1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

101 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghiệp Tỉnh Hà Nam Trong Quá Trình Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 615,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa . Vì vậy, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III(1960), Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên CNXH.Trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trong nhiệm kỳ Đại hội VII (1996 – 2000) đã đề ra chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội X (2006) tiếp tục đề ra mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Hà Nam là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía tây giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình. Kinh tế của Hà Nam chủ yếu là nông nghiệp, năng suất thấp. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nam nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII đề ra mục tiêu “Phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp với tốc độ cao, bền vững, đặc biệt tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng gấp 2,5 lần năm 2005, trong đó công nghiệp địa phương tăng gấp 3 lần…Tạo mọi điều kiện về cơ chế, chính sách để phát triển mạnh hơn tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, tạo thêm nhiều nghề mới, nhất là ngành nghề xuất khẩu, nhằm tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phần phân công lại lao động, phát triển kinh tế nông thôn”. Để thực hiện mục tiêu trên, công nghiệp tỉnh Hà Nam cần phải phát triển theo hướng nào? Với những ngành chủ lực gì? Cần có những bước đi, chính sách và giải pháp như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa? Đó là câu hỏi lớn và là vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nam. Với mong muốn góp phần vào việc tìm lời giải cho câu hỏi trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển củanền kinh tế quốc dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy,ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III(1960), Đảng ta đã xác định côngnghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên CNXH.Trước yêucầu phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện bùng nổ của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ, trong nhiệm kỳ Đại hội VII (1996 – 2000) đã đề rachủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội X (2006) tiếp tục

đề ra mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại vào năm 2020

Hà Nam là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía bắctiếp giáp với Hà Nội, phía tây giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía namgiáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh HòaBình Kinh tế của Hà Nam chủ yếu là nông nghiệp, năng suất thấp Trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nam nhất thiết phảiđẩy mạnh phát triển công nghiệp

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII đề ra mục tiêu

“Phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp với tốc độ cao, bền vững, đặc biệt tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ phát triển

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng gấp 2,5 lần năm 2005, trong đó công nghiệp địa phương tăng gấp 3 lần…Tạo mọi điều kiện về cơ chế, chính sách để phát triển mạnh hơn tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, tạo thêm nhiều nghề mới, nhất là ngành nghề xuất khẩu, nhằm tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp phần phân công lại lao động, phát triển kinh tế nông thôn”

Trang 2

Để thực hiện mục tiêu trên, công nghiệp tỉnh Hà Nam cần phải pháttriển theo hướng nào? Với những ngành chủ lực gì? Cần có những bước đi,chính sách và giải pháp như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa? Đó là câu hỏi lớn và là vấn đề bức xúc đangđặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nam.

Với mong muốn góp phần vào việc tìm lời giải cho câu hỏi trên, tôi

quyết định chọn đề tài “ Công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành

kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

Ở cấp quốc gia, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đềcông nghiệp trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như :

- Bộ Công nghiệp (1999), Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2010, Hà Nội

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp

và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010, Hà Nội.

- Kenichi Ohno và GS-TS Nguyễn Văn Thường(chủ biên) (2005) :

Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, Nxb Lý luận chính

trị, Hà Nội, 2005 Trong công trình này các tác giả đã gợi ý thiết kế một chiếnlược phát triển công nghiệp toàn diện và hiện thực ở Việt Nam; so sánh chiếnlược phát triển công nghiệp của Việt Nam với các nước trong khu vực; nêulên những kinh nghiệm của các nước ASEAN trong phát triển ngành côngnghiệp điện, điện tử, sản xuất ô tô, xe máy và một số ngành công nghiệp phụtrợ Trên cơ sở đó, công trình rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích chongành công nghiệp Việt Nam

Lựa chọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam (năm

1998) của Viện Chiến lược và phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư Công trình

Trang 3

này đã giành một phần để phân tích, đánh giá, lựa chọn và đề ra chính sáchphát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu như công nghiệp điện, điện tử,chế tạo, dệt may; công nghiệp sửa chữa tàu; những ngành công nghiệp nhiềuvốn và những ngành công nghiệp non trẻ như công nghiệp ô tô và phụ tùng,thép, lọc hóa dầu, phân bón, xi măng của Việt Nam.

Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa của GS TS Vũ Đình

Cự (Tạp chí Lý luận chính trị, 12/2005) Trong công trình này, tác giả đã nêulên những đặc điểm của CNH, HĐH trong điều kiện toàn cầu hóa; chỉ ranhững thành tựu và hạn chế của CNH, HĐH ở nước ta sau 20 năm đổi mới,trong đó có phân tích những thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp.Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp khắc phục trong thời gian tới

Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới : thành tựu và vấn đề đặt ra

của Nguyễn Sinh (Tạp chí Lý luận chính trị, số 12; 2005) Trong công trìnhnày tác giả phân tích khá chi tiết những thành tựu đạt được của công nghiệptrong gần 20 năm đổi mới và chỉ rõ 6 vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thờigian tới cho ngành công nghiệp Việt Nam

Khả năng cạnh tranh của một số hàng công nghiệp Việt Nam : thực trạng và những vấn đề rút ra của PGS.TS Nguyễn Huy Oánh (Tạp chí Lý

luận chính trị, số 2; 2002) Trong công trình này, tác giả đã đánh giá thựctrạng sức cạnh tranh của một số ngành công nghiệp chủ yếu của Việt Nam.Theo tác giả thì các ngành công nghiệp của Việt Nam như xi măng, thép, hóachất, cơ khí, đường, dệt có sức cạnh tranh yếu Riêng da giày và ngành may

có sức cạnh tranh trung bình Từ kết quả nghiên cứu đó, tác giả đề xuất nhiềuvấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệpViệt Nam Đó là : đầu tư cho khoa học – công nghệ; nâng cao trình độ tổ chứcquản lý sản xuất; đổi mới nhận thức về phát huy mọi thành phần kinh tế để

Trang 4

phát triển công nghiệp; đào tạo, sử dụng đúng đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật; hạn chế chính sách bảo hộ của Nhà nước; xử lý tốt tỷ giá đồng tiền ViệtNam với các ngoại tệ mạnh và thực hiện tốt vai trò quản lý của Nhà nước đốivới ngành công nghiệp.

Công nghiệp Việt Nam những năm đổi mới của Nguyễn Hoàng Minh

(Tạp chí Con số và Sự kiện, số 9; 2004) Trong công trình này, trước hết tácgiả đã phác thảo đôi nét về công nghiệp nước ta trong cơ chế cũ Tiếp theocông trình đi sâu phân tích những thành tựu của công nghiệp Việt Nam nhữngnăm đổi mới trong từng thời kỳ kế hoạch từ 1990 đến 2005 Cuối cùng lànhững nhận xét của tác giả về nguyên nhân đạt được những thành tựu đó

Phát triển công nghiệp Việt Nam : thực trạng và thách thức của Quốc

Trung và Linh Chi (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 249, tháng 11/2002) Côngtrình phân tích thực trạng sản xuất công nghiệp Việt Nam từ 1996 đến 2002dưới những khía cạnh như : tốc độ tăng trưởng; tỷ trọng công nghiệp trongGDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp; trình độ công nghệ, trangthiết bị và lao động công nghiệp Các tác giả công trình này đã nêu lên một sốchính sách tác động đến phát triển công nghiệp trong thời gian qua Cuối cùng

là những tồn tại và thách thức mà ngành công nghiệp Việt Nam phải khắcphục, đó là : hiệu quả sản xuất công nghiệp giảm, trình độ công nghệ, trangthiết bị lạc hậu, chất lượng và năng suất lao động công nghiệp thấp, chi phídịch vụ hạ tầng cao, hợp tác sản xuất kinh doanh kém hiệu quả và những hạnchế trong cơ chế chính sách hiện hành

Sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm đầu thế ky của TS Đỗ Đăng Hiếu (Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 1, 2002) Tác giả

đã đánh giá một số nét tổng quát về tình hình phát triển của ngành côngnghiệp Việt Nam trong năm 2001 – 2002 Từ đó tác giả nêu phương hướng vàcác giải pháp phát triển ngành công nghiệp trong thời gian tới

Trang 5

Ở các tỉnh, thành phố đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu vềthực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn như : Thành phố

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng ,các tỉnh Đồng Nai, Bến Tre, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, NamĐịnh, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Tĩnh … và các quy hoạch phát triển côngnghiệp, các ngành công nghiệp chủ lực trên địa bàn từng tỉnh, thành phố

Ở Hà Nam, tính đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình, đề tàinào nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của công nghiệp đối với sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh, định hướng và giảipháp phát triển công nghiệp Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa Năm 2003, BCH Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Nghị

quyết số 08 –NQ/TU “Về đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu, thủ công

nghiệp” Hiện tại, Ủy ban nhân dân tỉnh đang chỉ đạo hoàn thiện quy hoạch

phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn.

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn; đánh giá thựctrạng; đề xuất định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh

Hà Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về công nghiệp và vai trò củacông nghiệp đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Phân tích thực trạng công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn

2000 – 2010, đánh giá vai trò của công nghiệp Hà Nam đối với sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh

Trang 6

- Đề xuất một số định hướng, giải pháp cơ bản phát triển công nghiệptrên địa bàn tỉnh Hà Nam đến năm 2020.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu : Vai trò của công nghiệp Hà Nam trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh và các nhân tố tácđộng, xu hướng phát triển công nghiệp Hà Nam trong quá trình đẩy mạnhcông nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước đến năm 2020

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của

công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa giaiđoạn 2000-2010, xu hướng và giải pháp phát triển công nghiệp Hà Nam trong

quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

5.1 Cơ sở lý luận : Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận

của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương,nghị quyết của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước; các quan điểm,chính sách, biện pháp của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Nam Luận văn kế thừamột cách có chọn lọc các công trình khoa học, các đề tài của các cơ quan, cácnhà khoa học trong và ngoài tỉnh có liên quan tới nội dung của luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp truyền thống

mang tính phương pháp luận, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích,

so sánh tổng hợp, thống kê…

6 Đóng góp của luận văn.

- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của công nghiệpđối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế

- Luận văn tập trung phân tích đánh giá vai trò của công nghiệp HàNam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong những

Trang 7

năm qua, từ đó dự báo xu hướng, xác định các giải pháp thúc đẩy sự phát triển công nghiệp Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020

7 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 09 tiết

Trang 8

1.1.1.Khái niệm và đặc điểm.

1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp và những đặc trưng của nó.

Nhân loại đã trải qua lịch sử phát triển rất lâu dài, từ nền văn minh nôngnghiệp đến nền văn minh công nghiệp và nền kinh tế tri thức Mỗi nền vănminh đều dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định

Trong nền văn minh công nghiệp, công nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu.Đây là ngành kinh tế dựa trên việc sử dụng tư liệu sản xuất chủ yếu là máy móc,với phân công, chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất sâu rộng Ngành côngnghiệp có lịch sử phát triển rất lâu dài, từ trình độ thủ công lên trình độ cơ khí, tựđộng; từ chỗ gắn liền với nông nghiệp trong khuôn khổ của một nền sản xuấtnhỏ tự cung tự cấp rồi tách ra khỏi nông nghiệp bởi một cuộc phân công laođộng lớn thứ hai để trở thành một ngành sản xuất độc lập và phát triển cao hơnqua các giai đoạn hiệp tác giản đơn, công trường thủ công, công xưởng

Trong nền kinh tế quốc dân hiện đại, công nghiệp là một ngành sản xuấtvật chất độc lập, có vai trò chủ đạo trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên,chế biến tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm của ngành nông nghiệp thànhnhững tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

Từ những điều trình bày trên đây có thể thấy rằng, công nghiệp cónhững đặc trưng chủ yếu sau:

- Về mặt kinh tế - xã hội, công nghiệp là ngành tương đối độc lậptrong khâu khai thác, chế biến, sửa chữa và có mối quan hệ liên ngành với

Trang 9

nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệp tạo lập cơ sởvật chất, mở đường cho sự tiến bộ trong quan hệ sản xuất, tổ chức phâncông lao động ngày càng chặt chẽ; trình độ khoa học - kỹ thuật và côngnghệ, trình độ tổ chức quản lý ngày càng cao Sự phát triển công nghiệplàm thay đổi tư duy, thay đổi nếp sống của xã hội

- Về mặt kinh tế - kỹ thuật, sản xuất công nghiệp khác với sản xuấtnông nghiệp: sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện

tự nhiên, sản xuất công nghiệp là quá trình tác động cơ - lý - hoá trực tiếpcủa con người vào giới tự nhiên để lấy ra và biến đổi các vật chất tự nhiênthành sản phẩm theo nhu cầu của con người

- Công nghiệp tạo ra năng suất lao động xã hội cao, của cải dồi dào

Đó là cơ sở, nền tảng vật chất cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, phát triển các mặt kháccủa đời sống kinh tế-xã hội

Với những đặc trưng trên đây, công nghiệp đã trở thành ngành kinh

tế quan trọng nhất, trực tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi căn bản toàndiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội

từ việc sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biếnsức lao động cùng với khoa học - công nghệ tiên tiến, tạo ra năng suất laođộng và hiệu quả kinh tế - xã hội cao, là nền tảng của nền văn minh côngnghiệp, là động lực chủ yếu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nền kinh tế quốc dân

1.1.1.2 Đặc điểm của công nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của lực lượng sản xuất, củakhoa học - công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế đã đem lại thay đổi to lớncho nhiều ngành kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp

Trang 10

Dưới tác động ấy, trong giai đoạn hiện nay ngành công nghiệp cónhững đặc điểm chủ yếu sau đây :

Một là, công nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn

cầu hóa nền kinh tế

Toàn cầu hóa, mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, là bước phát triểncao của quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, là giai đoạn chuyển biến

về chất của quá trình quốc tế hóa Toàn cầu hóa tác động và ảnh hưởng tớiphát triển xã hội trên các cấp độ : quốc gia – dân tộc, khu vực và thế giới;tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, đời sống xã hội và

cả trong môi trường sinh thái, tự nhiên Nội hàm của toàn cầu hóa, trướchết là toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện trên các mặt sau :

Thứ nhất, các dòng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân

lực ngày càng vượt qua biên giới các quốc gia, lưu thông trên phạm vitoàn cầu ngày càng tự do hơn

Thứ hai, sự liên kết chặt chẽ kinh tế của các nước trên thế giới thành

các kênh phân phối lưu thông các nguồn lực kinh tế toàn cầu, cầu nối nàyngày càng ảnh hưởng và kết hợp chặt chẽ với nhau, chứ không phải sự pháttriển cô lập mà các bên không hề có liên quan

Thứ ba, toàn cầu hóa là sự gia tăng liên kết toàn cầu làm rút ngắn

khoảng cách giữa các quốc gia tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càngchắt chẽ trước hết về sản xuất và thị trường nhờ tính năng động của thươngmại, sự lưu thông vốn và công nghệ…

Thứ tư, nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hòa

nhập với nhau Sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới và sựvận động của toàn bộ nền kinh tế thế giới ngày càng ảnh hưởng và chế ướclẫn nhau

Trang 11

Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế nổi bật trong giai đoạn hiệnnay Các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, trong đó có ngành côngnghiệp chịu tác động trực tiếp của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quátrình này tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, ở những cấp độ khácnhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá và tốc độngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Trướcđây, các yếu tố bên ngoài đóng vai trò ít quan trọng đối với sự phát triểncủa ngành công nghiệp, nền kinh tế có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh vàkhép kín Ngày nay, xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở nênmạnh mẽ Các nước dù muốn hay không cũng bị thu hút vào các quan hệkinh tế quốc tế Các mối quan hệ kinh tế quốc tế này có ảnh hưởng quantrọng đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế của các quốc gia, chúng làmthay đổi cơ cấu của các lực lượng tham gia vào ngành công nghiệp.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh diễn ra đặc biệtgay gắt Đây là thách thức lớn nhất đối với phát triển công nghiệp ở cácnước đang phát triển hiện nay

Hai là, công nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của cuộc cách mạng

khoa học công nghệ Cuộc cách mạng này đặc trưng bởi những phát minhkhoa học đều trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sảnxuất mới, làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần

về mặt công cụ sản xuất Cuộc cách mạng này có tác dụng làm đảo ngượctrình tự phát triển của một số lĩnh vực và ngành kinh tế Công nghiệp cũngkhông nằm ngoài vòng quay đó Chẳng hạn, trước đây công nghiệp hoádiễn ra ở các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ phát triển nhấttheo trình tự: phát triển khoa học cơ bản - khoa học ứng dụng - phổ cậpcông nghệ trên diện rộng Ngày nay, các nước đi sau có thể đi theo trình tựngược lại: ứng dụng công nghệ tiên tiến thông qua nhập khẩu - phát triển

Trang 12

khoa học ứng dụng - và chỉ khi trình độ phát triển kinh tế xã hội cao thìkhoa học cơ bản mới có đủ tiền đề để phát triển mạnh Trình tự phát triển

ưu tiên các lĩnh vực trong tổng thể nền kinh tế cũng đã có những thay đổimang tính tất yếu Trước đây, công nghiệp hoá xuất hiện sau khi nôngnghiệp có sự phát triển vượt bậc, mang tính cách mạng Khu vực nôngnghiệp cung cấp nguồn nguyên liệu và lao động giải phóng ra từ nôngnghiệp và bảo đảm cho công nghiệp nguồn tích luỹ nguyên thuỷ Ngày naycông nghiệp phát triển khác, ví dụ như phụ thuộc ít hơn vào nguồn nguyênliệu từ nông nghiệp và nó đã đòi hỏi vốn đầu tư lớn đến mức dù nôngnghiệp có khi phát triển ở trình độ khá cũng không đáp ứng được Cáchmạng trong nông nghiệp ở một số nước NICs đã từng được thúc đẩy vớimục tiêu ổn định kinh tế xã hội nông thôn, công nghiệp ngược lại có vai tròtác động trở lại rất quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp

và nông thôn Trước đây, trong mô hình công nghiệp hoá khép kín ở quy

mô quốc gia, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng là cần thiết và hợp lý.Hiện nay, trên quy mô thế giới, sản phẩm của ngành công nghiệp nặng có

vị trí quan trọng song những sản phẩm đó không thể chỉ do một nước sảnxuất, nhất là những nước chậm phát triển Đối với một nước, việc lựa chọn

ưu tiên sản xuất sẽ phải căn cứ vào hiệu quả của việc phát huy lợi thế sosánh

Phát triển công nghiệp trong điều kiện khoa học - công nghệ pháttriển nhanh có nhiều thuận lợi nhưng nguy cơ tụt hậu cũng là thách thức tolớn đối với các nước đang phát triển

Ba là, do những đặc điểm của công nghiệp như đã nêu trên, nhà nước

có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp Vaitrò của nhà nước không chỉ với chức năng quy định luật lệ, làm trọng tài,khuyến khích bằng những công cụ hành chính và kinh tế, bảo hộ sản xuất

Trang 13

và thương mại quốc gia mà nhà nước còn chức năng định hướng phát triểncông nghiệp; đầu tư hình thành những cơ sở ban đầu, chia sẻ rủi ro trongnhững lĩnh vực công nghiệp mới…

1.1.1.3 Nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Vào cuối thế kỷ XVIII diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anhvới sự xuất hiện “chiếc thoi bay” trong lĩnh vực se sợi, mở đầu một giai đoạnmới trong lịch sử phát triển sản xuất của nhân loại kể từ đây xuất hiện kháiniệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được hiểu là quá trình thay thế lao độngthủ công bằng lao động sử dụng máy móc, chuyển cơ cấu của nền kinh tếquốc dân từ nền nông nghiệp là chủ yếu lên công nghiệp, biến một nước nôngnghiệp truyền thống trở thành nước công nghiệp hiện đại

Trong lịch sử đã diễn ra các loại hình CNH khác nhau : CNH tư bản chủ nghĩa và CNH xã hội chủ nghĩa Xét về mặt LLSX, khoa học và công nghệ,

thì giống nhau; song giữa chúng có sự khác nhau về mục đích, phương thứctiến hành và sự chi phối bởi QHSX thống trị

Nhận thức về khái niệm CNH có tính lịch sử Nó luôn có sự thay đổi cùngvới sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học và công nghệ Do đó,việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển lịch sử

cụ thể là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn Nó không chỉ giúp chúng ta nhậndiện rõ con đường phải đi mà còn giúp hoạch định chính xác mô hình CNH,HĐH theo định hướng XHCN cùng những nguồn lực và biện pháp để thực thi

mô hình đó Cùng với tiến trình CNH của các quốc gia dân tộc từ trước đếnnay đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù CNH, HĐH Theothống kê của UNIDO có tới 128 định nghĩa khác nhau; ở Việt Nam cũng cónhiều cuộc hội thảo và một số công trình khoa học để bàn đến khái niệm này,song tựu chung có một số quan điểm chính sau đây :

Trang 14

- Trên cơ sở tổng kết mô hình CNH cổ điển, Từ điển Bách Khoa toàn thưPháp viết “CNH là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (chomột vùng, một nước) các loại nhà máy, các loại công nghiệp” Khiếm khuyếtlớn nhất của định nghĩa này là không nói gì đến tính lịch sử cụ thể của CNH

và đồng nhất CNH với phát triển công nghiệp, không làm rõ được mục tiêu vàđiểm dừng của CNH

- Để dung hòa các quan điểm khác nhau, năm 1963 UNIDO đưa ra địnhnghĩa : “CNH là quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận ngày càngtăng của đất nước được huy động để phát triển một cơ cấu kinh tế đa ngànhvới công nghệ hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phậnchế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khảnăng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo tới

sự tiến bộ về kinh tế, tiến bộ xã hội” [ ] Định nghĩa này đã khẳng định đượcnội dung của CNH là xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành, áp dụng công nghệhiện đại Song vẫn chưa nêu lên được tính lịch sử cụ thể của quá trình CNHđối với từng quốc gia, dân tộc có điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa khácnhau Hay nói một cách khác đó là quan điểm dễ được chấp nhận, song khóvận dụng

- Các nước XHCN trước đây đều sử dụng khái niệm CNH trong giáo trìnhkinh tế chính trị của Liên Xô : “Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nềnđại công nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm làchế tạo máy” Quan điểm này xuất phát từ thực tiễn Liên Xô khi bắt tay vàoCNH trong điều kiện đất nước bị chiến tranh tàn phá, bị đế quốc bao vây, thịtrường trong nước là nền tảng cho sự phát triển kinh tế (một nền kinh tế khépkín) Trong bối cảnh quốc tế phức tạp buộc Liên Xô phải dốc toàn lực để đẩynhanh CNH, tập trung phát triển công nghiệp nặng… Đường lối đó của Liên

Xô trong những năm 30 đã đạt được nhiều thành tựu, được coi là kỳ tích của

Trang 15

CNXH và là sự đảm bảo về vật chất cho chiến thắng của Hồng quân chốngchủ nghĩa phát xít Song thực tiễn cũng chỉ ra rằng sẽ là sai lầm nếu đem ápdụng đường lối đó cho tất cả các quốc gia chậm phát triển mà điều kiện lịchsử, địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa… với tính muôn vẻ của nó không giốngnhư Liên Xô trước đây.

- Ở Việt Nam trước hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII có quan điểm chorằng trong bối cảnh mới của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh, vị trí củaViệt Nam trong sự hợp tác kinh tế toàn cầu và khu vực cho phép chúng ta đingay vào HĐH và do vậy không nên đào bới lại khái niệm CNH Phải thấyrằng đây là quan điểm nôn nóng, muốn đốt cháy giai đoạn, phủ nhận quy luậtphát triển tuần tự của lực lượng sản xuất Cũng có quan điểm viện dẫn CNHhiện nay ở nước ta đã bao hàm HĐH, cho nên không cần thêm HĐH vào sauCNH Thực ra quan niệm này còn mang tính phiến diện ở chỗ nhiều lĩnh vực

mà HĐH bao quát hoàn toàn không mang bản tính công nghiệp như côngnghệ trí tuệ, công nghệ sinh học…

Trong các hội thảo chuẩn bị văn kiện cho Hội nghị giữa nhiệm kỳ (KhóaVII), Hội nghị TW 7 (Khóa VII) và Đại hội Đại biểu lần thứ VIII của Đảng đãnhận định : ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ, sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế, chúng ta không thểCNH đất nước theo kiểu cũ, làm xong CNH mới đi vào HĐH Mặc dù CNH

và HĐH là hai quá trình, hai khái niệm khác nhau, song trong điều kiện này,

sự xâm nhập, đan kết của CNH và HĐH là không thể tránh khỏi và đó cũng là

cơ may để Việt Nam bứt lên kịp các nước tiên tiến trên thế giới, xây dựngthành công CNXH Tiến hành đồng thời CNH và HĐH cũng là thực hiện tínhquy luật của sự phát triển tuần tự và nhảy vọt của LLSX (khi đã có những tiền

đề cần thiết cho sự nhảy vọt đó) Do vậy, cần phải gắn kết CNH và HĐHtrong một khái niệm chung “ CNH, HĐH đất nước” mà không chia tách nó ra

Trang 16

làm hai quá trình và hai khái niệm riêng biệt, cũng không nên hiện đại hóakhái niệm CNH hay coi CNH đã có HĐH rồi.

Với cách tiếp cận hệ thống và lịch sử, trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, Đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định : “ CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

Khái niệm CNH, HĐH trên được Đảng ta xác định rộng hơn các quanniệm trước đó Cụ thể là :

- Phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH, phát triển công nghiệpphải đi cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

- Tiến trình thực hiện bao hàm cả tuần tự trải qua các bước cơ giới hóa, tựđộng hóa, tin học hóa, cả những bước phát triển nhảy vọt kết hợp thủ côngtruyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ởnhững khâu có thể và mang tính quyết định

Công nghiệp hóa theo quan niệm của Đảng ta không bó hẹp trong phạm

vi trình độ các LLSX đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủcông thành lao động cơ khí như cách hiểu trước đây, mà là một sự kết hợpvới những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ : CNH phải gắnvới HĐH

Có thể thấy quan điểm của Đảng ta về CNH, HĐH đã phản ánh được quy

mô rộng lớn của quá trình CNH, HĐH, nó không chỉ dừng lại ở lĩnh vực côngnghiệp mà là chuyển đổi căn bản toàn diện các mặt của đời sống xã hội, chỉ rađược sự gắn kết tất yếu của CNH và HĐH, đó vừa là cơ may, vừa là phươngtiện để chống lại sự tụt hậu, rút ngắn thời gian xây dựng cơ sở vật chất kỹ

Trang 17

thuật cho CNXH Khái niệm trên cũng xác định vai trò của đổi mới kỹ thuật –công nghệ là nội dung trọng tâm của quá trình CNH, HĐH, khái niệm đókhông chỉ là sự kế thừa mà còn là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm củachủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trongđiều kiện lịch sử mới

1.1.2 Phân loại công nghiệp.

- Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: người ta có thể chia công

nghiệp thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất

tư liệu sản xuất (theo đó có thời kỳ quan niệm có 2 nhóm ngành tương ứng làcông nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ) Đối với các nước đang phát triển, việcphân chia này rất có ý nghĩa trong việc tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sảnxuất so với tư liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệtđối với các nền kinh tế theo đuổi chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay sảnxuất hàng xuất khẩu

- Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động : người ta chia công

nghiệp thành công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác Việc phân loạinày có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiệnnguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khaithác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sựphát triển bền vững

- Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật – công nghệ sản xuất : người ta chia

công nghiệp thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật – công nghệ, hoặccùng phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tựnhau Cách phân chia này có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành côngnghiệp dựa trên cân đối liên ngành

- Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất : người ta

chia công nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc

Trang 18

doanh, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc phân chia này có ýnghĩa cho việc xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tếphù hợp với chiến lược chung của mỗi quốc gia.

- Dựa vào qui mô doanh nghiệp : người ta chia công nghiệp thành công

nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ Việc phân chia này là cơ sởcho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ,phát triển công nghiệp vừa và nhỏ

1.1.3 Vai trò của công nghiệp đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH công nghiệp

là ngành có vai trò quan trọng đóng góp vào việc tạo ra thu nhập cho đấtnước, tích lũy vốn cho phát triển, mở rộng thị trường, tạo nguồn thu từ xuấtkhẩu cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài Công nghiệp được đánh giá làngành chủ đạo của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, vai trònày được thể hiện :

Công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh

tế : Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về công nghệ

sản xuất, về công dụng của sản phẩm, công nghiệp là ngành tạo ra sản phẩmlàm chức năng tư liệu sản xuất, cho nên nó là ngành có vai trò quyết địnhtrong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Trình độ phát triểncông nghiệp càng cao thì tư liệu sản xuất càng hiện đại, tạo điều kiện nângcao năng suất lao động xã hội

Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thếgiới đến trình độ sản xuất rất cao, đó là việc tạo ra các tư liệu sản xuất có khảnăng thay thế phần lớn sức lao động của con người Đó chính là sự ra đời vàphát triển mạnh mẽ các tư liệu sản xuất có khả năng tự động hóa trong một sốkhâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất Máy móc tự động hóa thể hiện sự phát

Trang 19

triển cao của công nghiệp trong việc tạo ra tư liệu sản xuất phục vụ cho cácngàng sản xuất và cho bản thân công nghiệp.

Công nghiệp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp : trong giai đoạn

đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp đượccoi là nhiệm vụ cơ bản nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho đờisống nhân dân và nông sản cho xuất khẩu Để thực hiện nhiệm vụ này nôngnghiệp không thể tự thân vận động nếu không có sự hỗ trợ của công nghiệp.công nghiệp chính là ngành cung cấp cho sản xuất nông nghiệp những yếu tốđầu vào quan trọng như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, máy móc cơ khí nhỏđến cơ giới lớn Công nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng

cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Ngày nay việc ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp đã tạo rabước phát triển đột biến trong nông nghiệp : Với những giống cây trồng, vậtnuôi có những đặc tính ưu việt về thời gian sinh trưởng, phát triển và khảnăng chống sâu bệnh, về sự đa dạng hóa của sản phẩm và đặc biệt về năngsuất, chất lượng đã góp phần tạo ra sản phẩm phong phú, đa dạng và có giá trịcao

Công nghiệp chế biến đã có những đóng góp quan trọng vào việc tănggiá trị sản phẩm, tăng khả năng tích trữ vận chuyển của sản phẩm nôngnghiệp và làm cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại

Do sản phẩm của nông nghiệp mang tính thời vụ cao và khó bảo quản, nếu

không có công nghiệp chế biến sẽ hạn chế lớn đến khả năng tiêu thụ

Công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng cho đời sống nhân dân, thúc đẩy dịch vụ phát triển : Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng tất yếu,

đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của con người Còn công nghiệp cungcấp những sản phẩm tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng hơn Mọi sản

Trang 20

phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt của con người từ ăn, mặc, đi lại, vui chơi, giảitrí đều được đáp ứng từ sản phẩm công nghiệp Kinh tế càng phát triển, thunhập của dân cư càng tăng thì nhu cầu của con người ngày càng mở rộng.Chính sự phát triển của nhu cầu đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển.Song ngược lại sự phát triển của công nghiệp không những đáp ứng nhu cầucủa con người mà nó lại hướng dẫn tiêu dùng của con người hướng đến nhucầu mới cao hơn Như vậy, công nghiệp càng phát triển thì các sản phẩm hànghóa ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, càng nâng cao vềchất lượng.

Cũng với cách phân tích như trên, có thể thấy sự phát triển của côngnghiệp sẽ thúc đẩy dịch vụ phát triển vì thu nhập, nhu cầu tiêu dùng của ngườidân ngày càng cao, các sản phẩm công nghiệp ngày càng dồi dào thì càng đòihỏi ngành dịch vụ ngày càng phát triển để có thể đáp ứng các nhu cầu củanhân dân

Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội : Công nghiệp tác động vào sản xuất nông nghiệp làm nâng cao

năng suất lao động nông nghiệp, tạo khả năng giải phóng sức lao động trongnông nghiệp Đồng thời sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã làm chosản xuất công nghiệp ngày càng mở rộng, tạo ra các ngành sản xuất mới, cácKCN mới, đến lượt mình, công nghiệp đã thu hút lao động nông nghiệp vàgiải quyết việc làm cho xã hội Việc thu hút số lượng lao động ngày càng tăng

từ nông nghiệp vào công nghiệp không chỉ góp phần giải quyết việc làm, màcòn tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, tăng thu nhập cho người laođộng, từ đó góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao độngtheo hướng CNH, HĐH

Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất theo hướng CNH, HĐH : Do đặc điểm của sản xuất, công nghiệp luôn có một

Trang 21

đội ngũ lao động có tính tổ chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động “côngnghiệp” do đó đội ngũ lao động trong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiếntrong cộng đồng dân cư Cũng do đặc điểm về sản xuất, lao động trong côngnghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn hóa cao tạo điều kiện nâng caotrình độ chuyên môn của người lao động và chất lượng của sản phẩm Tronghoạt động sản xuất công nghiệp, còn có điều kiện tăng nhanh trình độ côngnghệ của sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học ngày càng cao vào sảnxuất Tất cả những đặc điểm trên đây làm cho LLSX ngày càng phát triển vàtheo đó QHSX ngày càng phát triển hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện về các môhình tổ chức sản xuất làm cho sản xuất công nghiệp trở thành hình mẫu về kỹthuật sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến, người lao động có ýthức tổ chức và kỷ luật

Công nghiệp đảm bảo tăng cường tiềm lực an ninh quốc phòng: Với đặc

điểm kỹ thuật của mình, công nghiệp trực tiếp sản xuất ra vũ khí, khí tài,phương tiện phục vụ công tác đảm bảo an ninh quốc phòng Công nghiệp với

tư cách là bộ phận quan trọng của nền kinh tế sẽ tạo ra tăng trưởng và pháttriển kinh tế, giúp mỗi quốc gia có thêm nguồn lực để tăng cường tiềm lựcquốc phòng Công nghiệp cũng góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóalĩnh vực an ninh quốc phòng, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xãhội của đất nước

Với những vai trò quan trọng nêu trên, có thể khẳng định, công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, là ngành chủ đạo, là động lực quyết định thành công của sự nghiệp CNH, HĐH.

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.2.1 Nguồn lực

Trang 22

- Lao động Một mặt, lao động là một bộ phận của nguồn lực phát

triển, là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất, mặtkhác lao động là một bộ phận của dân số, những người được hưởng lợi íchcủa sự phát triển Nguồn nhân lực chính là một trong số những nhân tốquyết định việc thực hiện thành công chiến lược phát triển công nghiệp,phát triển những ngành công nghiệp trọng điểm Điều đó có nghĩa là sựphát triển của ngành công nghiệp không chỉ phụ thuộc vào vốn, kỹ thuật,tài nguyên mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực của con người sử dụngnhững phương tiện đó

- Tài nguyên Đây là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất công

nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp sử dụng rất nhiều tài nguyên thiênnhiên ở đầu vào Nước là đầu vào thiết yếu của nhiều quy trình sản xuấtcông nghiệp Công nghiệp sản xuất thực phẩm phụ thuộc vào cơ sở tàinguyên thiên nhiên, hoặc là thu hoạch trực tiếp như đánh bắt cá, hoặc làcung cấp những đầu vào thiết yếu để cho thực vật và động vật tăng trưởng.Không khí cũng là đầu vào thiết yếu của hầu hết các quy trình sản xuất.Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển công nghiệp khai thác,công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinhsành sứ

- Vốn Vốn đầu tư là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất Nếu

lao động và tài nguyên chỉ được coi là yếu tố đầu vào thì vốn sản xuất vừađược coi là yếu tố đầu vào vừa được coi là sản phẩm đầu ra của quá trìnhsản xuất Những thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đến tổng cầu, do

đó tác động lớn đến sản lượng Khi đầu tư tăng có nghĩa là nhu cầu về chitiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng tăng lên Đầu tư tăng sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm cácnhà máy, thiết bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm

Trang 23

tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế Việc tăng vốn đầu tư cũng gópphần vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động khi mở racác công trình, các nhà máy và mở rộng quy mô sản xuất.

- Khoa học - công nghệ Khoa học - công nghệ là một trong các yếu

tố quan trọng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm vàtăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành công nghiệp Đốivới các ngành công nghiệp trọng điểm, yếu tố công nghệ lại càng trở nênquan trọng hơn, giữ vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng, phát triểncủa ngành Có thể nói cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm thayđổi sâu sắc phương thức lao động của con người, nó có vai trò quyết địnhlợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của các quốc gia Trong quá trìnhCNH việc thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài sẽ giúp cho một sốngành kinh tế quan trọng như thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp ximăng, sắt thép, lắp ráp ôtô xe máy phát triển mạnh mẽ

1.2.2 Cơ chế kinh tế

Trong cơ chế thị trường, các hoạt động kinh tế đều chịu sự chi phốicủa các quy luật thị trường Vận dụng mặt tích cực của các quy luật này sẽlàm cho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, trước hết là việc phân bổ nguồnlực được thực hiện một cách tối ưu Bởi vậy, cơ chế thị trường vận hành có

sự quản lý của nhà nước được coi là điều kiện cần thiết cho cho sự pháttriển của nền kinh tế nói chung, cho sự phát triển công nghiệp nói riêng.Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, cơ chế thị trường còn những khuyếttật khiến cho hoạt động kinh tế, sự triển của công nghiệp có khi không hiệuquả Vì vậy, việc vận hành cơ chế kinh tế đúng đắn là hết sức quan trọng

Khi các công ty của một ngành công nghiệp tạo ra được tri thức như

bí quyết, công nghệ mới thông qua dự án nghiên cứu và triển khai thì cáccông ty này không thể chiếm được toàn bộ lợi ích từ dự án nghiên cứu và

Trang 24

triển khai vì một phần lợi ích sẽ do các công ty khác hưởng do việc saochép ý tưởng và kỹ thuật Điều này dẫn tới việc các công ty thường ít cóđộng cơ để thực hiện dự án nghiên cứu và triển khai và mức đầu tư vào dự

án này sẽ thấp hơn mức hiệu quả, đó là ngoại ứng tích cực Trên thực tế,ngành công nghiệp đó đã tạo ra một khối lượng đầu ra bổ sung nào đó, làmtăng lợi ích xã hội

Việc thông tin không đối xứng là một thất bại của thị trường khi cácbên tham gia thị trường luôn không có đủ thông tin hoặc có một bên cónhiều thông tin hơn bên kia làm các doanh nghiệp có thể có những quyếtđịnh sai Điều này xảy ra do việc thu thập các thông tin không chính xáchoặc việc xác định giá cả cho thông tin thường rất khó khăn Khó khăntrong việc thu thập thông tin môi trường và thông tin thị trường sẽ khiếncho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp công nghiệp nói riêng bịhạn chế trong việc thâm nhập và tiếp cận thị trường

Ở hầu hết các quốc gia, một ngành công nghiệp thường có tính chấtđộc quyền đa phương, thể hiện ở phương diện là khi các công ty muốn gianhập ngành đều phải đầu tư một lượng vốn lớn và các thiết bị phụ trợ màsau đó không thể chuyển sang dùng vào việc khác được Điều này đã làmhạn chế sự gia nhập ngành của các công ty trong nước và khi đó tại một sốngành công nghiệp chỉ có một số công ty cạnh tranh có hiệu quả Do đó, thịtrường là cạnh tranh không hoàn hảo và xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch.Các công ty có thể kiếm được những khoản lợi nhuận cao hơn so với nhữngkhoản lợi nhuận có được từ việc đầu tư vào những lĩnh vực kinh tế khác cómức độ rủi ro tương đương Lúc này sẽ xuất hiện sự cạnh tranh quốc tế đểgiành những khoản lợi nhuận này thông qua các công ty xuyên quốc gia, đaquốc gia Những công ty này có tiềm lực vốn lớn để đầu tư vào các ngành

Trang 25

này và do đó, việc xâm nhập vào ngành và chiếm lĩnh thị trường khá dễdàng

1.2.3 Vai trò của nhà nước

Những thất bại thị trường như ngoại ứng, sự không đối xứng vềthông tin của thị trường có thể khắc phục và hạn chế được nhờ sự canthiệp của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế Những thất bại của thịtrường chính là căn cứ để nhà nước đưa ra các chính sách kinh tế nóichung, chính sách công nghiệp nói riêng Chẳng hạn như:

- Khi xuất hiện ngoại ứng tích cực như trên, Nhà nước sẽ can thiệpbằng cách trợ cấp cho các công ty hoặc trực tiếp tiến hành nghiên cứu vàtriển khai nhằm tạo ra hiệu ứng lan toả về công nghệ, giúp nền kinh tế nóichung và ngành công nghiệp nói riêng tăng trưởng nhanh Đối với việc mộtngành công nghiệp gây ô nhiễm cao nhưng cũng mang lại lợi nhuận cao thìnhà nước sẽ so sánh giữa lợi ích và chi phí của xã hội để xem xét có nêncho phép ngành đó phát triển sau khi đã tiến hành những biện pháp nhằmhạn chế việc gây ô nhiễm môi trường hay thực hiện việc hạn chế phát triển ngành

- Khi thị trường xuất hiên tình trạng thông tin không đối xứng, thôngqua chính sách công nghiệp, nhà nước có thể tiến hành thu thập, xử lýthông tin để cung cấp cho các doanh nghiệp công nghiệp có những thôngtin đầy đủ về thị trường, sản phẩm, sự phát triển của các ngành công nghiệphiện nay và khả năng phát triển trong tương lai Điều này giúp các ngànhcông nghiệp phát triển theo đúng định hướng mà nhà nước đã vạch ra

- Khi xuất hiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo và lợi nhuận siêungạch, với khả năng của mình, nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế đểthay đổi “luật chơi”, để chuyển các khoản lợi nhuận siêu ngạch từ các công

ty nước ngoài sang các công ty trong nước như cung cấp một khoản trợ cấp

Trang 26

hoặc thực hiện việc bảo hộ cho các công ty nội địa và kìm giữ, hạn chế đầu

tư sản xuất của các công ty nước ngoài

Bên cạnh những kết quả tốt đẹp mà chính sách công nghiệp mang lạicũng tồn tại nhiều vấn đề nảy sinh Có nhiều giai đoạn chính sách côngnghiệp đã thúc đẩy được ngành công nghiệp và nền kinh tế của một quốcgia phát triển nhưng có lúc nó cũng không đem lại kết quả như mong đợi

Lí do là trong khi thực hiện các chính sách công nghiệp nhằm khắc phụccác thất bại của thị trường, nhà nước cũng có những khả năng thất bại Sựthất bại của nhà nước xảy ra khi khi việc can thiệp không dẫn tới việc phân

bổ nguồn lực tối ưu, việc phân bổ nguồn lực vào các ngành được lựa chọnkhông đạt hiệu quả như mong muốn, gây lãng phí nguồn lực thậm chí dẫntới việc kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp và của nền kinh tế

1.3 KINH NGHIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở MỘT SỐ TỈNH.

1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên

Hưng Yên là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cónhiều nét tương đồng với Hà Nam, cùng được tái lập từ ngày 01/01/1997, làtỉnh có diện tích nhỏ (923,9 km2), không có bờ biển, không có rừng, trướcngày tái lập, Hưng Yên cũng là tỉnh thuần nông Năm 2000, công nghiệpchiếm tỷ trọng 30,5% GDP của tỉnh, năm 2005 chiếm 38%, năm 2008 chiếm42,36% Mục tiêu phấn đấu của Hưng Yên là xây dựng tỉnh trở thành tỉnhcông nghiệp trước năm 2010 Thành công của Hưng Yên trong lĩnh vực pháttriển công nghiệp trong những năm qua thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, Hưng Yên đã huy động tối đa các nguồn vốn trong và

ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp, đặc biệt chú trọng đến việc tạo môitrường thuận lợi để thu hút các dự án vào đầu tư, kết hợp với việc hình thànhcác khu công nghiệp và bố trí không gian hợp lý đối với các dự án, đồng thời

Trang 27

cải tạo hành lang pháp lý tốt nhất cho các dự án phát triển với hiệu quả đầu tưcao.

Thứ hai, Hưng Yên đã ưu tiên phát triển công nghiệp sản xuất hàng

xuất khẩu, hàng tiêu dùng, chế biến nông sản và các ngành hiện đại, côngnghệ cao, ít ô nhiễm môi trường Kết hợp nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, vốnODA và vốn của các thành phần kinh tế khác để sớm đầu tư các cơ sở xử lýchất thải công nghiệp và sinh hoạt để đảm bảo phát triển bền vững

Thứ ba, tỉnh Hưng Yên đã sớm có qui hoạch và hình thành các khu,

cụm công nghiệp tập trung, phát huy lợi thế là cửa ngõ của thủ đô để thu hútnhiều doanh nghiệp có năng lực mạnh Một số khu công nghiệp điển hình củatỉnh như KCN Như Quỳnh A, Như Quỳnh B, Phố Nối A, Phố Nối A, Phố Nối

B đã thu hút được nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đóng góp lớn vào

ngân sách và GDP của tỉnh

Trong thời gian tới, Hưng Yên tiếp tục xác định phát triển côngnghiệp là khâu quan trọng mang tính chất đột phá để đẩy nhanh quá trìnhCNH, HĐH nền kinh tế của tỉnh Hưng Yên sẽ tiếp tục thu hút và sử dụng cóhiệu quả các nguồn vốn đầu tư (nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài) để lấpđầy diện tích các KCN đã quy hoạch và xây dựng thêm các KCN mới, hướngmạnh vào sản phẩm công nghiệp xuất khẩu Bằng việc xây dựng Khu Đại họcPhố Hiến, Hưng Yên mong muốn sẽ có những bước đột phá trong việc đàotạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT – XH nối chung và công nghiệp nóiriêng

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là địaphương được đánh giá giàu tiềm năng phát triển Thời gian qua Vĩnh Phúc làtỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao Trước ngày tái lập tỉnh (1997) Vĩnh Phúcvốn xuất phát từ một tỉnh nông nghiệp thuần túy với tỷ trọng nông – lâm –

Trang 28

thủy sản chiếm 44,4% GDP Sau 10 năm tỷ trọng nông – lâm – thủy sản giảmxuống dưới 15% (2008) Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng năm 1997 chiếm20,7 GDP tăng lên 52% năm 2008 Mục tiêu phấn đấu của Vĩnh Phúc là đếnnăm 2015 - 2016 trở thành một tỉnh công nghiệp Thành công của việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế và phát triển công nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH thời gian vừa qua của Vĩnh Phúc do các nguyên nhân chủ yếu sau :

Một là : Vĩnh Phúc có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh nằm trong vùng

kinh tế trọng điểm Bắc bộ, có các trục giao thông chính đi qua, tiếp giáp vớithủ đô Hà Nội Đây là điều kiện thuận lợi để Vĩnh Phúc thu hút nguồn vốnđầu tư trong và ngoài nước

Hai là : Vĩnh Phúc nhận được sự hỗ trợ, đầu tư của Trung ương rất

lớn, đặc biệt Vĩnh Phúc nằm trong chương trình đầu tư các khu du lịch trọngđiểm quốc gia Nhờ có nguồn đầu tư của Trung ương, nhất là đầu tư phát triển

hệ thống kết cấu hạ tầng đã tạo nên môi trường kinh tế – xã hội thuận lợi, hấpdẫn các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào địa phương

Ba là : Vĩnh Phúc đã phát huy tốt nội lực, biến nội lực thành sức

mạnh, cùng với những cơ hội khách quan để hình thành nên các khu côngnghiệp tập trung, thu hút nhiều dự án đầu tư trong nước và nhất là dự án đầu

tư trực tiếp từ nước ngoài, trong đó có nhiều dự án đầu tư lớn Điều này đãđưa Vĩnh Phúc chuyển từ một tỉnh thuần nông sang một tỉnh có công nghiệp

và dịch vụ phát triển mạnh

Bốn là : Vĩnh Phúc chọn việc thu hút đầu tư là khâu đột phá để phát

triển, phát huy sức mạnh của mội thành phần kinh tế, trong đó đáng chú ý làtỉnh đã tập trung phát triển kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài đểlàm thay đổi căn bản nền kinh tế Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu thànhphần kinh tế của Vĩnh Phúc trong công nghiệp qua các năm như sau : năm

2000 thành phần kinh tế tư nhân chiếm 8,65% và kinh tế có vốn đầu tư nước

Trang 29

ngoài chiếm 82,31%; số liệu tương ứng của năm 2005 là 27,1% và 64,2%;năm 2008 là 29,2% và 62,6%.

Trong thời gian tới, Vĩnh Phúc vẫn xác định công nghiệp là mũi nhọnđột phá để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng ngànhcông nghiệp – xây dựng chiếm trên 60% GDP toàn tỉnh

Vĩnh Phúc lựa chọn những ngành công nghiệp mang tính đột phá là cácngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, có hàm lượngchất xám cao; ưu tiên một số sản phẩm mũi nhọn như cơ khí chế tạo, ô tô, xemáy, điện, điện tử, tin học, công nghiệp phần mềm, sản xuất vật liệu mới.Đồng thời Vĩnh Phúc xác định phát triển công nghiệp của địa phương phảiliên kết với ngành công nghiệp của vùng và cả nước Tỉnh có chính sách hỗtrợ thỏa đáng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanhnghiệp của địa phương

1.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình.

1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Hà Nam

Từ kinh nghiệm của của các tỉnh bạn, căn cứ vào thực tế của địaphương có thể rút ra một số bài học về phát triển công nghiệp trong quá trìnhđẩy mạnh CNH, HĐH ở Hà Nam như sau :

Một là, phát triển công nghiệp là con đường tất yếu để đẩy mạnh sự

nghiệp CNH, HĐH nhằm phát triển kinh tế của một địa phương; chính quyềnđịa phương phải thật sự quan tâm và thực hiện tốt chức năng quản lý nhànước về công nghiệp để quá trình phát triển đi đúng hướng và đạt hiệu quảcao, thực sự là động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH

Hai là, phát triển công nghiệp phải dựa trên các tiềm năng, thế mạnh,

lợi thế so sánh của địa phương, lựa chọn và phát triển hợp lý các ngành côngnghiệp chủ lực, quan tâm đúng mức tới phát triển các ngành công nghiệp sảnxuất hàng xuất khẩu Trong điều kiện một tỉnh nông nghiệp, việc phát triển

Trang 30

công nghiệp phải gắn liền với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Kinhnghiệm này sẽ giúp cho việc phát triển công nghiệp của tỉnh đảm bảo khaithác thế mạnh, tập trung đúng trọng tâm và đi đúng định hướng.

Ba là, phải khai thác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, thực sự coi

nguồn vốn đầu tư ở trong nước và của địa phương là chủ yếu, mặt khác phảiđẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, coi đó là nguồn lực quan trọng đểphát triển công nghiệp của tỉnh

Bốn là, chính quyền địa phương phải thực hiện đồng bộ chức năng

quản lý nhà nước từ khâu hoạch định, tổ chức thực hiện đến xây dựng cơ chếchính sách, kiểm tra và điều chỉnh Trong đó cần khơi dậy và phát huy sựtham gia của các ngành, các cấp và mọi thành phần kinh tế Để phát huy bàihọc này, tỉnh cần xây dựng bộ máy tổ chức đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ

tế khác cùng phát triển Nói cách khác, phát triển công nghiệp chính là mộtphương tiện quan trọng quyết định cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế

vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chấtlượng cuộc sống cho nhân dân và nâng cao vị thế của một quốc gia trongquá trình mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 31

2 Thực tế phát triển công nghiệp ở một số địa phương những nămqua cho thấy: nhà nước cần sớm hoạch định một hệ thống chính sách côngnghiệp mới phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước và của xu thế toàn cầuhoá đang diễn ra Sự chậm trễ có thể ảnh hưởng xấu không chỉ đối vớingành công nghiệp, mà có thể ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế

Trang 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên.

- Địa lý kinh tế : Hà Nam nằm ở tọa độ địa lý trên 20 độ vĩ Bắc và

giữa 105o – 110o kinh Đông, phía Tây – Nam châu thổ sông Hồng, trong vùngtrọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ

Tỉnh Hà Nam cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 50 km, là cửa ngõphía nam của thủ đô; phía bắc giáp thành phố Hà Nội, phía đông giáp vớiHưng Yên và Thái Bình, nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía tây giápHòa Bình Vị trí địa lý này tạo rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế củatỉnh Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố :thành phố Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyệnLý Nhân, huyện Thanh Liêm và huyện Bình Lục

Nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc – Nam, trên địa bàntỉnh có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam chạy qua với chiều dài gần 50 km

và các tuyến đường giao thông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ 21B,quốc lộ 38 Hơn 4000 km đường bộ bao gồm các đường quốc lộ, tỉnh lộ cùngcác tuyến giao thông liên huyện, liên xã đã được rải nhựa hoặc bê tông hóa,hơn 200 km đường thủy có luồng lạch đi lại thuận tiện với 42 cầu đường đãđược xây dựng kiên cố và hành nghìn km đường giao thông nông thôn tạothành một mạng lưới giao thông khép kín, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại vàvận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới Từ thành phố Phủ Lý có

Trang 33

thể đi tới các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng

và thuận tiện

Vị trí chiến lược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạocho Hà Nam lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội, khoahọc – kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô HàNội và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ Đây là mặt thuận lợi lớncho sự phát triển công nghiệp của Hà Nam

Tuy nhiên, là một tỉnh bước vào sự nghiệp CNH, HĐH với điểm xuấtphát thấp lại ở trong vùng phát triển tương đối năng động cũng tạo ra nhiềusức ép đối với sự phát triển kinh tế của Hà Nam nói chung, công nghiệp nóiriêng, đòi hỏi Hà Nam phải xác định được hướng đi đúng đắn để có thể pháthuy những lợi thế về địa lý kinh tế của mình phục vụ cho sự phát triển kinh tế

- xã hội

- Thời tiết, khí hậu : Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc

trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt Nhiệt độ trung bìnhhàng năm vào khoảng 23 – 24o C, số giờ nắng trung bình khoảng 1200 – 1350giờ/năm Trong năm thường có 8 – 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên

20o C và chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20o C, nhưng không có thángnào nhiệt độ trung bình dưới 16oC

Lượng mưa trung bình từ năm 2000 đến năm 2009 khoảng 1700 mm,

năm có lượng mưa cao nhất tới 2138mm (2008), năm có lượng mưa thấp nhấtcũng là 1503,4mm (2000)

Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào có độ ẩm trung

Trang 34

kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3, mùa xuân thường kéo dài từ giữatháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đến giữatháng 11 Hai mùa chính trong năm với các hướng gió thịnh hành : về mùa hạgió nam, tây nam và đông nam; mùa đông gió bắc, đông và đông bắc.

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất : Hà Nam là một tỉnh nhỏ có diện tích đất đai không lớn,

diện tích tự nhiên 851 km2 với địa hình đa dạng, nằm trong vùng trũng củađồng bằng sông Hồng và giáp với vùng núi của tỉnh Hòa Bình và vùng TâyBắc Phía tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núiđất và đồi rừng Đất đai ở vùng này rất thích hợp với các loại cây lâm nghiệp,cây công nghiệp và cây ăn quả Vùng đồng bằng phía đông của tỉnh được tạonên bởi phù sa của các sông lớn như sông Đáy, sông Châu, sông Hồng, đất đaimàu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước, hoa màu, rau, đậu, thực phẩm.Những dải đất bồi ven sông đặc biệt thích hợp với các loại cây công nghiệpngắn ngày như mía, dâu, lạc, đỗ tương và cây ăn quả Ngoài ra đây cũng làvùng thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và phát triển nghề chănnuôi gia cầm dưới nước Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 : đất nông nghiệp57.229,3 ha, chiếm 66,5%; đất phi nông nghiệp 24.943,3 ha, chiếm 29%; đấtchưa sử dụng 3.845,7 ha, chiếm 4,5% Sự đa dạng của đất đai ở Hà Nam sẽtạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cách ngành nghề của công nghiệp HàNam

- Tài nguyên nước : Hà Nam có lượng mưa trung bình cao, khối lượng

tài nguyên nước rơi khoảng 1,602 tỷ m3 Dòng chảy từ mặt sông Hồng, sôngĐáy, sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnh thổ khoảng 14,050 tỷ m3 nước Dòngchảy ngầm chuyển qua lãnh thổ cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổsung nước ngầm từ các vùng khác Nước ngầm ở Hà Nam tồn tại trong nhiều

Trang 35

tầng và có chất lượng tốt, đủ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội,nhất là cho phát triển công nghiệp

- Sông ngòi : chảy qua lãnh thổ Hà Nam là các sông lớn như sông

Hồng, sông Đáy, sông Châu và các sông do con người đào đắp như sôngNhuệ, sông Sắt… Sông Hồng là ranh giới phía đông của tỉnh với các tỉnhHưng Yên và Thái Bình Trên lãnh thổ tỉnh, sông Hồng có chiều dài 38,6 km.Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ Phú Thọ chảy vào lãnhthổ Hà Nam Sông Đáy còn là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình, trên lãnhthổ tỉnh sông Đáy có chiều dài 47,6 km Sông Nhuệ là sông đào dẫn nướcsông Hồng từ Thụy Phương (Từ Liêm – Hà Nội) đi vào Hà Nam với chiều dài14,5 km sau đó đổ vào sông Đáy Với hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuậnlợi cho giao thông đường thủy và đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất

- Tài nguyên khoáng sản chủ yếu ở Hà Nam là đá vôi, làm nguyên liệu

cho sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng, các loại đáquý có vân màu phục vụ xây dựng, trang trí nội thất và làm đồ mỹ nghệ, các

mỏ sét làm gạch ngói, gốm sứ, xi măng và một số mỏ than bùn, mỏ đôlômit.Phần lớn các tài nguyên khoáng sản này phân bố ở các huyện phía tây củatỉnh, gần đường giao thông, thuận lợi cho việc khai thác, chế biến và vậnchuyển

Đá vôi : tổng trữ lượng đá vôi ở Hà Nam khoảng 7,4 tỷ m3, trong đó đá vôiciment chiếm khoảng 4,1 tỷ m3 với hàm lượng CaO khoảng 54%, hàm lượngMgO đạt từ 0,41 – 2,4% Đá đôlômit có trữ lượng trên 3,3 tỷ m3 Đá vôi phân

bố chủ yếu ở các huyện Kim Bảng và Thanh Liêm với trữ lượng của 8 khu

mỏ chính lên tới 540 triệu tấn, nếu tính cả tiềm năng dự báo thì tổng trữ lượngtrên 5,2 tỷ tấn, trong đó đá vôi có thể sử dụng cho công nghiệp sản xuất ximăng khoảng gần 700 triệu tấn, đá vôi cho công nghiệp hóa chất là 320 triệutấn

Trang 36

Đá quý : các loại đá quý ở Hà Nam gồm có đá vân hồng, tím nhạt ở Thanh

Liêm, Kim Bảng, thường có các vỉa dài 30 – 40m, cao 60m, có vỉa dài tới200m Đá vân mây, da báo có nhiều ở huyện Thanh Liêm, đá trắng ở huyệnKim Bảng Phần lớn các mỏ đá quý có trữ lượng lớn, nằm ở các vị trí thuậnlợi cho khai thác chế biến để làm các sản phẩm mỹ nghệ đẹp , có giá trị caodùng trong trang trí xây dựng và xuất khẩu

Đất sét : tổng trữ lượng đất sét ở Hà Nam lên tới gần 400 triệu tấn, các mỏ

sét chủ yếu tập trung ở 3 huyện Kim Bảng, Thanh Liêm và Duy Tiên và phân

bố dọc theo phía tây quốc lộ 1A, cùng với một số mỏ sét ở phía đông quốc lộ1A có quy mô nhỏ hơn Sét ở Hà Nam thường có màu trắng phớt vàng, xámnâu, màu sặc sỡ, dẻo và mịn, phù hợp với sản xuất xi măng, gốm, gạch ngói…

Khoáng sản nguyên liệu có các mỏ than bùn với trữ lượng trên 11 tỷ m3

có chất lượng rất tốt, có thể làm chất đốt hoặc phân bón vi sinh

Cát xây dựng : Hà Nam có nguồn cát đen rất dồi dào tại các bãi ven sông

Hồng dài 10 km, bãi sông Đáy, sông Châu…hàng năm cung cấp cho nhu cầuxây dựng trong tỉnh và các tỉnh ngoài hàng triệu m3 cát xây dựng và cát sanlấp

Những nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng trên đây sẽ là cơ sở để tỉnh

Hà Nam phát triển một số ngành công nghiệp như vật liệu xây dựng, khai thác

đá, sản xuất phân bón…

2.1.3 Nguồn nhân lực.

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở, tính đến thời điểm 0 hngày 01/4/2009, dân số Hà Nam có 785.057 người: nam là 385.059 người(49%), nữ 399.998 người (51%) mật độ dân số 913 người/km2, tốc độ tăngdân số bình quân năm thời kỳ 1999 – 2009 là - 0,10% Trong đó dân số nôngthôn 707.970 người (chiếm 90,2%), dân số thành thị 77.087 người (chiếm9,8%)

Trang 37

Số người lao động trong toàn tỉnh năm 2009 là 452.016 người chiếm57,5% dân số Số lao động tham gia thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân

là gần 400700 người, chiếm 88,6 % nguồn lao động toàn tỉnh

Phần đông lao động có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận và ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ Lực lượng lao động khoa học –

kỹ thuật dồi dào với khoảng trên 26.000 người, chiếm gần 3,5% dân số cótrình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, số lao động có trình độ trung cấp khoảng17.500 người và sơ cấp, công nhân kỹ thuật gần 12.000 người

Số lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 35% tổng số lao động Gần80% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là lao độngtrong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản Số lao động trong độ tuổi có khảnăng lao động nhưng chưa có việc làm hiện còn trên 13.000 người chiếm trên4% lực lượng lao động có khả năng lao động Hàng năm dân số của tỉnh tăngthêm khoảng trên 10.000 người, tạo thêm nguồn lao động dồi dào, bổ sungcho nền kinh tế quốc dân

Về trình độ dân trí, Hà Nam được công nhận là tỉnh đã được côngnhận phổ cập giáo dục THCS, bình quân số năm học của một lao động là 8,1năm/ người (hệ 12 năm) Hàng năm, tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp THPT,học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng của tỉnh Hà Nam thườngnằm trong số 10 tỉnh có tỷ lệ cao nhất trong toàn quốc

Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư pháttriển khá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện vànâng cao đáng kể Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người HàNam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sảnxuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong pháttriển kinh tế, mở mang văn hóa xã hội Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng

Trang 38

đối với phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh nói chung và phát triển côngnghiệp nói riêng

Tuy nhiên, cũng như những đặc điểm chung của người lao động ViệtNam, nguồn nhân lực Hà Nam hiện nay cũng còn bộc lộ một số hạn chế vềthể lực, sức khỏe, tác phong lao động công nghiệp, trình độ khoa học kỹ thuật,tay nghề yếu… đặc biệt là thiếu lực lượng lao động có trình độ cao, có khảnăng sử dụng công nghệ thông tin, lao động có trình độ ngoại ngữ và đội ngũquản lý kinh doanh giỏi, nhạy bén với cơ chế thị trường Tỷ lệ lao động đãqua đào tạo còn thấp

2.1.4 Vốn đầu tư và kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội

Vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, đặc biệt trong giai đoạn 2005 – 2008,năm 2005 tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh theo giá thực tế đạt 1.697,1 tỷđồng, con số tương ứng của các năm tiếp theo là 2006 : 2.119,5 tỷ đồng, năm

2007 : 4.763,9 tỷ đồng, năm 2008 là 7.467 tỷ đồng, năm 2009 là 7.558 tỷđồng và năm 2010 là 8.453 tỷ đồng

Nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhưng

có xu hướng giảm dần, từ (64%) năm 2005 giảm xuống 55,3% năm 2008; vốnđầu tư của doanh nghiệp tư nhân, dân cư, vồn đầu tư nước ngoài và vốn tíndụng đầu tư tăng từ 36% năm 2005 lên 44,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xãhội Vốn đầu tư tăng nhanh, tạo khả năng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội

Để tạo điều kiện cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, tỉnh

đã quy hoạch và xây dựng 8 khu công nghiệp (KCN) tập trung và 15 cụm CN– TTCN – làng nghề

Tổng diện tích các KCN và các cụm CN – TTCN trên địa bàn tỉnh làgần 2000 ha, trong đó đã đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một số KCN, cụm

Trang 39

CN, các dự án đầu tư đã lấp đầy khoảng 40% diện tích Các khu, cụm côngnghiệp đều có hạ tầng điện nước đảm bảo.

Về giao thông : ngoài mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc giao

lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với bên ngoài, mạng lưới giao thông nội tỉnh vàgiao thông nông thôn cũng phát triển, đến nay đã hình thành mạng lưới khépkín với hơn 4000 km Trong số 167 km đường cấp tỉnh quản lý có 130 km(77,8%) được rải nhựa, chất lượng tốt, trong đó có 42 cầu đường với chiều dàigần 3000 m, gần 80% số đường cấp huyện cũng được rải nhựa Hàng nghìn

km đường cấp xã quản lý và đường giao thông trong thôn xóm đã được bêtông hóa hoặc rải nền cứng Nối hai bờ sông Đáy khu vực thành phố Phủ Lý

là 4 cây cầu bê tông vĩnh cửu Các phương tiện cơ giới có thể đi lại dễ dàngthuận tiện đến hầu hết các xã, thôn trong tỉnh Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ –Ninh Bình và một số tuyến đường nội tỉnh được hoàn thành trong một vàinăm tới đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao thông trong và ngoài tỉnh

Năng lực vận chuyển hàng hóa của ngành giao thông vận tải tỉnh cóbước phát triển mạnh mẽ, nếu như năm 2000 khối lượng hàng hóa vận chuyểnđạt trên 1.333 nghìn tấn, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt trên 55.096nghìn tấn/km thì đến năm 2008 con số này là 10.947 nghìn tấn và 346.358nghìn tấn/km

Hệ thống hạ tầng cấp thoát nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt đã

và đang được quy hoạch phát triển, đảm bảo cấp thoát nước cho các khu cụmcông nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở thương mại dịch vụ và các khudân cư trên địa bàn Hệ thống cấp nước sạch với công suất 25.000m3/ ngàyđêm đáp ứng 100% nhu cầu sử dụng nước sạch của thành phố Phủ Lý, 75%dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh

Mạng lưới truyền tải, phân phối điện đã được xây dựng, mở rộng

đến hầu hết các thôn xã 100% hộ dân cư và các cơ quan hành chính sự

Trang 40

nghiệp, cơ sở sản xuất được cung cấp và sử dụng điện lưới quốc gia với chấtlượng điện đảm bảo Hiện tại và những năm tới Hà Nam đang tiếp tục cải tạo,nâng cấp mạng lưới điện đạt tiêu chuẩn quốc gia và xây dựng một số hệthống, công trình mới đáp ứng nhu cầu điện cho CNH, HĐH và phát triểnkinh tế – xã hội nói chung của tỉnh.

Kết cấu hạ tầng bưu điện, viễn thông và thông tin liên lạc phát

triển khá nhanh và từng bước hiện đại hóa thiết bị kỹ thuật Trên địa bàn tỉnh

có một trung tâm bưu điện tỉnh tại thành phố Phủ Lý và 5 bưu điện ở cáchuyện, 33 bưu điện khu vực và hàng trăm điểm bưu điện văn hóa xã 100% số

xã phường và các cơ sở kinh tế nhà nước, các cơ quan hành chính sự nghiệp

đã có điện thoại phục vụ thông tin liên lạc Tổng số thuê bao điện thoại năm

2008 là 481.653 thuê bao, trong đó : thuê bao cố định 131.010; thuê bao diđộng 350.643 Năm 2010 sẽ đạt 85 máy điện thoại/100 dân, tăng gấp 5 lần sovới năm 2005 Cơ sở hạ tầng mạng Internet tương đối hiện đại với dunglượng lớn đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ này, số thuê bao Internettăng với tốc độ nhanh, năm 2010 đạt 1,63 thuê bao/ 100 dân

Kết cấu hạ tầng trong các lĩnh vực dịch vụ thương mại, tài chính tín dụng, ngân hàng đang ngày càng được mở rộng, cơ bản đáp ứng được

nhu cầu giao dịch và sử dụng các dịch vụ này của dân cư, các tổ chức kinh tế

xã hội, các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh thuộc mội thành phần kinh tế trong

và ngoài tỉnh Tại Phủ Lý và ở các huyện lỵ đã có mạng lưới chi nhánh củaNgân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương,Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội…Một

số nơi có chi nhánh của các ngân hàng thương mại cổ phần, các quĩ tín dụngnhân dân

Về cơ sở hạ tầng xã hội, Hà Nam là một trong những tỉnh có mạng

lưới cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội phát triển

Ngày đăng: 07/07/2022, 23:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công nghiệp(1999), Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển công nghiệp ViệtNam đến năm 2010
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 1999
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư(1996), Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quy hoạch tổng thể phát triển côngnghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 1996
4. Đặng Vũ Chư (1997), “Ngành công nghiệp đi đầu trong sư nghiệp CNH, HĐH đất nước”, Tạp chí Cộng sản,(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngành công nghiệp đi đầu trong sư nghiệpCNH, HĐH đất nước”
Tác giả: Đặng Vũ Chư
Năm: 1997
12. Đảng cộng sản Việt Nam(1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCHTW(Khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7BCHTW(Khóa VII)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
13. TS Đỗ Đức Định (1999), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Phát huy lợi thế so sánh, kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Pháthuy lợi thế so sánh, kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châuÁ
Tác giả: TS Đỗ Đức Định
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Phạm Quang Hàm (1997), Chuyên đề khoa học định hướng phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề khoa học định hướng pháttriển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Phạm Quang Hàm
Năm: 1997
15. PGS Phạm Kim Ích (chủ biên) (1994), Công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực, nghiên cứu thông tin về các xu hướng phát triển của thế giới hiện nay, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa và hiệnđại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực, nghiên cứu thông tin về cácxu hướng phát triển của thế giới hiện nay
Tác giả: PGS Phạm Kim Ích (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1994
16. TS Trần Kiên (1997), Chiến lược huy động vốn và các nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tập 1,2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược huy động vốn và các nguồn lựccho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: TS Trần Kiên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1997
17. Hoàng Thị Thanh Nhàn (1997), Công nghiệp hóa hướng ngoại“Sự thần kỳ của NIE châu Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa hướng ngoại"“Sự thần kỳ của NIE châu Á
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Nhàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Những vấn đề CNH của các nước đang phát triển (1972), Nxb Tư tưởng, Bản dịch của đại học Kinh tế- Kế hoạch, Hà Nội 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề CNH của các nước đang phát triển
Tác giả: Những vấn đề CNH của các nước đang phát triển
Nhà XB: Nxb Tưtưởng
Năm: 1972
19. GS-TS Đàm Văn Nhuệ (1998), Lựa chọn công nghệ thích hợp ởcác doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn công nghệ thích hợp ở"các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam
Tác giả: GS-TS Đàm Văn Nhuệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
20. GS-TS Nguyễn Đình Phan (chủ biên) (1997), Kinh tế và quản lý công nghiệp, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và quản lýcông nghiệp
Tác giả: GS-TS Nguyễn Đình Phan (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
29. Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế và phát triển (2007), Giáo trình Kinh tế học phát triển, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học phát triển
Tác giả: Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế và phát triển
Nhà XB: Nxb Lý luận chínhtrị
Năm: 2007
30. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Quản lý kinh tế (2007), Giáo trình Quản lý kinh tế, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý kinh tế
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Quản lý kinh tế
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
31. PGS-TS Nguyễn Huy Oánh (2002), “ Khả năng cạnh tranh của một số hàng công nghiệp Việt Nam : Thực trạng và những vấn đề rút ra”, Tạp chí Lý luận chính trị, (2), tr.38 – 41, 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cạnh tranh củamột số hàng công nghiệp Việt Nam : Thực trạng và những vấn đề rút ra”, "Tạpchí Lý luận chính trị
Tác giả: PGS-TS Nguyễn Huy Oánh
Năm: 2002
33. Đàm Văn Nhuệ, Nguyễn Đình Phan (1995), Quản lý doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế tị trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanhnghiệp công nghiệp trong nền kinh tế tị trường ở Việt Nam
Tác giả: Đàm Văn Nhuệ, Nguyễn Đình Phan
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1995
34. Vũ Đình Cự (2005), “ Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12), tr.3- 8,15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Những thành tựu, hạn chế và thách thứccủa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong điều kiện toàncầu hóa”
Tác giả: Vũ Đình Cự
Năm: 2005
3. Cục thống kê tỉnh Hà Nam(2009), Niên giám thống kê 2000-2008 Khác
21. Sở Công nghiệp Hà Nam, Một số báo cáo về tình hình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từ năm 2000-2007 Khác
22. Sở Công thương Hà Nam, Một số báo cáo về tình hình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2008-2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2. 1: Xếp loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển  công nghiệp của Hà Nam. - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2. 1: Xếp loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp của Hà Nam (Trang 45)
Bảng số 2.2 : Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.2 : Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam (Trang 46)
Bảng số 2.3 : Giá trị sản xuất ngành công nghiệp Hà Nam - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.3 : Giá trị sản xuất ngành công nghiệp Hà Nam (Trang 47)
Bảng số 2.4 : Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) phân theo - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.4 : Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) phân theo (Trang 47)
Bảng số 2.6 : Tăng trưởng ngành công nghiệp khai thác đá - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.6 : Tăng trưởng ngành công nghiệp khai thác đá (Trang 51)
Bảng số 2.7 : Tăng trưởng ngành sản xuất bia, nước giải khát - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.7 : Tăng trưởng ngành sản xuất bia, nước giải khát (Trang 53)
Bảng số 2.10: Cơ cấu thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp Hà Nam - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.10: Cơ cấu thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp Hà Nam (Trang 56)
Bảng số 2.9 : Tăng trưởng ngành sản xuất phân phối điện, nước  (theo giá so sánh 1994) - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.9 : Tăng trưởng ngành sản xuất phân phối điện, nước (theo giá so sánh 1994) (Trang 56)
Bảng số 2.12 dưới đây). - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.12 dưới đây) (Trang 63)
Bảng số 2.12 : Các cụm C N- TTCN STTTên các cụm CN - công nghiệp tỉnh Hà Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng s ố 2.12 : Các cụm C N- TTCN STTTên các cụm CN (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w