đẹp đạo Các chức sắc, tín đồ trước hết cần tham gia các hoạt động lễnghi tôn giáo (đẹp Đạo) thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mình, nhưng họ cũng

là công dân Việt Nam nên cần tích cực tham gia, thực hiện tốt trách nhiệmcông dân của mình (tốt Đời) Việc thực hiện các hoạt động tôn giáo của cácchức sắc, tín đồ tôn giáo không được trái ngược, đi ngược lại với lợi ích củađất nước và vẫn đảm bảo trách nhiệm công dân của mình Đồng thời, họ thựchiện tốt trách nhiệm công dân góp phần thuận lợi để thực hiện các lễ nghi tôngiáo Muốn vậy, chúng ta cần phải tuyên truyền cho đồng bào hiểu rằng mụctiêu của cách mạng, của dân tộc cũng thống nhất với lợi ích của các tôn giáo

là mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người

Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáocủa mọi người, song cũng kiên quyết chống lại các hành vi lợi dụng quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo vì những mục đích chính trị xấu, tinh thần đó cũngđược khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII Tạo điều kiện cho các tổ chứctôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật, chủ động giúp đỡ, giải quyếtcác nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng, đồngthời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng

Trang 11

tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đảng

ta đã chỉ rõ những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thùđịch là tìm cách xuyên tạc, vu khống tình hình tôn giáo ở nước ta để nói làchúng ta vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Tình hình tôn giáo ổnđịnh, đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sựlãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấutranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính sách vi phạm nhân quyền,

tự do tôn giáo Đảng ta khẳng định, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêmminh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ

xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàndân tộc Vì vậy, đấu tranh chống lại âm mưu này bằng cách thực hiện tốtquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, quan tâm chăm lo đời sốngvật chất và tinh thần cho đồng bào có Đạo, tạo sự tin tưởng của đồng bào đốivới Đảng và Nhà nước Đây là cách đấu tranh bằng thực tiễn rất hiệu quả.Ngoài ra, chúng ta còn đấu tranh trên mặt trận tư tưởng để vạch rõ những âmmưu, thủ đoạn của chúng Và không chỉ đấu tranh, mà Đảng ta còn khẳngđịnh cần phải “xử lý nghiêm minh” trên cơ sở pháp luật Pháp luật đã ghinhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời có những chế tài xử lý đốivới những kẻ vi phạm quyền tự do đó

1.3 Quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Tôn giáo và dân tộc có mối quan hệ khăng khít Để phát huy sức mạnhđại đoàn kết dân tộc thì phải đoàn kết được toàn dân, trong đó có vai trò rấtquan trọng của đồng bào tôn giáo Giải quyết tốt vấn đề tôn giáo sẽ tạo tiền đềquan trọng để thực hiện mục tiêu đại đoàn kết dân tộc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định mối quan hệ giữa dântộc và tôn giáo là một nội dung quan trọng Bởi lẽ, đối với Người, mục tiêucao nhất, xuyên suốt cuộc đời cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

Trang 12

hội Và, theo Người, đây là cơ sở vững chắc nhất để thực hiện các quyền cơbản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Theo tưtưởng của Người về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo được thể hiện ở hainội dung cơ bản: một là, độc lập dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo Hai là, tương đồng giữa lý tưởng xã hội chủ nghĩa và đạođức tôn giáo Người chỉ rõ, muốn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng cho nhândân, trước hết phải có độc lập cho dân tộc; tôn giáo không thể nằm ngoài mốiquan hệ với dân tộc, không thể tách rời vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nướcđấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập của cáctôn giáo, của các giáo dân và kêu gọi mọi người Việt Nam yêu nước, dù có tínngưỡng hay không, đều phải góp sức mình để giành lại nền độc lập cho nướcnhà Đồng thời, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọingười, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng bác ái,đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềmvui hoà bình, hạnh phúc Rõ ràng, dưới bình diện chung và ở một mức độnhất định, giữa lý tưởng cộng sản và đạo đức tôn giáo có những điểm tươngđồng Bởi, cả lý tưởng cộng sản và học thuyết tôn giáo chân chính đều muốnxoá bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, bất công và đều mong muốn cho tất thảymọi người được sống trong hoà bình, hữu nghị và bình đẳng - một thế giới đạiđồng, không có chế độ người bóc lột người

Có thể khẳng định rằng, với việc xem xét và giải quyết vấn đề tôn giáotrong mối quan hệ với vấn đề dân tộc cũng như gắn quyền độc lập dân tộc vớiquyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, và việc lý giải tính "đồng" giữa lýtưởng cộng sản và mục tiêu của tôn giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện sựvận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lĩnh vực này vào điềukiện cụ thể của Việt Nam

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tatrong quá trình lãnh đạo luôn quam tâm giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn

Ngày đăng: 08/07/2022, 05:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2021
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2021
3. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, dùng cho hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luậndân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, dùng cho hệ đào tạo cao cấp lý luậnchính trị
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2018
5. Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Nxb.Thống kê, 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w