Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụlao động được xác định thông qua việc làm được trả công.Mặc dù còn có những điểm khác nhau và nhấn mạnh ở khía cạnh nàyhay khía cạnh khác, nhưng cá
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo, tình hình KT - XH của nước ta đã có những chuyển biến
rõ rệt Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được xác lập
và hoàn thiện; các thị trường cơ bản đã hình thành: thị trường hàng hoá dịch
vụ, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị
trường khoa học - công nghệ v.v Trong đó, thị trường lao động đóng vai trò
chính trong việc cung cấp và phân bổ nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu
phát triển KT - XH.
Thị trường lao động là một trong những nhân tố quan trọng để tạo độnglực thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạođiều kiện cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng nhanh và bền vững Để địnhhướng phát triển thị trường lao động, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X củaĐảng đã chỉ rõ:
Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tạo môi trường thông suốt để
phát triển thị trường lao động, gắn kết cung - cầu lao động Đa dạng
hoá các hình thức giao dịch việc làm, đảm bảo quyền của người laođộng lựa chọn chỗ làm việc Thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồnglao động; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cả người lao động vàngười sử dụng lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm và trợ cấp thấtnghiệp Tăng cường hệ thống thông tin, thống kê thị trường laođộng Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và tăng cường quản lý nhànước đối với hoạt động này [16, tr.243]
Là một tỉnh nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Hồng, tỉnh Bắc Ninhhiện nay vẫn tiếp tục thực hiện những mục tiêu cơ bản do Đại hội Đảng bộtỉnh lần thứ XVII đã đề ra: “Xây dựng Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công
Trang 2nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015, tạo tiền đề đến năm 2020 là mộttrong những tỉnh dẫn đầu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” [14, tr.40] Để đạtđược mục tiêu này, việc phát triển thị trường lao động là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng hàng đầu của tỉnh Thị trường lao động phát triển tốt sẽđảm bảo được nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnhtranh và thu hút các nguồn lực khác cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnhBắc Ninh.
Thực tế cho thấy, thị trường lao động Bắc Ninh đang phát triển,
nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT - XH của địa phương Tốc
độ đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn rất lớn trong khi chấtlượng lao động còn thấp, cơ cấu lao động chưa phù hợp Một lượng khá lớnlao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành phố và các khu công nghiệptrong khi thị trường lao động bị phân mảng Hoạt động của các hệ thốnggiới thiệu việc làm tuy đã cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầucủa thị trường lao động Các đơn vị đào tạo nguồn nhân lực tuy đã đượcđầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, song vẫn chưa đáp ứng đượcvới nhu cầu lao động trên thị trường, cơ cấu ngành nghề và chất lượng đàotạo chưa theo kịp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Công tác quản lý thịtrường lao động còn thể hiện nhiều bất cập v.v Tất cả những vấn đề nêutrên đều ảnh hưởng đến thị trường lao động địa phương, đòi hỏi phải cónhững chính sách, giải pháp hợp lý nhằm phát triển thị trường lao động.Thị trường lao động phải có sự phối hợp cùng các thị trường khác để tạo sựđồng bộ nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc
đẩy phát triển KT - XH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Vì thế, phát triển thị trường lao động ở Bắc Ninh đang là vấn đề bứcxúc cả về lý luận lẫn thực tế, bởi vì mức độ phát triển của nó ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển KT - XH của
địa phương Với ý nghĩa trên, từ góc độ tiếp cận lực lượng lao động là một
Trang 3trong những nguồn lực quan trọng trong phát triển, tác giả đã chọn đề tài
“Phát triển thị trường lao động tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sỹ Kinh tế
nhằm góp phần đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết trên
2 Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở nước ta, thị trường laođộng là một trong những vấn đề quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với
phát triển KT - XH của đất nước Những năm vừa qua, một số tác giả đã có
công trình nghiên cứu về thị trường lao động ở những góc độ khác nhau:
- Đỗ Thị Xuân Phương, Phát triển thị trường lao động, giải quyết việc
làm (qua thực tế ở Hà Nội), Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2000 Tác giả làm rõ một số vấn đề về lý luận và thựctiễn của thị trường lao động qua thực tế ở Hà Nội, đồng thời tác giả đưa ra cácgiải pháp để phát triển thị trường lao động ở nước ta
- Nguyễn Thị Lan Hương, Thị trường lao động Việt nam, định hướng
và phát triển, Nxb lao động xã hội, Hà Nội - 2002 Tác giả trình bày các luận
cứ cơ bản định hướng phát triển thị trường lao động, các giải pháp định hướng
lao động của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010.
- Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Hân, Một số vấn đề
phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
- 2003 Các tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt
động của thị trường lao động Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn, trong quátrình hình thành, phát triển thị trường lao động, một số giải pháp để phát triểnloại thị trường này trong giai đoạn tới
- Phạm Quý Thọ, Thị trường lao động Việt Nam - thực trạng và các giải pháp phát triển, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội - 2003 Sau khi đưa ra
cơ sở lý luận của thị trường lao động, tác giả đã phân tích thực trạng và qua
đó đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển thịtrường lao động Việt Nam
- Nguyễn Hữu Dũng, Thị trường sức lao động và định hướng nghề
Trang 4nghiệp cho thanh niên ở nước ta, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội - 2004 Tác
giả làm rõ mối quan hệ giữa thị trường lao động và định hướng nghề nghiệpcho thanh niên; đánh giá thực trạng về thị trường lao động và định hướngnghề nghiệp cho thanh niên; dự báo cung cầu lao động đến năm 2010; khuyếnnghị các giải pháp phát triển thị trường lao động, định hướng phát triển nghềnghiệp cho thanh niên trong những năm tiếp theo
- Nguyễn Thị Thơm cùng một số tác giả, Thị trường lao động Việt Nam
- Thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, năm 2004.
Thông qua những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường lao động, kinh nghiệmcủa một số nước trên thế giới, toàn cảnh thị trường lao động nước ta hiện nay,qua đó tác giả đưa ra những giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động
- Phạm Đức Chính, Thị trường lao động, cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2006 Tác giả phân tích cơ sở
lý luận của thị trường lao động, về nguồn lao động, những yếu tố cấu thành
và điều tiết thị trường lao động, mối quan hệ cung - cầu sức lao động và
tiền lương, vận dụng lý luận về thị trường lao động vào thực tế nền kinh tế
ở nước ta
Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến một số vấn đề lý luận vàthực tiễn về thị trường lao động và gợi mở về quan điểm, giải pháp phát triểnthị trường lao động ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có côngtrình nào nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể về phát triển thị trường lao động ởtỉnh Bắc Ninh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Đề tài tập trung vào nghiên cứu và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận vềthị trường lao động và sự cần thiết phải phát triển thị trường lao động ở BắcNinh Đồng thời, đề ra các giải pháp phát triển thị trường lao động trên địa
bàn tỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu về lao động phục vụ cho sự phát triển KT
Trang 5-XH tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2010 - 2020.
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thịtrường lao động nói chung và thị trường lao động ở Bắc Ninh nói riêng, trongbối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh
tế quốc tế
+ Phân tích, đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển của thị trườnglao động ở Bắc Ninh
+ Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản phát triển thị trường lao động
phù hợp với yêu cầu và thực tiễn phát triển KT - XH của Bắc Ninh theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển thị trường lao động
tỉnh Bắc Ninh, tập trung chủ yếu ở khu vực sản xuất, kinh doanh Bao gồmcác yếu tố của thị trường lao động: cung, cầu lao động; tiền công, tiền lương
và thể chế của thị trường lao động
- Các số liệu, dẫn liệu để phân tích, đánh giá chủ yếu ở giai đoạn 2005 - 2009.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; căn cứ theo chủ trương, đường lối
về phát triển kinh tế đã được thể hiện trong các văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX, X của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước đãban hành
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp luận của luận văn dựa trên phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phương
pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống,
Trang 6phương pháp đánh giá, phương pháp chuyên gia.
6 Đóng góp khoa học của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về
thị trường lao động, vai trò của nó với tư cách là một nhân tố quan trọng đểthúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Đánh giá, phân tích thực trạng thị trường lao động ở Bắc Ninh và đề
ra các giải pháp có tính khả thi, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường laođộng của tỉnh Đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường lao động, phục vụ hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của địa phương
- Kết quả nghiên cứu luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho phát
triển thị trường lao động nói chung Đồng thời, là tài liệu tham khảo cho các
cơ quan có trách nhiệm trong việc nghiên cứu, xây dựng chính sách phát triển
thị trường lao động trong quá trình phát triển KT - XH ở Bắc Ninh.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 9 tiết
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1.1.1 Khái niệm về thị trường lao động
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường lao động là một trong những thị
trường cơ bản Đây là thị trường trao đổi một loại hàng hoá đặc biệt - hàng
hoá sức lao động Hiện nay, còn có nhiều ý kiến khác nhau về thị trường laođộng, tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận hoặc xuất phát từ những bối cảnh khácnhau Adam Smith quan niệm: “Thị trường lao động là không gian trao đổidịch vụ lao động (người chủ sử dụng lao động) và một bên là người bán dịch
vụ lao động” [18, tr.132] Khái niệm này nhấn mạnh đối tượng trao đổi trênthị trường là dịch vụ lao động, không phải là người lao động
Đại từ điển kinh tế thị trường (Viện nghiên cứu và phổ biến tri thứcbách khoa) đưa ra khái niệm “thị trường lao động là nơi mua bán sức lao độngcủa người lao động” [33, tr.10] Khái niệm này dựa trên quan điểm của C.Mác, cho rằng sức lao động là hàng hoá và là đối tượng để trao đổi, mua bántrên thị trường
Theo từ điển kinh tế MIT: “thị trường lao động là nơi cung và cầu laođộng tác động qua lại với nhau” [1, tr.10] Định nghĩa này nhấn mạnh vào
quan hệ trên thị trường lao động cũng là quan hệ cung - cầu về một loại hàng
hoá như bất kỳ một thị trường nào khác
Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng thị trường lao động là một “vị trí màtại đó cung và cầu về lao động tác động qua lại với nhau Trong sự tác độngnày giữa bên cầu (thuê lao động) và bên cung (bán sức lao động) sẽ thoảthuận với nhau về việc làm, tiền công, tiền lương” [13, tr.10] Khái niệm nhấnmạnh tính di chuyển của lao động từ công việc này sang công việc khác, từngười sử dụng lao động này sang người sử dụng lao động khác
Tổ chức lao động thế giới (ILO) đưa ra khái niệm: “Thị trường lao
Trang 8động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua và bán thông quamột quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động cũng như mức độtiền lương, tiền công” [5, tr.38] Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụlao động được xác định thông qua việc làm được trả công.
Mặc dù còn có những điểm khác nhau và nhấn mạnh ở khía cạnh nàyhay khía cạnh khác, nhưng các khái niệm về thị trường lao động đều có
những điểm chung là: Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường cơ bản của nền kinh tế quốc dân Trong đó, quá trình giao dịch mua bán sức lao động được diễn ra giữa một bên là người lao động và một bên
là người sử dụng lao động Sự giao dịch này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ được xác định như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc v.v
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng XHCN Thị trường lao động ở Việt Nam đãđược hình thành và phát triển nhằm giải phóng sức lao động, thúc đẩy sảnxuất phát triển, quan tâm lợi ích chính đáng người lao động Trong nền kinh tếthị trường định hướng XHCN, thị trường lao động đã tạo môi trường thuận lợicho người lao động và người sử dụng lao động tự do mua bán, trao đổi hànghoá sức lao động Đồng thời, nhà nước quản lý và tham gia điều tiết để pháthuy mặt tích cực, hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường
1.1.2 Đặc điểm chủ yếu của thị trường lao động
- Thị trường lao động trao đổi một loại hàng hoá đặc biệt, đó chính là
hàng hoá sức lao động Hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thôngthường bởi nó được gắn chặt với người lao động Xét cả về số lượng và chấtlượng, hàng hoá sức lao động phụ thuộc hoàn toàn vào chính bản thân ngườilao động Theo đó, giao dịch mua bán hàng hoá sức lao động trên thị trườngđược gắn liền với việc giao dịch thuê mướn người lao động Người lao độngđược đào tạo và có thời gian làm việc càng lâu thì trình độ tay nghề của họ
Trang 9càng tăng, đồng thời năng suất và chất lượng sản phẩm càng được nâng cao.
- Việc vận chuyển hàng hoá sức lao động trên thị trường thực chất là
việc di chuyển của người lao động tới nơi làm việc Chính vì thế nên cácphương tiện giao thông dành cho người lao động phải đảm bảo tính nhân văn,không thể dùng chung với các phương tiện vận tải hàng hoá thông thường.Mặt khác, người lao động còn có thể tự di chuyển đến nơi làm việc, hay từ địabàn này đến địa bàn khác trong một phạm vi nhất định Những đặc điểm này
có tác động đến khả năng đáp ứng yêu cầu về lao động trên thị trường
- Hoạt động của thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào quy luật giá trị, quan hệ cung - cầu, quan hệ hàng hoá - tiền tệ mà còn chịu ảnh hưởng
của luật pháp, chính sách quản lý và sử dụng lao động của mỗi quốc gia Hiệnnay, còn có những quy định khác nhau ở mỗi quốc gia về độ tuổi lao động, laođộng trong khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, về lao động trẻ em,lao động nữ, lao động của những người tàn tật v.v
- Thực tế phổ biến hiện nay, số người cần việc làm luôn nhiều hơn số
lượng việc làm được tạo ra hàng năm Do đó, tuy người lao động vẫn được
“mặc cả” mức tiền lương, tiền công song quyết định cuối cùng vẫn thuộc vềngười sử dụng lao động (trừ lao động chất lượng cao như các cầu thủ bóng đá,
ca sỹ, người mẫu nổi tiếng v.v những người này có thể đặt ra mức tiềnlương, tiền công cao mà phía người sử dụng lao động phải chấp thuận đểđược sở hữu tài năng của họ) Nói chung, trong giao dịch, thông thường ngườilao động ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động
- Cách phân loại thị trường lao động cũng có những đặc điểm riêng so
với các loại thị trường hàng hoá khác, tuỳ thuộc vào yêu cầu của quản lý.Ngoài cách phân loại tương tự thị trường hàng hoá, dịch vụ thông thường nhưthị trường có tổ chức và thị trường tự do; thị trường trong nước và thị trườngquốc tế v.v thị trường lao động còn được phân chia thành thị trường laođộng phổ thông và thị trường lao động chất lượng cao; thị trường lao động
Trang 10chính thức và thị trường lao động phi chính thức Một đặc điểm nữa là sự gianlận và tranh chấp trên thị trường lao động dễ bị phát hiện vì hàng hoá trên thịtrường gắn liền với chính bản thân người lao động.
1.1.3 Các yếu tố cấu thành thị trường lao động
Các yếu tố cơ bản để cấu thành nên thị trường lao động bao gồm: cung laođộng, cầu lao động, tiền lương, tiền công và thể chế của thị trường lao động
a Cung lao động:
Cung lao động là tổng nguồn sức lao động của những người tự nguyệntham gia vào thị trường lao động Bao gồm những người trong độ tuổi laođộng và cả những người ngoài độ tuổi lao động (trừ lao động trẻ em bị luậtpháp nghiêm cấm sử dụng) Cung lao động thông thường được phân chiathành hai loại:
- Cung thực tế: bao gồm tất cả những người đủ tuổi lao động, ở Việt
Nam quy định người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc và cả những người thấtnghiệp có nguyện vọng tìm việc làm
- Cung tiềm năng: bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc và những người thất nghiệp; cả những người trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ hoặc không
có nhu cầu làm việc
b Cầu lao động:
Cầu lao động là nhu cầu sử dụng lao động của một quốc gia, một địa
phương, một ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định.Nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động
Xét về số lượng lao động, trong điều kiện năng suất lao động khôngđổi, cầu lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ phát triển sản xuất,kinh doanh Nếu quy mô sản xuất, kinh doanh không đổi, cầu lao động tỷ lệnghịch với năng suất lao động
Xét về chất lượng lao động, việc đổi mới công nghệ, nâng cao năngsuất lao động đòi hỏi doanh nghiệp phải bổ xung lực lượng lao động có chất
Trang 11lượng cao, đó là lao động có trình độ tay nghề giỏi, thông thạo nghiệp vụchuyên môn, chịu áp lực công việc, có ý thức, tác phong công nghiệp, chấphành kỷ luật lao động tốt.
c Tiền lương, tiền công
Tiền lương, tiền công trên thị trường lao động cũng là một yếu tố cấuthành của thị trường lao động Tiền lương, tiền công là biểu hiện bằng tiền củagiá trị sức lao động Trên
thị trường lao động, quan
hệ giữa người sử dụng lao
động và người lao động
tuân theo quan hệ cung
-cầu thông qua thoả thuận
về tiền lương, tiền công
Nói cách khác, tiền lương,
tiền công chịu ảnh hưởng
của quan hệ cung - cầu lao
động trên thị trường Khi
cầu lớn hơn cung thì tiền
lương, tiền công tăng và
khi cầu nhỏ hơn cung thì
tiền lương, tiền công giảm (xem hình 1.1)
Trường hợp cung vượt quá cầu, tức là một lượng lao động có nhu cầulàm việc nhưng khó tìm được việc làm; họ sẵn sàng chấp nhận làm việc vớimức tiền lương, tiền công rẻ hơn, làm cho giá cả sức lao động trên thị trườnggiảm đi Trường hợp cầu vượt quá cung, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển laođộng nhưng không tuyển đủ số lượng theo yêu cầu Để đảm bảo sản xuất,kinh doanh, doanh nghiệp phải chấp nhận nâng mức tiền lương, tiền công lên
để thu hút lao động đến làm việc, làm cho mức tiền lương, tiền công trên thị
Hình 1.1: Cân bằng cung - cầu trên thị trường lao động
[4, tr.186]
- W: tiền lương, tiền công lao động; L: số lượng lao động.
- SS là đường cung lao động; DD là đường cầu lao động;
- Tại mức W0, ứng với điểm cân bằng E của thị trường.
- Tại mức W2 cao hơn mức lương cân bằng W0 xuất hiện dư cung AB.
- Tại mức W1 thấp hơn mức lương cân bằng W0 xuất hiện dư cầu MN.
Trang 12trường được tăng lên Thị trường cân bằng khi số lượng lao động có nhu cầutìm việc làm trong một thời kỳ nhất định đúng bằng số lượng lao động màdoanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng.
Tuy nhiên, tiền lương, tiền công lao động còn phụ thuộc vào một loạtcác yếu tố khác như mức độ phát triển của nền kinh tế của mỗi quốc gia, củatừng khu vực, hoặc các yếu tố khác như giá cả sinh hoạt, điều kiện lao động,điều kiện sống v.v…
d Thể chế của thị trường lao động:
Phạm trù thể chế nói chung, thể chế kinh tế thị trường nói riêng trongnhững năm trước đổi mới ở Việt Nam chưa được quan tâm; từ khi thực hiệnđổi mới đến nay có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Có thể hiểu Thể chế làmột thuật ngữ chỉ “cách thức xã hội xác lập khung khổ trật tự trong đó diễn racác quan hệ của con người và cơ chế, quy chế, quyền lực, quy tắc, luật lệ vậnhành của trật tự đó” [2, tr.117]
Ở nước ta, với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướngXHCN thì “thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là khung khổ, trật tựxác định quan hệ giữa các chủ thể kinh tế, xã hội thích ứng với các nguyên lýcủa hệ kinh tế thị trường trong mọi hoạt động kinh tế” [2, tr.122] Đó là việcthiết lập khung khổ pháp lý cho nền kinh tế thị trường phát triển thông suốt,đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế cao Đồng thời, hướng các hoạt động củanền kinh tế thị trường vào những mục tiêu XHCN như đảm bảo sự công bằng,dân chủ trong tiếp cận vốn, thông tin, công nghệ v.v từ đó tạo sơ sở nền tảng
để thiết lập công bằng xã hội
Từ cách tiếp cận này, có thể hiểu: Thể chế thị trường lao động là tổngthể các hình thức, phương pháp được luật hoá nhằm điều tiết thị trường laođộng theo mục đích xác định Trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, thể chế của thị trường lao động thể hiện ở các chủ trương, quan điểmcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước Những cơ chế, chính sách được banhành để hỗ trợ phát triển thị trường lao động, đặc biệt là hỗ trợ các hệ thống
Trang 13như hệ thống thông tin thị trường lao động, hệ thống giáo dục và đào tạonguồn nhân lực, hệ thống giới thiệu việc làm v.v Đồng thời, tổ chức kiểmtra, giám sát, khắc phục những tiêu cực từ mặt trái của thị trường lao động.
1.1.4 Vai trò của thị trường lao động đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thị trường lao động điều tiết một trong những nguồn lực quyết định sự
phát triển KT - XH đó là nhân tố lao động, đó cũng là nơi giao dịch và phân
bổ nguồn nhân lực Việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu lao động có trình độ cao, cơcấu lao động hợp lý là mục tiêu hướng tới của thị trường lao động hiện đại Vìvậy, phát triển thị trường lao động là yếu tố quan trọng để tạo động lực thúcđẩy sự phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiệncho nền kinh tế thị trường tăng trưởng nhanh và bền vững
- Đối với tăng trưởng kinh tế: khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế
của các nước phát triển và các nước đang phát triển, các nhà kinh tế học đãphát hiện rằng: các yếu tố tạo tăng trưởng kinh tế phải được phát triển đồng
bộ Trong đó, có bốn yếu tố cơ bản là vốn, lao động, tài nguyên và công nghệ.Những yếu tố này có vai trò khác nhau ở mỗi nước và cách kết hợp giữachúng cũng có những điểm không giống nhau Vì thế, ảnh hưởng của yếu tốlao động đối với tăng trưởng kinh tế ở mỗi nước trong từng giai đoạn cũng có
sự khác nhau nhất định
Các nhà kinh tế học cũng đã chỉ rõ nguồn gốc tăng trưởng kinh tế thôngqua hàm sản xuất, đó là sự đóng góp theo tỷ lệ nhất định của các yếu tố đầuvào: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ [27, tr.78]
Y = f (K, L, R, T)Trong đó:
Trang 14vai trò rất quan trọng đối với hàm sản xuất Khi vốn đầy đủ, lao động đáp ứngđược yêu cầu của sản xuất, nguyên vật liệu được cung cấp kịp thời đủ sốlượng và đảm bảo chất lượng, công nghệ tiên tiến thì hàm sản xuất sẽ tăng,sản xuất sẽ phát triển Nếu một trong các yếu tố trên không đảm bảo yêu cầu
sẽ làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Riêng yếu tố lao động lại đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi việc sửdụng ba yếu tố còn lại là vốn, tài nguyên và công nghệ có hiệu quả hay khôngsuy cho cùng đều phụ thuộc vào yếu tố con người, vào lực lượng lao động.Các lao động có trình độ cao nếu được bố trí hợp lý sẽ góp phần tạo ra vốn và
sử dụng vốn có hiệu quả Đồng thời, con người cũng là nhân tố phát minh racông nghệ mới, là nhân tố quyết định việc sử dụng hợp lý và hiệu quả tàinguyên trong sản xuất, kinh doanh
Như vậy, có thể nói thị trường lao động là nơi tạo điều kiện để sử dụnghợp lý lực lượng lao động và chính điều này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Đặc biệt, với những nước đang phát triển thì nguồn vốn bị hạn chế,công nghệ còn lạc hậu, xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên là biện pháp chủ yếu
để tăng trưởng kinh tế, hậu quả là nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệtmột cách nhanh chóng Trong khi thế mạnh của các nước này là nguồn nhânlực dồi dào, vì thế việc lấy nhân tố lao động làm nguồn lực chính cho tăngtrưởng kinh tế là bước đi phù hợp trong giai đoạn phát triển ban đầu
+ Thị trường lao động phát triển sẽ tạo môi trường thuận lợi cho ngườilao động có điều kiện được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp, ngườilao động có việc làm phù hợp, từ đó có điều kiện nâng cao năng suất lao động
để tăng trưởng kinh tế
- Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm và thu nhập: ở những
nơi có thị trường lao động phát triển, người lao động dễ dàng tìm kiếm đượcviệc làm phù hợp với năng lực bản thân, người sử dụng lao động cũng thuậnlợi trong tuyển dụng lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, kinhdoanh Khi hệ thống thông tin thị trường lao động phát triển, người lao động
Trang 15và người sử dụng lao động chủ động hơn trong việc tìm kiếm việc làm vàtuyển dụng lao động, mặt khác cả người lao động lẫn người sử dụng lao độngvừa tiết kiệm được thời gian lại giảm chi phí giao dịch Thị trường lao độngphát triển là cơ sở để mọi người có khả năng lao động đều nhận được việclàm, đời sống được đảm bảo, góp phần tăng thu nhập chung của toàn xã hội
và đóng góp được nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế
- Thị trường lao động góp phần đảm bảo ổn định và công bằng xã hội:
Thị trường lao động phát triển làm cho mọi thành viên trong xã hội đều
có cơ hội việc làm, có thu nhập ổn định Các mối quan hệ giữa người vớingười như: quan hệ giữa lao động và thu nhập, giữa cống hiến và hưởng thụ;quan hệ giữa quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền định đoạt việc sản xuất
và phân phối kết quả lao động trở nên bình đẳng hơn Tạo sự công bằng giữacác thành viên của xã hội trong quyền được tiếp cận và thụ hưởng đối với cácdịch vụ xã hội như giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá, thể dục thểthao v.v
Thị trường lao động phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, làm tăngthu nhập quốc dân, là cơ sở để mở rộng hệ thống an sinh xã hội, tạo điều kiệnthuận lợi để đảm bảo cho mọi thành viên của xã hội đều có đời sống ổn định
và công bằng được đảm bảo
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TRÌNH
ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1.2.1 Nội dung phát triển thị trường lao động
Để phát triển thị trường lao động, nhà nước cần tạo môi trường thuậnlợi và có các cơ chế, chính sách hợp lý Mục tiêu nhằm tác động tới các yếu tốcấu thành và các yếu tố hỗ trợ phát triển thị trường lao động, một số nội dungphát triển cơ bản bao gồm:
- Phát triển cung lao động;
- Phát triển cầu lao động,
- Phát triển các chính sách về thị trường lao động;
Trang 16- Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động;
- Phát triển hệ thống quản lý, hệ thống hỗ trợ giao dịch và các kênh
giao dịch trên thị trường lao động
a Phát triển cung lao động:
Lực lượng lao động tham gia giao dịch trên thị trường lao động đượcđánh giá thông qua số lượng và chất lượng lao động Một số yếu tố cơ bản tácđộng đến số lượng và chất lượng cung lao động bao gồm:
+ Dân số của quốc gia, địa phương có quan hệ chặt chẽ tới quy mônguồn nhân lực của quốc gia, địa phương đó Việc áp dụng chính sách dân số,
kế hoạch hoá gia đình có ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong tương lai Ởnước ta, tỷ suất sinh ở thời điểm hiện tại sẽ quyết định đến quy mô nguồnnhân lực sau 15 năm, có nghĩa là những người sinh ra sau 15 năm mà không
bị khiếm khuyết về thể lực và tinh thần sẽ bước vào độ tuổi lao động và thuộc
về nguồn nhân lực
+ Việc tăng giảm dân số cơ học là kết quả của sự di chuyển một bộphận của dân số từ một khu vực (vùng, địa phương, quốc gia v.v…) đếnmột khu vực khác Quá trình di chuyển dân số làm thay đổi quy mô nguồnnhân lực ở nơi xuất cư và cả nơi nhập cư Dân số, lao động tham gia vàoquá trình di chuyển có thể tạm trú hoặc định cư lâu dài ở địa điểm mới.Nước ta đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá, các luồng di chuyển dân số và lao động diễn ra trong nước chủ yếuhiện nay là từ nông thôn ra thành thị, từ nông thôn đến các khu côngnghiệp, từ tỉnh này đến tỉnh khác
Các biện pháp làm nâng cao khả năng di chuyển lao động có tác động
đến quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường, làm giảm bớt căng thẳng về
việc làm ở những khu vực dư thừa lao động, và đáp ứng kịp thời cho nhữngkhu vực có nhu cầu tuyển dụng lao động để mở rộng sản xuất, kinh doanh
+ Mở rộng hội nhập thị trường lao động thế giới, thông qua hình thức
Trang 17xuất và nhập khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là hoạt động cung ứng lao động từ nước này sanglàm việc có thời hạn ở nước khác, trên cơ sở các hiệp định được ký kết vềcung ứng lao động giữa các nước Phát triển xuất khẩu lao động có tác dụngtạo thêm việc làm, thu nhập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề chongười lao động; góp phần điều tiết quan hệ cung cầu trên thị trường lao độngthế giới
Nhập khẩu lao động là việc một nước tiếp nhận lao động của một nướckhác trong một thời hạn nhất định, nhằm bù đắp sự thiếu hụt trong nước về sốlượng và chất lượng lao động; đảm bảo sự phát triển ổn định của hoạt độngsản xuất, kinh doanh ở trong nước
+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến mức tiền lương, tiền công,mức sống, dân trí của người lao động Khi nền kinh tế phát triển, hệ thống y tế
và giáo dục đào tạo cũng được quan tâm đầu tư phát triển để nâng cao chấtlượng dịch vụ; làm cho sức khoẻ, trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật củangười lao động được nâng lên, chất lượng lao động ngày càng được cải thiện
Hệ thống y tế phát triển tạo cơ hội cho các tầng lớp dân cư, ngườilao động có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế, các dịch vụ tư vấnchăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng ngừa dịch bệnh Người lao động đượckhám sức khoẻ định kỳ, được chăm sóc chu đáo, được chữa bệnh kịp thời,giảm thời gian và chi phí điều trị, giúp họ mau chóng trở lại vị trí sảnxuất, kinh doanh
Kinh tế phát triển tạo điều kiện cho hệ thống giáo dục, đào tạo pháttriển Giáo dục, đào tạo là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượngcung lao động trên thị trường Hệ thống giáo dục, đào tạo phát triển làm tăng
tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn cho nền kinh tế, làm cho chất lượnglao động ngày càng thoả mãn các yêu cầu của thị trường lao động
Trang 18b Phát triển cầu lao động.
- Sự phát triển của sản xuất, kinh doanh
Phát triển sản xuất, kinh doanh và nhu cầu lao động có quan hệ chặt chẽ
và tác động qua lại với nhau Ngoại trừ nền kinh tế tri thức, còn lại nhìn chungkhi phát triển sản xuất, kinh doanh đều đòi hỏi phải tăng thêm lao động
Khi đề cập đến cầu lao động, nhà kinh tế học người Mỹ - tác giả của
“Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp” P Samuelson khẳng định: “Cầu lao động
là giá trị thứ sinh, phụ thuộc vào cầu sản phẩm cuối cùng được sản xuất bởicác doanh nghiệp” [9, tr.111] Nói khác đi, cầu lao động tăng cùng với sự giatăng của khối lượng sản xuất
Sự phát triển của sản xuất biểu hiện ở mức độ tăng trưởng GDP, ở sốlượng và xu hướng mở rộng doanh nghiệp Khi khối lượng sản xuất tăng lên,ứng với số lượng doanh nghiệp và chỗ làm việc mới tăng, thu hút nhiều laođộng làm việc trong nền kinh tế
- Ứng dụng công nghệ đầu tư vào sản xuất có ảnh hưởng đến cầu lao động:
K Marx đã dự đoán rằng: “đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra
sự giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà lại phầnlớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ của kỹ thuậthay sự vận dụng khoa học vào sản xuất” [27, tr.276] Như vậy, ứng dụng côngnghệ như thế nào vào sản xuất đều có tác động trực tiếp đến cầu lao động ởcác mức độ khác nhau
Hầu hết các nước đang phát triển đều có lực lượng lao động dồi dào.Cho nên, xu thế phổ biến của các nước này là lựa chọn công nghệ vừa sửdụng được nguồn nhân lực giá rẻ vừa tiết kiệm được vốn, đồng thời ứng dụngcông nghệ hiện đại để thực hiện “đi tắt, đón đầu”, rút ngắn tiến trình hiện đạihoá Tỷ lệ ứng dụng các công nghệ cao, trung bình, thấp trong sản xuất quyếtđịnh đến số lượng và chất lượng cầu lao động
- Tiền lương, tiền công trên thị trường hợp lý và thoả đáng sẽ thu hút
Trang 19được nhiều lao động:
Tiền lương, tiền công của người lao động cao hay thấp đều có ảnhhưởng trực tiếp tới cầu lao động trên thị trường Theo quy luật cung cầu củathị trường, khi tiền lương, tiền công cao dẫn đến chi phí sản xuất cao (trongđiều kiện các yếu tố khác không đổi), lợi nhuận doanh nghiệp giảm sút, doanhnghiệp thu hẹp sản xuất, cầu sức lao động giảm, thất nghiệp gia tăng Do đó,tiền lương, tiền công cao sẽ làm giảm lượng cầu về lao động trên thị trường
Tiền lương, tiền công thấp làm cho thu nhập của người lao động bịgiảm, gây tác động xấu đến sức mua trong nền kinh tế, làm giảm lợi nhuậncủa các doanh nghiệp Doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cầu lao độnggiảm Đồng thời tiền lương, tiền công thấp còn ảnh hưởng đến chất lượng laođộng, không khuyến khích mọi người tăng năng suất lao động
Do đó, phải có mức tiền lương, tiền công hợp lý, đây là điều kiện quantrọng để phát triển cầu lao động Tiền lương, tiền công phải linh hoạt và phùhợp để vừa đảm bảo lợi ích của chủ doanh nghiệp nhưng vừa phải đảm bảolợi ích của người lao động và của cả xã hội
- Phát triển chính sách thị trường lao động
+ Phát triển chính sách hỗ trợ tạo việc làm:
Chính sách hỗ trợ tạo việc làm là tập hợp các biện pháp từ phía nhànước nhằm tạo ra nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động trong nền kinh
tế Ví dụ như trợ cấp tài chính, hỗ trợ về kỹ thuật và tư vấn nghề nghiệp Nhànước có thể tạo thêm việc làm mới trong các ngành dịch vụ công ích, nhằmthu hút những người lao động thất nghiệp vào làm việc Thậm chí, trong thời
kỳ suy thoái kinh tế, nhà nước còn áp dụng các chính sách để tăng cầu tiêudùng và cầu đầu tư nhằm mục tiêu góp phần tạo việc làm cho người lao động
+ Đổi mới chính sách đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực:
Đối với những nước đang phát triển, trình độ lao động còn bất cập sovới yêu cầu của thị trường lao động Để giải quyết vấn đề nâng cao chất lượnglao động, chính sách đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực được xem là giảipháp cơ bản
Trang 20Mục tiêu của chính sách đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực lànâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp của người lao động, giúp họ dễdàng tìm kiếm được việc làm hoặc chuyển đổi công việc khác cho phù hợpvới bản thân để có thu nhập cao hơn Đồng thời với đào tạo kỹ năng chuyênmôn, nội dung giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp, tácphong công nghiệp cũng là mục tiêu quan trọng đối với công tác đào tạonguồn nhân lực.
Chính sách đào tạo nguồn nhân lực phải phù hợp với chiến lược pháttriển kinh tế xã hội, khai thác được nội lực cho phát triển đào tạo nguồn nhânlực Đồng thời, tích cực thực hiện hội nhập trong đào tạo để để tiếp thu kinhnghiệm, công nghệ đào tạo tiên tiến của thế giới
+ Phát triển và hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp:
Thực hiện bảo hiểm thất nghiệp nhằm hỗ trợ người lao động khi bị mấtviệc làm do các nguyên nhân khác nhau Khi mất việc làm, người lao độngtham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ được hưởng các chế độ hỗ trợ như trợ cấpthất nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ tìm việc làm và chế độ bảo hiểm y tếtrong thời gian quy định Nhờ có tiền trợ cấp hàng tháng mà đời sống củangười lao động đỡ bị xáo trộn, tạo điều kiện cho họ yên tâm để tìm kiếm việclàm mới hay chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp
Do đó, phát triển và hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp có tácđộng tích cực đến thị trường lao động trong cơ chế thị trường định hướngXHCN Phát triển và hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp phải hướngtới mục tiêu chung là mọi người lao động đều có quyền và nghĩa vụ tham gia.Đồng thời phát huy tính tích cực của bảo hiểm xã hội để mau chóng đưangười lao động trở lại vị trí làm việc Tránh tình trạng người lao động lợidụng chính sách bảo hiểm thất nghiệp để tăng thêm thu nhập cá nhân
+ Hoàn thiện chính sách về tiền lương, tiền công cho người lao động:Chính sách tiền lương, tiền công của nhà nước là một trong những
chính sách KT - XH quan trọng, trực tiếp liên quan đến lợi ích của người lao
động; ảnh hưởng đến sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Trang 21Chính sách tiền lương, tiền công là công cụ để điều tiết thu nhập, điều tiết lao
động giữa các vùng, các ngành, tạo ra sự ổn định KT - XH.
Chính phủ thường quy định mức tiền lương tối thiểu làm căn cứ để cácđơn vị trả lương cho người lao động Chính sách tiền lương phản ánh mối
quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường; phản ánh công sức và kết quả lao
động Trong quá trình cải cách, hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công,nhà nước xác định mục tiêu cần hướng tới là làm cho người lao động có thunhập ổn định, đời sống của người lao động ngày càng tốt hơn, tạo điều kiệncho người lao động được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kích thíchtăng năng suất lao động để phát triển sản xuất Đồng thời, chính sách tiềnlương, tiền công phù hợp còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp tăng đầu tưphát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
- Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động
Hệ thống thông tin thị trường lao động bao gồm thông tin thống kê laođộng việc làm, thông tin chính sách pháp luật lao động, thông tin định hướngnghề nghiệp, thông tin về chỗ làm trống, thông tin về người lao động tìm việcv.v… Hệ thống thông tin thị trường lao động có ý nghĩa quan trọng trongquản lý vĩ mô và điều tiết các hoạt động của thị trường lao động
Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động phải đáp ứng đầy đủnhững yêu cầu cơ bản sau đây:
+ Có mạng lưới thu thập thông tin thị trường lao động được phổ biếntới tận thôn bản; đảm bảo các số liệu thông tin thị trường lao động được cậpnhật định kỳ thường xuyên, chính xác
+ Xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin Các số liệuphải đảm bảo được độ tin cậy cao, đảm bảo tính thống nhất và tính logic, phùhợp với điều kiện trong nước và các thông lệ của quốc tế, có giá trị sử dụng
để phân tích, dự báo cho thị trường lao động
+ Hệ thống thông tin thị trường lao động phải có sự gắn bó chặt chẽgiữa trung ương với địa phương; giữa tỉnh này với tỉnh khác Hệ thống cầnứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong việc thu thập, lưu trữ, xử lý thôngtin Việc ứng dụng công nghệ thông tin phải đảm bảo cho công tác tổng hợp,
Trang 22truy xuất dữ liệu được chính xác, dễ dàng, nhanh chóng.
Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm mục tiêu cungcấp rộng rãi các thông tin cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách về pháttriển thị trường lao động, cho các cơ sở đào tạo nghề cho người lao động, cácchủ doanh nghiệp v.v Vì thế, phát triển hệ thống thông tin thị trường laođộng không chỉ làm phát triển thị trường lao động mà còn đóng góp quantrọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế
- Phát triển hệ thống quản lý, hệ thống hỗ trợ giao dịch và các kênh giao dịch trên thị trường lao động
Trong thị trường lao động, nhà nước thực hiện vai trò quản lý, điều tiếtbằng cách ban hành hệ thống chính sách, cơ chế quản lý thị trường lao động,đồng thời phát triển các hệ thống giới thiệu việc làm và các kênh giao dịchviệc làm Các chính sách này đều phải hướng tới mục tiêu phát triển thịtrường lao động để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế mộtcách bền vững
+ Phát triển hệ thống quản lý thị trường lao động:
Hệ thống quản lý thị trường lao động thực hiện chức năng quản lý nhànước về thị trường lao động, hệ thống này được tổ chức chặt chẽ từ trungương tới địa phương Ở Việt Nam, hệ thống quản lý thị trường lao động cấp
trung ương có Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cấp tỉnh có sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cấp huyện có phòng Lao động - Thương binh
và Xã hội, cấp xã là UBND xã Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điềutiết thị trường lao động nhằm mục tiêu phát triển thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, khắc phục những ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường
Phát triển hệ thống quản lý thị trường lao động cần đảm bảo những yêucầu cơ bản đó là: Tổ chức bộ máy quản lý thị trường lao động chặt chẽ từtrung ương đến địa phương Thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đảmbảo không bị bỏ sót, chồng chéo Có đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, hiểubiết pháp luật lao động, có trách nhiệm nghề nghiệp Đồng thời, cán bộ phải
Trang 23là người có tầm nhìn, có khả năng quản lý và tham mưu đề xuất để phát triểnthị trường lao động trên địa bàn Mặt khác, để hỗ trợ công tác quản lý thịtrường lao động cần có hệ thống phương tiện kỹ thuật: máy tính, mạnginternet, phần mềm quản lý v.v…
+ Phát triển hệ thống hỗ trợ giao dịch thị trường lao động:
Hệ thống hỗ trợ giao dịch của thị trường lao động chủ yếu bao gồm cáctrung tâm giới thiệu việc làm và các doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việclàm Nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống là “tư vấn, giới thiệu việc làm cho ngườilao động; cung ứng và tuyển dụng lao động theo yêu cầu của người sử dụnglao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động” [29, tr.17]
Hệ thống hỗ trợ giao dịch thị trường lao động đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển thị trường lao động, là cầu nối giữa cung - cầu lao động.
Hệ thống cung cấp cho người lao động và người sử dụng lao động có thêmcác thông tin cần thiết về nguồn nhân lực, nhu cầu lao động v.v… Qua đó,giúp cho người lao động và người sử dụng lao động có được thông tin trongquá trình chọn trường, chọn nghề, tìm kiếm việc làm và tuyển dụng nhân lực
Phát triển hệ thống hỗ trợ giao dịch thị trường lao động, trước tiên phải
có quy hoạch phát triển hệ thống trên địa bàn một cách hợp lý Phải ưu tiênphát triển các trung tâm giới thiệu việc làm, đồng thời quan tâm tạo điều kiệncho các doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm Hệ thống phải có đội ngũcán bộ, nhân viên vừa có trình độ chuyên môn giỏi, vừa có đạo đức, lươngtâm nghề nghiệp; các trung tâm giới thiệu việc làm và doanh nghiệp hoạtđộng giới thiệu việc làm cần có sự phối hợp đồng bộ với nhau trên thị trườnglao động
+ Phát triển các kênh giao dịch trên thị trường lao động:
Các kênh giao dịch trên thị trường lao động hiện nay rất đa dạng Cáckênh giao dịch truyền thống đang được áp dụng như giao dịch trực tiếp, giaodịch thông qua trung gian cá nhân Có một số kênh giao dịch phổ biến hiệnnay như sau:
Chợ lao động:
Trang 24Chợ lao động thường xuất hiện ở các làng nghề thu hút nhiều lao động
tự do đến làm việc Chợ lao động hoạt động mang tính tự phát, nhằm mụcđích phục vụ cho nhu cầu thuê mướn lao động theo công việc hoặc theo ngày,theo tuần Tham gia chợ lao động chủ yếu là lao động phổ thông không có taynghề và người sử dụng lao động trong làng nghề Tuy hoạt động tự do, thiếu
tổ chức chặt chẽ nhưng chợ lao động vẫn giữ vai trò tích cực cung cấp nhânlực cho các làng nghề
Phát triển chợ lao động là một biện pháp để phát triển thị trường laođộng, Tạo điều kiện để chợ phát triển là tôn trọng các quy luật của thị trường.Hoạt động của chợ phải trật tự, nề nếp, từng bước có tổ chức bằng cách quyhoạch chợ có địa điểm cố định, có khu nhà chờ để tránh mưa nắng cho ngườilao động v.v…
Hội chợ việc làm:
Phát triển loại hình hội chợ việc làm tại địa phương có ảnh hưởng tốtđến phát triển thị trường lao động Hội chợ việc làm là nơi gặp gỡ giữa ngườilao động và người sử dụng lao động Có thể nói rằng hội chợ việc làm là “bứctranh thu nhỏ của thị trường lao động địa phương”
Tại hội chợ việc làm, người lao động và người sử dụng lao động cóđiều kiện trực tiếp gặp gỡ trao đổi, thoả thuận và đi đến giao kết hợp đồnglao động Thông qua hội chợ việc làm, mọi người đều có thể nắm bắtthông tin thị trường lao động được tổng hợp qua hoạt động của hội chợ
Nắm bắt được quan hệ cung - cầu lao động, tiền lương, tiền công trên thị
trường lao động
Sàn giao dịch việc làm:
Sàn giao dịch việc làm là nơi người lao động và người sử dụng laođộng gặp gỡ trực tiếp để trao đổi, thương lượng, giao kết hợp đồng lao động.Đây là mô hình giao dịch tiên tiến, phổ biến trên thế giới hiện nay
Tại sàn giao dịch việc làm, các thông tin về thị trường lao động đượccung cấp đầy đủ Người sử dụng lao động và người lao động tìm việc đều có
Trang 25thể đến sàn giao dịch việc làm để đăng ký; khâu phỏng vấn tuyển dụng cũngđược diễn ra ngay tại sàn Ưu điểm của mô hình này là nhanh gọn, tiết kiệmchi phí, tổ chức được nhiều phiên trong tháng, thậm chí tổ chức giao dịchhàng ngày; đáp ứng được nhiều người cùng tham gia v.v Nhược điểm là tốnkém chi phí để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ chohoạt động giao dịch, phải chi phí thời gian và tiền bạc đào tạo đội ngũ cán bộ,nhân viên vận hành sàn giao dịch.
Để phát triển loại hình giao dịch thông qua sàn giao dịch việc làm, cầntrang bị đồng bộ cả thiết bị công nghệ thông tin và phần mềm chuyên môn,đảm bảo được đội ngũ cán bộ nhân viên vừa có chuyên môn giỏi vừa có kỹnăng về giao dịch trên mạng Thiết lập được hệ thống “sàn giao dịch vệ tinh”
ở các vùng xa, kết hợp với giao dịch trực tuyến, tư vấn trực tuyến v.v… đểngười lao động và người sử dụng lao động có thể tiếp cận và giao dịch ở mọinơi, mọi lúc, người tham gia giao dịch không bị ràng buộc không gian địa lý
và thời gian nhằm đa dạng hoạt động giao dịch trên thị trường lao động,
Giao dịch qua các phương tiện thông tin đại chúng:
Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, đài phátthanh, vô tuyến truyền hình trở nên phổ biến Thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng mà người sử dụng lao động và người lao động đều có thểkết nối với nhau nhanh chóng Ưu điểm của loại hình này là thông tin đượctruyền đi nhanh, vùng phủ tin rộng; nhược điểm là bị giới hạn thời gian pháttin và khung khổ chương trình thông tin, chỉ tác động tới những người thườngxuyên theo dõi thông tin trên báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình
Để phát triển loại hình này, cần có trang tin, chương trình, chuyên mụctrên các phương tiện thông tin đại chúng để tạo thành một kênh thông tin vàgiao dịch về thị trường lao động Trước hết chính quyền cần có sự chỉ đạo đốivới các cơ quan thông tin đại chúng và các ngành hữu quan xây dựng cácchương trình, chuyên mục về thị trường lao động Từ đó dần hình thành thóiquen cho người dân thường xuyên theo dõi chuyên mục để cập nhật thông tin
Trang 26về thị trường lao động địa phương.
Giao dịch qua internet:
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và internet đang diễn ra với tốc
độ nhanh chưa từng có Internet đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực,trong đó thị trường lao động không phải là ngoại lệ Trên thực tế có loại hìnhgiao dịch gì thì trên mạng đều có thể có những loại hình tương tự như thế:chợ lao động trực tuyến; chợ việc làm trực tuyến; tuyển dụng trực tuyến; sàngiao dịch việc làm trực tuyến v.v
Loại hình giao dịch qua mạng có ưu điểm là nhanh chóng và tiện lợi,nhưng độ tin cậy của thông tin không cao Do đó, loại hình giao dịch nàykhông thể thay thế hoàn toàn các hình thức giao dịch hiện nay Internet có ýnghĩa như là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giao dịch việc làm
Cần phát triển đa dạng hoá các kênh giao dịch, kết hợp các phươngpháp truyền thống và tiên tiến trong hoạt động giao dịch trên thị trường laođộng Trong đó, Nhà nước đóng vai trò “nhạc trưởng” để đưa các kênh hoạtđộng giao dịch nhịp nhàng ăn khớp và hiệu quả, nâng cao chất lượng các hìnhthức giao dịch trên thị trường lao động
Để các giao dịch trên mạng được lành mạnh, ngăn chặn những tiêu cực,cần xây dựng các cổng chính thống về thông tin việc làm trên internet Đồngthời, tăng cường quản lý các website việc làm; thường xuyên kiểm tra, pháthiện và xử lý nghiêm khắc các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này
1.2.2 Những tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của thị trường lao động
- Quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường:
Thị trường lao động vận hành tuân theo các quy luật khách quan củakinh tế thị trường mà đặc trưng tiêu biểu là các tính chất: cạnh tranh, linhhoạt, thích nghi, thoả thuận Cung và cầu lao động là hai yếu tố cơ bản cấuthành nên thị trường lao động Cung và cầu lao động gặp nhau tại điểm cânbằng, tại đó lượng cung lao động đúng bằng lượng cầu lao động
Trang 27Theo lý thuyết và hoạt động thực tế của thị trường lao động, trạng tháicân bằng trên thị trường lao động chỉ là tạm thời còn trạng thái mất cân bằngmới là phổ biến Đối với các nước phát triển, trạng thái mất cân bằng thường
do cung nhỏ hơn cầu; ngược lại, đối với các nước đang phát triển thường ởtrạng thái cung lớn hơn cầu, tình trạng dư thừa lao động diễn ra phổ biến, nhất
là lao động phổ thông, tuy nhiên lại thiếu lao động trình độ cao Kết quả làtình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp luôn luôn tồn tại
Trong điều kiện lý tưởng, cân bằng cung cầu được thiết lập trên cơ sởtoàn bộ lực lượng lao động của xã hội đều tham gia vào quá trình lao độngsản xuất, nghĩa là tổng cung lao động bằng với tổng cầu lao động trên thịtrường Xã hội đạt tới trạng thái tối ưu là: “toàn dụng lao động”
- Khả năng di chuyển lao động trên thị trường
Di chuyển lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến cung lao động, làmtăng lượng lao động ở khu vực này và giảm lượng lao động ở khu vực khác.Hơn nữa, di chuyển lao động làm thay đổi cơ cấu lực lượng lao động về giới,
độ tuổi, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn; tạo nên sự biến đổi cơ cấulực lượng lao động ở các địa phương, vùng lãnh thổ, thậm chí ở phạm viquốc gia Vì thế, yếu tố di chuyển lao động có tác động trực tiếp đến cunglao động trên thị trường
Mức độ di chuyển lao động càng cao thì tính linh hoạt của thị trườngcàng lớn và ngược lại Nơi nào khả năng di chuyển lao động kém, lao động bị
“đóng băng” tại chỗ, nơi ấy khó có thể đáp ứng kịp thời về lao động khi nhu cầu
sử dụng lao động thay đổi Một số yếu tố tác động đến mức độ di chuyển laođộng như: chính sách khuyến khích hỗ trợ di dân; chính sách xuất, nhập khẩu laođộng; chính sách quản lý hộ tịch hộ khẩu; chênh lệch tiền lương, tiền công trênthị trường nơi đi và nơi đến; sự phát triển của hệ thống giao thông; các điều kiệnsống của nơi đến như ăn, ở, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
- Sự phát triển của hệ thống thông tin thị trường lao động:
Trang 28Hệ thống thông tin thị trường lao động đóng vai trò quan trọng trongquản lý vĩ mô và định hướng các hoạt động phát triển thị trường lao động Đó
là hệ thống các chỉ tiêu thống kê về tình hình dân số, lao động, việc làm, thấtnghiệp ở phạm vi địa phương, vùng, quốc gia Thông tin thị trường lao độngbao gồm các nội dung cơ bản như thông tin về cung, cầu lao động, việc làm;thông tin về điều kiện làm việc như thu nhập, tiền lương, tiền công; thông tin
về đào tạo nghề, thông tin về quan hệ lao động trên địa bàn
Hệ thống thông tin thị trường lao động phát triển phải đảm bảo sự cậpnhật thông tin một cách thường xuyên, kết nối thông suốt từ trung ương đếnđịa phương; các nội dung thông tin được chuẩn hoá; việc sử dụng, khai thácthông tin phải được hỗ trợ một cách thuận lợi, dễ dàng Nhờ có hệ thống thôngtin thị trường lao động mà các nhà quản lý có thể hoạch định các chính sách, dự
án, kế hoạch có liên quan đến lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực,phát triển giáo dục đào tạo; học sinh có đủ thông tin trong quyết định chọnnghề; nhà trường có thêm thông tin để đào tạo theo nhu cầu của thị trường; cácnhà đầu tư có thông tin để lựa chọn công nghệ đầu tư vào sản xuất
- Sự phát triển của hệ thống hỗ trợ giao dịch thị trường lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, Hệ thống giới thiệu việc làm đảm nhiệmnhững chức năng quan trọng cho phát triển thị trường lao động, là cầu nốigiữa cung và cầu lao động, góp phần cân đối giữa cung và cầu trên thị trườnglao động Cụ thể, hệ thống này có chức năng tư vấn, cung cấp thông tin về thịtrường lao động; giúp người lao động và người sử dụng lao động có đượcnhững thông tin cần thiết; cung ứng nhân lực cho các đơn vị sử dụng lao động
và giới thiệu việc làm cho người lao động Đào tạo nâng cao kỹ năng chongười lao động để tạo thuận lợi cho người lao động trong việc tìm kiếm việclàm, tự tạo việc làm và tái tạo việc làm
Sự phát triển của hệ thống giới thiệu việc làm được biểu hiện ở quy môphát triển của tổ chức, là sự phân bổ các trung tâm giới thiệu việc làm và
Trang 29doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm một cách hợp lý trên địa bàn, là
số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ trong hệ thống; đặc biệt là kết quảhoạt động chuyên môn, mức độ ảnh hưởng của nó trên thị trường lao động
- Các chính sách quản lý, điều tiết thị trường lao động.
Thị trường lao động vận hành tuân theo những quy luật chung của nềnkinh tế thị trường, mặt trái của nó cũng thường xuất hiện trong quá trình hoạtđộng Do đó, để khắc phục những khiếm khuyết này, đồng thời để đảm bảođịnh hướng thì nhà nước phải có những cơ chế, chính sách nhằm quản lý vàđiều tiết thị trường lao động
Chính sách quản lý, điều tiết thị trường lao động là công cụ của nhànước Mục tiêu cuối cùng của chính sách này là phải đảm bảo cơ hội việc làmcho người lao động, cung cấp việc làm phù hợp, đem lại thu nhập cao hơn chongười lao động, làm cho xã hội ổn định và công bằng Chính sách quản lý vàđiều tiết của nhà nước phải có tác dụng thúc đẩy phát triển thị trường laođộng; người lao động được tự do giao dịch việc làm, thông tin thị trường laođộng được cung cấp đầy đủ Đồng thời chính sách phải hướng tới xoá bỏ cácngăn cách giữa thị trường lao động nông thôn với thành thị, giữa các địaphương, vùng, miền, quốc gia; xoá bỏ các rào cản để đảm bảo cho thị trườnglao động phát triển thông suốt
- Tỷ lệ lao động tham gia vào quan hệ thị trường
Thực tế ở các nước tiên tiến trên thế giới, trình độ phân công và chuyênmôn hoá lao động rất cao, số lượng lao động làm công ăn lương chiếm tỷ trọngchủ yếu trong tổng lực lượng lao động xã hội Lao động cá thể, riêng lẻ, tự cung
tự cấp, lao động tự trả công chiếm tỷ trọng nhỏ và ngày càng bị thu hẹp
Để đo lường mức độ lao động tham gia vào quan hệ thị trường lao động,người ta sử dụng chỉ số về số lao động làm công ăn lương, tức là những người cótham gia vào quan hệ mua bán, thuê mướn sức lao động trên tổng số lao độngđang làm việc trong nền kinh tế, được xác định theo công thức [33, tr.36]:
Trang 30RHĐ = LHĐ/LVL
Trong đó:
RHĐ: Tỷ lệ lao động tham gia hợp đồng lao động
LHĐ: Số lao động tham gia hợp đồng lao động
LVL: Số lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Tỷ lệ lao động tham gia hợp đồng lao động (lao động làm công ănlương) trên tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế phản ánh mức
độ phát triển thị trường lao động trên địa bàn; tỷ lệ này càng cao cho thấy quy
mô thị trường lao động ở đó càng phát triển
1.3 NHỮNG KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
Bình Dương và Vĩnh Phúc là hai tỉnh có nhiều nét tương đồng với BắcNinh, thị trường lao động phát triển sớm hơn Bắc Ninh Việc nghiên cứu kinhnghiệm phát triển thị trường lao động của hai địa phương trên có ý nghĩa rấtthiết thực đối với nghiên cứu phát triển thị trường lao động tỉnh Bắc Ninh
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển thị trường lao động ở tỉnh Bình Dương
a Vài nét về thực tế phát triển thị trường lao động tỉnh Bình Dương
Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam Ngay sau khitái lập tỉnh, Bình dương đã chú trọng xây dựng phát triển các khu công nghiệptrên địa bàn; đây được xem là khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam
- Về cung - cầu lao động trên thị trường:
Hiện nay, Bình Dương xây dựng rất nhiều khu công nghiệp nên đã thuhút một lượng lớn lao động đến làm việc ở những ngành nghề khác nhau, đãgiải quyết được nhiều việc làm và tạo ra thu nhập cho người lao động Hàngnăm Bình Dương giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động, riêngnăm 2007 đã giải quyết cho 44.722 lao động có việc làm, trong đó các doanhnghiệp trong các khu công nghiệp thu hút 33.222 lao động trong năm Trong
giai đoạn 2001 - 2007, Bình Dương đã giải quyết việc làm cho trên 200 nghìn
Trang 31lao động [41, tr.51].
Sự phát triển các khu công nghiệp ở Bình Dương đã làm tăng nhanhnhu cầu lao động tại chỗ, trong khi lao động nội tỉnh không đáp ứng đủ.Nguyên nhân chủ yếu là: Tiền lương, tiền công khi làm trong các khucông nghiệp không hấp dẫn bằng làm ngoài khu công nghiệp; một số laođộng Bình Dương có trình độ chuyên môn kỹ thuật chuyển đi địa phươngkhác có tiền lương, tiền công cao như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai
Do thu nhập thấp khiến người lao động phải dành phần lớn số tiền thuđược để chi phí cho lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm khác; chỉriêng chi phí cho ăn uống và thuê nhà đã chiếm tới gần 90% thu nhập củalao động nhập cư
Bình Dương có 27 khu công nghiệp, trong đó có 23 khu công nghiệp đivào hoạt động (tính đến năm 2008) Trong số 870 nghìn lao động nhập cư từcác tỉnh chiếm khoảng 70% số người làm việc tại các khu công nghiệp và khuchế xuất [41, tr.56] Những lao động đến làm việc tại các khu công nghiệpBình Dương do những lý do sau: để có việc làm ổn định: 37,2%, có điều kiệnsống thuận lợi hơn quê nhà: 53%, các lý do khác 10,5% Nguồn cung laođộng cho Bình Dương chủ yếu là người lao động từ các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ
An, Thanh Hoá, Thái Bình, Quảng Bình với hy vọng sẽ tìm được việc làm vàthu nhập tốt hơn
- Về chất lượng lao động và cơ cấu lao động:
Chất lượng lao động ở Bình Dương nhìn chung còn thấp, chủ yếu là laođộng trẻ chưa qua đào tạo nghề, lao động nữ chiếm tỷ lệ gần 60% Các laođộng nữ chủ yếu làm các doanh nghiệp may mặc, giày da, chế biến thực phẩm,
cơ khí chính xác Lao động trẻ trong các khu công nghiệp chiếm đa số (97,2%),lao động có trình độ học vấn thấp và phần đông chưa được đào tạo nghề Theothống kê năm 2007, tỷ lệ lao động có trình độ tốt nghiệp THCS trở xuốngchiếm tới 67,6%, lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 14,1% trongtổng số lao động làm việc tại các khu công nghiệp ở Bình Dương [41, tr.57]
Trang 32- Về hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và hệ thống hỗ trợ giao dịch của thị trường lao động:
Hệ thống đào tạo nghề cho người lao động ở Bình Dương tuy đã pháttriển song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Hiện nayBình Dương có 40 cơ sở dạy nghề, nhưng số cơ sở dạy nghề trên vẫn chưađáp ứng được yêu cầu cần được đào tạo của lực lượng lao động; các trườngcao đẳng, trung cấp chiếm tỷ lệ nhỏ so với cơ sở dạy nghề bậc thấp Do ápdụng mô hình gắn hoạt động đào tạo của nhà trường với hoạt động sản xuấtcủa doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo thường xuyên đưa học sinh vào cácdoanh nghiệp phù hợp để thực tập tay nghề nên chất lượng đào tạo lao động ởBình Dương từng bước được nâng cao
Hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm đã phát triển mạnh, tích cực áp
dụng mô hình hoạt động mới để giải quyết mối quan hệ cung - cầu lao động
trên thị trường lao động địa phương Bình Dương có 6 trung tâm giới thiệuviệc làm Hàng năm, các trung tâm đã tư vấn, cung ứng và giới thiệu khoảngtrên 15 nghìn lao động cho các doanh nghiệp Đặc biệt, mô hình liên kết thu
hút lao động: Doanh nghiệp - Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh - Trung tâm
giới thiệu việc làm tỉnh bạn được Bình Dương áp dụng đã tỏ ra phát huy tácdụng tốt Trong những năm qua, trung tâm giới thiệu việc làm Bình Dương đãliên kết với trên 15 Trung tâm giới thiệu việc làm ở các tỉnh chủ yếu là khuvực Miền Trung Tính đến năm 2008, với mô hình này, trung tâm giới thiệuviệc làm Bình Dương đã cung ứng được trên 10 nghìn lao động cho các doanhnghiệp trên địa bàn [41, tr.80]
b Những kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển thị trường lao động ở Bình Dương
- Bình Dương áp dụng thành công các chính sách thu hút lao động từ các tỉnh khác, mục tiêu giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động trên thị trường địa phương Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng hiện tại đã không còn phù hợp khi mật độ dân số ngày một tăng cao.
Công nghiệp Bình Dương phát triển với tốc độ rất nhanh, mật độ các
Trang 33khu công nghiệp dầy đặc trên khắp địa bàn tỉnh Để giải quyết vấn đề thiếulao động, địa phương đã đề ra những chính sách để thu hút lao động Tổ chức
thực hiện mô hình liên kết giữa Doanh nghiệp - Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh - Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh bạn Phía doanh nghiệp có nhiều biện
pháp nhằm thu hút lao động như hỗ trợ đào tạo nghề trong doanh nghiệp; đảmbảo đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; một số doanh nghiệp
hạ thấp yêu cầu về trình độ của người lao động trong tuyển dụng
Đồng thời, cầu lao động lớn dẫn đến số lượng lao động nhập cư tới BìnhDương tăng lên rất cao Hậu quả là tạo ra áp lực lớn cho địa phương như quá tảidân số, kết cấu hạ tầng như giao thông, điện nước, điều kiện vệ sinh môi trường,nhà ở, giáo dục, y tế không phát triển kịp với yêu cầu thực tế của cộng đồng
- Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phát triển mạnh, có sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, làm cho chất lượng lao động được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Số lượng các cơ sở dạy nghề được tăng lên hàng năm Bình quân mỗinăm tăng 8,9%, tạo cơ sở đáp ứng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chođịa phương Các sơ sở dạy nghề đã có sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp
để xây dựng chương trình đào tạo, đưa học sinh vào doanh nghiệp thực tậptay nghề theo yêu cầu của doanh nghiệp
Nhờ có gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động đào tạo với thực tế sản xuất, từ
đó chất lượng đào tạo nhân lực được nâng lên phù hợp với yêu cầu về laođộng của các doanh nghiệp ở Bình Dương
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển thị trường lao động ở tỉnh Vĩnh Phúc
a Vài nét về thực tế phát triển thị trường lao động tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có diệntích tự nhiên 1.231,7km2 với 9 đơn vị hành chính, cách trung tâm Thủ đô HàNội 50 km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25 km Trong những năm qua,Vĩnh phúc có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, thị trường lao động phát triển
- Về lực lượng lao động tỉnh Vĩnh Phúc:
Với quy mô cơ cấu dân số trẻ, đang ở trong giai đoạn cơ cấu dân sốvàng, Vĩnh Phúc đang tích cực chuyển dịch cơ cấu dân số theo hướng công
Trang 34nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Quy mô dân số của tỉnh vào loại trung bình, khoảng 1.014.000 người Tốc
độ tăng dân số ngày càng giảm do tác động của chính sách dân số kế hoạch hoá
gia đình Lực lượng lao động trẻ, số lượng lao động trong độ tuổi từ 15 - 35 là
375 nghìn người (năm 2008), chiếm 55,3% số người trong độ tuổi lao động
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch mạnh Lao động trong lĩnh vực
nông, lâm nghiệp - thuỷ sản liên tục giảm cả về số lượng và tỷ lệ Lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng liên tục tăng, năm 2000 lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng là 38,8 nghìn người chiếm 16,6% đến năm 2008
là 127 nghìn người chiếm 21,3% Lao động trong ngành dịch vụ cũng tăng dần,năm 2000 số lao động trong ngành dịch vụ là 38,7 nghìn người chiếm 7,8%,đến năm 2008 tăng lên 159,4 nghìn người chiếm 26,7% [26, tr.47]
Chất lượng lao động ngày được nâng cao, địa phương rất quan tâm pháttriển hệ thống giáo dục và đào tạo, đề ra các chính sách nhằm thu hút nhân tài
về làm việc tại địa phương
Theo số liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc,
năm 2000 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt là 16,6%, đến năm 2008 tăng lên42,9%, bình quân tăng 3% một năm Vĩnh Phúc đã đề ra hàng loạt các chínhsách để đãi ngộ và trọng dụng nhân tài, thu hút lao động có trình độ cao về
tỉnh: chính sách khuyến khích cán bộ đi học nâng cao trình độ; hỗ trợ 50
-100% tiền học phí cho sinh viên của tỉnh theo học một số trường quy địnhv.v… Đồng thời, ưu tiên tuyển dụng những người có học vị cao về địaphương làm việc Những chính sách trên đã có những tác dụng quan trọng đểthu hút được nhiều lao động có trình độ cao, tay nghề giỏi; có tác dụng nângcao chất lượng lao động của địa phương, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho côngnghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Vĩnh Phúc [26, tr.54]
- Tích cực, chủ động cải cách hành chính, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ
Tỉnh Vĩnh Phúc đã tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo
sự thông thoáng trong môi trường đầu tư Thực hiện quy hoạch các khu, cụm
Trang 35công nghiệp với kết cấu hạ tầng đầy đủ như các công trình giao thông; hệthống điện; các công trình cấp, thoát nước; đồng thời xây dựng các nhà hàngkhách sạn, khu vui chơi, giải trí v.v… nhằm thu hút các nhà đầu tư cả trong vàngoài nước đến Vĩnh Phúc để đầu tư sản xuất, kinh doanh Đến hết năm 2008,Vĩnh Phúc đã có trên 100 dự án FDI với số vốn đăng ký lên tới 1.986,4 triệuUSD và 257 dự án DDI với số vốn thực hiện 15.437 tỷ đồng và thu hút102.486 lao động [26, tr.62].
- Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, hệ thống hỗ trợ giao dịch thị trường lao động trong những năm gần đây được quan tâm đầu tư phát triển:
Vĩnh Phúc tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vựcgiáo dục và đào tạo Chính phủ Cộng hoà liên bang Đức đã cấp ODA đầu tư thiết
bị dạy nghề cho trường cao đẳng nghề Việt Đức, tổng cộng trị giá trên 2 triệu Euro
để đào tạo lao động có chất lượng cao Đồng thời, hỗ trợ cho các đơn vị đào tạo để
có giáo viên nước ngoài giảng dạy ngoại ngữ cho lao động địa phương Hệ thốngdạy nghề luôn được quan tâm đầu tư Hiện nay Vĩnh Phúc có 55 đơn vị dạy nghề,các huyện đều có trung tâm dạy nghề Phát triển hệ thống đào tạo và bồi dưỡngnguồn nhân lực của Vĩnh phúc đã đóng góp cho phát triển nguồn nhân lực rõ rệt,nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo lên tới 42,9%, trong đó lao động đã qua đào tạonghề đạt 32,6% trên tổng số lực lượng lao động [26, tr.65]
Hệ thống giới thiệu việc làm của Vĩnh Phúc khá phát triển, đã áp dụng
mô hình mới trong hoạt động giao dịch Vĩnh Phúc hiện có 5 trung tâm giớithiệu việc làm công, hơn 10 cơ sở giới thiệu việc làm tư nhân; hàng tháng tổchức 2 phiên giao dịch tại sàn giao dịch việc làm Kết quả đã thu hút hàngnghìn lao động tham gia giao dịch; tạo sự thuận lợi trong giao dịch cho ngườilao động và doanh nghiệp [26, tr.66]
b Những kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển thị trường lao động ở Vĩnh Phúc:
- Tích cực cải cách hành chính, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng để thu hút các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh nhằm phát triển kinh tế xã hội địa phương, tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho người lao động.
Trang 36Chính quyền tỉnh đã tích cực cải cách hành chính, tạo sự thông thoángminh bạch trong quá trình giải quyết các thủ tục về đầu tư, xây dựng các côngtrình kết cấu hạ tầng Quan tâm đến giao thông, thông tin, điện, nước sinhhoạt và nước thải, vệ sinh môi trường, xã hội hoá việc xây dựng nhà ở chongười lao động Từ đó thu hút các nhà đầu tư, làm tăng nhu cầu sử dụng laođộng trên địa bàn tỉnh.
- Chính quyền áp dụng một cách linh hoạt các chính sách về đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực.
Tỉnh Vĩnh Phúc đã đề ra các chính sách hỗ trợ về giáo dục cho học sinhnghèo, dân tộc thiểu số và các đối tượng xã hội Hỗ trợ học phí cho người laođộng ở khu vực bị thu hồi đất, các đối tượng chính sách, dạy nghề cho laođộng nông thôn Thực hiện hỗ trợ, thu nhút nguồn vốn nước ngoài để pháttriển cơ sở vật chất cho các trường
Xây dựng và thực hiện chính sách thu hút nhân tài một cách có hiệuquả, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội địa phương Trong đó có quyđịnh về hỗ trợ kinh phí học tập, ưu tiên tuyển dụng, chính sách ưu đãi vềlương, chính sách hỗ trợ nhà ở nhằm khuyến khích mọi người tích cực họctập nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài và lao độngchất lượng cao
1.3.3 Những kinh nghiệm chung từ thực tế phát triển thị trường lao động của Bình Dương và Vĩnh Phúc
- Địa phương cần đảm bảo cho người lao động ổn định đời sống và yên
tâm làm việc Muốn vậy, phải hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện chongười lao động có nhà ở, đảm bảo an toàn, và những điều kiện sinh hoạt thiết yếukhác; từng bước nâng cao mức sống và văn hoá, tinh thần cho người lao động
- Để đảm bảo đội ngũ nhân lực chất lượng cao, nhiều kinh nghiệm, tay
nghề giỏi, Tỉnh cần chú trọng xây dựng và hoàn thiện chính sách thu hút laođộng phù hợp và đồng bộ với chính sách thu hút đầu tư Đặc biệt, có chínhsách đãi ngộ hợp lý để từ đó thu hút lao động chất lượng cao và các nhân tài
về làm việc tại địa phương
Trang 37- Khắc phục tình trạng chất lượng lao động không đáp ứng được yêu
cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn, cần có sự gắngắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp Chất lượng đào tạođược nâng cao do đào tạo được gắn với sản xuất, người lao động sau khi đàotạo đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh
- Để thu hút lao động ngoại tỉnh đến làm việc, cần thực hiện mô hình phối hợp: Doanh nghiệp - Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh - Trung tâm giới thiệu
việc làm tỉnh bạn, nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động tại chỗ, đáp ứng
đủ nhu cầu lao động phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh ở địa phương
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Ở TỈNH BẮC NINH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA BẮC NINH
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, là cửa ngõphía Bắc của Thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Bắc Ninh có các trục
đường giao thông lớn và quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các Trung tâmkinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc Việt Nam: Quốc lộ 1A, Quốc lộ1B đi Lạng Sơn và Cửa khẩu Hữu Nghị Quan, Quốc lộ 18 đi Sân bay Quốc tếNội Bài và đi cảng biển nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh), Quốc lộ 38 nối vớiQuốc lộ 5 đi Hải Phòng, tuyến đường sắt xuyên Việt đi Đồng Đăng (LạngSơn) để tới Nam Ninh (Trung Quốc)
Bắc Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng Vùng đồng bằng chiếm gần
hết diện tích tự nhiên toàn tỉnh Độ cao trung bình phổ biến ở mức từ 3 - 7m so
với mực nước biển Do được bồi đắp bởi các sông lớn như sông Cầu, sôngĐuống, sông Thái Bình đã tạo cho địa phương một vùng đất phù sa màu mỡ.Vùng gò đồi trung du chỉ chiếm 0,5% diện tích tự nhiên với phần lớn là đồi núithấp, điểm cao nhất là núi Hàm Long cũng chỉ cao 171m so với mực nước biển
Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,7 km2, chiếm 0,2% diện tích tựnhiên cả nước và là địa phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 63 tỉnh,thành phố Theo kết quả tổng điều tra đất của Bắc Ninh, trong tổng diện tíchđất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm 64,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm0,8%; đất chuyên dùng chiếm 17,4%; đất ở chiếm 6,5%; còn lại 10,9% là đất
có mặt nước, sông suối, đồi núi chưa sử dụng
Bắc Ninh có 8 đơn vị cấp huyện, bao gồm thành phố Bắc Ninh, thị xã
Từ Sơn và 6 huyện là Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Lương Tài và
Trang 39Gia Bình; có 126 đơn vị cấp xã, bao gồm 6 thị trấn, 17 phường và 103 xã.
Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho biết, dân số Bắc Ninh là1.026.715 người; là tỉnh có mật độ dân số đông, lên tới 1.248 người/km2; caogần gấp 5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước, là địa phương có mật độdân số cao thứ 3 trong số 63 tỉnh, thành phố; chỉ thấp hơn mật độ dân số Thủ
đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh [12, tr.5]
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Về tình hình phát triển sản xuất, kinh doanh:
Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua kinh tế BắcNinh có những bước phát triển rõ rệt Sản xuất hàng hoá đang phát triển, có cơcấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt làsản xuất lương thực tăng trưởng cao Công nghiệp, dịch vụ, nhất là công nghiệpnông thôn được phát triển thích ứng dần với cơ chế thị trường Sản xuất kinhdoanh phát triển đều cả về quy mô và chất lượng Đặc biệt hệ thống 61 làngnghề truyền thống như: đúc đồng (Đại Bái, Gia Bình), sắt thép (Đa Hội, TừSơn), gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Từ Sơn) v.v Trong giai đoạn đổi mới, các làngnghề vẫn tiếp tục được duy trì và ngày càng phát triển, có chỗ đứng trong thịtrường địa phương, khu vực và cả trên thế giới Kinh tế làng nghề đã và đang trởthành thế mạnh, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh Đồng
thời, với hàng loạt địa danh gắn liền với di tích lịch sử - văn hoá và con người
Kinh Bắc như: Hội Lim có hát Quan họ, Đền thời Lý Bát Đế, Chùa Dâu, ChùaPhật Tích là cái nôi phật giáo của người Việt cổ, di tích Thành Luy Lâu thời Bắcthuộc v.v… là cơ sở vững chắc cho phát triển ngành du lịch của địa phương
Về phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực:
Kế thừa truyền thống văn hoá của vùng Kinh Bắc xưa, Bắc Ninh ngày
nay có mặt bằng dân trí cao Hàng năm có từ 30 - 40% học sinh phổ thông thi
đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp bổ sung vàonguồn nhân lực cho thị trường lao động địa phương Số lao động đã qua đàotạo chiếm 41% thời điểm năm 2009 Chất lượng lao động ngày càng được
Trang 40nâng cao, đáp ứng công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Bắc Ninh.
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh những năm qua chuyển dịch theo hướngtích cực, mức độ chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệptrong GDP nhanh hơn so với bình quân cả nước, nhất là trong giai đoạn từ
2000 đến nay Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm từ 37,96% (năm2000) xuống còn 14,06% (năm 2009), tương ứng tỷ trọng ngành công nghiệptăng từ 35,57% lên 56,67% [11, tr.45] Tuy nhiên, tỷ trọng khu vực dịch vụtrong GDP còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh
Về thu nhập và đời sống nhân dân:
Trong những năm qua, đời sống dân cư ở Bắc Ninh có bước cải thiện rõrệt: GDP bình quân đầu người tăng dần qua các năm từ 402 USD/người năm
2000 tăng lên 639 USD/người năm 2005, 1.190 USD/người năm 2009 [11,tr.68]; nhiều công trình phúc lợi công cộng, các công trình kết cấu hạ tầng kỹthuật quan trọng như giao thông vận tải, thông tin và viễn thông được đầu tư xâydựng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT - XH của địa phương
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG BẮC NINH TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY
2.2.1.Thực trạng phát triển lực lượng lao động
- Về số lượng và cơ cấu lao động
Số lượng và cơ cấu lao động trên thị trường phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố Trong đó quy mô, cơ cấu dân số và tốc độ tăng dân số cùng với mức
độ di chuyển lao động quyết định tới số lượng và cơ cấu lao động tham giavào thị trường
Do tác động của chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, nhận thứccủa người dân về vấn đề này đã có những cải thiện rõ rệt Trong thời gian từnăm 2005 đến nay, dân số Bắc Ninh tăng chậm, tỷ suất tăng dân số bình quânnăm là 0,84; tỷ số giới tính 96,6 nam/100 nữ cho thấy chênh lệch về giới là