Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001 - 2010 44 Chương 3: NHỮNG GI
Trang 1Chương 1: NHỮNG V ẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM GÓP PHẦN
1.1 Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và vai trò của vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội 71.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 211.3 Kinh nghiệm sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm
góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở một số địa phương 32
Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG
2.1 Những đặc điểm ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh 392.2 Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bình
Liêu, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001 - 2010 44
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH 753.1 Mục tiêu và quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của huyện
3.2 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước của huyện
Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015 783.3 Những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm góp phần phát triển kinh tế
- xã hội huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh 79
Trang 2CCKT : Cơ cấu kinh tế
FPI hoặc FII : Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
ODA : Vốn viện trợ phát triển chính thức
Trang 3Biểu 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của huyện Bình
Biểu 2.2: Huy động vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước của huyện
Biểu 2.3: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước của huyện Bình Liêu
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư từ NSNN là một nguồn vốn hết sức quan trọng đối với pháttriển KT-XH của cả nước cũng như của từng địa phương Nguồn vốn nàykhông những góp phần quan trọng trong việc tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuậtcho nền kinh tế mà còn mang tính định hướng đầu tư, thúc đẩy chuyển dịchCCKT, phát triển KHCN, giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội khác
Đầu tư từ NSNN để phát triển KT-XH ở miền núi, vùng sâu, vùng xa,vùng biên giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Ngày 22-11-1989
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương,chính sách lớn phát triển KT-XH miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành ở Trung ương cũng đã có nhiều chủtrương, chính sách quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các vùng, miền nàyphát triển “Thực hiện tốt chiến lược phát triển KT-XH ở miền núi, vùng sâu,vùng xa, vùng biên giới… gắn phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, quốcphòng” [7, tr.122] và “Chú trọng phát triển các vùng miền núi, biên giới, vùngđồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn khó khăn khác thông qua các cơ chế và
hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độphát triển, thu nhập và đời sống giữa các vùng và các dân tộc” [50, tr.67]
Bình Liêu là một huyện miền núi, biên giới, có nhiều dân tộc cùngchung sống, nằm ở Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh Huyện có điều kiện đất đai vàkhí hậu phù hợp với sản xuất nông - lâm nghiệp; có Khu kinh tế cửa khẩuHoành Mô - Đồng Văn thuận lợi cho phát triển các hoạt động kinh doanhthương mại và dịch vụ Tuy nhiên do ở vùng núi cao, hệ thống kết cấu hạtầng còn lạc hậu; sản xuất hàng hóa chưa phát triển; trình độ dân trí thấp,người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao (95,3%); cuộc sống còn gặp nhiều khókhăn Nguồn nội lực của huyện cho phát triển KT-XH còn rất hạn chế, đòihỏi phải có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước
Trang 5Trong những năm qua, vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn lớn nhất và
là nguồn vốn chủ yếu để phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh trênđịa bàn huyện (chiếm đến trên 70% tổng vốn đầu tư) Vốn đầu tư từ NSNNbao gồm các nguồn ngân sách tập trung, chính sách ưu đãi đối với khu vựccửa khẩu quốc gia, chính sách của các chương trình mục tiêu … đã tạo điềukiện khai thác và phát huy tốt hơn các tiềm năng, lợi thế của huyện, góp phầnquan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong thời gian qua còn thấp so vớiyêu cầu phát triển KT-XH của huyện Bình Liêu, việc sử dụng vốn đầu tư từ
NSNN cũng có những mặt hạn chế và yếu kém Vì vậy, việc nghiên cứu "Sử
dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm góp phần phát triển kinh tế
- xã hội của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh" là vấn đề có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn cấp thiết không chỉ ở huyện Bình Liêu của tỉnh Quảng Ninh
mà còn là vấn đề chung của các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùngbiên giới của nước ta
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vốn đầu tư từ NSNN và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ NSNN nhằmgóp phần phát triển KT-XH là một vấn đề được rất nhiều người quan tâmnghiên cứu Liên quan đến đề tài này, đã có một số công trình khoa học như:
- TS Bùi Đường Nghiêu (2000), Đổi mới chính sách tài khóa đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển KT-XH năm 2001 - 2010, nhà xuất bản tài
chính, Hà Nội Công trình nghiên cứu khẳng định thông qua chi đầu tư hàngnăm, chính sách đầu tư vốn từ NSNN đóng vai trò dẫn dắt, tạo tiền đề cho nềnkinh tế cất cánh
- Chính phủ Việt nam và Ngân hàng thế giới (2005), Báo cáo quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo Báo cáo đã nêu rõ chi tiêu công
là một trong các công cụ quan trọng nhất của Chính phủ để thúc đẩy tăngtrưởng và giảm nghèo
Trang 6- Nguyễn Ngọc Thao (2007), Phát huy vai trò của NSNN góp phần phát triển kinh tế Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Nguyễn Văn Thông (2008), Vốn đầu tư của nhà nước để phát triển KT-XH ở các huyện vùng núi cao tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Tạ Văn Khoái (2009), Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN ở Việt nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- PGS,TS Đặng Văn Thanh (tháng 2/2007), đầu tư từ nguồn vốn nhà nước: để thêm nhiều "hoa thơm, trái ngọt ", Tạp chí Tài chính Bài viết nêu
rõ vai trò của vốn nhà nước trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, những hạnchế trong quản lý và sử dụng vốn nhà nước ở nước ta hiện nay và đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước
- TS Lê Hải Mơ (tháng 9/2008), Đầu tư phát triển ở Việt Nam: Thành tựu và vấn đề, Tạp chí Tài chính Bài viết đã đánh giá đầu tư phát triển ở Việt
Nam giai đoạn 1991 - 2010 và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công táclập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư từ NSNN
- Phan Thanh Hà (tháng 9/2008), Phân bổ vốn đầu tư từ NSNN: để đạt hiệu quả cao nhất, Tạp chí Tài chính Bài viết đã phản ánh tình hình phân bổ
vốn đầu tư từ NSNN trong thời gian qua và những giải pháp nhằm hoàn thiệnqui trình phân bổ vốn đầu tư từ NSNN trong thời gian tới
- Nguyễn Đức Chi (tháng 1/2009), quản lý nhà nước về sử dụng vốn xây dựng cơ bản tập trung của NSNN, Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện
hành chính quốc gia Bài viết phản ánh những bất cập trong công tác quản lývốn đầu tư xây dựng cơ bản và đưa ra một số định hướng và giải pháp đểnâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ nguồn vốn tập trung của NSNN
Trang 7- TS Nguyễn Hồng Thắng (tháng 3/2009), nâng cao chất lượng đầu tư công, Tạp chí phát triển kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội Bài viết đã
làm rõ khái niệm chất lượng đầu tư, thảo luận về chất lượng thẩm định dự ánđầu tư công hiện nay, đưa ra những khuyến nghị để nâng cao chất lượng đầu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là từ những vấn đề lý luận cơ bản vềvốn đầu tư từ NSNN và sử dụng vốn đầu tư từ NSNN nhằm góp phần pháttriển KT-XH, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu để nângcao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN nhằm góp phần phát triển KT-XHcủa huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
* Nhiệm vụ của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về vốn đầu tư từNSNN, kinh nghiệm sử dụng vốn đầu tư từ NSNN ở một số địa phương kháctrong và ngoài tỉnh
- Phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng vốn đầu tư từ NSNN củahuyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua
Trang 8- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư từ NSNN nhằm góp phần phát triển KT-XH của huyện Bình Liêu, tỉnhQuảng Ninh đến năm 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Vốn đầu tư từ NSNN góp phần phát triển KT-XH của huyện Bình Liêu,tỉnh Quảng Ninh
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Vốn đầu tư từ NSNN để chi cho đầu tư phát triển, baogồm cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Luận văn không đềcập đến phần ngân sách huyện chi cho sự nghiệp kiến thiết kinh tế (Sự nghiệpnông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp lâm nghiệp, sự nghiệp thị chínhcông cộng, sự nghiệp kiến thiết thị chính ) vì phần chi này nằm trong chithường xuyên của ngân sách huyện
- Về không gian: Nghiên cứu tình hình sử dụng vốn đầu tư từ NSNNtrên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
- Về thời gian: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư từ NSNN nhằm gópphần phát triển KT-XH được phân tích, đánh giá chủ yếu thông qua các sốliệu thống kê ở giai đoạn 2001 - 2010 và đề xuất các giải pháp tới năm 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, các lý thuyết kinh tế hiện đại, quan điểm của Đảng, chính sách củaNhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về vốn đầu tư và vốn đầu tư từ NSNN
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, chủ yếu làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, coi trọng phương pháp hệthống, tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê Thông qua việc thu thập, xử lýcác kết quả nghiên cứu, luận văn cố gắng khái quát, chọn lọc kiến thức, kinhnghiệm thực tiễn về sử dụng vốn đầu tư từ NSNN để thực hiện mục đích vànhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 96 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vốn đầu tư từ NSNN và
sử dụng vốn đầu tư từ NSNN nhằm góp phần phát triển KT-XH
- Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn đầu tư từ NSNN của huyệnBình Liêu tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư từ NSNN nhằm góp phần phát triển KT-XH của huyện Bình Liêu tỉnhQuảng Ninh đến năm 2015
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN
Theo Luật Đầu tư năm 2005, vốn là “tiền và các tài sản hợp pháp khác
để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tưgián tiếp” [43, tr.2]
Còn theo giáo trình Kinh tế phát triển của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh: “Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các tài sản nhằmmục tiêu thu nhập trong tương lai” [26, tr.107]
Vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, song bản thânchúng lại là kết quả đầu ra của các quá trình sản xuất trước đó Nó không chỉtồn tại dưới dạng vật thể (hữu hình) như: máy móc, thiết bị, các công trìnhkiến trúc, nguyên vật liệu… mà còn tồn tại dưới dạng phi vật thể (vô hình)như các phát minh, sáng chế, các giải pháp hữu ích hay thậm chí những khoảnđầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng được coi là vốn
Vốn nói chung được chia thành hai loại là vốn sản xuất và vốn đầu tư
Trang 11- Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phươngtiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn cố định
và vốn lưu động
- Vốn đầu tư là tiền (tài sản) được dùng trong quá trình tái sản xuất đểduy trì năng lực sản xuất cũ hoặc tăng thêm năng lực sản xuất mới
Giữa vốn đầu tư và vốn sản xuất luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng
Có vốn đầu tư thì mới tiến hành được các hoạt động đầu tư, hoạt động đầu tưtạo ra và làm tăng thêm vốn sản xuất cho nền kinh tế Khi sử dụng vốn sảnxuất lại tái tạo ra vốn đầu tư cho giai đoạn tiếp theo
Vốn đầu tư là một phạm trù gắn liền với hoạt động đầu tư, đó là quátrình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thuđược các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dướidạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của
xã hội Có nhiều cách phân loại vốn đầu tư như phân loại theo nguồn gốc vốn;phân loại theo tính chất đầu tư; phân loại theo hình thức đầu tư; phân loại theochủ sở hữu… Nhưng ở đây chúng tôi phân nguồn vốn đầu tư thành hai loại:nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
- Các nguồn vốn đầu tư trong nước được hình thành từ tiết kiệm trongnước bao gồm:
Tiết kiệm của NSNN là phần được dành để chi cho đầu tư phát triển từ
thu của NSNN
Chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn về nguồn vốn này trong phần vốn đầu tư
từ NSNN
Tiết kiệm của doanh nghiệp là phần lãi sau thuế được các doanh nghiệp
để lại dành cho chi đầu tư phát triển Trong thực tế, nguồn dành cho hoạt độngđầu tư của doanh nghiệp còn bao gồm cả nguồn vốn thu được từ khấu hao tàisản cố định
Trang 12Tiết kiệm của dân cư là phần thu nhập để dành, chưa tiêu dùng của các
hộ gia đình
- Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm:
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn tài chính do
các cơ quan chính thức của chính phủ của một số nước, hoặc của một tổ chứcquốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy, hỗ trợ quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của các nước này
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn đầu tư của
tư nhân nước ngoài vào một nước khác để tiến hành kinh doanh nhằm mụcđích thu lợi nhuận
Nguồn vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) Viện trợ
NGO thường là viện trợ không hoàn lại Trước đây chủ yếu là viện trợ vậtchất đáp ứng các nhu cầu nhân đạo như cung cấp thuốc men, lương thực.Ngày nay viện trợ này bao gồm cả chương trình hỗ trợ phát triển với mục tiêudài hạn hơn
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FPI hoặc FII) là nguồn
vốn do tư nhân nước ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếucủa nước chủ nhà, nhưng không tham gia công việc quản lý; hoặc thông quacác ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính; hoặc thông qua các khoảntín dụng thương mại mà các nhà xuất khẩu nước ngoài dành cho các nhà nhậpkhẩu của nước chủ nhà
Trong các nguồn vốn trên thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai tròquan trọng, là cần thiết, nhưng về lâu dài, nguồn vốn trong nước mới thực sựgiữ vai trò quyết định, đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế củađất nước
Vốn đầu tư từ NSNN “là nguồn vốn được trích lập từ ngân sách của
Nhà nước chi cho các hoạt động đầu tư phát triển” [19, tr.95] Và thực chất
Trang 13“chính là khoản tiết kiệm của NSNN được dành để chi cho đầu tư phát triển
từ thu của NSNN” [26, tr.138]
Theo Luật NSNN năm 2002: "NSNN là toàn bộ các khoản thu chi củaNhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và đượcthực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụcủa Nhà nước" [41, tr.35] Thu NSNN bao gồm “các khoản thu từ phí, lệ phí;các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp củacác tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo qui địnhcủa pháp luật” [41, tr.36]
Qui mô tiết kiệm của NSNN về cơ bản tùy thuộc vào sự thay đổi củatổng thu và chi thường xuyên của NSNN Tổng thu NSNN lại phụ thuộc vàoqui mô và sự tăng trưởng của nền kinh tế, chính sách động viên thu nhập vàoNSNN của Chính phủ; hiệu lực và hiệu quả của tổ chức thu NSNN
Nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vớixuất phát điểm rất thấp, từ một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, cơ sởvật chất kỹ thuật yếu kém, do vậy nhu cầu chi đầu tư phát triển là rất lớn Trênthực tế, chi đầu tư phát triển của NSNN thường lớn hơn phần tiết kiệm củaNSNN Do Chính phủ coi trọng chi cho đầu tư phát triển, nên có thể vay bùđắp bội chi NSNN sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển Nguồn đi vay chủyếu là vay trong nước (huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổchức kinh tế thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ và các hình thức vay
nợ qua Kho bạc Nhà nước như: công trái dài hạn, trái phiếu, tín phiếu kho bạcvới nhiều loại kỳ hạn và lãi suất khác nhau…) và vay nước ngoài (ODA, FPI,phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế… )
1.1.1.2 Đặc điểm của vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn có qui mô lớn
Vốn đầu tư từ NSNN là một nguồn vốn quan trọng trong chiến lượcphát triển KT-XH của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho
Trang 14các dự án kết cấu hạ tầng KT-XH, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án củadoanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước, chi chocông tác lập và thực hiện các dự án qui hoạch tổng thể phát triển KT-XHvùng, lãnh thổ, qui hoạch xây dựng đô thị và nông thôn…
Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nềnkinh tế, qui mô tổng thu NSNN không ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiềunguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay chothuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước…) Đi cùng với sự mở rộng qui mô ngânsách, mức chi cho đầu tư phát triển từ NSNN cũng gia tăng đáng kể
Giai đoạn 2001 - 2005 tổng thu ngân sách là 799.241 tỷ đồng, tỷ lệ tăngbình quân là 20,46%, tỷ lệ huy động vào NSNN hàng năm bình quân là 24,36%GDP; tổng chi ngân sách 923.407 tỷ đồng, tỷ lệ chi NSNN bình quân bằng 29%GDP, trong đó chi đầu tư phát triển là 222.600 tỷ đồng, đạt bình quân 30,2%tổng chi NSNN và chiếm 22,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội [19, tr.13]
Sang giai đoạn 2006 - 2010, tổng thu NSNN ước đạt 1.844.050 tỷ đồng,
tỷ lệ động viên thu NSNN bình quân đạt khoảng 25,97% GDP; tổng chi NSNNước đạt 2.330.300 tỷ đồng, tỷ lệ chi NSNN bình quân khoảng 32,34% GDP,trong đó chi đầu tư phát triển là 595.160 tỷ đồng, đạt bình quân 25,54% tổng chiNSNN và chiếm khoảng 19,53% tổng vốn đầu tư toàn xã hội [3, tr.67, 76-77]
Trong những năm gần đây, vốn đầu tư từ NSNN có xu hướng gia tăng
về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Năm 2006, vốn đầu tư từ NSNN là 100.200 tỷ đồng, chiếm 24,8% và đến năm
2010 dự kiến là 125.500 tỷ đồng, chiếm khoảng 15,9% [4, tr.76] Việc vốn đầu
tư từ NSNN giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội là sự chuyểndịch đúng hướng, khi kinh tế thị trường ngày càng được thiết lập, phát triển thìNhà nước rút dần chức năng đầu tư trực tiếp, chuyển giao dần chức năng nàycho các thành phần kinh tế khác đảm nhiệm, để một mặt có điều kiện tập trungvào việc thực hiện quản lý nhà nước, xây dựng cơ chế pháp lý và chỉ tạo thành
Trang 15vốn mồi, đầu tư vào các lĩnh vực, các vùng mà tư nhân không muốn đầu tư, mặtkhác để nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh cơ chế xin cho, dàn trải, thất thoát.
Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn không hoàn trả trực tiếp Vốn đầu tư
từ NSNN có nguồn gốc từ thu NSNN Khi huy động các khoản thu vào ngânsách, Nhà nước không cung ứng trực tiếp một khoản hàng hóa, dịch vụ côngcộng, hay bồi hoàn trực tiếp nào cho người thu nộp mà Nhà nước sẽ hoán trảgián tiếp thông qua các hàng hóa, dịch vụ công cộng cho cộng đồng và xã hội
Vốn đầu tư từ NSNN chủ yếu được đầu tư vào việc xây dựng cáccông trình công cộng (đường giao thông, cầu, sân bay, bến cảng, công trìnhphục vụ an ninh, quốc phòng, giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ vàcác công trình văn hóa, xã hội khác) hoặc một số ngành kinh tế quan trọng(điện lực, bưu chính, viễn thông…) cần có sự tham gia của nhà nước vànhững người thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN sẽ được hưởng lợi từ nhữngkhoản đầu tư này
Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn gắn với sở hữu của Nhà nước và cộng đồng Nhà nước của ta là Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, Nhà nước
đại diện và bảo vệ quyền lợi của toàn dân và NSNN là các khoản thu công vàchi công, do vậy nó gắn với sở hữu của Nhà nước và cộng đồng
1.1.2 Vai trò của vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Vốn đầu tư có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia, do vậy nó được quan tâm như một yếu tố quan trọngtrong quản lý kinh tế vĩ mô
Đối với tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng
trưởng, vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Tăng qui mô vốn đầu tư và
sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao
Trang 16hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến chuyển dịchCCKT theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranhcủa nền kinh tế… do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia bao gồmcác nhân tố tác động đến tổng cầu và các nhân tố tác động đến tổng cung
- Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cầnđầu tư Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộnền kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 -28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu,tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ
mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Khi tổng cung chưakịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tốkhác không đổi)
AD = C + I + G + X - MTrong đó: C: Tiêu dùng
I: Đầu tưG: Tiêu dùng của Chính phủX: Xuất khẩu
M: Nhập khẩu
- Tác động đến tổng cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồncung chính là cung trong nước và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cungtrong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên,công nghệ…, thể hiện qua phương trình sau:
Q = F(K, L, T, R…)Trong đó: K: Vốn đầu tư
L: Lao độngT: Công nghệR: Nguồn tài nguyên
Trang 17Như vậy, tăng qui mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăngtổng cung của nền kinh tế (nếu các yếu tố khác không đổi) Mặt khác, tácđộng của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng caochất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ… Do đó, đầu tư lại gián tiếplàm tăng tổng cung của nền kinh tế [19, tr.23-24].
Mối liên hệ giữa tăng trưởng và đầu tư được biết đến nhiều nhất qua
mô hình Harrod - Domar Mô hình này nói lên vai trò quyết định của vốn đầu
tư đối với tăng trưởng và chỉ ra rằng, có mối liên hệ bằng công thức toán họcgiữa tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư trong nền kinh tế thông qua hệ số giatăng tư bản - đầu ra, viết tắt bằng tiếng Anh là ICOR (Incremental CapitalOutput Ratio):
g = s/kTrong đó: g: Tốc độ tăng trưởng GDP, tính bằng %
s: Tỷ lệ tiết kiệm trong GDP, tính bằng %(Ở đây luôn giả thiết là tiết kiệm bằng đầu tư)
k (ICOR) là hệ số gia tăng tư bản - đầu ra
(k = I/∆Y = ∆K/∆Y) Theo phương trình trên thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỷ lệthuận với tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) và tỉ lệ nghịch với hệ số ICOR Điều đó cónghĩa là để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và lâu dài của nền kinh tế thìphải giữ vững và gia tăng tỷ lệ đầu tư và khống chế ở mức có thể chấp nhậnđược hệ số gia tăng tư bản [26, tr.36]
Ví dụ: để tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế là 6% với hệ số ICOR là 5
thì tỷ lệ đầu tư phải đạt ở mức 30% GDP
Còn theo hàm sản xuất Cobb- Douglas: Y = A x Kα x L β
Trong đó: Y: Giá trị sản xuất
K: VốnL: Lao động
Trang 18A: Hiệu quả sản xuấtα: Hệ số co giãn của vốnβ: Hệ số co giãn của lao độngMục đích của hàm sản xuất Cobb - Douglas là xem xét vai trò của cácnhân tố đến sản lượng của nền kinh tế Khi đầu tư tăng làm cho vốn tích luỹ Ktăng sẽ làm sản lượng Y tăng lên Nói cách khác, sản lượng Y của nền kinh tếđược quyết định một phần bởi vốn đầu tư của toàn xã hội [25, tr.153].
Đối với chuyển dịch CCKT, đầu tư có tác động đến chuyển dịch CCKT
thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư Trong điều hành chínhsách đầu tư, nhà nước có thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân
bổ vốn, kế hoạch hóa, xây dựng cơ chế quản lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếpthông qua các công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và địnhhướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển CCKT ngày càng hợp lý hơn
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý
sẽ tạo đà cho tăng trưởng và chuyển dịch CCKT Tỷ trọng phân bổ vốn chocác ngành khác nhau sẽ mang lại những kết quả và hiệu quả khác nhau Vốnđầu tư cũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnhhưởng trực tiếp đến sự dịch chuyển CCKT ngành, CCKT vùng và cũng đồngthời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế Khôngnhững thế, giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch CCKT cómối quan hệ khăng khít với nhau Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lạihiệu quả kinh tế cao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng
sẽ dẫn đến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý Ngược lại, tăng trưởng kinh tếcao kết hợp với việc chuyển dịch CCKT hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồidào, định hướng đầu tư vào các ngành có hiệu quả hơn
Đối với phát triển KHCN, đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực
tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế
và của các đơn vị cơ sở Chính vì vậy, đầu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho
Trang 19quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia Theo cơ cấu
kỹ thuật của đầu tư, trong giai đoạn vừa qua, tỷ trọng giá trị máy móc thiết bịtrong tổng vốn đầu tư của Việt Nam chiếm khoảng 28% (xây dựng chiếm57%) [19, tr.35] Cơ cấu này chưa phản ánh đúng yêu cầu công nghiệp hóa vàhiện đại hóa, tuy nhiên nó cũng là con số không nhỏ tạo ra năng lực côngnghệ cho toàn bộ nền kinh tế Việc đầu tư vốn cho các mục tiêu phát triển sẽtạo cơ hội cho các doanh nghiệp và quốc gia đổi mới công nghệ, hiện đại hoáquá trình sản xuất, thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu trong điều kiện cạnhtranh và hội nhập hiện nay
Đối với giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội khác Trong điều kiện
trang bị kỹ thuật cho lao động không đổi, việc gia tăng vốn cho nền kinh tế sẽlôi cuốn thêm lực lượng lao động vào các hoạt động kinh tế, nhờ đó mà tạothêm việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động
Vốn cũng có vai trò to lớn trong xóa đói, giảm nghèo Nhiều ngườinghèo, vùng nghèo rất thiếu vốn và khó có điều kiện tiếp cận với nguồn vốnlàm cho họ càng nghèo khó thêm Chính vì thế, chương trình đầu tư xây dựngkết cấu hạ tầng cho vùng nghèo, hỗ trợ vốn hoặc tạo điều hiện thuận lợi trongtiếp cận các nguồn tín dụng gắn với sự hỗ trợ về kỹ thuật, quản lý, tiêu thụ sảnphẩm… đã trở thành biện pháp có hiệu quả trong việc gắn tăng trưởng kinh tếvới xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
1.1.2.2 Vai trò của vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, xem xét vai trò của vốn đầu tư từ NSNN đối với tăng trưởng
kinh tế chúng ta thấy vốn đầu tư từ NSNN là một phần chi tiêu của Chínhphủ, khi vốn đầu tư từ NSNN tăng sẽ làm cho tổng cầu tăng lên Trên thực tế,khi Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa để tác động vào tăng trưởng kinh
tế thì việc tăng hay giảm vốn đầu tư từ NSNN cũng được coi là giải phápquan trọng Có thể thấy rõ điều này thông qua gói kích cầu trị giá 160.000 tỷ
Trang 20đồng (tương đương 9 tỷ USD) của Chính phủ nhằm chống suy giảm kinh tế ởViệt Nam do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu vàonăm 2009 vừa qua Chính phủ đã sử dụng NSNN để hỗ trợ lãi suất 4% vayvốn tín dụng của các ngân hàng thương mại (17.000 tỷ đồng); thực hiện tạmhoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước năm 2009 (3.400 tỷđồng); ứng trước ngân sách để thực hiện một số dự án cấp bách, có khả nănghoàn thành trong năm 2009 và 2010 (26.700 tỷ đồng); ứng vốn hỗ trợ thựchiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèocủa nước ta (1.525 tỷ đồng); chuyển nguồn vốn đầu tư thuộc NSNN kế hoạchnăm 2008 sang năm 2009 (22.500 tỷ đồng)… [37, tr.5] Nhờ những chỉ đạo,điều hành của Chính phủ trong chính sách tài khóa đã góp phần ổn định kinh
tế vĩ mô, đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua tình trạng suy giảm kinh tế vàđạt tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 là 5,3%
Mặt khác, mặc dù vốn đầu tư từ NSNN chiếm tỷ trọng không lớn trongtổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng cũng là một phần của vốn đầu tư và nócũng có tác động đến tổng cung
Nhờ có sự tác động trực tiếp của vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư từNSNN nói riêng, nền kinh tế nước ta những năm qua liên tục tăng trưởng với tốc
độ khá cao và tương đối ổn định Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001
-2005 là 7,51% và giai đoạn 2006 - 2010 ước đạt 6,94% /năm Năm 2007, tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam là 8,46% được xếp vào loại cao trên thế giới vàtrong khu vực Châu Á (Trung Quốc 11,2%; Ấn Độ 9%; Xingapo 7,5%;Philippin 6,6%; Malaixia 5,6%; Thái Lan 4%) Năm 2008, tăng trưởng kinh tếcủa nước ta đạt 6,23%, đây là mức tăng trưởng kinh tế cao so với nhiều nướctrên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu Năm 2010, nền kinh
tế của nước ta tiếp tục phục hồi với nhiều dấu hiệu khả quan sau ảnh hưởng củatình trạng suy giảm kinh tế, và dự báo tăng trưởng kinh tế sẽ đạt 6,5% Quy mô
Trang 21của nền kinh tế (theo giá so sánh) năm 2000 là 273,7 ngìn tỷ đồng, đến năm
2006 là 425,4 nghìn tỷ đồng và năm 2010, ước đạt 548,9 nghìn tỷ đồng [3, tr.80]
Đối với một nền kinh tế có sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm tăng lên, với một tỷ lệ huy động vàoNSNN không đổi thì số thu NSNN ngày càng tăng Số thu NSNN có tốc độ tăngnhanh hơn tốc độ tăng chi thường xuyên sẽ là cơ sở để tăng chi đầu tư từNSNN
Thứ hai, với tư cách là một chủ thể kinh tế thì Nhà nước là nhà đầu tư
lớn nhất, có trong tay những nguồn lực hùng mạnh nhất, vì vậy việc Nhà nướcđầu tư vào lĩnh vực gì? ở đâu? có tác động hết sức lớn tới việc thay đổi vàchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và vùng kinh tế Chúng ta đang đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, do vậy mục tiêu chuyển dịch CCKT
có ý nghĩa rất quan trọng Các mục tiêu này được thực hiện trên thực tế thôngqua các hoạt động đầu tư, nhiều ít khác nhau tuỳ theo nhu cầu phát triển vàchính sách đầu tư của Nhà nước đối với từng ngành, vùng
Mỗi vùng, miền của nước ta có đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội… khác nhau, do vậy Đảng và Nhà nước ta đã có những chínhsách ưu tiên đầu tư khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của từngvùng, miền cũng như sự phát triển chung của cả nước Năm 2010, vốn đầu tư
từ NSNN được phân bổ cho các vùng (phần địa phương quản lý) là 87.542 tỷđồng, trong đó: Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ24.744 tỷ đồng, chiếm 28,27%; Miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam 18.650 tỷ đồng, chiếm 21,3%; Bắc Trung Bộ, duyên hảiTrung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 18.633 tỷ đồng, chiếm21,28%; Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ 11.676 tỷ đồng, chiếm13,34% ;Vùng Tây Nguyên 4.496 tỷ đồng, chiếm 5,14%; Vùng đồng bằngsông Cửu Long 9.343 tỷ đồng, chiếm 10,67% [4, tr.70] Có thể nhận thấy bavùng kinh tế trọng điểm của cả nước được phân bổ 62.027 tỷ đồng, chiếm đến
Trang 2270,85% tổng vốn đầu tư từ NSNN, sở dĩ như vậy là do khu vực này tạo ra trênkhoảng 60% GDP, khoảng 75% GDP công nghiệp, trên 80% kim ngạch xuấtkhẩu, đóng góp khoảng trên 85% NSNN [66, tr.422], vì thế cần có sự đầu tưtập trung, tạo động lực, tạo đầu tàu cho tăng trưởng kinh tế của cả nước VốnNSNN đầu tư cho vùng trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng Tây Nguyên là16.127 tỷ đồng, bằng 18,48%, đây là vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số
và có điều kiện KT-XH hết sức khó khăn nhưng giàu tiềm năng về thủy điện,khoáng sản, phát triển kinh tế rừng… do vậy cũng cần được đầu tư một cáchthỏa đáng, và mặc dù hiệu quả về kinh tế không cao như những vùng, miềnkhác, nhưng mang lại hiệu quả về mặt chính trị, xã hội
Ngành nông nghiệp gắn với trên 50% dân số cả nước, năm 2000 đóng góp24,3%, năm 2005 là 20,9% và dự kiến năm 2010 là 19,88% GDP [4, tr.80],nhưng lại là lĩnh vực mà các nguồn vốn khác không muốn đầu tư vào vì lợinhuận thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, do vậy cần có sự quan tâm đầu tư của Nhànước Vốn NSNN đầu tư cho nông, lâm, ngư nghiệp và thủy lợi là 20.607,1 tỷđồng vào năm 2009 và 23.945,2 tỷ đồng cho năm 2010 [4, tr.73], chủ yếu tậptrung đầu tư hình thành vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, thâm canh tăng năngsuất gắn với phát triển công nghiệp chế biến; phát triển các cơ sở sản xuất gắn vớivùng sản xuất nguyên liệu; đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu khoa học về giốngcây, giống con có năng suất cao, chất lượng tốt; áp dụng những thành tựu KHCNvào chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi; đầu tưvào hệ thống đê điều, kênh mương, hồ đập thủy lợi… Nhờ đó đã góp phần quantrọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Chúng ta đang thực hiện chuyển dịch CCKT theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng củangành công nghiệp và dịch vụ trong GDP, vì thế cơ cấu vốn đầu tư cũng có sựchuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng đầu tư vào nhóm ngành công nghiệp -xây dựng và nhóm ngành dịch vụ Năm 2010, vốn NSNN đầu tư cho ngành
Trang 23công nghiệp là 2.111,8 tỷ đồng, chiếm 1,8% tổng vốn đầu tư, tăng 115,3 tỷđồng so với năm 2009; ngành giao thông vận tải là 26.345,1 tỷ đồng, chiếm22,6% tổng vốn đầu tư, tăng 2.888,2 tỷ đồng so với năm 2009; ngành bưuđiện 320 tỷ đồng, chiếm 0,3% tổng vốn đầu tư, tăng 20 tỷ đồng so với năm2009; thương mại, kho tàng, du lịch là 1.354,3 tỷ đồng, chiếm 1,2% tổng vốnđầu tư, tăng 16,8 tỷ đồng so với năm 2009 [4, tr.73] Năm 2009, tỷ trọng củangành công nghiệp và xây dựng trong GDP là 40,18% và dự kiến năm 2010 là40,33%; tỷ trọng của ngành dịch vụ là 39,38% năm 2009 và khả năng đạt39,79% trong năm 2010 [4, tr.80].
Thứ ba, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vốn đầu tư của Nhà nước
sẽ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong việc hỗ trợ phát triển KHCN Năm
2009, đầu tư từ NSNN cho lĩnh vực KHCN là 3.475,6 tỷ đồng, chiếm 3,4%; năm
2010 dự kiến là 4.088,3 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng vốn đầu tư [4, tr.73] Đối vớinước ta, chi đầu tư trực tiếp của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học và triển khaicông nghệ mới mặc dù còn nhỏ bé về qui mô, thấp về tỷ trọng nhưng đây cũng
là một trong những biểu hiện của đầu tư và ở mức độ nhất định nó cũng có tạo ra
và tăng cường năng lực KHCN nước ta và trên thực tế chúng ta cũng đã đạtđược những thành tựu nhất định trong lĩnh vực nông nghiệp như: giống mới,công nghệ gen; lĩnh vực phần mềm; công nghệ vật liệu mới…
Thứ tư, vốn đầu tư từ NSNN còn có vai trò to lớn trong giải quyết việc
làm và các vấn đề xã hội khác
Trong những năm qua, việc sử dụng vốn đầu tư từ NSNN đã góp phầnlàm gia tăng vốn cho nền kinh tế và do vậy đã huy động thêm lực lượng laođộng vào các hoạt động kinh tế, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và cải thiệnđời sống cho người lao động Theo báo cáo của Chính phủ trong giai đoạn
2006 - 2010, bình quân mỗi năm nước ta tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệulao động, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2006 là 4,82% và năm 2010 giảmxuống còn khoảng 4,6% [3, tr.74]
Trang 24Hàng năm, Nhà nước ta đầu tư từ NSNN những khoản tiền lớn để thựchiện các chương trình mục tiêu quốc gia, cụ thể, trong năm 2010, kế hoạchphân bổ vốn đầu tư từ NSNN cho các chương trình mục tiêu quốc gia là 2.212
tỷ đồng, trong đó chương trình giảm nghèo là 273 tỷ đồng; chương trình việclàm là 420 tỷ đồng; chương trình phòng chống một số bệnh dịch nguy hiểm
và HIV/AIDS là 260 tỷ đồng; chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm là 15 tỷđồng; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường là 620 tỷ đồng; chươngtrình văn hóa 386 tỷ đồng; chương trình phòng chống tội phạm 120 tỷ đồng;chương trình phòng chống ma túy 100 tỷ đồng… Ngoài ra là vốn đầu tư đểthực hiện Chương trình 135 phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó khăn vùngđồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa 2.307,2 tỷ đồng;
hỗ trợ 62 huyện nghèo theo nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP 1.240 tỷ đồng; hỗtrợ đầu tư xây dựng nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ 510 tỷ đồng…[4, tr.16]
Việt Nam luôn được các nước khác trên thế giới đánh giá cao về nhữngkết quả đã đạt được trong thực hiện chính sách an sinh xã hội và việc đầu tư
từ NSNN của Đảng và Nhà nước ta đã phần nào giảm bớt khó khăn cho ngườidân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, cácđối tượng chính sách, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm vàgiữ vững ổn định chính trị, xã hội Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo củaViệt Nam năm 2006 là 15,5% và dự kiến năm 2010 sẽ giảm xuống dưới 10%(theo chuẩn quốc gia năm 2005) [3, tr.66]
Một trong những mục tiêu cơ bản, có tính nguyên tắc của Đảng và Nhànước ta là công bằng xã hội Tính công bằng ở đây bao gồm những yêu cầu về
sự bình đẳng, thoả đáng, hợp lý về các quyền lợi… giữa các dân tộc, giữa cácvùng miền, giữa các tầng lớp dân cư Chính hoạt động đầu tư của Nhà nướcnhằm đạt được các mục tiêu như đã nói ở trên góp phần rất quan trọng vàoviệc thực hiện các mục tiêu của công bằng xã hội
Trang 251.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiệncác mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả
đó trong những điều kiện nhất định
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư mà gọi tắt là hiệu quả đầu tư “là phạm trùkinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả KT-XH đã đạt được củahoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong mộtthời kỳ nhất định” [19, tr.124]
Chúng ta có thể đưa ra khái niệm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từNSNN như sau: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN phản ánh mối tươngquan giữa kết quả đạt được của hoạt động đầu tư và vốn đầu tư mà NSNN đã
bỏ ra để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất định
1.2.1.2 Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, vốn đầu tư
từ ngân sách nhà nước
Khi xem xét đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, vốn đầu tư từNSNN, người ta thường đi sâu phân tích những nội dung: Kết quả đầu tư; tácđộng hay hệ quả cả về mặt kinh tế, xã hội, chính trị của hoạt động đầu tư cótính tới các mối quan hệ; quan hệ giữa kết quả đầu tư với vốn đầu tư đã bỏ ra
Và vấn đề quan trọng là phải xem xét cả mức độ và cường độ tác động cả mặttích cực và tiêu cực của hoạt động đầu tư đến phát triển KT-XH, tìm ranguyên nhân để có biện pháp khắc phục những yếu kém và những hạn chế.Công việc này được thực hiện theo các bước: Bước thứ nhất là tính toán cácchỉ tiêu hiệu quả; bước thứ hai, đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư thông quaxem xét mức độ đạt được của các chỉ tiêu và thực tế phản ánh của mỗi chỉ
Trang 26tiêu; bước thứ ba, đánh giá nguyên nhân của kết quả đầu tư và hiệu quả đầutư; bước thứ tư, đưa ra những nhận định cần thiết.
Trên thực tế, nếu không đầu tư đủ, kịp thời thì dù có đầu tư theo đúngđịnh hướng đã được xác định thì rất có thể kết quả và hiệu quả đầu tư cũngchưa chắc đã đạt được mức mong muốn Hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố, cả yếu tố khách quan và chủ quan Những đánh giá, nhận địnhchính xác sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách về đầu tư kịp thời điều chỉnhcác quyết định về chủ trương đầu tư và tổ chức đầu tư, nhất là việc đề xuấtchủ trương và tổ chức đầu tư theo ngành, theo lãnh thổ và theo giai đoạn
1.2.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Trên quan điểm kinh tế vĩ mô, đối với toàn bộ nền kinh tế người tathường xem xét hai loại hiệu quả chủ yếu của việc sử dụng vốn đầu tư là hiệuquả kinh tế và hiệu quả xã hội Đối với vốn đầu tư từ ngân sách từ NSNN, khixem xét, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vốn đầu tư, ngoài hiệu quả kinh tế vàhiệu quả xã hội người ta còn xem xét, đánh giá hiệu quả chính trị Và trênthực tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị nhiều khi được coi là tiêu chuẩncao nhất của việc đầu tư
Hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư là tổng thể các yếu tố về lợi ích đo được bằng việc giá trị hóa các yếu tố kinh tế thu được nhờ sử dụng vốn đầu
Phần đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP do đầu tư càng cao càngchứng tỏ việc đầu tư càng có hiệu quả và ngược lại Đối với các nền kinh tế
Trang 27có trình độ phát triển càng cao, phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởngcàng nhỏ, tốc độ tăng vốn đầu tư mới càng nhỏ và tốc độ tăng GDP càng lớn
là xu thế tốt Ngược lại, đối với các nước đang phát triển mức đóng góp củavốn vào tăng trưởng lại thường là cao nhất
- Hệ số ICOR: ICOR phản ánh hệ số đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vịGDP đối với toàn bộ nền kinh tế và một đơn vị gia tăng đối với ngành, lĩnh vực
Về nguyên tắc hệ số ICOR càng nhỏ hiệu quả của đầu tư càng lớn và ngược lại
Quan hệ giữa hệ số ICOR và phần tăng thêm GDP được diễn tả bằngcông thức:
Tốc độ tăng GDP = Vốn đầu tư / ICORTheo công thức này nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP chỉ còn phụthuộc vào vốn đầu tư Hoặc khi vốn đầu tư không thay đổi nếu chỉ số ICORcàng bé thì phần giá trị gia tăng thêm càng lớn
- Tỷ lệ vốn đầu tư /GDP tăng thêm: Chỉ tiêu này có ý nghĩa to lớn đốivới tăng trưởng kinh tế, nó cho biết để có được 1 đơn vị GDP tăng thêm thì tỷ
lệ đầu tư vốn là bao nhiêu
- Tỷ lệ GDP/vốn đầu tư: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn đầu tư tạo rađược bao nhiêu đồng GDP
- Năng suất lao động và mức tăng năng suất lao động cùng các chỉ tiêuliên quan: Để biết trình độ phát triển của một quốc gia cũng như so sánh trình
độ phát triển của các quốc gia với nhau thì năng suất lao động là thước đotổng hợp và quan trọng nhất Ngoài những yếu tố như công nghệ, quản trị, laođộng lành nghề, chế độ tiền lương… ảnh hưởng đến năng suất lao động thìyếu tố vốn đầu tư có ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động xã hội
- Số lao động được giải quyết việc làm và đầu tư tạo ra mỗi chỗ làmviệc cùng các chỉ tiêu liên quan: Đối với một đất nước thiếu vốn nhưng cónguồn lao động dồi dào và số người cần việc làm tăng lên hàng năm rất lớnnhư nước ta thì một trong những yêu cầu đối với đầu tư là tạo ra nhiều chỗ
Trang 28làm việc cho người lao động có nhu cầu việc làm và suất đầu tư để có một chỗlàm việc không lớn là vấn đề rất quan trọng.
- Gia tăng xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế do đầu tư và các hệ sốtương quan: Trong bối cảnh thế giới không ngừng biến động cùng với diễnbiến phức tạp của toàn cầu hóa thì mở cửa nền kinh tế, tăng độ mở của nềnkinh tế có ý nghĩa to lớn Đầu tư hướng tới gia tăng xuất khẩu, làm tăng độ
mở của nền kinh tế là một vấn đề rất được quan tâm Độ mở của nền kinh tếcàng lớn, xuất khẩu của nền kinh tế càng lớn càng chứng tỏ nền kinh tế đã cósức cạnh tranh tốt, đã có sự hội nhập tốt vào nền kinh tế thế giới
- Mức độ giảm chi phí đầu vào của sản xuất do đầu tư: Chi phí đầu vàocủa sản xuất kinh doanh quyết định giá thành sản phẩm và sức cạnh tranh củanền kinh tế, do đó việc giảm chi phí đầu vào cho sản xuất kinh doanh là vấn
Hiệu quả xã hội của vốn đầu tư là tổng thể các yếu tố lợi ích về mặt xã hội do thực hiện công việc đầu tư mang lại [66, tr.391].
Những lợi ích có tính hiệu quả đối với xã hội thu được do việc đầu tư
có thể được lượng hóa và cũng có thể chỉ được định tính Các chỉ tiêu phảnánh hiệu quả xã hội của vốn đầu tư gồm:
- Qui mô và tốc độ giảm thất nghiệp: Thất nghiệp và sự ổn định chophát triển luôn luôn gắn liền với nhau Nếu thất nghiệp ít, tốc độ giảm thấtnghiệp càng nhanh càng có lợi cho sự phát triển và ngược lại
Trang 29- Qui mô và tốc độ tăng về GDP bình quân đầu người: Qui mô GDPbình quân đầu người và tốc độ tăng chỉ số này ảnh hưởng đến thu nhập vàđời sống của dân cư Muốn có được GDP/người cao và tốc độ tăng của chỉ
số này lớn thì bên cạnh không ngừng giảm tăng dân số phải gia tăng tốc độtăng trưởng kinh tế và làm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả trong thếbền vững
- Qui mô và tốc độ tăng phúc lợi, giảm đói nghèo: Thể hiện ở việc giatăng các hoạt động đầu tư phục vụ phúc lợi xã hội và xóa đói giảm nghèo,nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
- Mức giảm các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và tai nạn nghềnghiệp: Đầu tư luôn tác động đến rất nhiều người và nhiều cộng đồng theo cảchiều hướng tích cực và chiều hướng tiêu cực, do vậy khi đầu tư cần cân nhắcđến những tiêu cực mà hoạt động đầu tư có thể gây ra như tắc nghẽn giaothông, trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác…
- Mức độ ô nhiễm môi trường do đầu tư: Phát triển bền vững là yêu cầuđặt ra đối với phát triển KT-XH của đất nước Đầu tư có tính tới yêu cầu pháttriển bền vững, bảo vệ môi trường sống cũng như đầu tư trực tiếp cho việcbảo vệ môi trường là vấn đề cực kỳ quan trọng và không thể thiếu vắng trongtoàn bộ quá trình đầu tư
Hiệu quả chính trị của vốn đầu tư là tổng thể các yếu tố lợi ích về mặt chính trị do thực hiện công việc đầu tư mang lại.
Việc đánh giá hiệu quả chính trị của vốn đầu tư là rất khó có thể lượnghóa được Có thể thông qua hoạt động đầu tư sẽ tạo niềm tin của nhân dân vào
sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao vị thế của Chính phủ trong công cuộc lãnhđạo đất nước; tạo sự ổn định chính trị, xã hội; thực hiện chính sách đại đoànkết dân tộc, xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền; thực hiệnnhiệm vụ về quốc phòng, an ninh…
Trang 301.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là vấn đề quantrọng bậc nhất đối với việc xem xét đầu tư, chúng tác động đến quá trình đầu
tư từ khi ra quyết định đầu tư cho đến khi đầu tư xong và khai thác kết quảđầu tư sau đó Việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốncho phép các nhà hoạch định chính sách, chủ đầu tư lựa chọn phương thứchuy động và sử dụng vốn đầu tư đúng mục tiêu và đạt hiệu quả cao nhất Đốivới vốn đầu tư từ NSNN hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chịu ảnh hưởng bởi rấtnhiều nhân tố
1.2.2.1 Chủ trương đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước
Chủ trương đầu tư luôn được coi là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đếnhiệu quả đầu tư Chủ trương đầu tư là việc xác định rõ đầu tư vào cái gì, ởđâu, bao giờ? và được thể hiện cụ thể bằng quyết định đầu tư
Xác định đúng đắn chủ trương đầu tư là vấn đề hết sức quan trọng vìnếu ngay từ lúc đầu chủ trương mà sai thì sẽ để lại một loạt hậu quả tiêu cựccho các bước tiếp theo của quá trình đầu tư của nhà nước Thông thường thìchủ trương đầu tư xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn ở các địa phương, tuynhiên sẽ là phiến diện nếu không đặt việc giải quyết nhu cầu đó trong mốiquan hệ tổng thể với các nhu cầu khác và với các địa phương khác, nó đòi hỏiphải dựa vào quy hoạch, kế hoạch ở từng thời kỳ Tính hiệu quả của vốn đầu
tư không những đòi hỏi phải có kết quả ở mức cao nhất, mà còn yêu cầu kếtquả đó đạt được trong điều kiện các chi phí bỏ ra ở mức thấp nhất Đối vớinước ta, nhu cầu đầu tư của các ngành, các địa phương là rất cao, trong khi đónguồn vốn đầu tư từ NSNN lại hạn hẹp, rõ ràng khi mà các nguồn lực cho đầu
tư phát triển của nhà nước còn hạn chế thì vấn đề này cần phải được quan tâmgiải quyết Có được chủ trương đầu tư đúng đắn cũng là cách để khắc phục sựlãng phí vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 311.2.2.2 Công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước
Nghiên cứu về quy hoạch phát triển KT-XH có ý nghĩa quan trọng,quyết định đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động đầu tư Về nguyên tắc,trong hoạt động đầu tư công tác quy hoạch cần đi trước một bước làm cơ sởcho công tác lập kế hoạch đầu tư Tuy nhiên, tại Việt Nam thời gian qua docông tác quy hoạch chưa kịp thời cùng với chất lượng quy hoạch thấp đượcđánh giá là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, không ít dự ánlớn và quan trọng khi ra quyết định về chủ trương đầu tư đã thoát ly quyhoạch nên thiếu chính xác, có nhiều dự án trong quá trình triển khai thực hiệnphải dời đi, dời lại, gây tổn thất, lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp Vì vậy để đảmbảo hiệu quả hoạt động đầu tư, góp phần giảm bớt thất thoát lãng phí tronghoạt động đầu tư thì ngay trong quá trình lập kế hoạch đầu tư cần quan tâmthỏa đáng đến công tác quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH
Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH bao gồm quy hoạch tổng thể pháttriển KT-XH của cả nước, của một vùng, hay của một địa phương
Quy hoạch tổng thể XH của cả nước là luận chứng phát triển
KT-XH và tổ chức không gian các hoạt động KT-KT-XH hợp lý theo lãnh thổ để thựchiện mục tiêu chiến lược KT-XH quốc gia Đó là bước cụ thể hóa của chiếnlược phát triển KT-XH quốc gia theo các điều kiện và đặc điểm của từng vùnglãnh thổ, là căn cứ xây dựng kế hoạch phát triển của vùng, ngành và cơ sở chohoạt động đầu tư
Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của vùng hoặc địa phương làluận chứng phát triển KT-XH của vùng, tỉnh hoặc thành phố Nội dung baogồm sự sắp xếp, phân bổ các ngành kinh tế, xã hội, các điểm dân cư, khu hànhchính, thương mại, y tế, giáo dục… trên địa bàn, bao gồm cả các ngành củaTrung ương và các ngành của địa phương quản lý, thực chất nó chính là quyhoạch tổng hợp phát triển tất cả các ngành trên địa bàn phù hợp với đặc điểm,
Trang 32điều kiện tự nhiên, xã hội, phong tục tập quán, ngành nghề truyền thống…của vùng hoặc địa phương Đây cũng là căn cứ quan trọng trong xác định chủtrương đầu tư và ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động đầu tư.
Ngoài ra, trong quá trình sử dụng vốn đầu tư từ NSNN cũng cần quantâm đến quy hoạch phát triển ngành, liên ngành, quy hoạch phát triển vùng,vùng kinh tế trọng điểm, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch pháttriển đô thị, quy hoạch xây dựng…
Từ quy hoạch phát triển KT-XH và các quy hoạch khác, phải xây dựng
kế hoạch đầu tư 5 năm và hàng năm, thực hiện phân bổ vốn cho các côngtrình theo ngành, lĩnh vực một cách công khai, công bằng theo thứ tự ưu tiên,tránh tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, thiếu tập trung, đảm bảo đáp ứngđược yêu cầu phát triển KT-XH của cả nước, cũng như của từng ngành, từngđịa phương trong từng thời kỳ
1.2.2.3 Cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Để quản lý vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư từ NSNN, Nhà nước cầnxây dựng và ban hành một hệ thống các cơ chế, chính sách để đảm bảo hiệuquả của đầu tư
Chính sách đầu tư của Nhà nước là một hệ thống đồng bộ các chínhsách như chính sách tài chính - tiền tệ; chính sách về lao động, đất đai; chínhsách khuyến khích đầu tư theo ngành, theo vùng; chính sách phát triển KHCN;chính sách phát triển nguồn nhân lực… Thực tiễn cho thấy chính sách đầu tưđúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Cơ chế quản lý vốn đầu tư bao gồm các yêu cầu của Nhà nước trongviệc quản lý vốn đầu tư như: việc đầu tư phải phù hợp với chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển KT-XH trong từng thời kỳ; đầu tư vốn NSNN phảiđúng mục tiêu, bảo đảm có phương thức quản lý phù hợp đối với từng nguồnvốn, từng loại dự án đầu tư; phân định rõ trách nhiệm quyền hạn của các cơ
Trang 33quan, tổ chức cá nhân trong từng khâu của quá trình đầu tư, thực hiện phâncông, phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư
Để hướng dẫn, quản lý các dự án đầu tư, Nhà nước phải xây dựng vàban hành qui chế quản lý đầu tư và xây dựng cho cả 3 giai đoạn của quá trìnhđầu tư, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến kết thúc đầu tư vớinội dung chủ yếu bao gồm:
- Những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án đầu tư, nhất là các tiêuchuẩn thiết kế, định mức dự toán phù hợp;
- Thẩm định dự án đầu tư, lựa chọn được phương án khả thi để phêduyệt đây là khâu quyết định qui mô, tổng mức vốn đầu tư dự án;
- Xây dựng cơ chế đấu thầu công khai, minh bạch, cạnh tranh lànhmạnh… góp phần tích cực trong việc chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư;
- Quản lý các nguồn vốn đầu tư, xây dựng qui trình kiểm soát thanhtoán, quyết toán vốn đầu tư;
- Qui định các thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư như giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng, hợp đồng xây dựng…;
- Quản lý chất lượng công trình xây dựng từ hồ sơ khảo sát thiết kế, đếncác sản phẩm xây dựng hoàn thành sau đầu tư, bàn giao cho đơn vị sử dụng;
- Thẩm tra quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, xác định giá trị tàisản sau đầu tư, bàn giao cho đơn vị sử dụng
Ngoài ra, để bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư từ NSNN, phải làm tốt côngtác thanh tra, kiểm tra, giám sát Công tác này phải được tiến hành ở tất cả cácbước, các giai đoạn của quá trình đầu tư Sở dĩ như vậy vì mục đích chính củahoạt động này là nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục, sửa chữa và ngăn ngừa,
để không xẩy ra hậu quả hoặc nếu có thì hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra
1.2.2.4 Quá trình tổ chức thực thi việc đầu tư
Tổ chức thực hiện thành công chủ trương đầu tư nhanh, đảm bảo chấtlượng và thời hạn qui định sẽ đem lại hiệu quả đầu tư Nếu việc thực hiện đầu
tư bị kéo dài (có thể do thiếu vốn, tổ chức thực hiện đầu tư không khoa học,
Trang 34mất quá nhiều thời gian cho việc giải phóng mặt bằng…) sẽ làm cho hoạtđộng đầu tư tốn kém thêm, công trình chậm đưa vào hoạt động và hậu quả làlàm cho công trình phát huy hiệu quả kém hoặc không có hiệu quả.
Trong quá trình thực hiện đầu tư cũng cần phải triển khai việc kiểm tragiám sát, đánh giá, kết hợp với việc phân tích và dự báo các tác nhân ảnhhưởng đến việc đầu tư để có thể ra quyết định thu hẹp hay mở rộng qui môđầu tư cho phù hợp, nâng cao hiệu quả của đầu tư
1.2.2.5 Vấn đề quản lý, khai thác sau đầu tư
Sau khi hoạt động đầu tư kết thúc, công trình hoàn thành, vấn đề quantrọng là đưa công trình vào sử dụng Quá trình quản lý, khai thác sau đầu tư
có ý nghĩa quyết định lớn đến hiệu quả đầu tư Công trình hoàn thành nếukhông được đưa vào sử dụng là sự lãng phí lớn, hoặc quản lý sử dụng khôngtốt, không mang lại hiệu quả như mục tiêu đã đặt ra khi xác định chủ trươngđầu tư thì cũng không thể nói việc đầu tư có hiệu quả
Vốn đầu tư từ NSNN chủ yếu tập trung cho xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng, sản phẩm là những công trình, hạng mục công trình cụ thể, như:đường sá, cầu cống, vật kiến trúc những sản phẩm này có các tính năng, tácdụng nhất định theo thiết kế ban đầu, do đó, các đơn vị nhận bàn giao đưa vào
sử dụng phải có kế hoạch quản lý, khai thác tối ưu các sản phẩm của đầu tư.Mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư có vai trò khác nhau và đều quan trọng,tuy vậy có thể nói rằng ý nghĩa thực tiễn, tác động của vốn đầu tư từ NSNN
để đảm bảo ổn định và phát triển KT-XH, suy cho cùng được quyết định ởgiai đoạn này
1.2.2.6 Năng lực của đội ngũ cán bộ, các tổ chức, đơn vị làm công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Có thể nói đây là một trong những nhân tố mang tính chất quyết địnhđến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Trong rất nhiều trường hợp, chủ trương
Trang 35đầu tư là đúng đắn, vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu của thực tiễn… nhưng so
sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, của các tổ chức, đơn vị tiếp nhận đầu tư,làm cho quá trình đầu tư bị ảnh hưởng, thậm chí làm cho dự án đầu tư bịthất bại
Năng lực của đội ngũ cán bộ và tổ chức tiếp nhận đầu tư được nói đến
ở đây bao gồm: Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, phẩm chất đạođức, tinh thần và thái độ đối với công việc… Bên cạnh năng lực thì phẩm chấtđạo đức của cán bộ cũng là một yếu tố chi phối chất lượng hoạt động đầu tư,nhất là ở giai đoạn thi công xây lắp, tổ chức thực hiện chương trình, dự án vàcông tác thanh, quyết toán vốn…
1.3 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở MỘT
SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Kinh nghiệm của huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Hải Hà là một huyện thuộc miền Đông tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc giápTrung Quốc, phía Đông giáp thành phố Móng Cái, phía Tây giáp huyện BìnhLiêu, huyện Đầm Hà, phía Nam có đường bờ biển dài hơn 40 Km Diện tíchcủa huyện là 512,5 km2 Dân số là 54.061 người với nhiều dân tộc cùng chungsống như: Tày, Dao, Nùng…
So với Bình Liêu, huyện Hải Hà có điều kiện thuận lợi hơn để pháttriển KT-XH nhờ lợi thế của khu công nghiệp cảng biển Hải Hà đang đượcđầu tư xây dựng Tuy nhiên, có đặc điểm chung đều là huyện miền núi, biêngiới và dân tộc, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong CCKT, có khu kinh
tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh liền kề với khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô Đồng Văn của Bình Liêu…
-Trong giai đoạn 2001 - 2010, Hải Hà có tốc độ tăng trưởng kinh tế bìnhquân ước đạt 11,5%/năm; Thu nhập bình quân đầu người theo giá thực tế năm
2010 khoảng 850 USD [16, tr.2] Để đạt được kết quả đó, Hải Hà đã huy động và
Trang 36sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, trong đó có nguồn lực vốn đầu tư từNSNN Từ năm 2001 - 2010, tổng vốn đầu tư từ NSNN của Hải Hà khoảng 1.650
tỷ đồng, chiếm 54,5% tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện [15, tr.11]; [16, tr.10]
Do nguồn thu ngân sách huyện dành cho chi đầu tư phát triển của Hải
Hà hàng năm khá lớn (chủ yếu là nguồn cấp quyền sử dụng đất, tiền thuê mặtđất, mặt nước) nên việc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân cấp quyếtđịnh các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách huyện, thị xã, thành phố cótổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng/dự án cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cáchuyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hải Hàtrong quá trình thực hiện các hoạt động đầu tư Huyện đã chủ động xây dựngdanh mục các dự án đầu tư trình Hội đồng nhân dân huyện thông qua và tổchức thực hiện Các dự án đầu tư này chủ yếu để đáp ứng những nhu cầu bứcthiết phục vụ cho yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương như hệ thống kếtcấu hạ tầng tại các xã đặc biệt khó khăn, khu kinh tế cửa khẩu Bắc PhongSinh… Đối với các dự án Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp giao cho huyện làmchủ đầu tư, huyện đã thành lập Ban quản lý dự án công trình có đủ năng lực tổchức thực hiện nhiệm vụ giúp huyện làm đầu mối quản lý dự án Ngoài ra,huyện cũng quan tâm kiện toàn công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu
tư nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện như quản lý đầu tư theo quy hoạch,quản lý chất lượng thi công công trình, tăng cường các hoạt động hướng dẫn,kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư của các cơ quan chuyên môn…
Trong thời gian qua, huyện Hải Hà cũng được đánh giá là một trongnhững địa phương đã làm rất tốt công tác giải phóng mặt bằng do coi trọngcông tác tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng phương án giá đền bùhợp lý, thỏa đáng và có dự trữ quỹ đất để bố trí tái định cư, vì thế, tiến độ thicông các công trình được đảm bảo, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốnđầu tư
Trang 37Quan trọng hơn cả là Hải Hà đã huy động được sự tham gia của ngườidân trong các dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN, với phương châm “Nhànước và nhân dân cùng làm”, đặc biệt là đối với các dự án hỗ trợ phát triểnsản xuất; dự án làm đường giao thông nông thôn; dự án trung tâm thươngmại… Qua đó, phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng, bổ sung thêmnguồn vốn đầu tư phát triển để thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH củađịa phương.
1.3.2 Kinh nghiệm của huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Lộc Bình là huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lạng Sơn,cách thành phố Lạng Sơn 23 km theo quốc lộ 4B từ Lạng Sơn đi Quảng Ninh.Huyện có diện tích 986,52km2 với 27 xã và 2 thị trấn, dân số 82.518 ngườibao gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Sán Chỉ, Dao, Hoa
Vốn đầu tư từ NSNN của huyện Lộc Bình từ năm 2001 - 2010 ước tínhtrên 2.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 68,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Nguồnvốn này đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế củahuyện, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2001 - 2010 ước đạt10,4%/năm, thu nhập bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2010 khoảng
600 USD
Trong quá trình sử dụng vốn đầu tư từ NSNN, Lộc Bình đã rất quantâm công tác lập kế hoạch đầu tư, thực hiện theo nguyên tắc lựa chọn lĩnhvực, địa bàn đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những khâu có tính độtphá, có tác động trực tiếp đến phát triển KT-XH của huyện
Do nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kết cấu hạ tầng đối vớiphát triển KT-XH nên Lộc Bình đã tập trung phần lớn vốn đầu tư từ NSNNđồng thời huy động sự góp sức của nhân dân để làm đường giao thông, thủylợi, trường học, trạm xá… Đến nay, hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bànhuyện đã khá toàn diện: 100% số xã có đường ô tô từ huyện đến trung tâm xã;82,76% số xã có đường giao thông cho xe gắn máy trở lên từ thôn, bản đến
Trang 38trung tâm xã đi được cả mùa mưa và mùa khô; hệ thống thủy lợi được sửachữa, kiên cố hóa đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho trên 80% diệntích đất nông nghiệp; điện lưới quốc gia được đưa đến 29/29 xã, thị trấn vớitrên 85% hộ dân có điện sinh hoạt; 79,31% số xã có đủ trường, lớp học kiên
cố, không còn tình trạng học 3 ca; tất cả các xã có trạm xá kiên cố, đáp ứngyêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu theo quy định của Bộ Y tế… [18, tr.6] Vìthế đã tạo điều kiện cho Lộc Bình phát triển đi lên
Nông - lâm nghiệp là ngành sản xuất quan trọng hàng đầu của huyệnnên trong thời gian qua Lộc Bình đã tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Huyện đã hỗ trợ, khuyến khích nhân dânthực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
sử dụng các loại giống mới có năng suất cao, mở rộng diện tích các cây trồngchính như: lúa, ngô, khoai tây, dưa hấu… sản xuất theo phân vùng, tạo sảnphẩm hàng hóa có chất lượng cao Vốn NSNN được đầu tư vào trợ giá, trợcước giống cây trồng, vật nuôi; tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật; hỗtrợ vật tư sản xuất… Trong chăn nuôi, huyện đã triển khai dự án đàn bò tạicác xã Lợi Bác, Ái Quốc, Hữu Lân, Xuân Dương nhằm hướng tới mục tiêuđưa giống bò có chất lượng cao chăn nuôi trên địa bàn huyện để lai tạo giống
bò mới có hiệu quả kinh tế Với thế mạnh là một trong những vùng trồngthông (nguyên liệu giấy) của tỉnh Lạng Sơn, huyện đã triển khai dự án nguyênliệu giấy, tạo vùng sản xuất gỗ hàng hóa Ngoài ra, huyện còn hỗ trợ nhân dânthực hiện mô hình trồng các loại cây đặc sản như hồi, quế; cây ăn quả nhưnhãn, vải thiều, hồng…
Khu kinh tế cửa khẩu Chi Ma cũng được quan tâm đầu tư xây dựng,cùng với đó là việc nâng cấp, sửa chữa và xây mới các chợ ở Thị trấn LộcBình, Na Dương, cửa khẩu Chi Ma, các điểm chợ ở khu vực nông thôn, nhằmbiến những nơi này thành trung tâm giao lưu kinh tế giữa các vùng Ngoài ra,
Trang 39huyện còn đầu tư và khai thác có hiệu quả khu du lịch nghỉ mát Mẫu Sơn,suối Long Đầu…
Huyện Lộc Bình cũng thường xuyên tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra các dự án đầu tư có sử dụng vốn NSNN, đảm bảo chấp hành đúngquy trình, thủ tục đầu tư, tiến độ cũng như chất lượng thi công các công trình.Việc kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư cũng luôn được quan tâm, tiến độ giảingân được kịp thời, đúng quy định Công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toánđược thực hiện một cách chặt chẽ, không để thất thoát, lãng phí…
1.3.3 Kinh nghiệm của huyện Đà Bắc, Tỉnh Hòa Bình
Đà Bắc là một huyện ở vùng núi cao của tỉnh Hòa Bình, phía Bắc giáptỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Kỳ Sơn và Tân Lạc, phía Đông giáp thị
xã Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Sơn La Huyện có diện tích hơn 820 km2, dân
số 53.278 người với nhiều dân tộc cùng chung sống như Mường, Thái, Tày
Đà Bắc là huyện nghèo nhất của tỉnh Hòa Bình Trong những năm gần đây,nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Chương trình
135 đã góp phần làm thay đổi bộ mặt KT-XH của huyện, nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần cho nhân dân
Huyện Đà Bắc có tất cả 21 xã, trong đó có 16 xã được thụ hưởngChương trình 135, tổng số vốn đầu tư của chương trình từ 2001 - 2010 của ĐàBắc khoảng trên 160 tỷ đồng [63, tr.3] [68, tr.33] Đối với hợp phần hỗ trợ pháttriển sản xuất, hầu hết các xã đã lựa chọn, áp dụng và mở rộng mô hình nhằmphát huy những lợi thế cả về trồng trọt, chăn nuôi, khai thác, nuôi trồng thủy sảntrên lòng sông, hồ… Trong quá trình thực hiện đã thu hút được sự tham gia tíchcực của nhiều người dân Do đó, năng suất, sản lượng lương thực của Đà Bắcđược nâng lên, năm 2009, sản lượng lương thực bình quân đầu người là 448kg[63, tr.6], không những thế còn tạo điều kiện nâng cao năng lực, trình độ sảnxuất của nhân dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của huyện phát triển
Trang 40Nhờ có sự đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tại các xã, thôn,bản đặc biệt khó khăn với số vốn chiếm trên 70% vốn Chương trình 135 nên
hệ thống giao thông liên thôn, bản đã được cải thiện rõ rệt; các công trìnhthủy lợi đã cung cấp nước tưới chủ động cho hàng nghìn ha lúa, hoa màu; cácchợ vùng cao đã tạo điều kiện phát triển các hoạt động buôn bán các mặt hàngnông sản của địa phương; hầu hết trẻ em ở độ tuổi đi học trong các thôn bảnkhó khăn thuộc vùng sâu, vùng xa đều được đến lớp, đến trường; các trạm xá
xã được xây dựng, nâng cấp và tăng cường thêm trang thiết bị đã giúp choviệc phòng ngừa tại chỗ, chữa bệnh tại tuyến cơ sở được thực hiện, phát huycao hiệu quả của các hoạt động y tế thôn, bản…
Hợp phần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, cộng đồng dân cư đượctriển khai thực hiện ở Đà Bắc từ năm 2006 với mục đích giúp cho đội ngũ cán
bộ xã, thôn, bản và người dân nắm, hiểu rõ chủ trương của Đảng, chính sáchcủa Nhà nước trong thực hiện xóa đói giảm nghèo và chương trình phát triểnKT-XH ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; cung cấp những kiến thức cơbản về quản lý tài chính ngân sách và dự án cấp xã, về phát triển sản xuất vàchuyển dịch CCKT… Qua đó, đã nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán
bộ cơ sở và cộng đồng dân cư, tham gia thực hiện tốt Chương trình 135 cũngnhư các chương trình phát triển KT-XH khác
Ngoài ra, Chương trình 135 còn hỗ trợ các đối tượng học sinh con hộnghèo đi học trong với định mức 70.000 đồng/học sinh/tháng đối với học sinhmầm non và 140.000 đồng/học sinh/tháng đối với học sinh phổ thông; tổ chứccác hoạt động trợ giúp pháp lý, nâng cao nhận thức của người dân về phápluật; hỗ trợ các hoạt động văn hóa thông tin…
Trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình 135, Đà Bắc đã tăngcường phân cấp cho Ủy ban nhân dân các xã làm chủ đầu tư và phát huy vaitrò tham gia của người dân Nhờ đó, đã góp phần nâng cao năng lực quản lý,tinh thần trách nhiệm, tạo sự chủ động cho cấp cơ sở và huy động được sự