1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thu bảo hiểm ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn hà tĩnh

95 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu BHXH Ở Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên Địa Bàn Hà Tĩnh
Thể loại luận văn thạc sỹ
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 584 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, thực hiện sau khi Cách mạng tháng 8 thành công và luôn được thường xuyên mở rộng, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước. Góp phần đảm bảo cuộc sống cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân, người lao động. Tạo thành sức mạnh tổng hợp toàn quân dân làm nên thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Để thực hiện chính sách BHXH phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước, hoà nhập với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế; thực hiện Hiến pháp năm 1992 và Bộ Luật Lao động. Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống BHXH từ Trung ương đến địa phương, BHXH Hà Tĩnh được thành lập theo Quyết định số ngày của Tổng GĐ BHXH Việt Nam. Qua gần 15 năm tổ chức xây dựng và phát triển với những kết quả đã đạt được BHXH Hà Tĩnh đã góp phần tích cực ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn của tỉnh. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chính sách BHXH ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế thiếu sót nhất là trong công tác thu BHXH đã và đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết, đó là: Việc phát triển mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhất là khu vực các Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh. Đây là khu vực tiềm năng có nhiều lao động nhưng tỷ lệ tham gia BHXH còn quá thấp chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Vấn đề quản lý lao động trong độ tuổi có việc làm thuộc các thành phần kinh tế. Đây là cơ sở để phát triển mở rộng đối tượng tham gia BHXH nhưng cũng là khâu còn yếu hoặc có thể đánh giá là chưa quản lý được. Công tác tuyên truyền, tham gia, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật BHXH đối với các chủ Doanh nghiệp ngoài quốc doanh cố tình không đóng, đóng không đúng, không kịp thời, đầy đủ BHXH cho người lao động. Vấn đề giải quyết nợ đọng BHXH là một trong những vấn đề gây bức xúc hịên nay. Nỗ lực thực hiện công tác cải cách hành chính, đổi mới tác phong, phong cách phục vụ người lao động của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thu BHXH và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thu BHXh bắt buộc. Những vấn đề trên nếu không thường xuyên quan tâm khắc phục sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động BHXH trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đây là sự tác động khách quan do quy trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế được mở kéo theo những doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời cộng theo đó là sự tác động do quá trình phân công lao động quốc tế. Do sắp xếp lai lao động trong cạnh tranh trong cơ chế thị trường bắt buộc một số doanh nghịêp phải sát nhập, tách và giải thể do làm ăn thua lỗ. Như vậy sự thách thức đối với hoạt động thu BHXh là rất lớn. Tất cả những điều đó đang đặt ra những vấn đề bức xúc cần có những giải pháp nằhm thực hiện tốt công tác thu BHXH. Là người trực tiếp làm công tác quản lý thu BHXH ở địa phương, tác giả chọn đề tài: “Thu BHXH ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn thạc sỹ để nghiên cứu. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ năm 1995 sau gần 15 năm thành lập và đi vào hoạt động của hệ thống BHXH Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong ngành và ngoài ngành, từ đề tài cấp Bộ, luận văn thạc sỹ, luận văn tiến sỹ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng như từng lĩnh vực cụ thể về BHXH nhưng về công tác quản lý thu BHXH còn rất hạn chế. Phải có một số đề tài trong lĩnh vực này để nghiên cứu một cách có hệ thống, đó là: “Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các bịên pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Tiến sỹ Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm1996. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXh của một số nước trên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở Việt Nam trước năm 1995 và đến năm 1996, tác giả làm rõ thực trạng hoạt động BHXH, đặc biệt là công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân tích khả năng thu BHXH để bù đắp các chế độ BHXH được hưởng nhằm thay thế dần các nguồn chi lấy từ Ngân sách Nhà nước đồng thời đề xuất kiến nghị một số vấn đề cụ thể nhằm cải tiến công tác thu BHXH ở Việt Nam. “Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH“ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Tiến sỹ Dương Xuân Triệu, Chủ nhiệm, bảo vệ năm 1999. “ Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000. Nhìn chung các công trình, bài viết trên dưới những góc độ tiếp cận khác nhau đã đề cập đến công tác thu BHXH. Nhưng đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu thu BHXH ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Tĩnh, một cách có hệ thống dưới dạng lụân văn khoa học. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu là cần thiết và không có sự trùng lặp nào với công trình đã nghiên cứu.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, được Chủtịch Hồ Chí Minh quan tâm, thực hiện sau khi Cách mạng tháng 8 thành công

và luôn được thường xuyên mở rộng, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp vớithực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước Góp phần đảm bảo cuộc sống cho độingũ cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân, người laođộng Tạo thành sức mạnh tổng hợp toàn quân dân làm nên thắng lợi vĩ đạitrong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đưa đất nước vững bước đi lên trên conđường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng dân chủ văn minh

Để thực hiện chính sách BHXH phù hợp với công cuộc đổi mới của đấtnước, hoà nhập với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế; thực hiện Hiến phápnăm 1992 và Bộ Luật Lao động

Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống BHXH từ Trung ươngđến địa phương, BHXH Hà Tĩnh được thành lập theo Quyết định số ngàycủa Tổng GĐ BHXH Việt Nam Qua gần 15 năm tổ chức xây dựng và pháttriển với những kết quả đã đạt được BHXH Hà Tĩnh đã góp phần tích cực ổnđịnh chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng anninh trên địa bàn của tỉnh

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chính sách BHXH ở tỉnh Hà Tĩnhtrong thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế thiếu sót nhất là trong công tácthu BHXH đã và đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết, đó là:

* Việc phát triển mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhất làkhu vực các Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh Đây là khu vực tiềm năng cónhiều lao động nhưng tỷ lệ tham gia BHXH còn quá thấp chưa tương xứngvới tiềm năng của tỉnh

Trang 2

* Vấn đề quản lý lao động trong độ tuổi có việc làm thuộc các thànhphần kinh tế Đây là cơ sở để phát triển mở rộng đối tượng tham gia BHXHnhưng cũng là khâu còn yếu hoặc có thể đánh giá là chưa quản lý được.

* Công tác tuyên truyền, tham gia, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luậtBHXH đối với các chủ Doanh nghiệp ngoài quốc doanh cố tình không đóng,đóng không đúng, không kịp thời, đầy đủ BHXH cho người lao động Vấn đềgiải quyết nợ đọng BHXH là một trong những vấn đề gây bức xúc hịên nay

* Nỗ lực thực hiện công tác cải cách hành chính, đổi mới tác phong, phongcách phục vụ người lao động của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thuBHXH và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thu BHXh bắt buộc

Những vấn đề trên nếu không thường xuyên quan tâm khắc phục sẽ ảnhhưởng đến toàn bộ hoạt động BHXH trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Đây là sự tácđộng khách quan do quy trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa, nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế được mở kéo theo những doanhnghiệp nhỏ và vừa ra đời cộng theo đó là sự tác động do quá trình phân cônglao động quốc tế Do sắp xếp lai lao động trong cạnh tranh trong cơ chế thịtrường bắt buộc một số doanh nghịêp phải sát nhập, tách và giải thể do làm ănthua lỗ Như vậy sự thách thức đối với hoạt động thu BHXh là rất lớn Tất cảnhững điều đó đang đặt ra những vấn đề bức xúc cần có những giải phápnằhm thực hiện tốt công tác thu BHXH

Là người trực tiếp làm công tác quản lý thu BHXH ở địa phương, tác giả

chọn đề tài: “Thu BHXH ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn thạc sỹ để nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ năm 1995 sau gần 15 năm thành lập và đi vào hoạt động của hệ thốngBHXH Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu của cán bộ lãnhđạo, quản lý trong ngành và ngoài ngành, từ đề tài cấp Bộ, luận văn thạc sỹ,luận văn tiến sỹ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng như từng lĩnh

Trang 3

vực cụ thể về BHXH nhưng về công tác quản lý thu BHXH còn rất hạn chế.Phải có một số đề tài trong lĩnh vực này để nghiên cứu một cách có hệ thống,

đó là:

“Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các bịên pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Tiến

sỹ Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm1996

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXh của một số nướctrên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở ViệtNam trước năm 1995 và đến năm 1996, tác giả làm rõ thực trạng hoạt độngBHXH, đặc biệt là công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân tíchkhả năng thu BHXH để bù đắp các chế độ BHXH được hưởng nhằm thay thếdần các nguồn chi lấy từ Ngân sách Nhà nước đồng thời đề xuất kiến nghịmột số vấn đề cụ thể nhằm cải tiến công tác thu BHXH ở Việt Nam

“Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH“ đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Bộ do Tiến sỹ Dương Xuân Triệu, Chủ nhiệm, bảo vệ năm 1999

“ Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, 2000

Nhìn chung các công trình, bài viết trên dưới những góc độ tiếp cận khácnhau đã đề cập đến công tác thu BHXH Nhưng đến nay chưa có công trìnhnghiên cứu nào nghiên cứu thu BHXH ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanhtrên địa bàn Hà Tĩnh, một cách có hệ thống dưới dạng lụân văn khoa học Vìvậy, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu là cần thiết và không có sự trùng lặpnào với công trình đã nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu BHXHngoài quốc doanh, luận văn phân tích thực trạng công tác thu BHXH ngoài

Trang 4

quốc doanh từ năm 2005 đến 2009 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; từ đó đề xuấtnhững giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXh ngoài quốcdoanh đảm bảo phát triển sự nghiệp BHXH một cách bền vững.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu BHXH ngoàiquốc doanh

- Phân tích đánh giá thực trạng về thu BHXH ngoài quốc doanh, chỉ ranhững kết quả đã đạt được, những hạn chế và những vấn đề đang đặt ra hịênnay trong công tác thu BHXH các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Tĩnh

- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện thu BHXH các doanhnghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

- Kiến nghị với Chính phủ, UBND tỉnh và BHXH Việt Nam bổ sung sửađổi chính sách liên quan đến công tác thu BHXH các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của lụân văn

BHXH mang nội hàm rất rộng, với chức năng cơ bản là thực hiện cácchế độ BHXh cho người lao động (hình thức BHXH bắt buộc với 5 chế độ ápdụng cho đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguỵên với haichế độ áp dụng cho đối tượng tham gia BHXH tự nguỵên) ở các cơ quan hànhchính, sự nghiệp, các tổ chức Đảng, đoàn thể, các doanh nghiệp, hộ kinhdoanh cá thể tổ hợp tác, hợp tác xã, các đơn vị ngoài công lập, bán công, tưthục Thực hiện chế độ BHYT cả hai loại hình bắt buộc và tự nguyện; quản lýcác nguồn quỹ Để thực hịên các chức năng trên, ngành BHXH có 15 nhiệm

vụ, có thể tóm lại gồm: Thu BHXH, BHYT; cấp sổ BHXH, cấp thẻ BHYT;chi lương hưu và trợ cấp BHXH; thẩm định, giải quyết các chế độ BHXH,BHYT; ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý; lưu trữ hồ sơ các đốitượng tham gia và thụ huởng chế độ BHXH, BHYT; kiểm tra, giải quyết đơnthư khiếu nại, tố cáo; thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị côngnghệ thông tin; công tác tổ chức, bộ máy và cán bộ

Trang 5

Trong giới hạn của lụân văn, tác giả chỉ tập trung vào một số nội dungtrong nhiệm vụ thu BHXH:

- Về đối tượng: Nghiên cứu đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Trong

đó chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Về phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu về công tác thu BHXh cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Hà Tĩnh từ năm 2005 - 2009, không đề cậpđến thu BHXH tự nguỵên, thu BHXH và đối tượng thuộc lĩnh vực vũ trang

5 Cơ sở lý lụân và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng được đề ra trong các kỳ Đạihội, đặc biệt là Đại hội IX, Đại hội X; các số liệu tổng hợp báo cáo, điều tra

về thu BHXH các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.Tác giả sử dụng phương pháp hệ thống và khái quát hóa, có minh hoạ,đối chiếu, so sánh, kế thừa một số công trình đã công bố có liên quan đến vấn

đề nghiên cứ để đánh giá và làm sáng tỏ vấn đề cần quan tâm

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văngồm 3 chương, 8 tiết

Trang 6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Con người khi sinh ra và lớn lên luôn phải chịu những tác động của quyluật tự nhiên và xã hội Những tác động đó có hai xu hướng chính: hoặc là tácđộng tốt hoặc là tác động xấu đối với con người Những tác động xấu mà conngười phải đối mặt đó là những rủi ro do thiên tai, do lao động sản xuất hay

do sinh hoạt trong cuộc sống gây ra, như: bão lụt, hạn hán, hoả hoạn, sóngthần, động đất, bệnh dịch, sự ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông Mặt khác,

đa số con người ai cũng phải trải qua quá trình: “Sinh, lão, bệnh, tử”, trong quátrình đó con người phải cần những nhu cầu tối thiểu về ăn, ở, mặc, học hành, đilại, khám chữa bệnh Để thoả mãn những nhu cầu đó con người phải làm việc đểđem lại thu nhập, nhưng thực tế không phải lúc nào con người cũng có việc làm

để mang lại thu nhập hay có đủ sức khoẻ để làm việc; mà những rủi ro: ốm đau,bệnh tật, già yếu, mất việc làm luôn rình rập con người

Để khắc phục những rủi ro trên, thông thường có hai nhóm giải pháp cơbản: nhóm phòng chống rủi ro và nhóm khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra

Nhóm phòng chống rủi ro: Nhà nước đã đưa ra các quy định quản lý từng

lĩnh vực (ban hành bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư ) bắt buộctừng các nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị phải thực hiện, để phòng ngừa và hạnchế những rủi ro Đồng thời tiến hành các biện pháp kiểm tra, giám sát, ngănngừa, né tránh để hạn chế rủi ro Chẳng hạn, khi ký kết hợp đồng lao độnggiữa người lao động và chủ sử dụng lao động bắt buộc phải có thoả thuận vềđiều kiện làm việc, an toàn lao động, bảo hiểm xã hội Để giảm tai nạn laođộng, chủ sử dụng lao động phải tổ chức cho người lao động học tập nội quy,

Trang 7

quy chế làm việc, chấp hành đầy đủ các quy định về bảo hộ lao động Để hạnchế tai nạn giao thông nhà nước ban hành Luật giao thông, bắt buộc mọingười phải tuân thủ, nếu điều khiển xe phải có giấy phép lái xe, chấp hành cáctín hiệu trên đường Đối với mỗi cá nhân con người cũng có biện phápphòng ngừa “Tích cốc phòng cơ” hay né tránh

Nhóm khắc phục các rủi ro: Nhà nước có các chính sách, các quy định khắc

phục các rủi ro, cũng được thể hiện trong bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định,thông tư nếu hậu quả do thiên tai gây ra thì nhà nước có thể chi ra một khoảnngân sách để khắc phục hay vận động nhân dân quyên góp tiền để ủng hộ Cònvới mỗi cá nhân có thể tự chi quỹ dự phòng như tiền gửi tiết kiệm, vàng, bạc, các

đồ quý hiếm đắt tiền để khắc phục rủi ro

Thực tế có nhiều rủi ro xảy ra mà không thể phòng trước được, để khắcphục hậu quả của nó quỹ dự phòng của mỗi các nhân không thể bù đắp, gánhvác được (chẳng hạn như phòng chống thiên tai, bão lụt hay mắc bệnh hiểmnghèo), họ phải thế chấp tài sản để vay tiền ngân hàng, vay tiền các tổ chứctín dụng hay của người thân, của bạn bè để bù đắp Chính vì vậy, cần phải cóbiện pháp khắc phục tổng thể và dài lâu mang tính cộng đồng xã hội nhằmgiảm bớt khó khăn cho mỗi con người khi khắc phục các rủi ro, tức là thamgia bảo hiểm Hay nói cách khác là chuyển từ dự phòng cá nhân sang dựphòng của cộng đồng

Trong tất cả các biện pháp phòng chống và khắc phục rủi ro, tổn thất, bảohiểm là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Bảo hiểm là chế độ bồi thườngkinh tế, chia nhỏ rủi ro, tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiềungười có cùng khả năng xảy ra rủi ro, tổn thất nào đó, theo những nguyên tắc,chuẩn mực được thống nhất và quy định trong khung khổ pháp luật của mỗiquốc gia Bảo hiểm không những đảm bảo sự chủ động, an tâm cho người thamgia về kinh tế mà còn góp phần làm ổn định an toàn xã hội, tạo ra nguồn vốn lớn

để đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm và phát triển kinh tế - xã hội Đối tượng

Trang 8

tham gia bảo hiểm là các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân, đóng góp mộtkhoản phí nhất định cho cơ quan bảo hiểm để hình thành quỹ dự trữ Quỹ dự trữnày dùng để bồi thường thiệt hại hoặc trợ cấp cho người tham gia khi gặp phảinhững rủi ro, tổn thất.

Trên thế giới, hoạt động bảo hiểm xuất hiện khá sớm và phát triển ở hầuhết các nước, năm 1870 Chính phủ Anh ban hành các đạo luật về các công tybảo hiểm rủi ro (bảo hiểm nhà nước) Năm 1883, đạo luật BHXH ra đời đầutiên ở nước Phổ (nay là nước Cộng hoà Liên bang Đức) Luật bảo hiểm y tế; năm

1884 Luật bảo hiểm tai nạn lao động; năm 1889, Luật bảo hiểm thương tật vàngười già Ngày 18/6/1952 tại Giơnevơ, Thụy Sỹ, Hội nghị quốc tế về lao động

đã ký Công ước về an toàn xã hội ( Công ước số 102 năm 1952) Đây là côngước đầu tiên của thế giới về bảo hiểm lao động (bảo hiểm xã hội)

Ở Việt Nam, dưới thời thuộc địa cũng đã có chế độ bảo hiểm đối với côngnhân Năm 1918, thực hiện chế độ bảo hiểm đối với công nhân bị tàn tật; năm

1920 thực hiện bảo hiểm ốm đau Sau cách mạng Tháng tám năm 1945 Hồ ChíMinh đã thay mặt Chính phủ ra Sắc lệnh số 54-SL ngày 03/11/1945, Sắc lệnh số105-SL ngày 14/6/1946 quy định những điều kiện cho công chức về hưu

Về cơ bản bảo hiểm có hai loại hình chính là bảo hiểm xã hội và bảohiểm thương mại Đối với bảo hiểm xã hội, những rủi ro mà người tham giagặp phải đó là: ốm đau, bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, tàn tật, suy giảm sức khoẻ, mất việc làm, không còn đủ khả nănglao động và cả khi qua đời Khi gặp các rủi ro trên con người sẽ bị ảnhhưởng về kinh tế nên cần phải có nguồn thu nhập khác bù đắp để đảm bảocuộc sống của chính bản thân họ và gia đình Nguồn thu nhập đó được hìnhthành trên cơ sở quỹ tài chính tập trung do người tham gia BHXH đóng góp

và hỗ trợ của Nhà nước

Để bảo đảm quyền lợi cơ bản cho người lao động trên toàn thế giới và antoàn xã hội, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ban hành Công ước số 102 ngày

Trang 9

4/6/1952 về quy phạm tối thiểu an toàn xã hội [ , tr.123- 142], có quy định 09chế độ trợ cấp gồm:

và tử tuất Các chế độ khác chỉ được bổ sung dần trong điều kiện kinh tế chophép Ở nước ta, theo quy định tại Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghịđịnh số: 12/CP ngày 26/01/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 củaChính phủ, NĐ 63/2005/NĐ - CP ngày 16/5/2005, Luật BHXH được quốc hộikhóa XII thông qua ngày 12 tháng 07 năm 2006 đang thực hiện 08 chế độ:

Trang 10

Dưới góc độ chính sách: “BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết

các vấn đề xã hội liên quan đến mỗi tầng lớp đông đảo người lao động và bảo vệ

sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia”

Dưới góc độ quản lý: “ BHXH là công cụ để quản lý, thông qua pháp

luật về BHXH điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, chủ sửdụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lạithu nhập giữa các thành viên trong xã hội”

Dưới góc độ tài chính: “Thực hiện BHXH để hình thành quỹ tài chính

tập chung, qua đó đầu tư, tăng trưởng bảo tồn quỹ BHXH và góp phần làmtăng tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội”

Dưới góc độ thu nhập: “BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập

khi người lao động có tham gia BHXH mất hoặc giảm thu nhập”

Vì vậy, cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về BHXH, cácnhà kinh điển đưa ra một số khái niệm như:

Khái niệm thứ nhất: BHXH là mọi chế độ về bảo hiểm cho người lao

động Đây là loại bảo hiểm bắt buộc Những người lao động bắt buộc phảiđóng góp theo các quy định của Chính phủ vào các tổ chức bảo hiểm quốc gia

để nhận được các khoản trợ cấp [ , tr.21]

Khái niệm thứ hai: BHXH là tổng hợp những quy định của Nhà nước về

bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đìnhtrong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, bệnhnghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác [ , tr.23-24].Hai khái niệm trên thể hiện được những điểm cơ bản về BHXH như:

- BHXH là tổng hợp những quy định của nhà nước về quyền lợi và tráchnhiệm của người lao động khi tham gia BHXH;

- Quy định các chế độ về BHXH như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao độngbệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động, mất việc làm, chết

Tuy nhiên ở từng khái niệm chưa thể hiện đầy đủ các khía cạnh của

Trang 11

BHXH: khái niệm thứ nhất đưa ra một loại hình BHXH bắt buộc, trên thực tếcòn có BHXH tự nguyện; khái niệm thứ hai không thể hiện trách nhiệm đónggóp của người lao động; cả hai khái niệm trên đều không nêu sự bảo đảm thựchiện và bảo hộ của nhà nước đối với việc thực hiện các chính sách BHXH.

Từ những phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm như sau: Bảo hiểm xã hội là những quy định của Nhà nước được bảo đảm thực hiện, để thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, dưỡng sức và phục hồi sức khoẻ, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất; dựa trên cơ sở quỹ tài chính do các bên tham gia BHXH đóng góp và sự bảo hộ của Nhà nước nhằm ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

1.1.1 Nội dung của chính sách bảo hiểm xã hội

Trước hết, phải thấy rằng bảo hiểm xã hội là một quá trình của nhận

thức, cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người chính sách BHXHluôn được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức Theo quan niệm của Bảohiểm xã hội Việt Nam: “Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trongchính sách kinh tế xã hội của nhà nước, là những chủ trương, quan điểmnguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớpđông đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từngthời kỳ” [ , tr.9] Nội dung của chính sách BHXH được thể hiện như sau:

Một là, Bảo hiểm xã hội là sự san sẻ rủi ro, chia nhỏ rủi ro cho nhiều cá nhân trong cộng đồng cùng gánh chịu; hay nói cách khác “lấy số đông bù số ít” tức là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người khi gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất.

Đối với các rủi ro mà nguyên nhân do ốm đau, thai sản, tai nạn lao đông,bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tật nguyền, nhiều khi từng cá nhân không đủkhả năng tài chính để khắc phục; do vậy Nhà nước ban hành các quy định đểhuy động mọi người trong xã hội đóng góp một khoản nhất định cùng với

Trang 12

Nhà nước để hình thành nên quỹ BHXH chi trả cho một số người gặp phảirủi ro cần khắc phục Những người tham gia BHXH không phải ai cũngđược hưởng đồng đều mà chỉ khi gặp phải rủi ro và có đủ điều kiện theoquy định thì mới được hưởng Còn đối với những người hết tuổi lao độnghoặc suy giảm khả năng lao động quỹ BHXH bảo đảm một khoản thu nhập

để ổn định cuộc sống

Hai là, BHXH là một công cụ để quản lý xã hội, là sự bảo đảm của nhà nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH, an toàn xã hội và thúc đẩy sản xuất phát triển.

BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng, nhằm bảo đảm đờisống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội, chống các tệ nạn tiêucực, góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy sản xuất phát triển Với tư cách là công

cụ để quản lý xã hội, nhà nước can thiệp, bảo vệ quyền lợi chính đáng củangười lao động, đặc biệt trong mối quan hệ thuê mướn giữa chủ và thợ Yêucầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhucầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu về tiềnlương, chăm sóc khi bị ốm đau, tai nạn… Đồng thời bản thân người lao độngcũng phải có trách nhiệm giành một khoản thu nhập để chi cho bản thân mìnhkhi có những rủi ro xảy ra Nhà nước coi như là một người chủ sử dụng laođộng của mọi người lao động, vì vậy trong trường hợp sự đóng góp của chủ

sử dụng lao động và người lao động không đủ để trang trải cho những khoảnchi cho người lao động khi họ gặp rủi ro thì nhà nước có trách nhiệm chi ngânsách để bảo đảm đời sống cho người lao động Quỹ BHXH là quỹ của ngườilao động tiết kiệm được qua hình thức đóng góp hàng tháng, vì vậy bất luậntrong hoàn cảnh nào nhà nước phải đứng sau hỗ trợ, duy trì, bảo toàn để thựchiện các chế độ trợ cấp cho người lao động, nếu không thì xã hội sẽ mất ổnđịnh, kinh tế sẽ trì trệ Khi quỹ BHXH được hình thành sẽ có một khoản tiềnlớn đầu tư trở lại để giúp cho sản xuất phát triển

Trang 13

Ba là, BHXH là mối quan hệ kinh tế ba bên giữa người lao đông, chủ sử dụng lao động và nhà nước trong thực hiện chính sách BHXH.

BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùngtham gia và thụ hưởng Mối quan hệ này chịu tác động sâu sắc của nền kinh tếthị trường Thị trường lao động càng phát triển, việc thuê mướn lao động trởnên phổ biến, là nền tảng, cơ sở cho sự phát triển và đa dạng hoá BHXH.Người lao động trong quá trình lao động có thu nhập phải đóng góp thườngxuyên và đầy đủ vào quỹ BHXH theo mức quy định của pháp luật Khi ngườilao động có đủ điều kiện theo quy định sẽ được hưởng các chế độ trợ cấpBHXH Chủ sử dụng lao động cũng có trách nhiệm đóng góp để hình thànhquỹ BHXH, quản lý hồ sơ về quá trình làm việc của người lao động và làmcác thủ tục cần thiết để người lao động hưởng trợ cấp BHXH Nhà nước banhành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách thựchiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Đồng thời nhà nước cùng có tráchnhiệm đóng góp và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đốivới người lao động Việc đóng góp và hỗ trợ thêm quỹ BHXH là thể hiện sựbảo hộ, sự điều tiết và trách nhiệm của nhà nước trong việc giữ gìn ổn địnhkinh tế, chính trị - xã hội

Bốn là, BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội theo hướng có lợi cho người tham gia BHXH khi gặp phải rủi ro trong lao động sản xuất và đời sống xã hội

Việc tổ chức thu, chi BHXH là thực hiện quá trình phân phối lại thunhập Thu BHXH dựa trên cơ sở thang bảng lương, hợp đồng lao động, mứclương tối thiểu do nhà nước quy định, do đó mỗi người tham gia có một mứcđóng BHXH khác nhau; hàng năm nhà nước còn trích một khoản nhất định từnguồn thu ngân sách để hỗ trợ quỹ BHXH Vì thế, phân phối trong BHXHkhông phải đóng bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu Phân phối trong BHXH vừamang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Những biến cố mang tính

Trang 14

tất yếu sẽ xảy ra đối với con người như thai sản, tuổi già và chết; trong trườnghợp này phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng góp BHXHchắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó Còn những biến cố làm giảm hoặcmất khả năng lao động, mất việc làm, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có nghĩa là chỉ khi nàongười lao động gặp phải tổn thất do biến cố trên gây ra thì mới được hưởngtrợ cấp BHXH

Năm là, BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, không mang tính chất kinh doanh, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động BHXH.

Sự hình thành và sử dụng quỹ BHXH được thực hiện trên nguyên tắc là:

có tham gia tạo lập hay đóng góp thì mới được hưởng quyền lợi, quỹ BHXHđược đầu tư, bảo tồn và tăng trưởng; nhưng hoạt động BHXH không mangtính chất kinh doanh vì lợi nhuận, mà là một loại hoạt động dịch vụ công,mang tính xã hội, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt độngBHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sáchBHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH; là thực hiện các nghiệp vụ thuBHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các chế

độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng Mức độ đóng góp và sửdụng của hoạt động BHXH không thực hiện theo cơ chế thị trường và nguyêntắc hạch toán kinh doanh, mà dựa vào chính sách xã hội trong từng thời kỳcủa nhà nước và mục tiêu bảo vệ sự phát triển kinh tế, xã hội, sự ổn địnhchính trị quốc gia Do vậy đa số các nước trên thế giới đều thực hiện BHXHvới hình thức bắt buộc, theo khuyến cáo của ILO

1.1.2 Yêu cầu mới đặt ra của BHXH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và gia nhập WTO

Yêu cầu mới đạt ra trong phát triển ngành BHXH cần được xây dựngtrên các quan điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: BHXH phải thực hiện trên nguyên tắc có đóng có hưởng,

Trang 15

khoản trợ cấp BHXH được thụ hưởng phải do chính bản thân người lao động

tham gia đóng góp Đi đôi với việc giải quyết các chế độ được thụ hưởng phải

đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật một cách đầy đủ, kịp thời, chínhxác

Thứ hai: Mọi người lao động được quyền tham gia BHXH và thụ hưởng

các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật Người lao động khi có việclàm, có thu nhập bảo đảm được cuộc sống hiện tại đều phải tham gia BHXHdưới hai hình thức: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Khi mất việc làm,

ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN hoặc khi tuổi già, thì được hưởng trợ cấpBHXH để duy trì, ổn định cuộc sống

Thứ ba: Chủ sử dụng lao động trong các đơn vị sử dụng lao động phải có

trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động Quan điểm này là thể hiện tráchnhiệm của chủ sử dụng lao động trong việc tham gia đóng BHXH để bảo vệcho người lao động và tạo điều kiện cho họ được hưởng các chế độ BHXH

Thứ tư: Mức đóng BHXH

Mức đóng BHXH phải được tính trên cơ sở tiền lương hoặc tiền côngthực tế của người lao động và mức thu phải được điều chỉnh dần dần từ thấpđến cao theo mức tăng của tiền lương hoặc tiền công, vừa bảo đảm cuộc sốnghiện tại của người lao động, vừa bảo đảm cân đối tăng số thu BHXH, đồngthời phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước tronggiai đoạn từ nay đến năm 2020

Thứ năm: Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ cho quỹ BHXH.

Ở các nước trên thế giới, vai trò trách nhiệm của nhà nước được thểhiện rất rõ đối với sự nghiệp BHXH Bởi vì, các loại trợ cấp BHXH đượcthực hiện đối với những người gặp hoàn cảnh khó khăn hơn những ngườikhác Đa số các nước chỉ quy định nhà nước trợ giúp trong thời gian đầu mớithành lập BHXH, hoặc hỗ trợ phần thiếu hụt của quỹ và hỗ trợ một số chế độnào đó

Trang 16

Ở nước ta, Điều 149 của Bộ luật lao động và Điều 36 Điều lệ BHXHban hành kèm theo NĐ 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ và điều LuậtBHXH cũng quy định rõ: Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thựchiện các chế độ BHXH đối với người lao động Trong giai đoạn 10 năm tới,

số thu BHXH và lãi do đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH vẫn chưa thể đủ để chitrả các chế độ BHXH; vì vậy, cần duy trì hỗ trợ của Nhà nước đối với sựnghiệp BHXH

Thứ sáu: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của các cấp Uỷ,

chính quyền quận, huyện, thị xã và các cơ quan chức năng trên địa bàn đểgiúp cơ quan BHXH khai thác mở rộng đối tượng thu BHXH khu vựcDNNQD

Thứ bảy: Tăng cường công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra và xử

phạt nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật lao động nói chung,pháp luật về BHXH nói riêng

Thứ tám: Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH và quản lý thu

BHXH hoạt động có hiệu quả Quan điểm này nhằm thực hiện tốt chính sáchBHXH và công tác thu BHXH; phục vụ tốt nhất cho các đối tượng tham giaBHXH Nội dung của quan điểm này bao gồm:

- Phải tổ chức hệ thống BHXH theo mô hình tập trung thống nhất đặtdưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ

- Phải bổ sung hoàn thiện chế độ chính sách BHXH, quy chế quản lý tàichính BHXH, tăng cường các giải pháp trong việc tổ chức thực thi các chế độchính sách và quản lý chặt chẽ thu BHXH

- Phải có đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn vững vàng vềcác nghiệp vụ thu, chi, giải quyết chế độ chính sách, có tác phong phục vụ đốitượng tận tình chu đáo

- Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá phương tiện quản lý bằng công nghệ thông tin

Trang 17

1.2 Thu bảo hiểm xã hội

1.2.1 Khái niệm thu bảo hiểm xã hội

Thu BHXH dựa trên cơ sở những định hướng, chủ trương, chính sách,pháp luật của nhà nước, quy định về: loại hình BHXH, đối tượng và phạm vi

áp dụng, mức trích nộp BHXH, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, thời gian

và phương thức đóng BHXH Thu BHXH là khâu đầu tiên trong việc xác lậpmối quan hệ về BHXH giữa người lao động, chủ sử dụng lao động và cơ quanBHXH Mối quan hệ này xác định quyền lợi và trách nhiệm của các bên trongviệc thực hiện các quy định về BHXH, đặc biệt là trách nhiệm đóng BHXHcủa người lao động và chủ sử dụng lao động Đây là mối quan hệ quan trọnghàng đầu, vì có thực hiện được thì mới có cơ sở để tổ chức thu BHXH, hìnhthành nên quỹ BHXH; từ đó mới có nguồn tài chính để chi trả các chế độBHXH, chi cho hoạt động của bộ máy quản lý, chi đầu tư tăng trưởng quỹBHXH Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và không để thất thoát sốtiền đã thu được, đòi hỏi phải có phương pháp và biện pháp hữu hiệu, phươngthức quản lý thu khoa học, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với điềukiện kinh tế xã hội của đất nước; đồng thời phải tham khảo kinh nghiệm quản

lý của các nước có bề dày lịch sử về thực hiện BHXH và thực trạng công tácthu BHXH của từng thời kỳ phát triển của đất nước Bên cạnh đó, còn phảithực hiện các biện pháp hỗ trợ, tăng cường thu như: thực hiện tốt các chế độ

về BHXH cho người lao động, các quy định về quản lý tài chính, xử phạthành chính khi vi phạm các quy định về BHXH, xây dựng mối quan hệ vớicác cơ quan hữu quan như: ngân hàng, kho bạc ; thường xuyên phối hợp vớicác cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật về

BHXH Như vậy, thu BHXH là: “Một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu bảo hiểm xã hội”.

Trang 18

1.2.2 Nguyên tắc thu bảo hiểm xã hội

Để hoạt động thu BHXH đúng quy định của pháp luật, đạt được mụctiêu đề ra cần phải thực hiện theo các nguyên tắc:

Một là: Thu đúng, đủ và kịp thời

Thu đúng đối tượng, đúng mức quy định: tất cả mọi người khi có giaokết lao động có thu nhập và trong diện pháp luật quy định phải tham giaBHXH, cơ quan BHXH có trách nhiệm tổ chức thu BHXH Đối với mỗi đơn

vị sử dụng lao động được phân theo khối, chẳng hạn: khối sản xuất kinhdoanh, khối hành chính , được quy định căn cứ xác định mức lương đóngBHXH của người lao động có khác nhau Việc xác định mức lương làm căn

cứ đóng BHXH là cơ sở quan trọng để đảm bảo thu đúng mức quy định

Thu đủ: trong quá trình tổ chức thu BHXH ngoài việc phải xác địnhđúng đối tượng, đúng mức còn phải thu đủ số đối tượng, đủ mức đóng BHXHtheo luật định

Thu kịp thời: chế độ chính sách BHXH thường thay đổi để phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ của đất nước Ở mỗi thời điểmthay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện kịp thời để tận thu BHXH Chẳng hạnkhi thay đổi mức lương tối thiểu không những phải tổ chức thu theo mứclương tối thiểu mới mà còn phải truy thu kịp thời Mặt khác, trong việc tổchức thu thường quy định thời gian đóng BHXH hàng tháng, hàng quý đốivới các đơn vị sử dụng lao động, các đơn vị chấp hành nghiêm chỉnh sẽ hạnchế được số thu tồn đọng, tạo lập được quỹ BHXH ổn định để chi trả chongười lao động và đầu tư tăng trưởng

Hai là: Thống nhất, công bằng, công khai, dân chủ

Chế độ chính sách BHXH nói chung, về thu BHXH nói riêng được nhànước ban hành và thực hiện thống nhất trong toàn quốc; không có sự phânbiệt giữa các vùng, miền, dân tộc, nam hay nữ Mọi người lao động làm việc

ở các thành phần kinh tế đều bình đẳng trong về quyền lợi và trách nhiệm

Trang 19

tham gia BHXH Số đối tượng tham gia BHXH và số thu BHXH phải côngkhai thường xuyên, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của nhà nước, các bộcác ngành và giám sát của các tổ chức xã hội

Ba là: Tập trung, an toàn, hiệu quả

Số thu BHXH là cơ sở tạo lập lên quỹ BHXH để chi trả các chế độ chongười lao động và đầu tư tăng trưởng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội củađất nước Số thu BHXH là một nguồn vốn cực kỳ lớn, do đó phải được quản lýtập trung thống nhất ở Trung ương, không phân tán thành nhiều quỹ hoặc do cácđịa phương quản lý Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độquản lý tài chính của nhà nước và sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ

1.2.3 Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia, thể hiện ở các mặt sau:

- BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ,

đảm bảo an toàn và trật tự an ninh xã hội BHXH là sự đảm bảo thay thế một

phần thu nhập bị mất đi khi người lao động bị suy giảm, mất khả năng laođộng Chẳng hạn, khi hết tuổi lao động sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí, khi chếtđược hưởng tiền tuất, mai táng phí Do đó, BHXH có tác dụng rất lớn đối vớingười lao động, nó làm cho người lao động yên tâm cống hiến và không phải lolắng khi rủi ro có thể xảy ra Đồng thời, BHXH góp phần hạn chế và điều hoàcác mâu thuẫn có thể xảy ra giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, tạomôi trường làm việc ổn định, đảm bảo cho hoạt động lao động, công tác đạthiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước Một bộphận lớn người dân có thu nhập ổn định từ trợ cấp BHXH đảm bảo cuộc sống

sẽ hạn chế các tiêu cực, tệ nạn cho xã hội Đây là vai trò cơ bản nhất của chínhsách BHXH

- BHXH còn làm gắn bó lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao

động và nhà nước Thực hiện việc đóng góp BHXH thể hiện sự quan tâm của

Trang 20

người chủ sử dụng lao động đối với người lao động, do đó người lao động cótrách nhiệm hơn trong công việc, chủ động sáng tạo trong lao động sản xuất.Thông qua việc tổ chức hoạt động BHXH thể hiện vai trò quản lý của nhànước, tạo môi trường bình đẳng trong lao động và sản xuất kinh doanh chomọi người lao động, mọi đơn vị, tổ chức

- BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội BHXH dựa trên nguyên

tắc người lao động bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và thụ hưởng Thôngqua hoạt động của mình, BHXH tham gia vào quá trình phân phối và phânphối lại thu nhập xã hội Đó là sự phân phối lại thu nhập giữa người lao độngcủa thế hệ sau với người lao động của thế hệ trước; giữa các ngành nghề sảnxuất; giữa những người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp; giữanhững người khoẻ mạnh với những người hay ốm yếu; theo xu hướng có lợicho những người lao động ở thế hệ trước, người lao động có thu nhập thấp vàhay ốm yếu Vì vậy, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, làm giảmbớt khoảng cách về thu nhập giữa người giàu và người nghèo

- BHXH góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất cho người lao động.

Để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị, tổ chức kinh tế đề ra các quy địnhchặt chẽ về an toàn lao động, về vệ sinh công nghiệp bắt buộc mọi người laođộng phải tuân thủ Cơ quan BHXH kết hợp cùng với các cấp các ngành, đơn

vị chủ sử dụng lao động thường xuyên tổ chức tuyên truyền phổ biến về chế

độ chính sách BHXH, an toàn lao động, kịp thời hỗ trợ cho người lao độngđược nghỉ ngơi, điều dưỡng để nâng cao sức khoẻ Khi không may sảy ra tainạn, ốm đau, hết khả năng lao động, mất việc làm được quỹ BHXH chi trợcấp để khắc phục tổn thất hoặc bù đắp một phần thu nhập

- BHXH góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước BHXH tập trung được nguồn tài chính tương đối lớn từ sự đóng

góp của người lao động và chủ sử dụng lao động tồn tích lại, nguồn tài chínhnày tương đối nhàn rỗi vì có thể tính toán chính xác được nhu cầu chi của

Trang 21

từng thời kỳ, từng thời điểm Vì vậy, Chính phủ cho phép cơ quan BHXH đầu

tư số tiền nhàn rỗi vào các dự án kinh tế - xã hội để bảo toàn, phát triển quỹBHXH và tăng thêm nguồn lực cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước

1.2.4 Mục đích thu bảo hiểm xã hội

Thứ nhất, đảm bảo cho yếu tố “ đầu vào” ( tiền nộp BHXH ) đủ khả năngthực hiện quá trình tái sản xuất xã hội, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thờimới đảm bảo chi trả chế độ cho người lao động, góp phân ổn định đời sốngcủa người lao động trong quá trình lao động không may bị rủi ro, nghỉ hưucũng như về già

Thứ hai, xác lập rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham giaBHXH, đó là: người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH;phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng hoạt động sự nghiệpcủa BHXH

Thứ ba, không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thuBHXH đuợc sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHXHliên tục tăng trưởng

Thứ tư, đảm bảo cho các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêmtúc, hiệu quả, khắc phục được tính bình quân nhưng vẫn đảm bảo tính xã hộithông qua việc điều tiết, chia sẽ rủi ro Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiệnnay, quản lý thu BHXH lại càng có ý nghĩa sâu sắc trong việc phòng ngừa,ngăn chặn những lạm dụng của người sử dụng lao động với người lao độngnhất là việc thuê mướn, sử dụng, trả tiền lương, tiền công bất bình đẳng

1.2.5 Nội dung thu bảo hiểm xã hội

- Quy định đối tượng và mức đóng: căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế

xã hội và thu nhập của người lao động trong từng thời kỳ, nhà nước có nhữngquy định cụ thể về đối tượng, mức đóng BHXH sao cho phù hợp

- Công tác lập kế hoạch: thu BHXH là nguồn cơ bản hình thành quỹ

BHXH, để thực hiện tốt công tác thu BHXH cần phải có kế hoạch rõ ràng, cụ

Trang 22

thể và sát với thực tế; trên cơ sở tổng số lao động, tổng quỹ lương tham giaBHXH và tình hình phát triển kinh tế xã hội để xác định số phải thu Ở mỗiquốc gia áp dụng mô hình quản lý quỹ khác nhau và tương ứng phương pháplập kế hoạch cũng có sự khác nhau Chẳng hạn theo mô hình “Toạ thu- toạchi” Quỹ BHXH thực hiện theo năm tài khoá (thu trong năm để chi trong nămkhông có tích luỹ, khi thu không đủ chi thì ngân sách nhà nước sẽ cấp bù);Việc lập kế hoạch thu BHXH phải căn cứ vào nhu cầu chi trong năm để xácđịnh tổng số phải thu, nếu số phải chi trong năm kế hoạch lớn thì kế hoạchxây dựng số phải thu lớn và ngược lại Theo mô hình “Tồn tích” Quỹ BHXHthực hiện chi cho đối tượng khi có đủ điều kiện hưởng, không thực hiện theonăm tài khoá mà thực hiện theo kế hoạch hàng năm, kế hoạch trung hạn, kếhoạch dài hạn (từ 20-30 năm); cơ sở xác định tổng số phải thu của kế hoạchchủ yếu là tổng số lao động, tổng quỹ lương tham gia đóng BHXH và tìnhhình phát triển kinh tế xã hội Sau khi xây dựng được kế hoạch thu BHXH, cơquan BHXH trình dự toán thu BHXH với cơ quan quản lý có thẩm quyền phêduyệt Trên cơ sở dự toán được phê duyệt cơ quan BHXH phân bổ cho cácđơn vị thực hiện theo tháng, quý, năm.

- Quản lý đối tượng tham gia BHXH: đối tượng tham gia BHXH là

người lao động và các đơn vị sử dụng lao động Trong cơ chế thị trường cácđơn vị sử dụng lao động thường không tự giác tham gia BHXH cho người laođộng, họ tìm cách né tránh hoặc gian lận Việc quản lý chặt chẽ buộc chủ sửdụng lao động phải cung cấp đầy đủ số liệu về lao động, quỹ lương, đóng đầy

đủ BHXH là cực kỳ quan trọng, là cơ sở hàng đầu để quỹ BHXH có nguồnlực tài chính chi trả chế độ cho người lao động và đảm bảo an sinh xã hội Đểthuận lợi cho việc quản lý, theo dõi quá trình tham gia BHXH, căn cứ vào đặcđiểm, tính chất, hình thức hoạt động của các đơn vị sử dụng lao động, người

ta thường phân loại để quản lý, có nhiều cách phân loại nhưng phổ biến làphân theo các khối sau:

Trang 23

+ Khối doanh nghiệp Nhà nước;

+ Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh;

+ Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Quản lý mức đóng và tiền thu BHXH: mức đóng là cơ sở quan trọng

để tính số thu BHXH, nếu việc xác định mức đóng không chính xác sẽ dẫnđến thu không đúng, không đủ số phải thu BHXH Mức đóng của chủ sử dụnglao động và người lao động được tính trên cơ sở trích một tỷ lệ nhất định củatổng quỹ tiền lương Để xác định mức đóng BHXH cơ quan BHXH phải theodõi, kiểm tra chặt chẽ diễn biến tiền công, tiền lương của từng cá nhân laođộng trong các doanh nghiệp, đối chiếu tổng quỹ lương hàng tháng để tính sốtiền phải nộp BHXH

Đặc điểm của thu BHXH là số tiền thu rất lớn, của nhiều đối tượng khácnhau, với nhiều hình thức như: tiền mặt, chuyển khoản, séc, uỷ nhiệm chi, dovậy hệ thống BHXH phải thực hiện công tác hạch toán kế toán, thống kê, báocáo và kiểm tra toàn bộ số tiền thu BHXH theo đúng quy định của pháp luật, quản

lý chặt chẽ đúng nguyên tắc tài chính để tránh nhầm lẫn Cơ quan BHXH phải cómối quan hệ phối hợp với hệ thống ngân hàng, kho bạc; khi các đơn vị sử dụng laođộng nộp tiền BHXH vào ngân hàng, kho bạc huyện thì huyện phải chuyển toàn bộ

số tiền đó vào tài khoản chuyên thu BHXH của ngân hàng, kho bạc tỉnh Định kỳngân hàng, kho bạc, cơ quan BHXH tỉnh phải chuyển số tiền thu BHXH lên tài

Trang 24

khoản chuyên thu của cơ quan BHXH Trung ương BHXH cấp huyện, tỉnh khôngđược phép sử dụng tiền thu BHXH vào các mục đích khác

- Tổ chức và phân cấp quản lý thu BHXH:

Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, quy mô, số lượng loại hình cácđơn vị sử dụng lao động của từng địa phương, cơ quan BHXH tổ chức bộmáy để thực hiện công tác thu BHXH từ Trung ương đến địa phương Bộ máynày nằm trong bộ máy chung của hệ thống BHXH quốc gia Việc sắp xếp bốtrí cán bộ quản lý thu đảm bảo đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn cao vàphù hợp với việc phân cấp quản lý

Trong cơ chế quản lý thu BHXH việc phân cấp quản lý thu BHXH đảmchuyên môn hoá cao, đảm bảo thông tin chỉ đạo, xử lý kịp thời các vướng mắc,tránh tình trạng chồng chéo trong tổ chức thu BHXH đối với các tỉnh, các ngành,các lĩnh vực Thông thường phân cấp quản lý thu theo mô hình 3 cấp, tương ứngvới đối tượng thu nhất định Ba cấp quản lý thu gồm:

+ Cấp Trung ương: có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác thuBHXH trong toàn quốc;

+ Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: có nhiệm vụ chỉ đạo, tổchức thực hiện công tác thu BHXH trong toàn tỉnh, thành phố;

+ Cấp quận, huyện, thị: có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác thu BHXH trong toàn quận, huyện, thị

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU BẢO HIỂM XÃ HỘI KHU VỰC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.3.1 Chính sách lao động, việc làm và tiền lương

Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010, Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “Để giải quyết vấn đề việc làm chongười lao động, phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả cácthành phần kinh tế đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản xuất kinh doanh,

Trang 25

tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động Thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu lao động xã hội ” Việc thực hiện tốt các chính sách laođộng - việc làm sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến khu vực DNNQD và việc thamgia BHXH cho người lao động ở khu vực này, thể hiện qua các lý do sau:

- Nhà nước chú trọng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động trêncác phương diện: chuyên môn, tay nghề, kỹ năng hành nghề, kỹ năng ứng xửgiao tiếp, tác phong làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luậtlao động và pháp luật Giúp cho thị trường lao động có nguồn lao động chấtlượng cao, các doanh nghiệp sẽ đỡ được một phần chi phí trong công tác đàotạo Lực lượng lao động có chất lượng cao đó sẽ có cơ hội có việc làm ổn định

và thu nhập cao (chất lượng lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập) làmtăng mức đóng BHXH

- Việc ưu tiên dành vốn đầu tư của nhà nước và huy động vốn trongtoàn xã hội để giải quyết việc làm, trong 5 năm ( 2005 -2010) ước tạo đượckhoảng 06 triệu việc làm mới (bình quân 1,6 triệu/năm) sẽ làm tăng tỷ trọnglao động xã hội tham gia BHXH Mặt khác do chuyển dịch cơ cấu lao động sốngười làm công ăn lương sẽ tăng lên cũng là lý do làm tăng tỷ trọng lao động

xã hội tham gia BHXH

- Việc phát triển thị trường lao động, hình thành hệ thống thông tin thịtrường và các phiên giao dịch việc làm là yếu tố quan trọng giúp cho ngườilao động dễ dàng tìm việc làm phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghềcủa mình; đồng thời có quyền lựa chọn những đơn vị thực hiện đầy đủ quyềnlợi của người lao động và thu nhập cao Các chủ sử dụng lao động cũng thuậntiện hơn trong việc tuyển dụng lao động, tiết kiệm thời gian và chi phí

Chính sách tiền lương là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến số thu BHXH,

vì tiền lương, tiền công là căn cứ thu, nộp BHXH Theo số liệu công bố của

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tiền lương tiền công trong những nămgần đây ổn định và liên tục tăng, thể hiện qua Biểu 1.1:

Trang 26

Biểu 1.1: Tiền lương tháng bình quân theo loại hình doanh nghiệp

1.780.0 00

1.995 000

.000

1.046.0 00

1.150.0 00

1.265 000 Doanh nghiệp

(FDI)

1.88 9.000

1.774.0 00

1.935.0 00

2.110.0 00

Nguồn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2005), kết quả điều tra

về thu nhập của người lao động ở các doanh nghiệp

Từ biểu trên cho thấy, khu vực DNNQD có tiền lương bình quân thángthấp nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác Điều này dẫn đến mức tiềnlương đóng thu BHXH của người lao động cũng là thấp nhất Nguyên nhân là

do chính sách tiền lương trong khu vực DNNQD còn có những bất cập, như

là: mức lương tối thiểu áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp không đồng

đều và mức lương tối thiểu còn mang tính hình thức, chưa sát với thu nhậpcủa người lao động Dẫn đến mức lương làm căn cứ đóng BHXH cũng manghình thức (bằng mức lương tối thiểu) không tương xứng với tiền lương, tiềncông thực tế của người lao động Hệ thống thang bảng lương hiện nay quáphức tạp, thiếu ổn định, chưa phản ánh đầy đủ thu nhập của người lao động Qua phân tích ở trên có thể thấy rằng chính sách tiền lương ảnh hưởngrất lớn đến thu BHXH khu vực DNNQD

Mức đóng BHXH được do nhà nước quy định dựa trên cơ sở thu nhậpcủa người lao động, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia vàmức chi trả cho các đối tượng hưởng chính sách BHXH Mức đóng thường cơcấu thành 2 phần, phần do chủ sử dụng lao động đóng, phần do người laođộng đóng Nếu mức đóng được quy định cao thì việc thực hiện sẽ rất khókhăn, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động và làm tăng chi

Trang 27

phí sản xuất đối với các doanh nghiệp Nếu mức đóng BHXH thấp thì sẽ dẫnđến tình trạng thu không đủ chi và nhà nước phải bao cấp rất lớn Mức đóngBHXH ở các quốc gia trên thế giới được quy định rất khác nhau, khôngnhững về mức đóng mà còn cả về cơ cấu Ở Việt Nam hiện nay mức đóngBHXH được quy định là 20% trong đó người lao động đóng 5%, chủ sử dụnglao động đóng 15%, còn ở các nước khác quy định mức đóng được thể hiện ởBiểu 1.2:

Biểu 1.2: Mức đóng BHXH ở một số nước trên thế giới

Nguồn: BHXH Việt Nam (2001), Những vấn đề cơ bản về BHXH

Từ Biểu 1.2 cho thấy mức đóng BHXH của một số nước trên tương đốicao, bình quân 29,17% tổng quỹ lương Về cơ cấu, bình quân giới chủ đóng là17,3%, người lao động đóng trên 12% Như vậy, mức đóng bình quân cao hơnViệt Nam 6,17%; nhưng có sự khác biệt cơ bản là tỷ lệ đóng của người laođộng cao gấp 2 lần so với Việt Nam

1.3.2 Công tác giải quyết chế độ chính sách

Việc xác định độ tuổi nghỉ hưu được dựa trên các yếu tố sau:

- Cơ sở sinh học, trong đó có một số nội dung quan trọng như: Độ tuổi

người lao động bắt đầu suy giảm khả năng lao động Tuổi thọ trung bình củangười đã thuộc diện lao động Giới tính, do “tuổi thọ lao động” của nam giớicao hơn nữ giới nên đa số các nước quy định tuổi nghỉ hưu của nam giới caohơn nữ giới 5 năm Mặc dù phụ nữ có tuổi thọ cao hơn nhưng “tuổi thọ laođộng” lại thấp hơn

- Vấn đề cung cầu lao động xã hội: Khi nền kinh tế phát triển, các

Trang 28

ngành nghề được tạo ra nhiều và thu hút nhiều lao động, nhu cầu lao động xãhội tăng, người ta có thể tăng tuổi nghỉ hưu và ngược lại Tương tự, ở nhữngnước có nguồn lao động dồi dào, để đổi mới lực lượng lao động, người ta sẽ

hạ tuổi nghỉ hưu xuống

Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành tuổi nghỉ hưu đối với nam giới là

60, nữ giới là 55, người lao động trong các nghề độc hại, nặng nhọc nghỉ hưusớm hơn 5 năm Ngoài ra, có quy định riêng với một số trường hợp về hưutrước tuổi với những điều kiện nhất định

Việc tăng hoặc giảm tuổi nghỉ hưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đềcung cầu lao động xã hội, vấn đề sử dụng lao động xã hội Đối với quỹBHXH nói chung và số thu BHXH nói riêng sẽ bị ảnh hưởng rất lớn nếu thayđổi độ tuổi nghỉ hưu Bởi vì, nếu giảm tuổi nghỉ hưu xuống 5 năm thì hàngnăm số người được giải quyết chế độ hưu trí sẽ được nghỉ sớm 5 năm vàtương ứng sẽ giảm thời gian đóng BHXH đi 5 năm Theo số liệu báo cáo củaBan chế độ chính sách - BHXH Việt Nam, số người được giải quyết chế độhưu trí năm 2004 là 77.975 người, năm 2005 là 99.127 người Đa số các nướctrên thế giới có tuổi nghỉ hưu cao hơn tuổi nghỉ hưu của Việt Nam, đối vớinam bình quân là 62,3 tuổi, bình quân đối với nữ là 60,5 tuổi Điều đó chothấy số thu BHXH ở Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và giảm đi đáng kể (quy địnhtuổi nghỉ hưu của một số nước trên thế giới (xem Phụ lục 1)

1.3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người

Tốc độ tăng trưởng kinh tế phán ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu

tư của Nhà nước, vì thế nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chắc chắn đờisống của người lao động dần được cải thiện; việc sản xuất, kinh doanh củacác doanh nghiệp được thuận lợi, vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàngtham gia BHXH cho người lao động, từ đó làm giảm tình trạng trốn tránhtham gia BHXH Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bên vững phán ánh nhiềungười lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện

Trang 29

tiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHXH Thêm nữa, khi đời sốngkinh tế cao thì nhận thức của người lao động cũng đựoc nâng lên, ngoài việc ýthức đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ mong muốn

có khoản trợ giúp khi không may gặp các rủi ro xã hội cũng như đảm bảocuộc sống khi về già, như: Ốm dâu, TNLĐ_ BNN, hưu trí, tử tuất, thất nghiệpkhiến cho họ bí mất hoặc bị giảm thu nhập Tất cả những yếu tố trên tác độngtích cực làm tăng thu BHXH

1.3.4 Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động và người sử dụng lao động; sự quan tâm lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền.

BHXH là một cơ chế phức tạp với nhiều mối quan hệ đa dạng, trong đónổi bật là quan hệ lợi ích, tức là quyền và trách nhiệm của các bên tham giaBHXH Dù là người lao động hay là người sử dụng lao động thì tâm lý chung

là làm sao lợi ích càng nhiều càng tốt, lợi ích không giới hạn và trách nhiệm

là vấn đề đóng và hưởng BHXH Người lao động và người sử dụng lao độngluôn mong muốn chỉ phải đóng BHXH ở mức thấp nhất ( giảm chi phí cho giađình và doanh nghiệp), nhưng lại muốn được hưởng BHXH tốt nhất Vì thế,người tham gia mới tìm cách trì hoãn việc đóng BHXH hoặc giảm mức đónggóp BHXH ( khai lương thấp, giảm số lao động thuộc diện phải tham giaBHXH, chậm đóng, nợ BHXH) Vấn đề đặt ra là Nhà nước phải làm thế nào

để giảm thiểu những lạm dụng và vi phạm pháp luật về BHXH

Nhiều khi, từ chỗ nhận thức đơn giản về việc tham gia BHXH, tức làkhông tham gia, hoặc chưa tham gia hay tham gia ở mức độ nhất định vẫnkhông ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp, nên người sử dụnglao động không có kế hoạch tài chính chủ động thực hiện việc đăng kí thamgia BHXH; ngay chính bản thân người lao động cũng chưa có thói quen sống

vì bảo hiểm Chủ doanh nghiệp chỉ thấy lợi trước mắt, lợi cục bộ cho doanhnghiệp, thiếu sự quan tâm đến đời sống và quyền lợi BHXH của người lao

Trang 30

động nên tìm cách trốn tránh đăng ký tham gia BHXH cho người lao dộnghoặc đăng kí tham gia theo kiểu đối phó khi có thanh tra, kiểm tra Tình trạngchủ doanh nghiệp kí hợp đồng lao động có thời hạn 3 tháng với người laođộng và hợp đồng vụ việc, nhằm lách luật về BHXH Đây là nhận thức lỗithời, thói quen thời bao cấp không còn phù hợp trong điều kiện mới.

Để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc tham gia BHXHcủa người lao động và người sử dụng lao động, thì vai trò của cấp uỷ Đảng,chính quyền trong việc lãnh đạo chỉ đạo và thực hiện công tác thu BHXH làrất cần thiết Đó là việc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vịtrong đó có nghĩa vụ đóng BHXH thông qua tổ chức Đảng, tổ chức đăng kíthành lập, hoạt động phải có chỉ tiêu thực hiện BHXH; thành lập các đoànthanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm về đóng BHXH, về đăng kí lao động thamgia BHXH Bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của cấp uỷ Đảng vàchính quyền trong công tác BHXH ở Hà Tĩnh cần được tổng kết, phát huy; vídụ: giữa năm 2006, số lao động tham gia BHXH bắt buộc khu vực ngoài nhànước ở Hà Tĩnh mới đạt 45.2% trong tổng số lao động thuộc diện tham giaBHXH bắt buộc, trước tình hình trên tỉnh uỷ và UBND tỉnh có chỉ thị số 13

và 21 về tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng thực hiện chế độ BHXH đãlàm chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người lao động, người sử dụnglao động, tạo ra bước phát triển vững chắc trong công tác thu BHXH, số laođộng tham gia BHXH của cả tỉnh tăng nhanh, đạt gần 68% số lao động thuộcdiện đóng BHXH bắt buộc; nợ tồn đọng BHXH cũng giảm đáng kể, từ 15.1ngày ( năm 2006) xuống còn 10 ngày cuối năm 2007

1.4 Kinh nghiệm ở một số nước và địa phương trong nước về BHXH 1.4.1 Kinh nghiệm một số nước trong khu vực

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Nhật bản

Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hànhquy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1847, hiện tại nó bao gồm các chế độ:

Trang 31

Cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, y tế công và BHXH Các chế độ BHXH baogồm hai phần: A) BHXH ( bảo hiểm hưu trí, BHYT) do cơ quan BHXH quản

lý và tổ chức thực hiện B) Bảo hiểm lao động ( bảo hiểm việc làm do cơquan Bảo đảm việc làm của Chính phủ thực hiện; Bảo hiểm bồi thường tainạn cho người lao động do cơ quan Thanh tra lao động thực hiện) Hệ thống

cơ quan BHXH bao gồm cơ quan trung ương, 47 cơ quan BHXH địa phươngvới 312 văn phòng chi nhánh BHXH

- Chế độ hưu trí chia ra hai loại hình chính là: 1) Chế độ bảo hiểm hưu tríquốc gia áp dụng đối với công dân Nhật Bản tuổi từ 20 đến dưới 60 tuổi vàthực hiện tự nguyện cho người dân Nhật Bản ở trong nước từ 60 đến 65 tuổi;2) Chế độ hưu trí thực hiện cho người lao động dưới 65 tuổi làm việc tại các

tổ chức cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền đia phương, các công ty, tậpđoàn, trường học tư

- Đối tượng tham gia đóng BHXH: chia làm 3 nhóm:

+ Nhóm 1: Lao động cá thể, nông dân, người không có việc làm, sinhviên tham gia chế độ hưu trí quốc gia Mức đóng là 13300 yên/ tháng, từ4/2005 tăng mỗi năm 280 yên để đạt 16900 yên/ tháng vào năm 2017

+ Nhóm 2: lao động trong khu vực tư nhân và Nhà nước Mức đóng là13.934% từ 10/2004 tăng mỗi năm 0.345% và sẽ đạt 18.30% vào năm 2017,

số tiền đóng gớp được chia đều, chủ sử dụng lao động đóng 50%, người laođộng đóng 50%

+ Nhóm 3: người ăn theo là vợ hoặc chồng dựa vào thu nhập của ngườilao động thuộc nhóm 2, tham gia chế độ hưu trí quốc gia

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Singapore.

Quỹ phòng xa Trung ương Singapore (CPF) được thành lập từ năm 1955,

mô hình này được xây dựng theo hệ thống xác định mức đóng nhằm trở thànhphương tiện duy nhất đảm bảo chế độ hưu trí, y tế và vận hành ở cả hai nhómngười lao động có thu nhập thấp và người lao động có thu nhập cao Chính

Trang 32

phủ có nhiều giải pháp nhằm khuyến khích người lao động tham gia đóng gópvào quỹ, như quy định giảm mức tiền lương tối thiểu đã áp dụng đối với mứcđóng vào CPF từ ngày 01/01/2006, thực tế là giảm mức đóng góp đối vớingười có thu nhập cao và từ ngày 01/01/2012 các chủ sử dụng lao động sẽphải cung cấp các lựa chọn công việc hợp lý cho người lao động những người

ở độ tuổi 62 thêm 3 năm làm việc nữa để họ có thể tiếp tục làm việc đến 65tuổi, thực tế là tăng thêm thời gian đóng góp vào quỹ Đồng thời thực hiệnchính sách tăng mức đóng của chủ sử dụng lao động thêm 1.5% từ ngày01/01/2007

Biểu 1.5: Mức đóng trước và sau ngày 01/01/2007 cho các độ tuổi

Tuổi người lao động Sau ngày 01/07/2007 Trước ngày

01/07/2007

Dưới 35

35-4545-5050-5555-6060-65Trên 65

Đây là sự phân phối lại thu nhập thông qua chế độ hưởng theo xu hướng

có lợi cho những người lao động có mức lương thấp hơn Chính phủ còn chophép các công ty được tự do định đoạt mức chi phí và chỉ tiêu về chế độhưởng cho người lao động Do vậy mô hình của Singapore có thời kỳ đượcđánh giá là linh hoạt nhất và là một mô hình độc nhất vô nhị trong các nênkinh tế hiện đại

1.4.1.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trang 33

Các gia đình Trung Quốc tiêt kiệm tới 30% thu nhập của họ, trong khi tỷ

lệ này ở Mỹ, Nhật Bản chưa tới 10% Một trong những lý do chính là họ locuộc sống lúc về già “Ô” Bảo hiểm tuổi già (lương hưu), phần quan trọngnhất của hệ thống BHXH Trung Quốc, mới “che” được khoảng 1/3 số người

về hưu và 1/4 lực lượng lao động Đó là do quỹ chịu “ gánh nặng lịch sử đểlại” là lương hưu trả cho người lao động thời bao cấp không phải đóng BHXH

và hàng triệu người lao đông “về hưu non” ( có người mới 40 tuổi) ThuBHXH bằng 28% quỹ lương, trong đó chủ sử dụng lao động 20%, người laođộng 8%; mức đóng cao, nhưng vẫn không đủ chi trả lương hưu Hiện mới cógần 50% lao động thành phố tham gia BHXH bắt buộc; nhiều chủ lao động “trốn” vì họ cho rằng mức đóng quá cao và không có trách nhiệm đỡ “gánhnặng lịch sử” Một hạn chế khác là quỹ đầu tư sinh lời thấp và chậm Tiền quỹchủ yếu gửi ngân hàng nhà nước và mua công trái lấy lãi suất tiết kiệm 2-3%/năm trong khi lương thực tế đang tăng khoảng 10%/ năm Công thức đónghưởng chưa hợp lý, theo quy định đóng đủ 15 năm trước khi về hưu Quỹ dotừng địa phương quản lý, thiếu thống nhất, thiếu tập trung, thiếu chặt chẽ, hạnchế sự di chuyển lao động, kìm hãm năng lức đầu tư của quỹ, tạo nhiều sơ hởdẫn tới thất thoát, tham nhũng Vì vậy, chưa làm hấp dẫn và chưa làm chongười lao động an tâm tham gia BHXH Trung quốc thực hiện cải cách mạnglưới phúc lơị xã hội từ đầu năm 2007; Nhà nước trả lương hưu cho người vềhưu trước năm 1997, thực hiện giảm mức đóng xuống còng 20 % nhằmkhuyến khích doanh nghiệp thuê lao động và tăng số người tham gia BHXH;cho phép quỹ BHXH đầu tư vào thị trường chứng khoán và thị trường tàichính nước ngoài; tăng tuổi nghỉ hưu ( năm 2000, tuổi hưu trung bình là 51.2(quy định nam 60, nữ 55; nữ công nhân 50 tuổi), thấp hơn các nước khác 10năm, chính sách này tạm thời giảm căng thẳng về chổ làm, nhưng về lâu dàilại tăng sức ép với hệ thống BHXH và nền kinh tế Tuy nhiên nếu tăng tuổi vềhưu quá nhanh sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp Tuổi thọ trung

Trang 34

bình của nữ là 74, nam là 71 tuổi ( tuổi về hưu của nữ đang theo hướng tănglên 60 bằng nam); Trung quốc đang chuyển quản lý BHXH từ phân tán địaphương sang các tổ chức độc lập.

1.4.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước

1.4.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2006 trên địa bàn thành phố có 2.770.000 lao động làm việc trongcác lĩnh vực kinh tế- xã hội, với trên 300.000doanh nghiệp hoạt động, nhưngmới chỉ có 12.587 đơn vị đăng kí hoạt động, trong đó có 3.311 đơn vị sử dụnglao động có ký HĐLĐ và 1.662 đơn vị đang tham gia BHXH Trong tổng số112.213 lao động của các đơn vị được khảo sát mới có 73.998 lao động được

ký HĐLĐ Số lao động đã được tham gia BHXH trong số lao động được khảosát là 54.890 người

Với quyết tâm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, BHXH thành phố đãchủ động cùng sở Lao động Thương bình& Xã hội, sở Kế hoạch& đầu tư vàban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất xây dựng kế hoạch liên tịchthực hiện chính sách BHXH để trình UBND thành phố cấp “Thẻ đi lại” chocác doanh nhân trong khu vực APEC; phối hợp kiểm tra thực hiện BHXH,đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật BHXH cho người lao động và người sửdụng lao động tại đơn vị Khi các văn phòng đại diện nước ngoài ngày cànggia tăng, BHXH thành phố đã có ngay quy chế phối hợp với sở Thương mại

để tham gia quản lý từ những ngày đầu Năm 2007, thành phố có thêm 3794đơn vị ngoài quốc doanh tham gia BHXH với trên 120.000 lao động (tăng15% so với năm 2006) Tính đến tháng 12/2007, thành phố đã quản lý thu24.530 đơn vị, với 1.753.059 lao động và tổng số thu BHXH bắt buộc đạt4.892 tỷ đồng

1.4.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An

Theo báo cáo của BHXH tỉnh Nghệ An; qua khảo sát đầu năm 2007,trên địa bàn toàn tỉnh có 1720 doanh nghiệp đang sử dụng 43.175 lao động,

Trang 35

nhưng trên thực tế mới có 825 đơn vị với 21.180 lao động đóng BHXH; một

số đơn vị nợ đọng BHXH kéo dài với số tiền trên 11 tỷ đồng Để giải quyếtvấn đề này, BHXH tỉnh đã có nhiều biện pháp thực hiện có hiệu quả, đó là :hằng năm, trên Báo địa phương, Đài phát thanh& Truyền hình tỉnh đều cóchuyên trang, chuyên mục giải đáp chế dộ, chính sách BHXH, kể cả các đàitruyền hình địa phương Trên một số trục đường lớn, khu công nghiệp đều cópanô, apphích; in các tài liệu phát tay, các văn bản hướng dẫn gửi các doanhnghiệp Thực hiện ký kết công tác phối hợp với ban quản lý khu công nghiệp

An Xá, Hoà Xá về việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động Trên cơ sở đó,

cơ quan BHXH nắm bắt được chính xác số doanh nghiệp và lao động để cóbiện pháp tích cực vận động; đồng thời phối hợp với sở LĐTB&XH và LĐLĐtỉnh tổ chức các đoàn thanh tra liên ngành để chấn chỉnh kịp thời các vi phạm;những đơn vị cố tình vi phạm thì lập Biên bản xử lý hành chính hoặc kiếnnghị cấp có thẩm quyền can thiệp Đối với những doanh nghiệp nợ đọngBHXH có thể sử dụng biện pháp ngừng giao dịch, không giải quyết các quyềnlợi mà người lao động được hưởng, nhờ đó mà việc đăng kí tham gia BHXHcủa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được chẩn chỉnh và tình trạng nợđọng BHXH cơ bản được giải quyết

1.4.3 Một vài bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước trong khu vực và địa phương trong nước.

1.4.3.1 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số nước trong khu vực

* Về cơ chế thu BHXH, hệ thống BHXH được thực hiện trên nguyên tắc

có tham gia BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH Nguồn thu của hệthống BHXH được tập hợp chủ yếu từ các khoản đóng góp của người laođộng và chủ sử dụng lao động Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Chính phủ vớimức đóng góp và hình thức đóng góp khác nhau tuỳ thuộc vào quy định củapháp luật Về đối tượng tham gia BHXH là những đối tượng có công ăn việclàm, có thu nhập dưới hình thức tiền lương tiền công mà thu nhập đó vượt quá

Trang 36

mức tối thiểu quy định của mỗi quốc gia Có nước còn thành lập từng loại quỹBHXH khác nhau cho từng loại đối tượng lao động ở các khu vực kinh tếkhác nhau Mức đóng góp vào quỹ BHXH của mỗi nước rất khác nhau phụthuộc vào tiềm năng kinh tế của mỗi nước và mức đóng của người lao độngbao giờ cũng thấp hơn mức đóng của chủ sử dụng lao động, Việc phân chiatrách nhiệm đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động cũng khácnhau.

- Xây dựng chính sách BHXH phải dựa vào khả năng kinh tế và xã hội

cụ thể của mỗi quốc gia Hoạt động BHXH phải dựa trên nguyên tắc bắt buộc

để thu hút càng nhiều đối tượng tham gia BHXH càng đảm bảo an toàn choquỹ BHXH và chức năng sự nghiệp của BHXH

- Về mô hình tổ chức, có nhiều mô hình khác nhau: đa số các nước đềugiao việc quản lý nhà nước về BHXH cho một số bộ chức năng như: Bộ laođộng, Bộ tài chính còn hoạt động sự nghiệp BHXH thường do cơ quanchuyên trách thực hiện trong cả nước

1.4.3.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số địa phương trong nước

Những địa phương đạt được hiệu quả cao trong quản lý thu BHXH bắtbuộc đều có chung một điểm là biết tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giaomột cách sáng tạo, không rập khuôn máy móc, phát huy được sức mạnh tổnghợp của cả hệ thống chính trị ở cơ sở tham gia vào công tác BHXH, bài họckinh nghiệm cần được rút ra, đó là:

- Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền địaphương trong công tác BHXH Thực hiện phương châm cấp uỷ Đảng lãnhđạo, chính quyền tổ chức thực hiện, cơ quan BHXH làm tham mưu, có sựphối hợp đồng bộ của các cơ quan hữu trách, tạo thành sức mạnh tổng hợptrong công tác BHXH mà trọng tâm là khắc phục nợ tồn đọng BHXH và pháttriển đối tượng tham gia BHXH

Trang 37

- Công tác dự báo phải đi trước một bước để có những căn cứkhoa học, số liệu sát thực, nhằm xây dựng kế hoạch phát triển nguồn thu mộtcách vững chắc, đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thờithường xuyên có sự điều chỉnh để có dự báo sát với tình hình thực tiễn pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương, nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịpthời, không bỏ sót nguồn thu.

- Cơ quan BHXH phải chủ động các biện pháp công tác, đặc biệtcoi năng lực xây dựng các phương án tổ chức thực hiện, năng lực chuyên mônnghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thu, làm cho đối tượngtham gia BHXH tin tưởng, phấn khởi và yên tâm khi tham gia BHXH, biếnquá trình nhận thức từ bắt buộc sang tự giác thực hiện

- Tổ chức tốt công tác phối hợp liên ngành trong việc thanh tra,kiểm tra, xử lý vi phạm về đóng BHXH; phương châm là đề cao công tacthông tin, tuyên truyền, vận động thuyết phục là chủ yếu, nhưng không xemnhẹ xử lý vi phạm, đặc biệt chọn một số đơn vị có số nợ dây dưa điển hình,lập hồ sơ kiến nghị khởi tố ra Toà án để răn đe, giáo dục chung

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG THU BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

2.1 Công tác thu BHXH các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Tĩnh.

2.1.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh có ảnh hưởng đến công tác thu BHXH về các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở

Hà Tĩnh.

Hà Tĩnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, trải dài 17o54’ đến 18o50’ độ vĩBắc và 105 - 108 độ Kinh đông, phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An với chiều dài88km, phía Nam giáp với tỉnh Quảng Bình với chiều dài 130km, phía Đônggiáp biển đông với bờ biển dài 137km, phía Tây giáp 2 tỉnh Lào (tỉnh Bô LyKhăm Xây và Khăm Muộn) với chiều dài biên giới 145km Có 3 huyện biêngiới là huyện Hương Sơn, Vũ Quang và Hương Khê Có 01 cửa khảu Quốc tếCầu Treo - Nậm phào đường số 8 Hà Tĩnh có Cảng Xuân Hải và cảng biểnnước sâu Vũng Áng Có đường quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạy suốtchiều dài của tỉnh Hà Tĩnh, có 12 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 1thành phố (thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh) và 10 huyện Trongnhững năm qua kinh tế Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng khá Tuy nhiên Hà Tĩnhvận là một tỉnh thuần nông và vẫn còn là một trong những tỉnh nghèo của cảnước với GDP theo giá trị thực tế chỉ đạt khoảng 5.905 tỷ VNĐ (chiếm 0,72

% GDP của cả nước năm 2005) Tỷ lệ hộ đói nghèo khá cao (38,61% cao hơnhẳn vùng Bắc Trung Bộ tới 10%) GDP bình quân đầu người chỉ bằng 47% sovới cả nước Thu vẫn chưa đủ chi vì dựa rất lớn vào trợ cấp của Trung Uương.Tổng thu ngân sách năm 2008: 967 tỷ, tổng chi ngân sách năm 2008: 4.705 tỷ.Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh còn chậm so với tốc độchuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước và một số địa phương khác Tỷ trọng

Trang 39

nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn Tuy nhiên trong những năm qua tỷ trọngCông nghiệp, thương mại dịch vụ có tăng lên đáng kể, điều đó đã tạo ra nhiềuviệc làm mới cho người lao động, và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có chiềuhướng tăng nhanh, điều này có ảnh hưởng tích cực đến việc mở rộng đốitượng tham gia BHXH ở các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn củatỉnh.

2.1.1.1 Đặc điểm về dân số, việc làm, thu nhập:

Diện tích 6055,74 km2 chiếm 1,8% diện tích tự nhiên của cả nước Dân

số gần 1,3 triệu người, xấp xỷ 1,7% dân số cả nước Chủ yếu là dân tộc kinh,dân tộc Lào có 163 người, dân tộc Chứt có 269 người định cư chủ yếu ởHương Liên, Hương Khê Theo số liệu điều tra năm 2005 hiện có khoảng654.622 người trong độ tuổi lao động , trong đó có khoảng 20% đã được đàotạo - Lao động có trình độ Đại học trở lên : 9.494 người - Lao động có trình

độ Trung học chuyên nghiệp và Cao Đẳng: 35.930 người, công nhân kỹ thuật,nhân viên nghiệp vụ: 16.574 người Thợ làng nghề chiếm khoảng 5% -7% Sốhọc sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hàng năm từ 20.000 đến 25.000 đây

là nguồn bổ sung lao động quý giá cho các cơ sở dạy nghề và các trườngtrung học

Hà Tĩnh hiện có 01 trường Đại học và các trường Trung học chuyênnghiệp Hiện có 28 cơ sở dạy nghề là nguồn bổ sung lao động cho các Doanhnghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn của tỉnh

Do lực lượng lao động ở nông thôn chiếm phần lớn trong cơ cấu laođộng sản xuất hàng hoá chậm phát triển, việc làm thu nhập thấp phần nào ảnhhưởng đến việc tiếp cận và mở rộng đối tượng tham gia BHXH nói chung vàBHXH ngoài quốc doanh nói riêng

2.1.1.2 Đặc điểm về phát triển các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Tĩnh.

Trang 40

Như đã đặt vấn đề ở trên, Hà Tĩnh về cơ bản vẫn là một tỉnh thuần nông.Kinh tế chậm phát triển, lại chịu nhiều ảnh hưởng của lũ lụt, thiên tai hàngnăm Tháng 9/1991 Hà Tĩnh được tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh Với quyết tâmcao của Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh là nhanh chóng chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng Công nghiệp - nông nghiệp - thương mại và dịch vụ nênnhững năm gần đây số lượng các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địabàn đã được thành lập ngày một đông Chủ yếu là hoạt động trong các lĩnhvực sản xuất, lĩnh vực xây dựng, xây lắp, kinh doanh thương mại và dịch vụ Tính đến 30/10/2009 toàn tỉnh có 2.181 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đượcthành lập Đại đa số đều làm ăn nhỏ lẻ, thời vụ chưa có liên doanh liên kết đểtạo nên một sức mạnh cộng đồng trong Doanh nghiệp vừa và nhỏ để hỗ trợlẫn nhau trong tìm kiếm thị trường, tiêu thụ sản phẩm, tạo môi trường cạnhtranh lành mạnh để phát triển làm giàu cho gia đình và xã hội.

2.1.2 Tổ chức về nhân sự thực hiện thu BHXH và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh của BHXH Hà Tĩnh.

Từ năm 1995 trở về trước, ở Hà Tĩnh việc quản lý thu BHXH do Liênđoàn lao động quản lý và một phần do ngành Thuế, ngành Tài chính trực tiếpthu Nhìn chung tình hình quản lý thu BHXH thời kỳ này không tập trung, lạichồng chéo, quản lý thiếu chặt chẽ, việc sử dụng, quản lý nguồn thu có nhiều

sơ hở dễ phát sinh tiêu cực, thất thoát

Tháng 9/1995 BHXH tỉnh Hà Tĩnh được thành lập và đi vào hoạt động,theo đó công tác thu BHXH do cơ quan BHXH trực tiếp thực hiện và đượcquản lý tập trung thống nhất theo hệ thống dọc 3 cấp từ Trung ương đến tỉnhhuyện

Hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH tỉnh Hà Tĩnh hiện nay bao gồm 22đơn vị trực thuộc, ở văn phòng tỉnh có 10 phòng chức năng nghiệp vụ và 12

cơ quan BHXH huyện, thị xã, thành phố Việc đảm nhận chức năng thu dophòng thu BHXH quản lý và BHXH các huyện đảm nhận theo phân cấp

Ngày đăng: 07/07/2022, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Ban (2007), “Hoàn thiện chính sách BHXH, BHYT thời kỳ hội nhập và phát triển, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách BHXH, BHYT thời kỳhội nhập và phát triển, "Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Nguyễn Huy Ban
Năm: 2007
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Chiến lược phát triển BHXH Việt Nam đến năm 2010, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển BHXH ViệtNam đến năm 2010
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1999
5. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1999), Thuật ngữ Lao động Thương binh và Xã hội, tập I, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Lao độngThương binh và Xã hội
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1999
7. Nguyễn Văn Châu (19960, Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và các bịên pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu, Đề tài khoa học cấp bộ, mã số 96-01-01/ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay vàcác bịên pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu
12. Nguyễn Tấn Dũng (1998), “Sự nghiệp BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, Thông tin Bảo hiểm xã hội, (3), tr.3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp BHXH là chính sách lớn củaĐảng và Nhà nước ta, "Thông tin Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 1998
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Bộ Luật Lao động, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ LuậtLao động
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
21. Nguyễn Thanh Thuỷ (2001), “Bảo hiểm xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội”, Bảo hiểm xã hội,(5) tr.14 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội góp phần tăng trưởngkinh tế và ổn định xã hội”, "Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Nguyễn Thanh Thuỷ
Năm: 2001
22. Trần Quốc Toàn (1999), Quản lý tài chính BHXH trên địa bàn tỉnh Nghệ An, luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính BHXH trên địa bàn tỉnh NghệAn
Tác giả: Trần Quốc Toàn
Năm: 1999
24. Dương Xuân Triệu (2000), Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lýthu BHXH
Tác giả: Dương Xuân Triệu
Năm: 2000
25. Phạm Hoàng Tiến (2008), Hoàn thiện quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Lụân văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học vịên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý thu BHXH trên địa bàntỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Phạm Hoàng Tiến
Năm: 2008
26. Trần Quốc Tuý (2006), Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoà quốc doanh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanhnghiệp ngoà quốc doanh ở Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Tuý
Năm: 2006
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Quyết 1333/QĐ - BHXH, ngày 21 tháng 2 năm 2008, sửa đổi, bổ sung một số điểm tại quyết định số 902/QĐ - BHXH ngày 26 tháng 7 năm 2007 quy định về quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc Khác
4. Bảo hiểm xã hội Hà Tĩnh, Báo cáo tổng kết công tác BHXH các năm 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 Khác
6. Bộ Tài chính (1995), Thông tư số 58/TT/HCSN ngày 24 tháng 7 năm 199 hướng dẫn tạm thời phương thức thu nộp BHXH Khác
8. Chính phủ (2002), Nghị định số 100/NĐ - CP ngày 6 tháng 12 năm 2002 quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
9. Chính phủ (2003), Nghị định số 01/2003/NĐ - CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi một số điều của điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ Khác
10. Chính phủ (2006), Nghị định số 152/2006/NĐ - CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc Khác
11. Chính phủ (2007), Nghị định số 135/2007/NĐ - CP ngày 16/8/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 1.1: Tiền lương tháng bình quân theo loại hình doanhnghiệp - thu bảo hiểm ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn hà tĩnh
i ểu 1.1: Tiền lương tháng bình quân theo loại hình doanhnghiệp (Trang 26)
Sơ đồ 2.2 Mô hình bộ máy thu BHXH - thu bảo hiểm ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn hà tĩnh
Sơ đồ 2.2 Mô hình bộ máy thu BHXH (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w