1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

97 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghiệp Tỉnh Hà Nam Trong Quá Trình Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại luận văn thạc sỹ
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 629,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiCông nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên CNXH.Trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trong nhiệm kỳ Đại hội VII (1996 2000) Đảng ta đã đề ra chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội X (2006) tiếp tục đề ra mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.Hà Nam là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía tây giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình. Kinh tế của Hà Nam chủ yếu là nông nghiệp, năng suất thấp. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nam nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp.Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII đề ra mục tiêu Phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp với tốc độ cao, bền vững, đặc biệt tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng gấp 2,5 lần năm 2005, trong đó công nghiệp địa phương tăng gấp 3 lần… Tạo mọi điều kiện về cơ chế, chính sách để phát triển mạnh hơn tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, tạo thêm nhiều nghề mới, nhất là ngành nghề xuất khẩu, nhằm tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phần phân công lại lao động, phát triển kinh tế nông thôn 8, tr.25.Để thực hiện mục tiêu trên, công nghiệp tỉnh Hà Nam cần phải phát triển theo hướng nào? Với những ngành chủ lực gì? Cần có những bước đi, chính sách và giải pháp như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa? Đó là câu hỏi lớn và là vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nam. Với mong muốn góp phần vào việc tìm lời giải cho câu hỏi trên, tôi quyết định chọn đề tài “Công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nềnkinh tế quốc dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, ngay

từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Đảng ta đã xác định côngnghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên CNXH.Trước yêucầu phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện bùng nổ của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ, trong nhiệm kỳ Đại hội VII (1996 - 2000) Đảng ta đã

đề ra chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội X (2006)tiếp tục đề ra mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại vào năm 2020

Hà Nam là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía bắctiếp giáp với Hà Nội, phía tây giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía namgiáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh HòaBình Kinh tế của Hà Nam chủ yếu là nông nghiệp, năng suất thấp Trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nam nhất thiết phảiđẩy mạnh phát triển công nghiệp

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII đề ra mục tiêu

Phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp với tốc

độ cao, bền vững, đặc biệt tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng,hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, là khâu đột phá

để đẩy nhanh tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế củatỉnh Phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng gấp2,5 lần năm 2005, trong đó công nghiệp địa phương tăng gấp 3 lần…Tạo mọi điều kiện về cơ chế, chính sách để phát triển mạnh hơn tiểuthủ công nghiệp, làng nghề, tạo thêm nhiều nghề mới, nhất là ngànhnghề xuất khẩu, nhằm tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phầnphân công lại lao động, phát triển kinh tế nông thôn [8, tr.25]

Trang 2

Để thực hiện mục tiêu trên, công nghiệp tỉnh Hà Nam cần phải pháttriển theo hướng nào? Với những ngành chủ lực gì? Cần có những bước đi,chính sách và giải pháp như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa? Đó là câu hỏi lớn và là vấn đề bức xúc đangđặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nam.

Với mong muốn góp phần vào việc tìm lời giải cho câu hỏi trên, tôi

quyết định chọn đề tài “Công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành

kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở cấp quốc gia, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đềcông nghiệp trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như:

- Bộ Công nghiệp (1999), Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2010, Hà Nội.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp

và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010, Hà Nội.

- Kenichi Ohno và GS-TS Nguyễn Văn Thường (chủ biên) (2005):

Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, Nxb Lý luận Chính

trị, Hà Nội, 2005 Trong công trình này các tác giả đã gợi ý thiết kế một chiếnlược phát triển công nghiệp toàn diện và hiện thực ở Việt Nam; so sánh chiếnlược phát triển công nghiệp của Việt Nam với các nước trong khu vực; nêulên những kinh nghiệm của các nước ASEAN trong phát triển ngành côngnghiệp điện, điện tử, sản xuất ô tô, xe máy và một số ngành công nghiệp phụtrợ Trên cơ sở đó, công trình rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích chongành công nghiệp Việt Nam

Lựa chọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam (năm

1998) của Viện Chiến lược và phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư Công trìnhnày đã giành một phần để phân tích, đánh giá, lựa chọn và đề ra chính sách

Trang 3

phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu như công nghiệp điện, điện tử,chế tạo, dệt may; công nghiệp sửa chữa tàu; những ngành công nghiệp nhiềuvốn và những ngành công nghiệp non trẻ như công nghiệp ô tô và phụ tùng,thép, lọc hóa dầu, phân bón, xi măng của Việt Nam.

Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa của GS TS Vũ Đình

Cự (Tạp chí Lý luận chính trị, 12/2005) Trong công trình này, tác giả đã nêulên những đặc điểm của CNH, HĐH trong điều kiện toàn cầu hóa; chỉ ranhững thành tựu và hạn chế của CNH, HĐH ở nước ta sau 20 năm đổi mới,trong đó có phân tích những thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp.Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp khắc phục trong thời gian tới

Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới: thành tựu và vấn đề đặt ra

của Nguyễn Sinh (Tạp chí Lý luận chính trị, số 12; 2005) Trong công trìnhnày tác giả phân tích khá chi tiết những thành tựu đạt được của công nghiệptrong gần 20 năm đổi mới và chỉ rõ 6 vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thờigian tới cho ngành công nghiệp Việt Nam

Khả năng cạnh tranh của một số hàng công nghiệp Việt Nam: thực trạng và những vấn đề rút ra của PGS.TS Nguyễn Huy Oánh (Tạp chí Lý

luận chính trị, số 2; 2002) Trong công trình này, tác giả đã đánh giá thựctrạng sức cạnh tranh của một số ngành công nghiệp chủ yếu của Việt Nam.Theo tác giả thì các ngành công nghiệp của Việt Nam như xi măng, thép, hóachất, cơ khí, đường, dệt có sức cạnh tranh yếu Riêng da giày và ngành may

có sức cạnh tranh trung bình Từ kết quả nghiên cứu đó, tác giả đề xuất nhiềuvấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệpViệt Nam Đó là: đầu tư cho khoa học - công nghệ; nâng cao trình độ tổ chứcquản lý sản xuất; đổi mới nhận thức về phát huy mọi thành phần kinh tế đểphát triển công nghiệp; đào tạo, sử dụng đúng đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật; hạn chế chính sách bảo hộ của Nhà nước; xử lý tốt tỷ giá đồng tiền Việt

Trang 4

Nam với các ngoại tệ mạnh và thực hiện tốt vai trò quản lý của Nhà nước đốivới ngành công nghiệp.

Công nghiệp Việt Nam những năm đổi mới của Nguyễn Hoàng Minh

(Tạp chí Con số và Sự kiện, số 9; 2004) Trong công trình này, trước hết tácgiả đã phác thảo đôi nét về công nghiệp nước ta trong cơ chế cũ Tiếp theocông trình đi sâu phân tích những thành tựu của công nghiệp Việt Nam nhữngnăm đổi mới trong từng thời kỳ kế hoạch từ 1990 đến 2005 Cuối cùng lànhững nhận xét của tác giả về nguyên nhân đạt được những thành tựu đó

Phát triển công nghiệp Việt Nam: thực trạng và thách thức của Quốc

Trung và Linh Chi (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 249, tháng 11/2002).Công trình phân tích thực trạng sản xuất công nghiệp Việt Nam từ 1996 đến

2002 dưới những khía cạnh như: tốc độ tăng trưởng; tỷ trọng công nghiệptrong GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp; trình độ côngnghệ, trang thiết bị và lao động công nghiệp Các tác giả công trình này đãnêu lên một số chính sách tác động đến phát triển công nghiệp trong thời gianqua Cuối cùng là những tồn tại và thách thức mà ngành công nghiệp ViệtNam phải khắc phục, đó là: hiệu quả sản xuất công nghiệp giảm, trình độcông nghệ, trang thiết bị lạc hậu, chất lượng và năng suất lao động côngnghiệp thấp, chi phí dịch vụ hạ tầng cao, hợp tác sản xuất kinh doanh kémhiệu quả và những hạn chế trong cơ chế chính sách hiện hành

Sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ của TS Đỗ Đăng Hiếu (Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 1, 2002) Tác giả

đã đánh giá một số nét tổng quát về tình hình phát triển của ngành côngnghiệp Việt Nam trong năm 2001 - 2002 Từ đó tác giả nêu phương hướng vàcác giải pháp phát triển ngành công nghiệp trong thời gian tới

Ở các tỉnh, thành phố đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu vềthực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn như: Thành phố

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng ,

Trang 5

các tỉnh Đồng Nai, Bến Tre, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, NamĐịnh, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Tĩnh … và các quy hoạch phát triển côngnghiệp, các ngành công nghiệp chủ lực trên địa bàn từng tỉnh, thành phố.

Ở Hà Nam, tính đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình, đề tàinào nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của công nghiệp đối với sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh, định hướng và giảipháp phát triển công nghiệp Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa Năm 2003, BCH Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Nghị

quyết số 08 -NQ/TU “Về đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu, thủ công

nghiệp” Hiện tại, Ủy ban nhân dân tỉnh đang chỉ đạo hoàn thiện quy hoạch

phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn; đánh giá thựctrạng; đề xuất định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh

Hà Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về công nghiệp và vai trò củacông nghiệp đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Phân tích thực trạng công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn

2000 - 2010, đánh giá vai trò của công nghiệp Hà Nam đối với sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh

- Đề xuất một số định hướng, giải pháp cơ bản phát triển công nghiệptrên địa bàn tỉnh Hà Nam đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của công nghiệp Hà Nam trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh và các nhân tố

Trang 6

tác động, xu hướng phát triển công nghiệp Hà Nam trong quá trình đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của

công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa giaiđoạn 2000-2010, xu hướng và giải pháp phát triển công nghiệp Hà Nam trong

quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận

của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương,nghị quyết của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước; các quan điểm,chính sách, biện pháp của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Nam Luận văn kế thừamột cách có chọn lọc các công trình khoa học, các đề tài của các cơ quan, cácnhà khoa học trong và ngoài tỉnh có liên quan tới nội dung của luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp truyền thống

mang tính phương pháp luận, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích,

so sánh tổng hợp, thống kê…

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của công nghiệp đốivới sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế

- Luận văn tập trung phân tích đánh giá vai trò của công nghiệp HàNam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong nhữngnăm qua, từ đó dự báo xu hướng, xác định các giải pháp thúc đẩy sự pháttriển công nghiệp Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đến năm 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 03 chương, 09 tiết

Trang 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ

CỦA CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm

1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp và những đặc trưng của nó

Nhân loại đã trải qua lịch sử phát triển rất lâu dài, từ nền văn minh nôngnghiệp đến nền văn minh công nghiệp và nền kinh tế tri thức Mỗi nền văn minhđều dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định

Trong nền văn minh công nghiệp, công nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu.Đây là ngành kinh tế dựa trên việc sử dụng tư liệu sản xuất chủ yếu là máy móc,với phân công, chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất sâu rộng Ngành côngnghiệp có lịch sử phát triển rất lâu dài, từ trình độ thủ công lên trình độ cơ khí, tựđộng; từ chỗ gắn liền với nông nghiệp trong khuôn khổ của một nền sản xuấtnhỏ tự cung tự cấp rồi tách ra khỏi nông nghiệp bởi một cuộc phân công laođộng lớn thứ hai để trở thành một ngành sản xuất độc lập và phát triển cao hơnqua các giai đoạn hiệp tác giản đơn, công trường thủ công, công xưởng

Trong nền kinh tế quốc dân hiện đại, công nghiệp là một ngành sản xuấtvật chất độc lập, có vai trò chủ đạo trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên,chế biến tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm của ngành nông nghiệp thànhnhững tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

Theo Từ điển bách khoa toàn thư, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây

là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.

Trang 8

Theo Từ điển tiếng Việt, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, hoặc thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm.

Từ những các khái niệm và những điều trình bày trên đây có thể thấyrằng, công nghiệp có những đặc trưng chủ yếu sau:

- Về mặt kinh tế - xã hội, công nghiệp là ngành tương đối độc lậptrong khâu khai thác, chế biến, sửa chữa và có mối quan hệ liên ngành vớinhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệp tạo lập cơ sởvật chất, mở đường cho sự tiến bộ trong quan hệ sản xuất, tổ chức phâncông lao động ngày càng chặt chẽ; trình độ khoa học - kỹ thuật và côngnghệ, trình độ tổ chức quản lý ngày càng cao Sự phát triển công nghiệplàm thay đổi tư duy, thay đổi nếp sống của xã hội

- Về mặt kinh tế - kỹ thuật, sản xuất công nghiệp khác với sản xuấtnông nghiệp: sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện

tự nhiên, sản xuất công nghiệp là quá trình tác động cơ - lý - hoá trực tiếpcủa con người vào giới tự nhiên để lấy ra và biến đổi các vật chất tự nhiênthành sản phẩm theo nhu cầu của con người

- Công nghiệp tạo ra năng suất lao động xã hội cao, của cải dồi dào

Đó là cơ sở, nền tảng vật chất cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, phát triển các mặt kháccủa đời sống kinh tế-xã hội

Với những đặc trưng trên đây, công nghiệp đã trở thành ngành kinh

tế quan trọng nhất, trực tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi căn bản toàndiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội

từ việc sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biếnsức lao động cùng với khoa học - công nghệ tiên tiến, tạo ra năng suất laođộng và hiệu quả kinh tế - xã hội cao, là nền tảng của nền văn minh công

Trang 9

nghiệp, là động lực chủ yếu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nền kinh tế quốc dân

1.1.1.2 Đặc điểm của công nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của lực lượng sản xuất, củakhoa học - công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế đã đem lại thay đổi to lớncho nhiều ngành kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp

Dưới tác động mạnh mẽ ấy, ngành công nghiệp có những đặc điểmchủ yếu sau đây:

Một là, công nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn

cầu hóa nền kinh tế

Toàn cầu hóa, mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, là bước phát triểncao của quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, là giai đoạn chuyển biến

về chất của quá trình quốc tế hóa Toàn cầu hóa tác động và ảnh hưởng tớiphát triển xã hội trên các cấp độ: quốc gia - dân tộc, khu vực và thế giới; tất

cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, đời sống xã hội và cảtrong môi trường sinh thái, tự nhiên Nội hàm của toàn cầu hóa, trước hết làtoàn cầu hóa kinh tế được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, các dòng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân

lực ngày càng vượt qua biên giới các quốc gia, lưu thông trên phạm vitoàn cầu ngày càng tự do hơn

Thứ hai, sự liên kết chặt chẽ kinh tế của các nước trên thế giới thành

các kênh phân phối lưu thông các nguồn lực kinh tế toàn cầu, cầu nối nàyngày càng ảnh hưởng và kết hợp chặt chẽ với nhau, chứ không phải sự pháttriển cô lập mà các bên không hề có liên quan

Thứ ba, toàn cầu hóa là sự gia tăng liên kết toàn cầu làm rút ngắn

khoảng cách giữa các quốc gia tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càngchắt chẽ trước hết về sản xuất và thị trường nhờ tính năng động của thươngmại, sự lưu thông vốn và công nghệ…

Trang 10

Thứ tư, nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hòa

nhập với nhau Sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới và sựvận động của toàn bộ nền kinh tế thế giới ngày càng ảnh hưởng và chế ướclẫn nhau

Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế nổi bật trong giai đoạn hiệnnay Các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, trong đó có ngành côngnghiệp chịu tác động trực tiếp của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quátrình này tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, ở những cấp độ khácnhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá và tốc độngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Trướcđây, các yếu tố bên ngoài đóng vai trò ít quan trọng đối với sự phát triểncủa ngành công nghiệp, nền kinh tế có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh vàkhép kín Ngày nay, xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở nênmạnh mẽ Các nước dù muốn hay không cũng bị thu hút vào các quan hệkinh tế quốc tế Các mối quan hệ kinh tế quốc tế này có ảnh hưởng quantrọng đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế của các quốc gia, chúng làmthay đổi cơ cấu của các lực lượng tham gia vào ngành công nghiệp

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh diễn ra đặc biệtgay gắt Đây là thách thức lớn nhất đối với phát triển công nghiệp ở cácnước đang phát triển hiện nay

Hai là, công nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của cuộc cách mạng

khoa học công nghệ Cuộc cách mạng này đặc trưng bởi những phát minhkhoa học đều trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sảnxuất mới, làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần

về mặt công cụ sản xuất Cuộc cách mạng này có tác dụng làm đảo ngượctrình tự phát triển của một số lĩnh vực và ngành kinh tế Công nghiệp cũngkhông nằm ngoài vòng quay đó Chẳng hạn, trước đây công nghiệp hoádiễn ra ở các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ phát triển nhất

Trang 11

theo trình tự: phát triển khoa học cơ bản - khoa học ứng dụng - phổ cậpcông nghệ trên diện rộng Ngày nay, các nước đi sau có thể đi theo trình tựngược lại: ứng dụng công nghệ tiên tiến thông qua nhập khẩu - phát triểnkhoa học ứng dụng - và chỉ khi trình độ phát triển kinh tế xã hội cao thìkhoa học cơ bản mới có đủ tiền đề để phát triển mạnh Trình tự phát triển

ưu tiên các lĩnh vực trong tổng thể nền kinh tế cũng đã có những thay đổimang tính tất yếu Trước đây, công nghiệp hoá xuất hiện sau khi nôngnghiệp có sự phát triển vượt bậc, mang tính cách mạng Khu vực nôngnghiệp cung cấp nguồn nguyên liệu và lao động giải phóng ra từ nôngnghiệp và bảo đảm cho công nghiệp nguồn tích luỹ nguyên thuỷ Ngày naycông nghiệp phát triển khác, ví dụ như phụ thuộc ít hơn vào nguồn nguyênliệu từ nông nghiệp và nó đã đòi hỏi vốn đầu tư lớn đến mức dù nôngnghiệp có khi phát triển ở trình độ khá cũng không đáp ứng được Cáchmạng trong nông nghiệp ở một số nước NICs đã từng được thúc đẩy vớimục tiêu ổn định kinh tế xã hội nông thôn, công nghiệp ngược lại có vai tròtác động trở lại rất quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp vànông thôn Trước đây, trong mô hình công nghiệp hoá khép kín ở quy môquốc gia, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng là cần thiết và hợp lý Hiệnnay, trên quy mô thế giới, sản phẩm của ngành công nghiệp nặng có vị tríquan trọng song những sản phẩm đó không thể chỉ do một nước sản xuất,nhất là những nước chậm phát triển Đối với một nước, việc lựa chọn ưu tiênsản xuất sẽ phải căn cứ vào hiệu quả của việc phát huy lợi thế so sánh

Phát triển công nghiệp trong điều kiện khoa học - công nghệ pháttriển nhanh có nhiều thuận lợi nhưng nguy cơ tụt hậu cũng là thách thức tolớn đối với các nước đang phát triển

Ba là, do những đặc điểm của công nghiệp như đã nêu trên, nhà nước

có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp Vaitrò của nhà nước không chỉ với chức năng quy định luật lệ, làm trọng tài,

Trang 12

khuyến khích bằng những công cụ hành chính và kinh tế, bảo hộ sản xuất

và thương mại quốc gia mà nhà nước còn chức năng định hướng phát triểncông nghiệp; đầu tư hình thành những cơ sở ban đầu, chia sẻ rủi ro trongnhững lĩnh vực công nghiệp mới…

1.1.1.3 Nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Vào cuối thế kỷ XVIII diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp ở nướcAnh với sự xuất hiện “chiếc thoi bay” trong lĩnh vực se sợi, mở đầu một giaiđoạn mới trong lịch sử phát triển sản xuất của nhân loại Kể từ đây xuất hiệnkhái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được hiểu là quá trình thay thế laođộng thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, chuyển cơ cấu của nền kinh

tế quốc dân từ nền nông nghiệp là chủ yếu lên công nghiệp, biến một nướcnông nghiệp truyền thống trở thành nước công nghiệp hiện đại

Trong lịch sử đã diễn ra các loại hình CNH khác nhau: CNH tư bản chủ nghĩa và CNH xã hội chủ nghĩa Xét về mặt LLSX, khoa học và công

nghệ, thì giống nhau; song giữa chúng có sự khác nhau về mục đích, phươngthức tiến hành và sự chi phối bởi QHSX thống trị

Nhận thức về khái niệm CNH có tính lịch sử Nó luôn có sự thay đổicùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học và công nghệ

Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạn phát triểnlịch sử cụ thể là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn Nó không chỉ giúp chúng

ta nhận diện rõ con đường phải đi mà còn giúp hoạch định chính xác mô hìnhCNH, HĐH theo định hướng XHCN cùng những nguồn lực và biện pháp đểthực thi mô hình đó Cùng với tiến trình CNH của các quốc gia dân tộc từtrước đến nay đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù CNH,HĐH Theo thống kê của UNIDO có tới 128 định nghĩa khác nhau; ở ViệtNam cũng có nhiều cuộc hội thảo và một số công trình khoa học để bàn đếnkhái niệm này, song tựu chung có một số quan điểm chính sau đây:

Trang 13

- Trên cơ sở tổng kết mô hình CNH cổ điển, Từ điển Bách Khoa toànthư Pháp viết “CNH là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị(cho một vùng, một nước) các loại nhà máy, các loại công nghiệp” [33, tr.520].Khiếm khuyết lớn nhất của định nghĩa này là không nói gì đến tính lịch sử cụthể của CNH và đồng nhất CNH với phát triển công nghiệp, không làm rõđược mục tiêu và điểm dừng của CNH.

- Để dung hòa các quan điểm khác nhau, năm 1963 UNIDO đưa rađịnh nghĩa:

CNH là quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận ngàycàng tăng của đất nước được huy động để phát triển một cơ cấu kinh

tế đa ngành với công nghệ hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tếnày là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệusản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nềnkinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo tới sự tiến bộ về kinh tế,tiến bộ xã hội [27, tr.2]

Định nghĩa này đã khẳng định được nội dung của CNH là xây dựng cơcấu kinh tế đa ngành, áp dụng công nghệ hiện đại Song vẫn chưa nêu lênđược tính lịch sử cụ thể của quá trình CNH đối với từng quốc gia, dân tộc cóđiều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa khác nhau Hay nói một cách khác đó làquan điểm dễ được chấp nhận, song khó vận dụng

- Các nước XHCN trước đây đều sử dụng khái niệm CNH trong giáotrình kinh tế chính trị của Liên Xô: “Công nghiệp hóa là quá trình xây dựngnền đại công nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trungtâm là chế tạo máy” [27, tr.2] Quan điểm này xuất phát từ thực tiễn Liên Xôkhi bắt tay vào CNH trong điều kiện đất nước bị chiến tranh tàn phá, bị đếquốc bao vây, thị trường trong nước là nền tảng cho sự phát triển kinh tế (mộtnền kinh tế khép kín) Trong bối cảnh quốc tế phức tạp buộc Liên Xô phảidốc toàn lực để đẩy nhanh CNH, tập trung phát triển công nghiệp nặng…

Trang 14

Đường lối đó của Liên Xô trong những năm 30 đã đạt được nhiều thành tựu,được coi là kỳ tích của CNXH và là sự đảm bảo về vật chất cho chiến thắngcủa Hồng quân chống chủ nghĩa phát xít Song thực tiễn cũng chỉ ra rằng sẽ làsai lầm nếu đem áp dụng đường lối đó cho tất cả các quốc gia chậm phát triển

mà điều kiện lịch sử, địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa… với tính muôn vẻ của

nó không giống như Liên Xô trước đây

- Ở Việt Nam trước hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII) có quan điểmcho rằng trong bối cảnh mới của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh, vị trícủa Việt Nam trong sự hợp tác kinh tế toàn cầu và khu vực cho phép chúng ta

đi ngay vào HĐH và do vậy không nên đào bới lại khái niệm CNH Phải thấyrằng đây là quan điểm nôn nóng, muốn đốt cháy giai đoạn, phủ nhận quy luậtphát triển tuần tự của lực lượng sản xuất Cũng có quan điểm viện dẫn CNHhiện nay ở nước ta đã bao hàm HĐH, cho nên không cần thêm HĐH vào sauCNH Thực ra quan niệm này còn mang tính phiến diện ở chỗ nhiều lĩnh vực

mà HĐH bao quát hoàn toàn không mang bản tính công nghiệp như côngnghệ trí tuệ, công nghệ sinh học…

Trong các hội thảo chuẩn bị văn kiện cho Hội nghị giữa nhiệm kỳ(Khóa VII), Hội nghị TW 7 (Khóa VII) và Đại hội Đại biểu lần thứ VIII củaĐảng đã nhận định: ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ, sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế, chúng takhông thể CNH đất nước theo kiểu cũ, làm xong CNH mới đi vào HĐH Mặc

dù CNH và HĐH là hai quá trình, hai khái niệm khác nhau, song trong điềukiện này, sự xâm nhập, đan kết của CNH và HĐH là không thể tránh khỏi và

đó cũng là cơ may để Việt Nam bứt lên kịp các nước tiên tiến trên thế giới,xây dựng thành công CNXH Tiến hành đồng thời CNH và HĐH cũng là thựchiện tính quy luật của sự phát triển tuần tự và nhảy vọt của LLSX (khi đã cónhững tiền đề cần thiết cho sự nhảy vọt đó) Do vậy, cần phải gắn kết CNH vàHĐH trong một khái niệm chung “CNH, HĐH đất nước” mà không chia tách

Trang 15

nó ra làm hai quá trình và hai khái niệm riêng biệt, cũng không nên hiện đạihóa khái niệm CNH hay coi CNH đã có HĐH rồi.

Với cách tiếp cận hệ thống và lịch sử, trên cơ sở thực tiễn Việt Nam,Hội nghị TW 7 (khóa VII) khẳng định:

CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao độngthủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với côngnghệ, phương tiện và phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự pháttriển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất laođộng xã hội cao [14, tr.554]

Khái niệm CNH, HĐH trên được Đảng ta xác định rộng hơn các quanniệm trước đó Cụ thể là:

- Phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH, phát triển côngnghiệp phải đi cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

- Tiến trình thực hiện bao hàm cả tuần tự trải qua các bước cơ giới hóa,

tự động hóa, tin học hóa, cả những bước phát triển nhảy vọt kết hợp thủ côngtruyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở nhữngkhâu có thể và mang tính quyết định

Công nghiệp hóa theo quan niệm của Đảng ta không bó hẹp trong phạm

vi chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như cách hiểu trước đây,

mà là một sự kết hợp với những thành tựu mới nhất về khoa học và côngnghệ: CNH phải gắn với HĐH

Có thể thấy quan điểm của Đảng ta về CNH, HĐH đã phản ánh đượcquy mô rộng lớn của quá trình CNH, HĐH, nó không chỉ dừng lại ở lĩnh vựccông nghiệp mà là chuyển đổi căn bản toàn diện các mặt của đời sống xã hội,chỉ ra được sự gắn kết tất yếu của CNH và HĐH, đó vừa là cơ may, vừa làphương tiện để chống lại sự tụt hậu, rút ngắn thời gian xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho CNXH Khái niệm trên cũng xác định vai trò của đổi mới

Trang 16

kỹ thuật - công nghệ là nội dung trọng tâm của quá trình CNH, HĐH Kháiniệm đó không chỉ là sự kế thừa mà còn là sự vận dụng sáng tạo những quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn ViệtNam trong điều kiện lịch sử mới

1.1.2 Phân loại công nghiệp

- Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: người ta có thể chia công

nghiệp thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tưliệu sản xuất (theo đó có thời kỳ quan niệm có 2 nhóm ngành tương ứng là côngnghiệp nặng và công nghiệp nhẹ) Đối với các nước đang phát triển, việc phân chianày rất có ý nghĩa trong việc tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất so với tư liệutiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tếtheo đuổi chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu

- Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: người ta chia công

nghiệp thành công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác Việc phân loạinày có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiệnnguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khaithác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sựphát triển bền vững

- Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật - công nghệ sản xuất : người ta chia

công nghiệp thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật - công nghệ, hoặccùng phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tựnhau Cách phân chia này có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành côngnghiệp dựa trên cân đối liên ngành

- Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: người ta chia

công nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh,công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc phân chia này có ý nghĩa choviệc xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp vớichiến lược chung của mỗi quốc gia

Trang 17

- Dựa vào qui mô doanh nghiệp: người ta chia công nghiệp thành công

nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ Việc phân chia này là cơ sởcho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ,phát triển công nghiệp vừa và nhỏ

1.1.3 Vai trò của công nghiệp đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH công nghiệp

là ngành có vai trò quan trọng đóng góp vào việc tạo ra thu nhập cho đấtnước, tích lũy vốn cho phát triển, mở rộng thị trường, tạo nguồn thu từ xuấtkhẩu cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài Công nghiệp được đánh giá làngành chủ đạo của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, vai trònày được thể hiện:

Công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế: Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về công nghệ

sản xuất, về công dụng của sản phẩm, công nghiệp là ngành tạo ra sản phẩmlàm chức năng tư liệu sản xuất, cho nên nó là ngành có vai trò quyết địnhtrong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Trình độ phát triểncông nghiệp càng cao thì tư liệu sản xuất càng hiện đại, tạo điều kiện nângcao năng suất lao động xã hội

Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thếgiới đến trình độ sản xuất rất cao, đó là việc tạo ra các tư liệu sản xuất có khảnăng thay thế phần lớn sức lao động của con người Đó chính là sự ra đời vàphát triển mạnh mẽ các tư liệu sản xuất có khả năng tự động hóa trong một sốkhâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất Máy móc tự động hóa thể hiện sự pháttriển cao của công nghiệp trong việc tạo ra tư liệu sản xuất phục vụ cho cácngành sản xuất và cho bản thân công nghiệp

Công nghiệp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp: trong giai đoạn

đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp được

Trang 18

coi là nhiệm vụ cơ bản nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho đờisống nhân dân và nông sản cho xuất khẩu Để thực hiện nhiệm vụ này nôngnghiệp không thể tự thân vận động nếu không có sự hỗ trợ của công nghiệp.Công nghiệp chính là ngành cung cấp cho sản xuất nông nghiệp những yếu tốđầu vào quan trọng như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, máy móc cơ khí nhỏđến cơ giới lớn Công nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng

cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Ngày nay việc ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp đã tạo rabước phát triển đột biến trong nông nghiệp: Với những giống cây trồng, vậtnuôi có những đặc tính ưu việt về thời gian sinh trưởng, phát triển và khả năngchống sâu bệnh, về sự đa dạng hóa của sản phẩm và đặc biệt về năng suất, chấtlượng đã góp phần tạo ra sản phẩm phong phú, đa dạng và có giá trị cao

Công nghiệp chế biến đã có những đóng góp quan trọng vào việc tănggiá trị sản phẩm, tăng khả năng tích trữ vận chuyển của sản phẩm nôngnghiệp và làm cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại

Do sản phẩm của nông nghiệp mang tính thời vụ cao và khó bảo quản, nếu

không có công nghiệp chế biến sẽ hạn chế lớn đến khả năng tiêu thụ

Công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng cho đời sống nhân dân, thúc đẩy dịch vụ phát triển: Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng tất yếu,

đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của con người Còn công nghiệp cungcấp những sản phẩm tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng hơn Mọi sảnphẩm tiêu dùng trong sinh hoạt của con người từ ăn, mặc, đi lại, vui chơi, giảitrí đều được đáp ứng từ sản phẩm công nghiệp Kinh tế càng phát triển, thunhập của dân cư càng tăng thì nhu cầu của con người ngày càng mở rộng.Chính sự phát triển của nhu cầu đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển.Song ngược lại sự phát triển của công nghiệp không những đáp ứng nhu cầucủa con người mà nó lại hướng dẫn tiêu dùng của con người hướng đến nhucầu mới cao hơn Như vậy, công nghiệp càng phát triển thì các sản phẩm hàng

Trang 19

hóa ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, càng nâng cao vềchất lượng.

Cũng với cách phân tích như trên, có thể thấy sự phát triển của côngnghiệp sẽ thúc đẩy dịch vụ phát triển vì thu nhập, nhu cầu tiêu dùng của ngườidân ngày càng cao, các sản phẩm công nghiệp ngày càng dồi dào thì càng đòihỏi ngành dịch vụ ngày càng phát triển để có thể đáp ứng các nhu cầu củanhân dân

Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội: Công nghiệp tác động vào sản xuất nông nghiệp làm nâng cao

năng suất lao động nông nghiệp, tạo khả năng giải phóng sức lao động trongnông nghiệp Đồng thời sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã làm chosản xuất công nghiệp ngày càng mở rộng, tạo ra các ngành sản xuất mới, cácKCN mới, đến lượt mình, công nghiệp đã thu hút lao động nông nghiệp vàgiải quyết việc làm cho xã hội Việc thu hút số lượng lao động ngày càng tăng

từ nông nghiệp vào công nghiệp không chỉ góp phần giải quyết việc làm, màcòn tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, tăng thu nhập cho người laođộng, từ đó góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao độngtheo hướng CNH, HĐH

Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất theo hướng CNH, HĐH: Do đặc điểm của sản xuất, công nghiệp luôn có một

đội ngũ lao động có tính tổ chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động “côngnghiệp” do đó đội ngũ lao động trong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiếntrong cộng đồng dân cư Cũng do đặc điểm về sản xuất, lao động trong côngnghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn hóa cao tạo điều kiện nâng caotrình độ chuyên môn của người lao động và chất lượng của sản phẩm Tronghoạt động sản xuất công nghiệp, còn có điều kiện tăng nhanh trình độ côngnghệ của sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học ngày càng cao vào sảnxuất Tất cả những đặc điểm trên đây làm cho LLSX ngày càng phát triển và

Trang 20

theo đó QHSX ngày càng phát triển hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện về các môhình tổ chức sản xuất làm cho sản xuất công nghiệp trở thành hình mẫu về kỹthuật sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến, người lao động có ýthức tổ chức và kỷ luật

Công nghiệp đảm bảo tăng cường tiềm lực an ninh quốc phòng: Với

đặc điểm kỹ thuật của mình, công nghiệp trực tiếp sản xuất ra vũ khí, khí tài,phương tiện phục vụ công tác đảm bảo an ninh quốc phòng Công nghiệp với

tư cách là bộ phận quan trọng của nền kinh tế sẽ tạo ra tăng trưởng và pháttriển kinh tế, giúp mỗi quốc gia có thêm nguồn lực để tăng cường tiềm lựcquốc phòng Công nghiệp cũng góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóalĩnh vực an ninh quốc phòng, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xãhội của đất nước

Với những vai trò quan trọng nêu trên, có thể khẳng định, công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, là ngành chủ đạo, là động lực quyết định thành công của sự nghiệp CNH, HĐH.

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Ngành công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH chịu sự tác động củanhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố chủ yếu sau đây:

1.2.1 Nguồn lực

- Lao động Một mặt, lao động là một bộ phận của nguồn lực phát

triển, là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất, mặt kháclao động là một bộ phận của dân số, những người được hưởng lợi ích của sựphát triển Nguồn nhân lực chính là một trong số những nhân tố quyết địnhviệc thực hiện thành công chiến lược phát triển công nghiệp, phát triển nhữngngành công nghiệp trọng điểm Điều đó có nghĩa là sự phát triển của ngànhcông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào vốn, kỹ thuật, tài nguyên mà còn phụthuộc rất lớn vào năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó

Trang 21

- Tài nguyên Đây là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất công

nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp sử dụng rất nhiều tài nguyên thiênnhiên ở đầu vào Nước là đầu vào thiết yếu của nhiều quy trình sản xuất côngnghiệp Công nghiệp sản xuất thực phẩm phụ thuộc vào cơ sở tài nguyênthiên nhiên, hoặc là thu hoạch trực tiếp như đánh bắt cá, hoặc là cung cấpnhững đầu vào thiết yếu để cho thực vật và động vật tăng trưởng Không khícũng là đầu vào thiết yếu của hầu hết các quy trình sản xuất Nguồn tàinguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển công nghiệp khai thác, công nghiệpchế biến, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh, sành sứ

- Vốn Vốn đầu tư là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất Nếu lao

động và tài nguyên chỉ được coi là yếu tố đầu vào thì vốn sản xuất vừa đượccoi là yếu tố đầu vào vừa được coi là sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất.Những thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đến tổng cầu, do đó tác độnglớn đến sản lượng Khi đầu tư tăng có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để muasắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng tăng lên Đầu

tư tăng sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy, thiết bị,phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng sản xuấtcủa nền kinh tế Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công

ăn việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình, các nhà máy và

mở rộng quy mô sản xuất

- Khoa học - công nghệ Khoa học - công nghệ là một trong các yếu tố

quan trọng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành công nghiệp Đối với các ngànhcông nghiệp trọng điểm, yếu tố công nghệ lại càng trở nên quan trọng hơn, giữvai trò quyết định đối với sự tăng trưởng, phát triển của ngành Có thể nói cuộccách mạng khoa học - công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc phương thức lao độngcủa con người, nó có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triểncủa các quốc gia Trong quá trình CNH việc thu hút vốn và công nghệ của nước

Trang 22

ngoài sẽ giúp cho một số ngành kinh tế quan trọng như thăm dò, khai thác dầukhí, công nghiệp xi măng, sắt thép, lắp ráp ôtô xe máy phát triển mạnh mẽ.

1.2.2 Cơ chế kinh tế

Trong cơ chế thị trường, các hoạt động kinh tế đều chịu sự chi phối củacác quy luật thị trường Vận dụng mặt tích cực của các quy luật này sẽ làmcho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, trước hết là việc phân bổ nguồn lựcđược thực hiện một cách tối ưu Bởi vậy, cơ chế thị trường vận hành có sựquản lý của nhà nước được coi là điều kiện cần thiết cho cho sự phát triển củanền kinh tế nói chung, cho sự phát triển công nghiệp nói riêng Tuy nhiên, bêncạnh những ưu điểm, cơ chế thị trường còn những khuyết tật khiến cho hoạtđộng kinh tế, sự triển của công nghiệp có khi không hiệu quả Vì vậy, việcvận hành cơ chế kinh tế đúng đắn là hết sức quan trọng

Khi các công ty của một ngành công nghiệp tạo ra được tri thức như bíquyết, công nghệ mới thông qua dự án nghiên cứu và triển khai thì các công

ty này không thể chiếm được toàn bộ lợi ích từ dự án nghiên cứu và triển khaivì một phần lợi ích sẽ do các công ty khác hưởng do việc sao chép ý tưởng và

kỹ thuật Điều này dẫn tới việc các công ty thường ít có động cơ để thực hiện

dự án nghiên cứu và triển khai và mức đầu tư vào dự án này sẽ thấp hơn mứchiệu quả, đó là ngoại ứng tích cực Trên thực tế, ngành công nghiệp đó đã tạo

ra một khối lượng đầu ra bổ sung nào đó, làm tăng lợi ích xã hội

Việc thông tin không đối xứng là một thất bại của thị trường khi cácbên tham gia thị trường luôn không có đủ thông tin hoặc có một bên có nhiềuthông tin hơn bên kia làm các doanh nghiệp có thể có những quyết định sai.Điều này xảy ra do việc thu thập các thông tin không chính xác hoặc việc xácđịnh giá cả cho thông tin thường rất khó khăn Khó khăn trong việc thu thậpthông tin môi trường và thông tin thị trường sẽ khiến cho các doanh nghiệpnói chung và doanh nghiệp công nghiệp nói riêng bị hạn chế trong việc thâmnhập và tiếp cận thị trường

Trang 23

Ở hầu hết các quốc gia, một ngành công nghiệp thường có tính chấtđộc quyền đa phương, thể hiện ở phương diện là khi các công ty muốn gianhập ngành đều phải đầu tư một lượng vốn lớn và các thiết bị phụ trợ màsau đó không thể chuyển sang dùng vào việc khác được Điều này đã làmhạn chế sự gia nhập ngành của các công ty trong nước và khi đó tại một sốngành công nghiệp chỉ có một số công ty cạnh tranh có hiệu quả Do đó, thịtrường là cạnh tranh không hoàn hảo và xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch.Các công ty có thể kiếm được những khoản lợi nhuận cao hơn so với nhữngkhoản lợi nhuận có được từ việc đầu tư vào những lĩnh vực kinh tế khác cómức độ rủi ro tương đương Lúc này sẽ xuất hiện sự cạnh tranh quốc tế đểgiành những khoản lợi nhuận này thông qua các công ty xuyên quốc gia, đaquốc gia Những công ty này có tiềm lực vốn lớn để đầu tư vào các ngànhnày và do đó, việc xâm nhập vào ngành và chiếm lĩnh thị trường khá dễdàng

1.2.3 Vai trò của nhà nước

Những thất bại thị trường như ngoại ứng, sự không đối xứng về thôngtin của thị trường có thể khắc phục và hạn chế được nhờ sự can thiệp củanhà nước thông qua các chính sách kinh tế Những thất bại của thị trườngchính là căn cứ để nhà nước đưa ra các chính sách kinh tế nói chung, chínhsách công nghiệp nói riêng Chẳng hạn như:

- Khi xuất hiện ngoại ứng tích cực như trên, Nhà nước sẽ can thiệpbằng cách trợ cấp cho các công ty hoặc trực tiếp tiến hành nghiên cứu và triểnkhai nhằm tạo ra hiệu ứng lan toả về công nghệ, giúp nền kinh tế nói chung vàngành công nghiệp nói riêng tăng trưởng nhanh Đối với việc một ngành côngnghiệp gây ô nhiễm cao nhưng cũng mang lại lợi nhuận cao thì nhà nước sẽ

so sánh giữa lợi ích và chi phí của xã hội để xem xét có nên cho phép ngành

đó phát triển sau khi đã tiến hành những biện pháp nhằm hạn chế việc gây ônhiễm môi trường hay thực hiện việc hạn chế phát triển ngành

Trang 24

- Khi thị trường xuất hiên tình trạng thông tin không đối xứng, thôngqua chính sách công nghiệp, nhà nước có thể tiến hành thu thập, xử lý thôngtin để cung cấp cho các doanh nghiệp công nghiệp có những thông tin đầy đủ

về thị trường, sản phẩm, sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện nay vàkhả năng phát triển trong tương lai Điều này giúp các ngành công nghiệpphát triển theo đúng định hướng mà nhà nước đã vạch ra

- Khi xuất hiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo và lợi nhuận siêu ngạch,với khả năng của mình, nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế để thay đổi

“luật chơi”, để chuyển các khoản lợi nhuận siêu ngạch từ các công ty nướcngoài sang các công ty trong nước như cung cấp một khoản trợ cấp hoặc thựchiện việc bảo hộ cho các công ty nội địa và kìm giữ, hạn chế đầu tư sản xuấtcủa các công ty nước ngoài

Bên cạnh những kết quả tốt đẹp mà chính sách công nghiệp mang lạicũng tồn tại nhiều vấn đề nảy sinh Có nhiều giai đoạn chính sách côngnghiệp đã thúc đẩy được ngành công nghiệp và nền kinh tế của một quốc giaphát triển nhưng có lúc nó cũng không đem lại kết quả như mong đợi Lí do làtrong khi thực hiện các chính sách công nghiệp nhằm khắc phục các thất bạicủa thị trường, nhà nước cũng có những khả năng thất bại Sự thất bại của nhànước xảy ra khi khi việc can thiệp không dẫn tới việc phân bổ nguồn lực tối

ưu, việc phân bổ nguồn lực vào các ngành được lựa chọn không đạt hiệu quảnhư mong muốn, gây lãng phí nguồn lực thậm chí dẫn tới việc kìm hãm sựphát triển của ngành công nghiệp và của nền kinh tế

1.3 KINH NGHIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia

- Kinh nghiệm của Thái Lan: trong những năm 60, Thái Lan vẫn là

nước lạc hậu, kém phát triển, và công nghiệp hóa là con đường đưa đất nướcphát triển Lúc đầu, Thái Lan tập trung vào công nghiệp hóa đô thị, lấy hóa

Trang 25

dầu và một số ngành công nghiệp khác làm trụ cột, dựa vào nguồn vốn vay vàcông nghiệp kỹ thuật của nước ngoài; nhưng sau một thời gian kinh tế vẫnkhông phát triển, mà còn lâm vào trì trệ, công nghiệp vẫn lạc hậu Trước tìnhhình đó, Thái Lan đã chuyển hướng công nghiệp hóa từ chỗ tập trung vào đôthị sang đa dạng cả đô thị và nông thôn, cả nông nghiệp và công nghiệp đềutheo hướng xuất khẩu Kết quả, Thái Lan trở thành cường quốc về nôngnghiệp và ngành công nghiệp có bước phát triển vượt bậc Có được kết quả đó

là nhờ Thái Lan tiến hành công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp dựa theo

mô hình chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nộiđịa hóa; thực thi chính sách nhà nước - nhân dân, trương ương - địa phươngcùng thực hiện điện khí hóa nông thôn; chú trọng phát triển các ngành nghềtiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

- Kinh nghiệm của Hàn Quốc: vào cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX,

Hàn Quốc còn là quốc gia chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tếchính của nước này Trong điều kiện đó, Hàn Quốc đã chủ trương phát triểncông nghiệp theo hướng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo nên sự phát triển rấtnhanh trong công nghiệp, tăng trưởng GDP 10 năm (1962 - 1971) đạt 9,3%[19, tr.8]; tuy nhiên sự phát triển quá nóng này đã tạo ra sự mất cân đối giữathành thị và nông thôn, làm nảy sinh mâu thuẫn đe dọa đến sự phát triển ổnđịnh của đất nước Trước yêu cầu đó, Hàn Quốc đã đề ra chiến lược “Tăngtrưởng cân đối giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp”, chủ trương thựchiện “Phong trào làng mới”, tập trung xây dựng nông thôn với nhiều chươngtrình, dự án Kết quả đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, đời sống nông dânđược cải thiện rõ rệt Từ thành quả đó họ rút ra một số kinh nghiệm sau: phải tổchức đào tạo huấn luyện cho lãnh đạo làng xã; có cơ chế chính sách phát huytính chủ dộng và tạo môi trường cho các làng xã thi đua phát triển; gắn côngnghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn với phát triển các xí nghiệp nông thôn

Trang 26

- Kinh nghiệm của Nhật Bản: lịch sử phát triển công nghiệp của Nhật

Bản bắt đầu từ nền nông nghiệp truyền thống, tự cấp - tự túc, quy mô hộ nôngnghiệp nhỏ, nhưng Nhật Bản nhanh chóng trở thành quốc gia có nền nôngnghiệp và công nghiệp phát triển ở trình độ cao với nền kinh tế thị trường vànông thôn đều phát triển Có được thành tựu đó là nhờ Nhật Bản tiến hànhchủ trương cơ giới hóa nông nghiệp với hệ thống cơ khí nhỏ phù hợp với cây

lúa nước và quy mô hộ nhỏ Theo tác giả Nguyễn Điền trong Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam cho biết: thành

công trong cơ giới hóa nông nghiệp làm cho năng suất lao động nông nghiệptăng, chi phí lao động giảm, đã chuyển hàng chục triệu lao động nông nghiệpsang các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng lao động nông nghiệptrong tổng số lao động xã hội giảm đi nhanh chóng, nếu năm 1950 là 45,2%,năm 1960 là 28%, năm 1970 là 16,8%, đến năm 1980 là 10%, năm 1990 là6,3% và hiện nay là dưới 5% [19, tr.37]

Đi đôi với quá trình đó, Nhật Bản đẩy mạnh việc thành lập các xínghiệp công nghiệp vừa và nhỏ và công nghiệp gia đình ở nông thôn làm vệtinh, gia công cho các công ty, xí nghiệp lớn ở thành thị; duy trì các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn nhằm tận dụng hết cácloại lao động nhàn rỗi vào các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp để nângcao thu nhập của dân cư nông thôn; phát triển mạnh mẽ hệ thống hợp tác xã ởnông thôn nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ kinh tế kỹ thuậtphục vụ nông nghiệp

1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước

- Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên: Hưng Yên là tỉnh nằm trong vùng

kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có nhiều nét tương đồng với Hà Nam, cùng đượctái lập từ ngày 01/01/1997, là tỉnh có diện tích nhỏ (923,9 km2), không có bờbiển, không có rừng, trước ngày tái lập, Hưng Yên cũng là tỉnh thuần nông.Năm 2000, công nghiệp chiếm tỷ trọng 30,5% GDP của tỉnh, năm 2005

Trang 27

chiếm 38%, năm 2008 chiếm 42,36% [39, tr.370] Mục tiêu phấn đấu củaHưng Yên là xây dựng tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2010.Thành công của Hưng Yên trong lĩnh vực phát triển công nghiệp trong nhữngnăm qua thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, Hưng Yên đã huy động tối đa các nguồn vốn trong và ngoài

nước đầu tư phát triển công nghiệp, đặc biệt chú trọng đến việc tạo môi trườngthuận lợi để thu hút các dự án vào đầu tư, kết hợp với việc hình thành các khucông nghiệp và bố trí không gian hợp lý đối với các dự án, đồng thời cải tạohành lang pháp lý tốt nhất cho các dự án phát triển với hiệu quả đầu tư cao

Thứ hai, Hưng Yên đã ưu tiên phát triển công nghiệp sản xuất hàng

xuất khẩu, hàng tiêu dùng, chế biến nông sản và các ngành hiện đại, côngnghệ cao, ít ô nhiễm môi trường Kết hợp nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, vốnODA và vốn của các thành phần kinh tế khác để sớm đầu tư các cơ sở xử lýchất thải công nghiệp và sinh hoạt để đảm bảo phát triển bền vững

Thứ ba, tỉnh Hưng Yên đã sớm có qui hoạch và hình thành các khu,

cụm công nghiệp tập trung, phát huy lợi thế là cửa ngõ của thủ đô để thu hútnhiều doanh nghiệp có năng lực mạnh Một số khu công nghiệp điển hình củatỉnh như KCN Như Quỳnh A, Như Quỳnh B, Phố Nối A, Phố Nối B đã thuhút được nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đóng góp lớn vào ngân sách

và GDP của tỉnh

Trong thời gian tới, Hưng Yên tiếp tục xác định phát triển công nghiệp

là khâu quan trọng mang tính chất đột phá để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐHnền kinh tế của tỉnh Hưng Yên sẽ tiếp tục thu hút và sử dụng có hiệu quả cácnguồn vốn đầu tư (nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài) để lấp đầy diện tíchcác KCN đã quy hoạch và xây dựng thêm các KCN mới, hướng mạnh vào sảnphẩm công nghiệp xuất khẩu Bằng việc xây dựng Khu Đại học Phố Hiến,Hưng Yên mong muốn sẽ có những bước đột phá trong việc đào tạo nguồnnhân lực phục vụ phát triển KT - XH nói chung và công nghiệp nói riêng

Trang 28

- Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc: Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng

kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là địa phương được đánh giá giàu tiềm năng pháttriển Thời gian qua Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao Trướcngày tái lập tỉnh (1997) Vĩnh Phúc vốn xuất phát từ một tỉnh nông nghiệp thuầntúy với tỷ trọng nông - lâm - thủy sản chiếm 44,4% GDP Sau 10 năm tỷ trọngnông - lâm - thủy sản giảm xuống dưới 15% (2008) Tỷ trọng công nghiệp - xâydựng năm 1997 chiếm 20,7 GDP tăng lên 52% năm 2008 [39, tr.571] Mục tiêuphấn đấu của Vĩnh Phúc là đến năm 2015 - 2016 trở thành một tỉnh côngnghiệp Thành công của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển côngnghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH thời gian vừa qua của Vĩnh Phúc

do các nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là: Vĩnh Phúc có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh nằm trong vùng kinh

tế trọng điểm Bắc bộ, có các trục giao thông chính đi qua, tiếp giáp với thủ đô

Hà Nội Đây là điều kiện thuận lợi để Vĩnh Phúc thu hút nguồn vốn đầu tưtrong và ngoài nước

Hai là: Vĩnh Phúc nhận được sự hỗ trợ, đầu tư của Trung ương rất lớn,

đặc biệt Vĩnh Phúc nằm trong chương trình đầu tư các khu du lịch trọng điểmquốc gia Nhờ có nguồn đầu tư của Trung ương, nhất là đầu tư phát triển hệthống kết cấu hạ tầng đã tạo nên môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi, hấpdẫn các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào địa phương

Ba là: Vĩnh Phúc đã phát huy tốt nội lực, biến nội lực thành sức mạnh,

cùng với những cơ hội khách quan để hình thành nên các khu công nghiệp tậptrung, thu hút nhiều dự án đầu tư trong nước và nhất là dự án đầu tư trực tiếp

từ nước ngoài, trong đó có nhiều dự án đầu tư lớn Điều này đã đưa VĩnhPhúc chuyển từ một tỉnh thuần nông sang một tỉnh có công nghiệp và dịch vụphát triển mạnh

Bốn là: Vĩnh Phúc chọn việc thu hút đầu tư là khâu đột phá để phát

triển, phát huy sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, trong đó đáng chú ý là

Trang 29

tỉnh đã tập trung phát triển kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài đểlàm thay đổi căn bản nền kinh tế Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu thànhphần kinh tế của Vĩnh Phúc trong công nghiệp qua các năm như sau: năm

2000 thành phần kinh tế tư nhân chiếm 8,65% và kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài chiếm 82,31%; số liệu tương ứng của năm 2005 là 27,1% và 64,2%;năm 2008 là 29,2% và 62,6% [39, tr.376]

Trong thời gian tới, Vĩnh Phúc vẫn xác định công nghiệp là mũi nhọnđột phá để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng ngànhcông nghiệp - xây dựng chiếm trên 60% GDP toàn tỉnh

Vĩnh Phúc lựa chọn những ngành công nghiệp mang tính đột phá là cácngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, có hàm lượngchất xám cao; ưu tiên một số sản phẩm mũi nhọn như cơ khí chế tạo, ô tô, xemáy, điện, điện tử, tin học, công nghiệp phần mềm, sản xuất vật liệu mới.Đồng thời Vĩnh Phúc xác định phát triển công nghiệp của địa phương phảiliên kết với ngành công nghiệp của vùng và cả nước Tỉnh có chính sách hỗtrợ thỏa đáng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanhnghiệp của địa phương

1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Hà Nam

Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm của cáctỉnh bạn, căn cứ vào thực tế của địa phương có thể rút ra một số bài học về pháttriển công nghiệp trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Hà Nam như sau:

Một là, phát triển công nghiệp là con đường tất yếu để đẩy mạnh sự

nghiệp CNH, HĐH nhằm phát triển kinh tế của một địa phương; chính quyềnđịa phương phải thật sự quan tâm và thực hiện tốt chức năng quản lý nhànước về công nghiệp để quá trình phát triển đi đúng hướng và đạt hiệu quảcao, thực sự là động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH

Hai là, phát triển công nghiệp phải dựa trên các tiềm năng, thế mạnh,

lợi thế so sánh của địa phương, lựa chọn và phát triển hợp lý các ngành công

Trang 30

nghiệp chủ lực, quan tâm đúng mức tới phát triển các ngành công nghiệp sảnxuất hàng xuất khẩu Trong điều kiện một tỉnh nông nghiệp, việc phát triểncông nghiệp phải gắn liền với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Kinhnghiệm này sẽ giúp cho việc phát triển công nghiệp của tỉnh đảm bảo khaithác thế mạnh, tập trung đúng trọng tâm và đi đúng định hướng.

Ba là, phải khai thác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, thực sự coi

nguồn vốn đầu tư ở trong nước và của địa phương là chủ yếu, mặt khác phảiđẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, coi đó là nguồn lực quan trọng đểphát triển công nghiệp của tỉnh

Bốn là, chính quyền địa phương phải thực hiện đồng bộ chức năng

quản lý nhà nước từ khâu hoạch định, tổ chức thực hiện đến xây dựng cơ chếchính sách, kiểm tra và điều chỉnh Trong đó cần khơi dậy và phát huy sựtham gia của các ngành, các cấp và mọi thành phần kinh tế Để phát huy bàihọc này, tỉnh cần xây dựng bộ máy tổ chức đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ

tế khác cùng phát triển Nói cách khác, phát triển công nghiệp chính là mộtphương tiện quan trọng quyết định cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế

vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chấtlượng cuộc sống cho nhân dân và nâng cao vị thế của một quốc gia trongquá trình mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 31

2 Thực tế phát triển công nghiệp ở một số địa phương những nămqua cho thấy: nhà nước cần sớm hoạch định một hệ thống chính sách côngnghiệp mới phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước và của xu thế toàn cầuhoá đang diễn ra Sự chậm trễ có thể ảnh hưởng xấu không chỉ đối vớingành công nghiệp, mà có thể ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÀ NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

NHỮNG NĂM VỪA QUA

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ NAM ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Địa lý kinh tế: Hà Nam nằm ở tọa độ địa lý trên 20 độ vĩ Bắc và giữa

105o - 110o kinh Đông, phía Tây - Nam châu thổ sông Hồng, trong vùng trọngđiểm phát triển kinh tế Bắc Bộ

Tỉnh Hà Nam cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 50 km, là cửa ngõphía nam của thủ đô; phía bắc giáp thành phố Hà Nội, phía đông giáp vớiHưng Yên và Thái Bình, nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía tây giápHòa Bình Vị trí địa lý này tạo rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế củatỉnh Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố:thành phố Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyệnLý Nhân, huyện Thanh Liêm và huyện Bình Lục

Nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trên địa bàntỉnh có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua với chiều dài gần 50 km

và các tuyến đường giao thông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ 21B,quốc lộ 38 Hơn 4000 km đường bộ bao gồm các đường quốc lộ, tỉnh lộ cùngcác tuyến giao thông liên huyện, liên xã đã được rải nhựa hoặc bê tông hóa,hơn 200 km đường thủy có luồng lạch đi lại thuận tiện với 42 cầu đường đãđược xây dựng kiên cố và hành nghìn km đường giao thông nông thôn tạothành một mạng lưới giao thông khép kín, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại vàvận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới Từ thành phố Phủ Lý cóthể đi tới các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng

và thuận tiện

Trang 33

Vị trí chiến lược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạocho Hà Nam lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoahọc - kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô HàNội và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ Đây là mặt thuận lợi lớncho sự phát triển công nghiệp của Hà Nam.

Tuy nhiên, là một tỉnh bước vào sự nghiệp CNH, HĐH với điểm xuấtphát thấp lại ở trong vùng phát triển tương đối năng động cũng tạo ra nhiều sứcép đối với sự phát triển kinh tế của Hà Nam nói chung, công nghiệp nói riêng, đòihỏi Hà Nam phải xác định được hướng đi đúng đắn để có thể phát huy những lợithế về địa lý kinh tế của mình phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội

- Thời tiết, khí hậu: Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc

trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt Nhiệt độ trung bìnhhàng năm vào khoảng 23 - 24o C, số giờ nắng trung bình khoảng 1200 - 1350giờ/năm Trong năm thường có 8-9 tháng có nhiệt độ trung bình trên

20o C và chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20o C, nhưng không có thángnào nhiệt độ trung bình dưới 16oC

Lượng mưa trung bình từ năm 2000 đến năm 2009 khoảng 1700 mm,

năm có lượng mưa cao nhất tới 2138mm (2008), năm có lượng mưa thấp nhấtcũng là 1503,4mm (2000)

Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào có độ ẩm

trung bình dưới 77%

Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau

là mùa hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùaxuân và mùa thu Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đôngthường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3, mùa xuân thường kéo dài

từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đếngiữa tháng 11 Hai mùa chính trong năm với các hướng gió thịnh hành: vềmùa hạ gió nam, tây nam và đông nam; mùa đông gió bắc, đông và đông bắc

Trang 34

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất: Hà Nam là một tỉnh nhỏ có diện tích đất đai không

lớn, diện tích tự nhiên 851 km2 với địa hình đa dạng, nằm trong vùng trũngcủa đồng bằng sông Hồng và giáp với vùng núi của tỉnh Hòa Bình và vùngTây Bắc Phía tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi,núi đất và đồi rừng Đất đai ở vùng này rất thích hợp với các loại cây lâmnghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả Vùng đồng bằng phía đông của tỉnhđược tạo nên bởi phù sa của các sông lớn như sông Đáy, sông Châu, sôngHồng, đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước, hoa màu, rau, đậu,thực phẩm Những dải đất bồi ven sông đặc biệt thích hợp với các loại câycông nghiệp ngắn ngày như mía, dâu, lạc, đỗ tương và cây ăn quả Ngoài rađây cũng là vùng thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và pháttriển nghề chăn nuôi gia cầm dưới nước Hiện trạng sử dụng đất năm 2008:đất nông nghiệp 57.229,3 ha, chiếm 66,5%; đất phi nông nghiệp 24.943,3 ha,chiếm 29%; đất chưa sử dụng 3.845,7 ha, chiếm 4,5% Sự đa dạng của đất đai

ở Hà Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cách ngành nghề của côngnghiệp Hà Nam [4, tr.21]

- Tài nguyên nước: Hà Nam có lượng mưa trung bình cao, khối lượng

tài nguyên nước rơi khoảng 1,602 tỷ m3 Dòng chảy từ mặt sông Hồng, sông Đáy,sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnh thổ khoảng 14,050 tỷ m3 nước [4, tr.21] Dòngchảy ngầm chuyển qua lãnh thổ cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổsung nước ngầm từ các vùng khác Nước ngầm ở Hà Nam tồn tại trong nhiềutầng và có chất lượng tốt, đủ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,nhất là cho phát triển công nghiệp

- Sông ngòi: chảy qua lãnh thổ Hà Nam là các sông lớn như sông

Hồng, sông Đáy, sông Châu và các sông do con người đào đắp như sôngNhuệ, sông Sắt… Sông Hồng là ranh giới phía đông của tỉnh với các tỉnhHưng Yên và Thái Bình Trên lãnh thổ tỉnh, sông Hồng có chiều dài 38,6 km

Trang 35

Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ Phú Thọ chảy vào lãnhthổ Hà Nam Sông Đáy còn là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình, trên lãnhthổ tỉnh sông Đáy có chiều dài 47,6 km Sông Nhuệ là sông đào dẫn nướcsông Hồng từ Thụy Phương (Từ Liêm - Hà Nội) đi vào Hà Nam với chiều dài14,5 km sau đó đổ vào sông Đáy Với hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuậnlợi cho giao thông đường thủy và đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất.

- Tài nguyên khoáng sản chủ yếu ở Hà Nam là đá vôi, làm nguyên liệu

cho sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng, các loại đáquý có vân màu phục vụ xây dựng, trang trí nội thất và làm đồ mỹ nghệ, các mỏsét làm gạch ngói, gốm sứ, xi măng và một số mỏ than bùn, mỏ đôlômit Phầnlớn các tài nguyên khoáng sản này phân bố ở các huyện phía tây của tỉnh, gầnđường giao thông, thuận lợi cho việc khai thác, chế biến và vận chuyển

Đá vôi: tổng trữ lượng đá vôi ở Hà Nam khoảng 7,4 tỷ m3, trong đó đávôi ciment chiếm khoảng 4,1 tỷ m3 với hàm lượng CaO khoảng 54%, hàmlượng MgO đạt từ 0,41 - 2,4% Đá đôlômit có trữ lượng trên 3,3 tỷ m3 Đá vôiphân bố chủ yếu ở các huyện Kim Bảng và Thanh Liêm với trữ lượng của 8khu mỏ chính lên tới 540 triệu tấn, nếu tính cả tiềm năng dự báo thì tổng trữlượng trên 5,2 tỷ tấn, trong đó đá vôi có thể sử dụng cho công nghiệp sản xuất

xi măng khoảng gần 700 triệu tấn, đá vôi cho công nghiệp hóa chất là 320triệu tấn [4, tr.28]

Đá quý: các loại đá quý ở Hà Nam gồm có đá vân hồng, tím nhạt ở

Thanh Liêm, Kim Bảng, thường có các vỉa dài 30 - 40m, cao 60m, có vỉa dàitới 200m Đá vân mây, da báo có nhiều ở huyện Thanh Liêm, đá trắng ởhuyện Kim Bảng Phần lớn các mỏ đá quý có trữ lượng lớn, nằm ở các vị tríthuận lợi cho khai thác chế biến để làm các sản phẩm mỹ nghệ đẹp , có giá trịcao dùng trong trang trí xây dựng và xuất khẩu

Đất sét: tổng trữ lượng đất sét ở Hà Nam lên tới gần 400 triệu tấn, các

mỏ sét chủ yếu tập trung ở 3 huyện Kim Bảng, Thanh Liêm và Duy Tiên và

Trang 36

phân bố dọc theo phía tây quốc lộ 1A, cùng với một số mỏ sét ở phía đôngquốc lộ 1A có quy mô nhỏ hơn Sét ở Hà Nam thường có màu trắng phớtvàng, xám nâu, màu sặc sỡ, dẻo và mịn, phù hợp với sản xuất xi măng, gốm,gạch ngói…

Khoáng sản nguyên liệu có các mỏ than bùn với trữ lượng trên 11 tỷ m3

có chất lượng rất tốt, có thể làm chất đốt hoặc phân bón vi sinh

Cát xây dựng: Hà Nam có nguồn cát đen rất dồi dào tại các bãi ven

sông Hồng dài 10 km, bãi sông Đáy, sông Châu…hàng năm cung cấp cho nhucầu xây dựng trong tỉnh và các tỉnh ngoài hàng triệu m3 cát xây dựng và cátsan lấp

Những nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng trên đây sẽ là cơ sở đểtỉnh Hà Nam phát triển một số ngành công nghiệp như vật liệu xây dựng, khaithác đá, sản xuất phân bón…

Số người lao động trong toàn tỉnh năm 2009 là 452.016 người chiếm57,5% dân số Số lao động tham gia thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân

là gần 400.700 người, chiếm 88,6 % nguồn lao động toàn tỉnh

Phần đông lao động có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận và ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ Lực lượng lao động khoa học - kỹthuật dồi dào với khoảng trên 26.000 người, chiếm gần 3,5% dân số có trình

độ từ cao đẳng, đại học trở lên, số lao động có trình độ trung cấp khoảng17.500 người và sơ cấp, công nhân kỹ thuật gần 12.000 người

Trang 37

Số lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 35% tổng số lao động Gần80% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là lao độngtrong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản Số lao động trong độ tuổi có khảnăng lao động nhưng chưa có việc làm hiện còn trên 13.000 người chiếm trên4% lực lượng lao động có khả năng lao động Hàng năm dân số của tỉnh tăngthêm khoảng trên 10.000 người, tạo thêm nguồn lao động dồi dào, bổ sungcho nền kinh tế quốc dân

Về trình độ dân trí, Hà Nam được công nhận là tỉnh đã được công nhậnphổ cập giáo dục THCS, bình quân số năm học của một lao động là 8,1 năm/người (hệ 12 năm) Hàng năm, tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp THPT, học sinhthi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng của tỉnh Hà Nam thường nằm trong

số 10 tỉnh có tỷ lệ cao nhất trong toàn quốc

Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triểnkhá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng caođáng kể Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyềnthống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyềnthống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong phát triển kinh tế, mởmang văn hóa xã hội Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng

Tuy nhiên, cũng như những đặc điểm chung của người lao động ViệtNam, nguồn nhân lực Hà Nam hiện nay cũng còn bộc lộ một số hạn chế vềthể lực, sức khỏe, tác phong lao động công nghiệp, trình độ khoa học kỹthuật, tay nghề yếu… đặc biệt là thiếu lực lượng lao động có trình độ cao, cókhả năng sử dụng công nghệ thông tin, lao động có trình độ ngoại ngữ và độingũ quản lý kinh doanh giỏi, nhạy bén với cơ chế thị trường Tỷ lệ lao động

đã qua đào tạo còn thấp

2.1.4 Vốn đầu tư và kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội

Vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, đặc biệt trong giai đoạn 2005

-2008, năm 2005 tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh theo giá thực tế đạt

Trang 38

1.697,1 tỷ đồng, con số tương ứng của các năm tiếp theo là 2006: 2.119,5 tỷđồng, năm 2007: 4.763,9 tỷ đồng, năm 2008 là 7.467 tỷ đồng, năm 2009 là7.558 tỷ đồng và năm 2010 là 8.453 tỷ đồng [4, tr.37].

Nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớnnhưng có xu hướng giảm dần, từ (64%) năm 2005 giảm xuống 55,3% năm2008; vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, dân cư, vồn đầu tư nước ngoài vàvốn tín dụng đầu tư tăng từ 36% năm 2005 lên 44,7% năm 2009 trong tổngvốn đầu tư toàn xã hội Vốn đầu tư tăng nhanh, tạo khả năng đầu tư phát triểnkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Để tạo điều kiện cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, tỉnh

đã quy hoạch và xây dựng 8 khu công nghiệp (KCN) tập trung và 15 cụm CN

Về giao thông: ngoài mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc giao lưu

kinh tế, văn hóa, xã hội với bên ngoài, mạng lưới giao thông nội tỉnh và giaothông nông thôn cũng phát triển, đến nay đã hình thành mạng lưới khép kínvới hơn 4000 km Trong số 167 km đường cấp tỉnh quản lý có 130 km(77,8%) được rải nhựa, chất lượng tốt, trong đó có 42 cầu đường với chiều dàigần 3000 m, gần 80% số đường cấp huyện cũng được rải nhựa Hàng nghìn

km đường cấp xã quản lý và đường giao thông trong thôn xóm đã được bêtông hóa hoặc rải nền cứng Nối hai bờ sông Đáy khu vực thành phố Phủ Lý

là 4 cây cầu bê tông vĩnh cửu Các phương tiện cơ giới có thể đi lại dễ dàngthuận tiện đến hầu hết các xã, thôn trong tỉnh Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ -Ninh Bình và một số tuyến đường nội tỉnh được hoàn thành trong một vàinăm tới đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao thông trong và ngoài tỉnh

Trang 39

Năng lực vận chuyển hàng hóa của ngành giao thông vận tải tỉnh cóbước phát triển mạnh mẽ, nếu như năm 2000 khối lượng hàng hóa vận chuyểnđạt trên 1.333 nghìn tấn, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt trên 55.096nghìn tấn/km thì đến năm 2008 con số này là 10.947 nghìn tấn và 346.358nghìn tấn/km [4, tr.238].

Hệ thống hạ tầng cấp thoát nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt đã và

đang được quy hoạch phát triển, đảm bảo cấp thoát nước cho các khu cụmcông nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở thương mại dịch vụ và các khudân cư trên địa bàn Hệ thống cấp nước sạch với công suất 25.000m3/ ngàyđêm đáp ứng 100% nhu cầu sử dụng nước sạch của thành phố Phủ Lý, 75%dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh

Mạng lưới truyền tải, phân phối điện đã được xây dựng, mở rộng đến

hầu hết các thôn xã 100% hộ dân cư và các cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ

sở sản xuất được cung cấp và sử dụng điện lưới quốc gia với chất lượng điệnđảm bảo Hiện tại và những năm tới Hà Nam đang tiếp tục cải tạo, nâng cấpmạng lưới điện đạt tiêu chuẩn quốc gia và xây dựng một số hệ thống, côngtrình mới đáp ứng nhu cầu điện cho CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hộinói chung của tỉnh

Kết cấu hạ tầng bưu điện, viễn thông và thông tin liên lạc phát triển

khá nhanh và từng bước hiện đại hóa thiết bị kỹ thuật Trên địa bàn tỉnh cómột trung tâm bưu điện tỉnh tại thành phố Phủ Lý và 5 bưu điện ở các huyện,

33 bưu điện khu vực và hàng trăm điểm bưu điện văn hóa xã 100% số xãphường và các cơ sở kinh tế nhà nước, các cơ quan hành chính sự nghiệp đã

có điện thoại phục vụ thông tin liên lạc Tổng số thuê bao điện thoại năm

2008 là 481.653 thuê bao, trong đó: thuê bao cố định 131.010; thuê bao diđộng 350.643 Năm 2010 sẽ đạt 85 máy điện thoại/100 dân, tăng gấp 5 lần sovới năm 2005 Cơ sở hạ tầng mạng Internet tương đối hiện đại với dung lượnglớn đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ này, số thuê bao Internet tăngvới tốc độ nhanh, năm 2010 đạt 1,63 thuê bao/ 100 dân [4, tr.216]

Trang 40

Kết cấu hạ tầng trong các lĩnh vực dịch vụ thương mại, tài chính tín

dụng, ngân hàng đang ngày càng được mở rộng, cơ bản đáp ứng được nhu

cầu giao dịch và sử dụng các dịch vụ này của dân cư, các tổ chức kinh tế xãhội, các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh thuộc mội thành phần kinh tế trong vàngoài tỉnh Tại Phủ Lý và ở các huyện lỵ đã có mạng lưới chi nhánh của Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngânhàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội…Một sốnơi có chi nhánh của các ngân hàng thương mại cổ phần, các quĩ tín dụngnhân dân

Về kết cấu hạ tầng xã hội, Hà Nam là một trong những tỉnh có mạng

lưới cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội phát triển

Về giáo dục - đào tạo, toàn tỉnh có 758 cơ cở nhà trẻ, 120 trường mầm

non, 140 trường tiểu học, 145 trường phổ thông các cấp với gần 4500 phòng học.Trong đó, 90% trường Tiểu học, 92% trường THCS và 100% trường THPT đãđược xây dựng kiên cố và bán kiên cố Đến nay toàn tỉnh có 210 trường họcđược công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia (chiếm 51%) [4, tr.231] Hệ thốngcác trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bànđược mở rộng, nâng cấp; tổ chức liên kết đào tạo, từng bước đáp ứng yêu cầuđào tạo và nhu cầu học tập nâng cao tay nghề của người lao động Trên địabàn tỉnh có 1 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 1 trường trung cấp, 2 trườngdạy nghề và 7 trung tâm giáo dục thường xuyên

Về y tế, trên địa bàn tỉnh hiện có 9 bệnh viện, 15 phòng khám đa khoa

khu vực và 116 trạm y tế xã phường, hàng trăm cơ sở khám chữa bệnh tưnhân với đội ngũ y, bác sỹ gần 1000 người, đảm bảo việc chăm sóc sức khỏeban đầu và nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân

2.1.5 Khoa học và công nghệ

Trong những năm qua hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụngcông nghệ của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực Một số doanh nghiệp đã

Ngày đăng: 07/07/2022, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công nghiệp (1999), Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Namđến năm 2010
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 1999
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996), Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển côngnghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 1996
3. Đặng Vũ Chư (1997), “Ngành công nghiệp đi đầu trong sư nghiệp CNH, HĐH đất nước”, Tạp chí Cộng sản, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành công nghiệp đi đầu trong sư nghiệp CNH,HĐH đất nước”," Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Vũ Chư
Năm: 1997
5. Vũ Đình Cự (2005), “Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12), tr.3- 8,15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong điều kiện toàncầu hóa”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Vũ Đình Cự
Năm: 2005
7. Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2003), Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộtỉnh về đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Năm: 2003
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ III
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1960
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (Khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCHTW(Khóa VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), BCHTW (Khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BCHTW (Khóa VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1994
19. TS Đỗ Đức Định (1999), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Phát huy lợi thế so sánh, kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Phát huy lợithế so sánh, kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châuÁ
Tác giả: TS Đỗ Đức Định
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
20. Phạm Quang Hàm (1997), Chuyên đề khoa học định hướng phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề khoa học định hướng phát triểncông nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Phạm Quang Hàm
Năm: 1997
21. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế và phát triển (2007), Giáo trình Kinh tế học phát triển, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học phát triển
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế và phát triển
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
22. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Quản lý kinh tế (2007) , Giáo trình Quản lý kinh tế, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý kinh tế
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
23. Kenichi Ohno, Nguyễn Văn Thường (2005), Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chiến lược pháttriển công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Kenichi Ohno, Nguyễn Văn Thường
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
24. TS Trần Kiên (1997), Chiến lược huy động vốn và các nguồn lực cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tập 1,2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược huy động vốn và các nguồn lực cho sự"nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: TS Trần Kiên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Xếp loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bảng 2.1 Xếp loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển (Trang 44)
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam (Trang 45)
Bảng 2.4: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) phân theo - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) phân theo (Trang 47)
Bảng 2.6: Tăng trưởng ngành công nghiệp khai thác đá - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bảng 2.6 Tăng trưởng ngành công nghiệp khai thác đá (Trang 50)
Sản lượng của các sản phẩn dệt may tăng khá nhanh, thể hiện ở Bảng - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
n lượng của các sản phẩn dệt may tăng khá nhanh, thể hiện ở Bảng (Trang 53)
Có thể tìm hiểu hiện trạng các KCN trên địa bàn tỉnh Hà Na mở Bảng - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
th ể tìm hiểu hiện trạng các KCN trên địa bàn tỉnh Hà Na mở Bảng (Trang 60)
Bảng 2.11: Các khu công nghiệp tập trung - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bảng 2.11 Các khu công nghiệp tập trung (Trang 60)
Bảng 2.1 2: Các cụm CN -TTCN - Thạc sĩ kinh tế chính trị -công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bảng 2.1 2: Các cụm CN -TTCN (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w