trong đó các tác nhân tham gia sản sinh ra các tác phẩm văn hóa được xác định vị trí” và trường văn học cũng như những trường khác “là một trường lực tác đông đến tất cả những ai dấn thâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Ngọc Kiên
Phú Thọ, Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất cứ sự không trung thực trong các kết quả nghiên cứu Nếu có gì không trung thực, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Phú Thọ, ngày 8 tháng 7 năm 2021
Học viên
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Phùng Ngọc Kiên Người đã hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn này Sự hướng dẫn, chỉ bảo, sát sao của thầy đã giúp cho tôi có được các phương pháp nghiên cứu; các kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết để có thể hoàn thiện đề tài có hiệu quả
Bên cạnh đó, tôi xin được cảm ơn chân thành Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo ở phòng Đào Tạo; các thầy cô giáo bộ môn lý luận văn học, khoa văn học trường Đại học Hùng Vương; những người trong suốt quá trình dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi tiếp tục trưởng thành
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình, những người đã luôn động viện, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để tôi có thể tham gia học tập, đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày 8 tháng 7 năm 2021
Học viên
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh 8
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Cô giáo Minh của Nguyễn Công Hoan 9
1.2.3 Các bài viết về “Vụ án văn” giữa Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh 11
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 14
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
1.5 Phương pháp nghiên cứu 15
1.5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp 15
1.5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu 15
1.6 Về cấu trúc của luận văn 17
Chương 1: Vai trò của giáo dục 18
1.1 Các vấn đề cơ bản về giáo dục: 18
1.2 Vai trò của giáo dục trong sự kiến tạo ý hệ “văn minh” 22
Chương 2: GIA ĐÌNH VÀ LUÂN LÝ 38
2.1 Biểu hiện của tư tưởng cũ về vấn đề luân lý trong Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh 40
2.2 Biểu hiện của tư tưởng mới về vấn đề luân lý trong Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh 49
2.3 Xung đột cũ, mới về vấn đề luân lý 56
Chương 3: VẤN ĐỀ GIỚI TÍNH 69
3.1 Giới tính nam trong Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh 69
3.1.1 Giới tính nam trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt 69
3.3 Nhân vật đại diện cho tư tưởng, quan điểm của nhà văn 79
KẾT LUẬN 83
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1.1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đánh dấu bước trưởng thành của quá trình hiện đại hóa Có thể nhận định đây là một giai đoạn phát triển phong phú, đa dạng ở nhiều khuynh hướng, nhiều nhóm sáng tác, với những nhiều tư tưởng, quan điểm sáng tác khác nhau Từ đó đã tạo nên sự ảnh hưởng qua lại; có khi
bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng nhau phát triển; có khi lại đối lập nhau được thể hiện
cả trong lý luận và sáng tác
Trong các khuynh hướng, các trào lưu văn học ấy phải kể đến nhóm Tự lực văn đoàn Các thành viên của nhóm là những tác giả trẻ, tiêu biểu cho tầng lớp mới, thế hệ mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Các nhà văn của nhóm
Tự lực văn đoàn đều đại diện cho một tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam Tầng lớp được tiếp thu một cách đầy đủ văn hóa và học vấn phương Tây thông qua nhà trường Pháp Việt Trong bối cảnh sự giao thoa với văn hóa truyền thống vẫn còn những mối liên hệ
Nhóm Tự lực văn đoàn đã có công lớn trong việc hình thành và phát triển văn học lãng mạn Việt Nam, đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết, truyện ngắn Trong đó tiểu thuyết đóng một vai trò quan trọng góp phần làm nên tên tuổi của nhóm Từ việc đặt ra những vấn đề được quan tâm trong xã hội đương thời; trong mỗi tác phẩm tạo nên môi trường, tạo nên không khí, tạo ra những thái độ, cách nhìn, cách đánh giá, phán xét của nhiều đối tượng độc giả khác nhau Người đọc sẽ được nhà văn dẫn dắt đến với cuộc sống của đại gia đình phong kiến Để từ đó họ được chứng kiến xung đột về phong tục, đạo đức giữa những tư tưởng, nếp nghĩ khác nhau
Trong số những tác phẩm đó không thể không nhắc đến Đoạn tuyệt của Nhất Linh,
Nửa chừng xuân của Khái Hưng; đó là hai cuốn tiểu thuyết vừa là mở đầu, vừa là có
giá trị nhất Góp thêm tiếng nói tố cáo, phê phán mạnh mẽ những hủ tục lạc hậu và bênh vực quyền được hưởng hạnh phúc cá nhân của con người Nói đến sự tiến bộ
trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan đã viết trong cuốn Nhà văn hiện
Trang 7đại: “Ông là một tiểu thuyết gia có khuynh hướng về cải cách Những tiểu thuyết có
giá trị của ông xuất bản trong khoảng 1935-1942 đều phô bày cho người ta thấy những tình trạng xấu xa hoặc của gia đình hoặc của xã hội Việt Nam và trong các truyện của ông bao giờ cũng có những nhân vật kiên tâm, gắng sức để đổi mới cho cuộc đời của mình” (31, tr.101)
Ông nhận xét về Khái Hưng: “Một nhà tiểu thuyết có chừng mực và ông có một đặc điểm là truyện ngắn của ông, ông thường ngụ một ý thật cao Như vậy mới nghe tưởng như trái ngược cả về người và việc trong các truyện Khái Hưng tả rất bình dị, nhưng ở đoạn kết bao giờ tác giả cũng để cho người đọc có một cảm tưởng
xa xăm, man mát.” (31, tr.33)
Hai nhà văn đặc biệt quan tâm tới thân phận đáng thương của người phụ nữ trong chế độ đại gia đình phong kiến Trong tác phẩm của mình, hai ông đã xây dựng khá thành công hình tượng những người con gái có cá tính mạnh mẽ, dám đứng lên đấu tranh chống lại nền giáo lý lạc hậu Nữ giới được chọn là nhân vật chính trong hai tác phẩm kể trên Đó là những cô gái tân thời có học hành, được tiếp xúc với văn minh phương Tây nên thấu hiểu sâu sắc những bất công trong xã hội,
mà bản thân họ lại chính là những nạn nhân phải gánh chịu Vì bản thân họ sinh ra
họ đã được ban tặng những vẻ đẹp, những giá trị vốn của của mỗi con người Hơn
ai hết, họ hiểu mình xứng đáng được hưởng những quyền lợi chính đáng Vì thế khát vọng hạnh phúc, khát vọng tình yêu ở những người phụ nữ này mạnh mẽ hơn
ai hết Và hành động chống đối lại xã hội ấy, là điều hoàn toàn hợp với quy luật khách quan của tiến bộ xã hội Đòi lại quyền sống, quyền tự do, quyền được hạnh phúc cho mình
Bên cạnh những sáng tác văn học mang tư tưởng lãng mạn như nhóm Tự lực văn đoàn, khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa đã bắt đầu xuất hiện một cách trực tiếp trong văn học Việt Nam Và văn học với đề tài lấy đời sống xã hội đương đại làm đối tượng phản ánh bắt đầu trở thành một khuynh hướng lớn Chính vì vậy, mọi mặt của hiện thực đời sống, sự thay đổi của một xã hội trong buổi giao thời Âu - Á,
sự tha hóa của các tầng lớp người đều có thể trở thành mối quan tâm trong nhiều
Trang 8sáng tác Khuynh hướng văn học hiện thực nổi lên các tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, trong đó không thể không nhắc tới Nguyễn Công Hoan với những tác phẩm tả thực của ông Nổi bật là hiện thực về đời sống, phong tục của Việt Nam; về cuộc sống của những gia đình, con người thuộc hạng
trung lưu và hạng nghèo Tiêu biểu là tiểu thuyết Cô giáo Minh (1936), đã tập trung
miêu tả cuộc sống trong gia đình một quan lại phong kiến với những hủ tục cổ hủ, lạc hậu Trong bối cảnh ấy, những tập tục cổ hủ được làm nhấn mạnh; được làm nổi bật lên nhờ cách đặt vào đấy một nhân vật nữ tân tiến, mạnh mẽ, cá tính, hết sức sáng tạo của Nguyễn Công Hoan
1.1.2 Khi tác phẩm Cô giáo Minh ra đời (1936) đã diễn ra cuộc tranh luận
giữa Tự lực văn đoàn và Nguyễn công Hoan về đề tài này, và “Vụ án văn” cho rằng
khi sáng tác Cô giáo Minh, Nguyễn Công Hoan đã dựa theo Đoạn tuyệt Cuộc tranh luận được thể hiện cả trong sáng tác lẫn luận chiến: Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh…
Và ý hệ về “văn minh” là một trong những khu vực diễn ra cuộc tranh luận đó
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không đi sâu phân tích cuộc tranh luận Tự lực văn đoàn và Nguyễn công Hoan Không nhằm mục đích lý giải, hay đi tìm kết quả cuộc tranh luận; Nguyễn Công Hoan có đúng là dựa theo cốt
truyện Đoạn tuyệt của Nhất Linh để viết tiểu thuyết Cô giáo Minh hay không?
Vấn đề ở đây chúng tôi đi tìm hiểu, xem xét hai tác phẩm trên của Nhất Linh
và Nguyễn Công Hoan với cách đặt ra một vấn đề văn học; trong cùng một không gian, trong cùng một thời điểm của giai đoạn 1930 - 1945 của xã hội Việt Nam để
tìm ra mối liên hệ của trường văn học
Vậy thế nào là trường văn học? Theo Phạm Văn Quang (2019), lý thuyết trường hay trường lực văn học ra đời góp phần canh tân những tiếp cận văn chương vượt ra khỏi những cách tiếp cận của hệ tư tưởng Marxisme và của thực chứng luận,
để hướng đến việc giải thích thế giới văn chương như một vũ trụ đặc thù có những quy tắc riêng của nó
Khái niệm trường được Bourdieu định nghĩa như là: “Không gian xã hội mà
Trang 9trong đó các tác nhân tham gia sản sinh ra các tác phẩm văn hóa được xác định vị trí” và trường văn học cũng như những trường khác “là một trường lực tác đông đến tất cả những ai dấn thân vào đó và theo cách thức khác biệt nhau tùy thuộc vào vị trí
họ nắm giữ, đồng thời cũng là một trường tranh đấu nhằm duy trì hoặc chuyển hóa chính trường lực ấy” (32, tr.7)
Vượt ra khỏi sự đối lập giữa một loại mỹ học nội tại, được đặt ra để phân tích tác phẩm như một hệ thống tự than mang nguyên lý tồn tại, tự xác định trong sự cố kết của nó những nguyên lý và những chuẩn mực để giải mã tác phẩm, với một loại
mỹ học ngoại tại thường xuyên có một giá trị biến cách quy giản, nó cố gắng đặt tác phẩm trong tương quan với những hoàn cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa của sáng tạo, nghệ thuật
Bourdieu nhấn mạnh đến đối tượng của xã hội học tri thức và nghệ thuật như sau: Để tạo cho xã hội về sáng tạo tri thức và nghệ thuật đối tượng riêng của nó, nhưng đồng thời cũng cho thấy những giới hạn của nó, ta cần phải quan sát và ghi nhận rằng mối quan hệ của người sáng tạo với tác phẩm của mình, và qua đó là chính tác phẩm, chịu tác động bởi những mối quan hệ xã hội mà trong đó sự sáng tạo có thể đạt đến hoàn thiện như một hành động giao tiếp, hay một cách cụ thể hơn, chịu tác động bởi vị thế của người sáng tạo trong cấu trúc của trường tri thức
Đặc biệt ông đặt lại trường hợp khảo cứu tiểu sử các nhà văn, những phân tích nội tại tác phẩm và những nghiên cứu về mối quan hệ tác phẩm và bối cảnh xã hội Thông qua các công trình của mình ông cho rằng các nhà văn chỉ tồn tại quan mối tương quan với tổng thể của trường Các nhà văn chỉ được biểu hiện qua những đặc tính sở hữu vị trí và uy lực chức năng của mình Trong viễn cảnh đó, những đặc trưng chủ đề và hình thức thể loại của mỗi tác phẩm được diễn giải như là một kiểu tạo lập quan điểm của tác giả ở giữa không gian văn học Như vậy để hiểu được một tác phẩm, ta cần phải quan sát và xem xét những mối quan hệ qua lại giữa tác giả, nhà xuất bản, nhà phê bình và công chúng độc giả
Thiết lập một lịch sử hình thành trường tri thức nói chung và trường văn học nói riêng cho phép tiến hành phê bình các huyền thoại về tính phổ quát về tính chất
Trang 10phi thời gian của văn học Nó cho phép hiểu hơn sự ra đời và các ý nghĩa lịch sử của khái niệm trường, cho phép trở lại các vấn đề liên quan đến các chức năng của nghệ thuật và nghệ sỹ
Hệ thống các mối quan hệ khác biệt trong trường văn học như chúng ta thấy trong mô hình trường văn học, cho phép nói đến sự tự chủ của trường Khái niệm trường cho phép phê phán mạnh mẽ những biểu hiện mang tính ý hệ và những khái niệm về tính chân thật, trung thực, bằng cách cho thấy những định đoạt gắn liền với các vị trí được nắm giữ trong một tổng thể cố kết Nhưng nguyên lý độc lập bổ sung của hai cực của trường lại khiến ta hoài nghi về những nguyên lý xếp loại, giá trị và
ý nghĩa của tác phẩm Những nguyên lý, nếu chiếu theo dề nghị của Bourdieu về sự đối lập, tương tác và liên kết, thì chỉ có thể được tạo ra trong hoạt động của những người tham gia vào trường, trong những quan hệ giữa họ và các tư duy hay diễn ngôn của họ, đến nỗi phải làm ngơ để không thấy rằng diễn ngôn về tác phẩm không phải là một sự bổ trợ kèm theo đơn thuần, để tạo điều kiện dễ dàng cho việc hiểu và đánh giá tác phẩm, mà là một thời điểm sản xuất tác phẩm ý nghĩa và giá trị của nó Giữa hai cực của trường văn học cũng có những sự đồng nhất Vì trong hai cực này có những sự kết nối giữa những phạm vi khác nhau của trường văn hóa nói chung, thể hiện qua những tương đồng về mặt cấu trúc Hai cực của trường văn học cho phép đặt chúng trong mối quan hệ với tổng thể xã hội
Về mặt phương pháp luận, chúng ta có thể nhận thấy từ sự quan sát tự chủ của trường văn học một tiến trình tái định nghĩa các phạm trù liên quan Nghĩa là xã hội học về trường văn học cho phép xem xét lại những phạm trù về giá trị văn học, hay chính văn học, lối viết của văn học hay thậm chí của cả khái niệm nhà văn
Về giá trị văn học, từ góc độ trường, có thể được hiểu như là uy tín mà các
cơ quan định chế đóng vai trò thừa nhận dành cho tác phẩm, trong một tình trạng nhất định của trường Khái niệm văn học được xem như là một hệ thống nắm giữ các vị trí trong một tình trạng nào đó của trường Còn lối viết văn học được xác định qua những đặc điểm loại hình, kỹ thuật, phong cách, chủ đề và đạo đức, cũng diễn ra trong một tình trạng nào đó của trường Những đặc điểm này tuân thủ các
Trang 11chuẩn mực hiện hành, được thừa nhận bởi các cơ quan định chế Điều đó cũng có nghĩa rằng chính những đặc điểm này có thể tham gia vào việc tạo thành những quan điểm thẩm mỹ và ý hệ nổi bật trong một tình trạng nhất định của trường, nhưng đồng thời cũng có thể dễ dàng bị phủ nhận ở một tình trạng tiếp theo sau đó của trường Cuối cùng, phạm trù nhà văn được hiểu như là người làm chủ lịch sử văn chương để biết ứng xử với tư cách nhà văn trong một trường văn học
Về khía cạnh phương pháp của xã hội học, Bourdieu cho rằng xã hội học về nghệ thuật và về văn học trong hình thức bình thường của nó đã bỏ quên cái cốt lõi,
đó là một thế giới xã hội có những truyền thống riêng, những quy luật vận hành và tuyển mộ riêng, nghĩa là có lịch sử riêng, là thế giới sản sinh ra nghệ thuật Để nhấn mạnh đến phương pháp của xã hội học về trường, Bourdieu đã phát biểu về đối tượng của xã hội học văn học: Đối tượng riêng của xã hội học về tác phẩm văn hóa không phải là nghệ sỹ đặc thù, cũng không phải là mối quan hệ với nhóm xã hội này hay nhóm xã hội khác được nhìn nhận hoặc như là nguyên nhân gây hiệu quả và nguyên lý quyết định những nội dung và hình thức diễn đạt, hoặc như là nguyên lý cuối cùng của sự sản sinh nghệ thuật, nghĩa là như nhu cầu, lịch sử của các nội dung
và hình thức gắn kết trực tiếp với lịch sử của nhóm thống trị và của các cuộc tranh đấu của họ để thống trị, xã hội học về tác phẩm phải có đối tượng là tổng thể các mối quan hệ giữa nghệ sỹ và những nghệ sỹ khác, và xa hơn, đó là tổng thể những tác nhân dấn thân vào sự sản sinh tác phẩm hoặc chí ít là sự sản sinh ra giá trị xã hội của tác phẩm Cách tiếp cận này khác với những cách tiếp cận mô tả của thực chứng luận về các đặc điểm xã hội của những người sản sinh ra nghệ thuật, và cũng khác với loại hình xã hội học tiếp nhận thường diễn tả trực tiếp tác phẩm theo quan niệm cuộc sống của những bộ phận công chúng khác nhau
Có phải ngẫu nhiên không mà trong giai đoạn văn học ấy xuất hiện hai tác giả nhà văn đều quan tâm đến một vấn đề đặt ra trong xã hội đương thời? Từ các yếu tố cấu thành tác phẩm như chọn nhân vật nữ chính; đều là những cô gái với những phẩm chất tốt đẹp Đặc biệt ý thức về giá trị con người mình; họ đầy bản lĩnh, mạnh mẽ và luôn khát khao thay đổi số phận…và có nhiều điểm tương đồng
Trang 12khác Việc lấy giới nữ làm nhân vật chính, như một mũi tên bắn trực diện vào những tàn dư của chế độ cũ Phát ra tín hiệu về tinh thần đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người phụ nữ, làm thay đổi cái nhìn vốn rất quen, rất cũ Ví như trong các mối quan hệ xã hội, trong gia đình, và trong nhiều sáng tác của nhiều tác giả đưa nam giới vào làm đối tượng trung tâm, đã thấm sâu vào tư tưởng, trở thành nếp
cảm, nếp nghĩ hàng ngàn năm qua của người dân Việt Nam Đoạn tuyệt và Cô giáo
Minh như một tiền đề, một lời dự báo cho sự xuất hiện và nở rộ những trang viết về
vấn đề “Nữ quyền” cho giai đoạn văn học sau, khẳng định tư cách làm chủ thể của người phụ nữ trong xã hội Vấn đề đặt ra ở đây trong cả hai tác phẩm cả hai nhân vật chính là nữ giới, đều mang đặc điểm chung là cùng được tiếp cận, thụ hưởng sựgiáo dục mới - giáo dục văn hóa Phương Tây Những cái mới, tiến bộ ấy, hoàn toàn tương xứng với xã hội mới là biểu hiện cho cái gọi là ý hệ “văn minh”
Điều thú vị ở đây là hai nhà văn cùng viết về một đề tài, cùng cốt truyện và nhân vật chính cùng giới tính, cùng nghề nghiệp Một bài toán đặt ra trong hai tác phẩm, nhưng lại có hai cách giải khác nhau Như việc triển khai các chi tiết, sự việc trong cốt truyện; diễn biến số phận của nhân vật chính Cách đặt ra và giải quyết các mối quan hệ của nhân vật chính lại đi theo các hướng không tương đồng Việc gửi gắm quan điểm, tư tưởng, cách nhìn nhận, đánh giá của người viết trong những đứa con tinh thần của mình Từ đó đặt ra những vấn đề xã hội đang được quan tâm Cho thấy suy nghĩ, nhận thức, cá tính của mỗi nhà văn với những nét phong cách riêng;
và tất nhiên những nét riêng ấy đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho mỗi giai đoạn văn học nói riêng, nền văn học của dân tộc nói chung Thể hiện rõ mối liên hệ của các tác phẩm văn học trong trường văn học Như vậy có thể thấy được vai trò, ý nghĩa, khả năng thu hút sự quan tâm của ý hệ “Văn minh” không chỉ riêng với Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh mà còn với nhiều tác giả khác Đưa người đọc đến với những sự quan sát, hướng tiếp cận, phân tích, cách giải quyết riêng của mỗi người viết Khẳng định việc đặt ra ý hệ “văn minh” trong sáng tác của Nhất Linh cũng như trong tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan thực sự có vai trò đóng góp thêm cho văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX Những sáng tác văn học về vấn đề nữ quyền đã góp thêm những quan điểm tiến bộ về tinh thần đấu
Trang 13tranh với những hủ tục lạc hậu không còn phù hợp của xã hội cũ, lên tiếng nói đòi quyền tự do cho con người; nhất là đối với người phụ nữ
1.1.3 Điều cần quan tâm và chú ý ở đây, đó là: Ý hệ “Văn minh” đã được hiểu và thể hiện như thế nào trong sáng tác của các nhà văn đương thời? Do phạm
vi nghiên cứu, đề tài chúng tôi lựa chọn trong khuôn khổ trường văn học Việt Nam
trước 1945
Cách nghiên cứu để thấy được điểm tương đồng và khác biệt, giữa hai tác phẩm là đặt chúng trong cùng một bình diện để phân tích và so sánh Xem xét từ trào lưu văn học, cách đặt ra vấn đề tìm hiểu, hoàn cảnh thời gian, không gian Từ
đó nghiên cứu, xem xét; để thấy được nét riêng trong quan điểm, cách nhìn, cách giải quyết các vấn đề xã hội của mỗi nhà văn
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn: “Ý hệ văn minh
trong trường văn học Việt Nam trước 1945, trường hợp Đoạn tuyệt và Cô giáo
Minh”
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh
Trịnh Tố Loan nghiên cứu về nghệ thuật so sánh của tác phẩm Đoạn tuyệt
trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại trường ĐH sư phạm
Hà Nội 2015 Đề tài khảo sát các cấu trúc so sánh làm rõ thêm một khía cạnh nghệ thuật; cung cấp thêm một cách tiếp cận, lý giải tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ mà cụ thể là nghệ thuật so sánh Qua đó góp phần nhận diện sự vận động của văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Nguyễn Thị Quỳnh nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết luận đề của nhóm Tự lực văn đoàn qua Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Bướm trắng trong Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành lý luận văn học trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn 2017 Trong
đó chủ yếu nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết luận đề trên cơ sở thực tế các tác phẩm để làm rõ các đặc trưng thể loại và thấy được sự đổi mới trong sáng tác của
Tự lực văn đoàn
Trang 14Bài phê bình của Trần Văn Toàn: Nam tính hóa nữ tính - Đọc Đoạn tuyệt
của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính năm 2013 Bài viết lý giải lí do giải thích cho
hiện tượng nam tính hóa nữ tính trong Đoạn tuyệt
Bài viết: 80 năm Đoạn tuyệt của tác giả Mai Anh Tuấn năm 2016 Từ khi bản in lần đầu năm 1936 của Đời nay, đến năm 2016 đã tròn 80 năm Đoạn Tuyệt,
vượt khỏi cái tên sách văn chương thuần túy, gợi cho người đọc hôm nay sự cần thiết của tinh thần dứt bỏ cái cũ, lỗi thời; sự khó khăn nhưng tuyệt đẹp của việc tạo dựng cách sống tự do, tự lập và tự trọng Bất kỳ ở đâu và lúc nào, “đoạn tuyệt” cũng phải được nuôi dưỡng như một ý chí, mệnh lệnh
Phạm Thị Thắm nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong “Đoạn
tuyệt” của Nhất Linh trong luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Văn học Việt
Nam trường ĐH sư phạm Hà Nội 2 năm 2013 Tìm hiểu các khía cạnh của nghệ thuật xây dựng nhân vật để góp phần tìm hiểu toàn bộ tác phẩm cũng như thấy được
tâm huyết, tài nghệ nghệ thuật của tác giả trong việc làm nên giá trị của Đoạn tuyệt
Nói chung, khi nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh; Các bài
viết, các đề tài nghiên cứu chủ yếu đi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Nhất Linh qua nhân vật Loan Lý giải tại sao lại chọn một nhân vật nữ chính để gửi gắm tư tưởng, quan điểm của mình Từ đó góp thêm một tiếng nói tố cáo, phê phán mạnh mẽ những hủ tục lạc hậu và bênh vực quyền được hưởng hạnh phúc cá nhân của con người Quan điểm, thái độ, tinh thần đấu tranh với những quan điểm cổ hủ của xã hội phong kiến, khẳng định những tư tưởng mới tiến bộ phù hợp với xu thế chung của xã hội Đó là cơ sở, là định hướng quan trọng mà tôi được
kế thừa khi nghiên cứu đề tài này
Công Hoan
Cho đến thời điểm hiện tại không có một bài viết, một công trình nghiên cứu,
phê bình, giới thiệu về tiểu thuyết Cô Giáo Minh Hầu hết các bài viết chỉ đề cập
đến vấn đề liên quan đến tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan Các bài viết có dung
Trang 15lượng ngắn, xoay quanh một vấn đề nào đó hoặc trình bày chính kiến về một tác phẩm cụ thể của ông
Viết về Nguyễn Công Hoan, Trúc Hà với bài viết: Một ngòi bút mới: Ông
Nguyễn Công Hoan (Nam Phong số 18-1932) đã tỏ ra khá tinh tế khi nhận ra giọng
văn mới mẻ pha chất hài hước của Nguyễn Công Hoan: “Văn ông Nguyễn Công Hoan có cái hay, rõ ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh và gọn, lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường hay đệm vào một vài câu hoặc một vài chữ có ý khôi hài bông lơn thú vị” (12, tr.9)
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, quyển tư (tập 3) nhận xét: “Tất cả
tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, dù là truyện ngắn hay truyện dài, đều là tiểu thuyết tả thực, tiểu thuyết tả về phong tục Việt Nam, về hạng trung lưu và hạng nghèo” (29, tr.49)
Nguyễn Hoành Khung khi nghiên cứu về truyện dài Nguyễn Công Hoan cũng có nhận xét: “Là người khơi nguồn cho dòng văn học “tả chân” “vị nhân sinh” tiến bộ chảy xiết và cắm ngọn cờ chiến thắng vẻ vang cho nó trong đời sống văn học khu vực hợp pháp Nguyễn Công Hoan còn là một trong những người đặt nền móng cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại” (22, tr.242)
Tác giả Lê Thị Đức Hạnh là người dành nhiều công sức nhất trong việc nghiên cứu Nguyễn Công Hoan khẳng định: “Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Nguyễn Công Hoan để lại cho đời hàng vạn trang sách đầy tâm huyết, đã để lại những dấu
ấn không bao giờ phai mờ trong tâm trí mọi người Và cốt cách, tấm lòng, sự nghiệp sáng tác của ông vẫn sáng mãi trên những trang văn học sử Việt Nam” (13, tr.537)
Tác giả Lê Quý Hà nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng tám nhìn từ đặc trưng thể loại, luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn, chuyên ngành văn học Việt Nam.Trường Đại học Đà Nẵng năm 2012
Nhìn tổng thể, các bài viết, các đề tài trên chủ yếu đi tìm hiểu, nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng tám Những nhận xét, đánh giá về ngòi bút của ông ở các thể loại này, thể hiện qua một số tác phẩm tiêu
Trang 16biểu của ông, dù rất ít đề tài nghiên cứu đề cập sâu Không có một đề tài nào nghiên
cứu sâu về tiểu thuyết Cô giáo Minh, nhưng những đặc sắc về giá trị, trong sự thể
hiện về ngòi bút của Nguyễn Công Hoan trong các đề tài, các bài viết đã cho thấy dấu ấn riêng, quan điểm, cách nhìn riêng của một nhà văn trong xã hội đương thời
Đó là cơ sở, là định hướng quan trọng mà chúng tôi được kế thừa khi nghiên cứu đề tài này
1.2.3 Các bài viết về “Vụ án văn” giữa Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh
Báo Phong Hóa - Cơ quan ngôn luận chính của nhóm Tự lực văn đoàn (Ngày 27/3//1936, số 180) đưa ra một “vụ án văn” cho rằng Cô giáo Minh đã được
Nguyễn Công Hoan viết là phỏng theo Đoạn tuyệt của Nhất Linh
Về phía Nguyễn Công Hoan, lại kết án Nhất Linh là người gian ngoa:
"Không biết mình và không biết người" Minh chứng sự gian ác của Phong Hoá
trong lối trích văn cốt ý xuyên tạc để hạ uy thế đồng nghiệp
Trước khi đi tóm tắt cuộc tranh luận về “Vụ án văn” này, xin được nói rõ thêm giai đoạn từ 1932 đã xảy ra nhiều vụ án văn học: Trong đó có “Vụ án Cũ - Mới” Giữa 2 nhóm văn học khác nhau: một bên là Nhóm Tự lực văn đoàn do Nhất
Linh đứng đầu - Chủ biên của tờ báo Phong Hóa - Ngày nay; một bên là những nhà văn tên tuổi của thế hệ trước không thuộc nhóm Phong Hóa
Nhóm Tự lực văn đoàn: Các thành viên đều thuộc thế hệ trẻ, có tài, bên cạnh
đó được chỉ huy do những chương trình đã hoạch định kỹ lưỡng, thành phần của lực lượng khối người mới cấp tiến này gặt được thành công ngay từ buổi đầu Phải chăng đó là nguyên nhân ngay từ lúc mới thành lập, nhóm Tự lực văn đoàn đã khai chiến quyết liệt với lực lượng khối cựu học, hay ít ra bị coi là cựu học Đa phần các
nhà văn tên tuổi của thế hệ trước đều bị khối Phong Hoá chế giễu; toàn bộ các báo, ngoại trừ báo Phong Hóa, đều bị khối Phong Hóa bêu xấu
Theo nhận định của Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam,
quyển hạ ba thế hệ của nền văn học mới (1862 - 1945): “Văn phê bình từ 1932 đến cuối 1934 là văn phê bình của hai khối A và B, tức văn phê bình của tất cả các nhà
Trang 17văn không thuộc nhóm Phong Hóa với các nhà văn của khối Phong Hoá, tức nhóm
Tự Lực Văn Đoàn
Thứ nhất: Đặc tính của khối A, tức khối bị coi là cựu học: Thành phần
phức tạp hơn Không phải những cây bút cộng tác với khối này không có những cây
bút mới, trẻ, có tư tưởng cấp tiến; con số đông hơn cả bên Phong Hoá, nhưng độc
lập, chưa quy tụ thành đoàn thể: Đó là trường hợp các cây bút như Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Trương Tửu, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Hải Triều
Đa số các cây bút giữ vai trò lãnh đạo, hay chủ biên của các tờ báo đều là thuộc thành phần cũ; nghĩa là thuộc thế hệ trước, tức thế hệ 1913-1932, cái thế hệ còn đang mơ say việc xây dựng một nền văn hóa dung hợp được cả Đông lẫn Tây….” (23, tr 646, 647)
“…Thứ hai: Đặc tính của khối B, tức khối cấp tiến: Thành phần của khối
cấp tiến, tuy ít, nhưng thuần nhất, tự đặt mình vào những kỷ luật chung, có sự kiểm soát chặt chẽ; đàng khác, họ toàn là người mới, trẻ, thường xuất thân từ các trường Đại Học, hay Cao Đẳng ở trong nước hay ngoại quốc Đó là các ông Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ
- Cơ quan ngôn luận là tờ báo Phong Hoá và, sau này, là tờ Ngày Nay, đều là
những tờ báo, về mặt kỹ thuật, tổ chức tòa Soạn, nghệ thuật trình bày, về nội dung bài vở nhất thiết đều mới mẻ, nhẹ nhàng, vui tươi, thức thời Lập trường không còn phải cái thứ lập trường hoà hoãn nước đôi Họ muốn tiến với bất cứ giá nào, dầu phải tàn nhẫn, phải đập phá, phải chém giết Mà thực họ đã tàn nhẫn với tất cả cái gì mà họ coi là cũ, họ đập phá tất cả cái gì mà họ cho là ngáng trở bước đi tới của họ, và lắm khi họ chẳng ngại đổ máu để giật phần thắng lợi Văn của họ rất độc đáo, họ khởi xuất một lối văn mới mẻ, đơn sơ, bình dân, dễ hiểu, vui tươi Những thứ khí giới ấy đã tạo nên thế mạnh để họ lập mặt trận và tuyên chiến với tất cả học giới đương thời Họ gây gổ và tuyên chiến với các nhà văn lão thành
Thứ ba: Đặc tính của khối C chống Phong Hóa - Ngày Nay: Những đồng
Trang 18nghiệp bị báo Phong Hóa công kích, bêu xấu, đông đảo vô cùng và thuộc đủ mọi
lứa tuổi, có người thuộc phái cựu học mà rất lắm người còn mới hơn cả anh em bên Phong hóa Chính vì vậy mà một mặt trận mới như được liên kết lại từ năm 1934-
1935: một bên là Phong Hoá, một bên là hầu hết các tạp chí khác; một trận tuyến
được giàn ra, gay go, kéo dài hàng mấy năm liền giữa hai khối Nếu từ 1932 đến
1934 là trận tuyến Phong Hóa giàn ra để đánh tất cả làng báo mà Phong hóa coi là
cổ lỗ, thì từ năm 1934 trở đi, một sự tổng phản công của các báo chí khác vừa mới
ra đời từ năm 1934, đã liên hiệp lại để đánh thẳng vào Phong Hoá Và chiến dịch tấn công Phong Hóa của Mặt trận hay khối thứ ba, tạm gọi là khối C này gồm có những báo như Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934), Loa (1934), Hà Nội báo (1936), Ích
hữu (1936) (23, tr 647, 655)
Có lẽ không có tờ báo nào chống đối nhóm Phong Hóa mạnh mẽ cho bằng
Hà Nội báo Chẳng mấy số Hà Nội báo không có bài công kích Phong Hóa Ở đây
chỉ đề cập đến những bài tiêu biểu, mạnh mẽ hơn, nội dung đề cập như: Tố cáo
Phong Hóa đã đưa ra “lời vu cáo hèn hạ” đối với Nguyễn Công Hoan; mỉa mai gọi Phong Hóa là bầy ong, bầy ruồi vỡ tổ; kết án Phong Hóa trả lời đồng nghiệp " bằng
những câu thô bỉ, bằng một giọng hèn nhát "không đứng trên lập trường tư tưởng hay nghệ thuật để phê phán mà chỉ cố ý bêu xấu cá nhân của đồng nghiệp một cách
rất vô lý như việc Phong Hóa chửi Hà Nội báo chỉ vì ông Lê Cường, chủ trương Hà
Nội báo là ông chủ một nhà thuốc lớn, một nhà in bề thế
Nguyễn Công Hoan đã cố vạch ra cho độc giả thấy cái gian ý của Tự Lực
Văn Đoàn trong khi họ lên tiếng kết án Cô giáo Minh là bắt chước Đoạn Tuyệt (23,
tr.661)
Nguyễn Công Hoan viết hai bài: Từ Đoạn Tuyệt đến cô giáo Minh (Ích Hữu
số 2) và bài: Cùng ông Khái Hưng (Ích Hữu số 4) Ở cả hai bài, Nguyễn Công Hoan
đều trả lời Tự Lực Văn Đoàn về việc công kích tác phẩm cô giáo Minh bằng đường lối mà Nguyễn Công Hoan cho rằng có gian ý, muốn dìm đồng nghiệp
Sau khi Nguyễn Công Hoan lên tiếng, thì Lãng Nhân Phùng Tất Đắc họa lời
bênh vực tác giả Cô giáo Minh và cho rằng lối phê bình của nhóm Tự lực văn đoàn
Trang 19là thiên lệch một chiều
Trên đây là tập hợp một số đề tài, bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn
tuyệt của Nhất Linh các đề tài, bài viết chủ yếu bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật
của Nhất Linh Còn các đề tài nghiên cứu về Cô giáo Minh lại chủ yếu nghiên cứu
về những nét đặc sắc riêng trong ngòi bút của ông qua các tác phẩm tiêu biểu ở các thể loại này Nhìn chung các bài viết đều tập trung về ngòi bút, cách xây dựng nhân vật riêng của mỗi nhà văn Có những bài báo đề cập đến cuộc tranh luận về “Vụ án văn”; nhưng lại chưa đề cập, khai thác, hay đặt ra vấn đề so sánh ý hệ “Văn minh”
trong Đoạn tuyệt và cô giáo Minh Dựa qua quá trình tham khảo, kế thừa những kết
quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, chúng tôi tiếp cận vấn đề ý hệ “văn minh” trong tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945, trường
hợp Đoạn tuyệt và cô giáo Minh với mong muốn chỉ ra điểm giống và khác nhau
giữa hai tác phẩm Từ đó có thể có những đánh giá, nhận định những sáng tạo riêng
về quan điểm, tư tưởng, cách nhìn của Nhất Linh cũng như của Nguyễn Công Hoan trước một vấn đề được quan tâm trong xã hội lúc bấy giờ
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài đi tìm hiểu, nghiên cứu, tiến hành đối chiếu, so sánh ý hệ “văn minh” trong hai tác phẩm thuộc hai dòng văn học lãng mạn và hiện
thực của văn học Việt Nam trước 1945, cụ thể qua trường hợp Đoạn tuyệt và cô
giáo Minh Làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa hai tác phẩm khi cùng đặt
ra, xây dựng và triển khai một vấn đề, trong cùng một thời điểm Từ đó thấy được những sáng tạo riêng của mỗi tác giả
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu ý hệ “Văn minh” trong hai tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh trên
toàn bộ tác phẩm; từ việc chọn lựa các tuyến nhân vật, diễn biễn tính cách, số phận khẳng định được những dấu ấn tư tưởng, quan điểm, cách nhìn riêng của mỗi nhà văn đối với các vấn đề đặt ra trong xã hội đương thời Đồng thời thấy được những đóng góp của mỗi tác phẩm trong văn học Việt Nam trước 1945
Trang 201.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ý hệ “Văn minh” qua Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh trong khuôn khổ trường văn học Việt Nam trước 1945
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát Đoạn tuyệt của Nhất Linh và Cô
giáo Minh của Nguyễn Công Hoan Quá trình tìm hiểu, phân tích có thể mở rộng
phạm vi, nếu thấy cần thiết để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ việc khảo sát, phân tích nhân vật ở các khía cạnh, vấn đề mà đề tài đặt ra, người viết chú ý đến những đặc sắc trong từng tác phẩm để có thể làm hiện diện ra nét riêng độc đáo của từng nhà văn, Để chỉ ra một số chi tiết, sự kiện từ đó phân tích
việc thể hiện xung đột giữa tư tưởng giáo dục cũ, mới trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt
và Cô giáo Minh; các chi tiết liên quan đến nhân vật đại diện tư tưởng cũ, mới, 2
tuyến nhân vật này xung đột như thế nào? Sự kiện nào có sự xung đột mạnh nhất để từ đó có các minh chứng làm căn cứ rõ ràng, xác đáng cho việc nhận xét, đánh giá Từ việc phân tích đó, chúng tôi có cơ sở để đi đến những kết luận có tính chất tổng hợp, khoa học
1.5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để chỉ ra và làm rõ những điểm giống, khác nhau về ý hệ văn minh trong
Đoạn tuyệt cũng như Cô giáo Minh, cần đặt chúng trong sự so sánh, đối chiếu mới
thấy được những biểu hiện riêng của từng tác phẩm
1.5.3 Phương pháp xã hội học văn học
Vận dụng phương pháp này để chỉ ra sự ảnh hưởng của xã hội đến sáng tác
văn học, vấn đề đầu tiên là tìm ra mối quan hệ giữa tác phẩm với môi trường xã hội
mà trong đó nó được hình thành, triển khai và hoàn thiện thành tác phẩm Xã hội đương thời chính là căn cứ để đánh giá những diễn biến, biến đổi trong cuộc đời của nhân vật Nhà nghiên cứu phải phân tích những vấn đề trong đời sống thực tế, lấy
Trang 21nó làm tiêu chí để xác định các giá trị mà nhà văn muốn hướng tới khi đề cập, đặt ra vấn đề ấy trong sáng tác của mình Từ đó chỉ ra cách nhìn, quan điểm của mỗi nhà văn về xã hội đó
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi tham khảo; vận dụng một số kiến thức liên quan đến phê bình nữ quyền làm cơ sở triển khai
Trang 221.6 Về cấu trúc của luận văn
Đề tài đi tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu cụ thể qua việc so sánh, đối chiếu ý
hệ “văn minh” giữa tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực trong trường văn học Việt
Nam trước 1945, trường hợp Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh để chỉ ra điểm giống,
khác nhau Từ đó nhận định về tư tưởng, quan điểm, thái độ của mỗi nhà văn trong cách nhìn hiện thực xã hội Việt Nam đương thời Đồng thời thấy được sự đóng góp của mỗi nhà văn trong công cuộc đấu tranh giải phóng con người; trân trọng hạnh phúc và khát vọng thay đổi cuộc sống của con người; cách giải quyết mối quan hệ giữa cái cũ với cái mới; phá bỏ những cái lỗi thời, cổ hủ đã tồn tại bao đời nay trong nếp sống của con người Việt Nam Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Trang 23Chương 1: VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC 1.1 Các vấn đề cơ bản về giáo dục:
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, không thể thiếu được vai trò quan trọng của giáo dục đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại
Nói đến giáo dục, có thể khái quát một số vấn đề cơ bản như sau: Giáo dục là
cách tiếp thu về kiến thức, các thói quen, phong tục và những kỹ năng của con người đã được lưu truyền thông qua các thế hệ bởi hình thức giảng dạy, nghiên cứu hoặc đào tạo; là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là nói đến vai trò góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại
và phát triển của con người trong xã hội
Mục đích của giáo dục sẽ thay đổi và tương ứng theo từng giai đoạn khác nhau Được chia ra làm những loại cơ bản Đó là: Mục tiêu giáo dục tiếp cận với truyền thống, tiếp cận cá nhân, giáo dục truyền thống - cá nhân
Nhìn chung mỗi loại đều hướng tới các mục tiêu giáo dục cụ thể, nó có những ưu điểm, hạn chế nhất định Tóm lại qua các loại cơ bản của mục tiêu chính
là cung cấp, trang bị về các kiến thức và kỹ năng Rèn luyện đạo đức, nhân cách và lối sống của con người giúp mọi người có thể hòa nhập vào với cộng đồng xung quanh Các vai trò của giáo dục sẽ mang tới lợi ích cơ bản: Giúp mỗi người có thể sống tự lập hơn; lựa chọn một cuộc sống an toàn, ổn định và hạnh phúc nhất Nếu được giáo dục tốt sẽ giúp nâng cao thu nhập của mỗi người, góp phần cho nền kinh
tế được tăng trưởng Xã hội đảm bảo công bằng, bình đẳng Giúp con người bản lĩnh, tự tin, rèn luyện mình hướng tới những phẩm chất tốt đẹp
Đất nước Việt Nam có một lịch sử giáo dục lâu đời và đã đạt được nhiều thành tựu Qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau giáo dục đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước
Trang 24Nền giáo dục truyền thống của Việt Nam trong thời phong kiến có thể nói đã ảnh hưởng không ít giáo dục phong kiến Trung Hoa - giáo dục Nho giáo Những hạn chế trong nội dung giáo dục và mục tiêu giáo dục Nho giáo không những đã làm trì trệ nền giáo dục nước nhà, mà còn là lực cản cho sự phát triển của đất nước
Thời kỳ thuộc Pháp, thấy được tầm quan trọng của giáo dục đối với công cuộc khai thác thuộc địa Pháp đã áp đặt nền giáo dục phương Tây vào nước ta Khi bối cảnh giáo dục Nho giáo đang hồi suy tàn không đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước, thì nền giáo dục phương Tây đã đưa đến những yếu tố mới cho nền giáo dục Thời kỳ này đã đào tạo được một thế hệ trí thức Tây học có tư tưởng tiến bộ Đó chính là cơ sở, nền tảng cho sự ra đời các trào lưu văn hoá với sự ảnh hưởng, tiếp thu tư tưởng phương Tây xuất hiện tại Việt Nam; mang theo những diện mạo mới trong đời sống văn hoá, tư tưởng ở nước ta Góp phần mở mang nhận thức mới trong một bộ phận trí thức ở Việt Nam, đặc biệt đặt ra vấn đề nữ quyền và đấu tranh bảo vệ quyền của người phụ nữ tại một đất nước phong kiến ngàn đời nay vốn người phụ nữ không có tiếng nói, không có vị trí trong xã hội
Ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, quyền lợi của người phụ nữ Việt Nam hầu như chưa được chú trọng Trong xã hội phong kiến Việt Nam ấy, người phụ nữ luôn được chỉ đứng sau người nam giới, người Việt Nam truyền bá nhau câu nói: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” và xã hội áp đặt thật nhiều quy định gò ép người phụ
nữ phải thực hiện: “Đàn ông có thể năm thê bảy thiếp, nhưng phụ nữ chính chuyên chỉ được phép lấy duy nhất một chồng,
Dưới sự ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, trong đó có văn hoá Pháp đã làm thay đổi nhận thức của trí thức Việt Nam khi bàn về vấn đề nữ quyền Lần đầu
tiên trong xã hội Việt Nam, khái niệm „nữ quyền” được nhắc đến trong bài Về thói
trọng nam khinh nữ của ta đăng trên báo Đông Dương tạp chí ngày 11 tháng 02
năm 1914 Bài viết hướng tới nội dung kêu gọi phụ nữ Việt Nam đấu tranh cho
quyền bình đẳng giới Năm 1916, trên tờ báo Trung Bắc tân văn, ở mục Nhời đàn
bà, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã đăng bài Bàn về nữ quyền Nguyễn Văn Vĩnh đã
cho rằng: Người đàn bà trời sinh ra để làm bạn, để gánh vác một công việc với
Trang 25người đàn ông chứ không phải để làm thân trâu ngựa
Khoảng những năm cuối thập niên 1920, bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam việc
đề cập đến vấn đề quyền của người phụ nữ và bình đẳng nam nữ trong nhiều cuốn sách của nhiều tác giả; các tác phẩm viết về nữ quyền của các nhà tư tưởng lớn thông qua nhiều con đường khác nhau đã được các trí thức Việt Nam đầu thế XX tiếp thu, ủng hộ và giới thiệu trên báo chí cũng như xuất bản thành sách nhằm phổ biến trong nhân dân Điều này phản ánh quá trình phát triển về mặt nhận thức của người trí thức Việt Nam đầu thế kỉ XX về vấn đề phụ nữ và bình đẳng nam nữ Các cuốn sách về đề tài này có ý nghĩa như di sản tinh thần của người trí thức Việt Nam trong bối cảnh xã hội đầy biến động Góp phần khẳng định và khơi dậy các quan điểm, phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ khỏi những luân thường đạo lý được cho là khắt khe, cổ hủ với phụ nữ Việt Nam Phong trào đấu tranh giải phóng phụ
nữ và lên tiếng đòi xóa bỏ gia đình phụ quyền, xóa bỏ những lễ giáo khắt khe đối với người phụ nữ, diễn ra mạnh mẽ trên nhiều trang báo, tạp chí…Cùng với việc đấu tranh vì sự tự do trong hôn nhân của nam nữ, chế độ đa thê bị lên án Xã hội hướng tới sự đấu tranh vì một chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Như vậy, việc đề cập tới quyền của người phụ nữ như quyền bình đẳng; cũng như việc đấu tranh xóa bỏ những lễ giáo phong kiến khắt khe và vô lý đối với người phụ nữ Việt Nam nhằm hướng tới chế độ tình yêu tự nguyện, hôn nhân bình đẳng, hôn nhân một vợ một chồng và gia đình hạnh phúc, là những tư tưởng tiến bộ dưới sự tác động với văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp Trong dòng vận động tiến
bộ và tích cực ấy, người trí thức Việt Nam đóng vai trò nòng cốt nhất, từ việc đón nhận, phổ biến, lên tiếng đấu tranh vì quyền của người phụ nữ Việt Nam Qua đó cho thấy, tác động của văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp thực sự trở thành động lực thôi thúc người trí thức Việt Nam trong quá trình đón nhận và thực hiện hóa những vấn đề tiến bộ trong đời sống xã hội
Khi thực dân Pháp xâm lược, sự đàn áp và bao nhiêu đau thương mà chúng gây ra cho nhân dân Việt Nam không thể kể hết Nhưng cũng không thể phủ nhận yếu tố tích cực từ sự kiện xâm lược ấy, là tạo cơ hội cho sự du nhập, tiếp xúc với
Trang 26văn học phương Tây của nền văn học Việt Nam Văn hóa phương Tây còn được đưa vào nhiều trường học của Việt Nam Việc được học tập, tiếp xúc những luồng
tư tưởng mới, tiến bộ khiến con người nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa con người với xã hội; khiến họ thức tỉnh, họ ý thức chính về con người cá nhân Việc hôn nhân không đơn giản còn nằm trong ý niệm tuân thủ: “cha mẹ đặt đâu con nằm đấy” nữa mà đã trở thành suy nghĩ, nhận thức, mong muốn, khát khao thực hiện để quyết định số phận mình
Vấn đề đặt ra trong Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh chính là tư tưởng mới, tiến
bộ về con người; giá trị, quyền bình đẳng, quyền tự do, hạnh phúc của con người; nhất là người phụ nữ Hay còn gọi là vấn đề về ý hệ „văn minh” được đặt ra trong hai tác phẩm Vậy ý hệ “văn minh” liên quan như thế nào đến giáo dục? Giáo dục
có vai trò gì đối với ý hệ “văn minh”? Trước hết ta cần hiểu một số vấn đề cơ bản:
- “Ý thức hệ, ý hệ hay hệ tư tưởng là hệ thống các mục đích và quan niệm giúp điều chỉnh mục tiêu, dự tính và hành động của con người Một ý thức hệ có thể hiểu như một tầm nhìn bao quát, như cách thức để xem xét sự vật, thường gặp trong một vài trường phái triết học xã hội”
- Văn minh: “Văn là vẻ đẹp, minh là sáng, cái tia của đạo đức nơi phát hiện nơi chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương… gọi là văn minh Phản đối với dã man” (10, tr.12)
“Văn minh là sự sáng tạo những giá trị tốt đẹp, là trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của một cộng đồng dân tộc, chủ yếu là về chính trị, pháp luật, học thuật, đô thị, kỹ thuật” (10, tr.12)
“Văn minh là tổng hòa các giá trị sáng tạo của nhân loại, bao gồm văn minh vật chất, văn minh tinh thần, văn minh chính trị, văn minh xã hội, văn minh sinh thái… theo nghĩa hẹp, có nội dung về phương diện tinh thần, về tư tưởng, lý luận, đạo đức, văn học, nghệ thuật, giáo dục và khoa học, những sinh hoạt xã hội của nhân loại Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về vật chất cũng như tinh thần của xã hội loài người Cũng có thể hiểu văn minh là biểu hiện của giai đoạn phát triển cao
Trang 27của văn hóa; biểu hiện qua những khía cạnh cụ thể của cuộc sống, như các hành vi hợp lý của con người trong cách ứng xử với các quan hệ xung quanh Văn minh đó chính là những cái mới, tiến bộ, tốt đẹp; nó phù hợp với quá trình phát triển đi lên của đời sống con người cũng như đời sống xã hội” (10, tr.13)
1.2 Vai trò của giáo dục trong sự kiến tạo ý hệ “văn minh”
1.2.1 Vai trò của giáo dục đối với „Văn minh” của con người, của xã hội nói chung
Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử của xã hội cho thấy văn minh không phải tự nhiên có được Văn minh là kết quả của quá trình giáo dục, sự phát triển của xã hội;
để đến một thời điểm nhất định cái văn minh ấy là những thứ tiến bộ, là sự sáng tạo,
là cái mới, tốt đẹp so với những cái đã tồn tại bao lâu nay Trước khi xét đến cái gọi
là văn minh ấy, để đánh giá xem nó làm thay đổi nhận thức của của con người về cuộc sống mình đã và đang sống như thế nào; không thể không nhắc đến vai trò của giáo dục “Bởi trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Giáo dục là cách học tập kiến thức, thói quen và kỹ năng của con người có tính chất truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác qua hình thức đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy Tức là những trải nghiệm
cá nhân của con người với những suy nghĩ, hành đồng và cảm nhận sẽ được coi là giáo dục Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội, muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất và tinh thần, nhất là về học vấn, nhận thức về thế giới xung quanh để họ có thể góp phần xây dựng và cải tạo xã hội” Và điểu có thể khẳng định chắc chắn giáo dục có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn minh, tạo ra văn minh cho nhân loại
1.2.2 Vai trò của giáo dục trong sự kiến tạo ý hệ “văn minh” trong Đoạn tuyệt
Trong Đoạn tuyệt (Nhất Linh) Loan là nhân vật chính diện, cô là người con
gái có được cha mẹ cho ăn học tử tế; được tiếp thu, chịu ảnh hưởng của giáo dục phương Tây Cô có cá tính mạnh mẽ; có thể nói cô chính là một trong những người chiến sĩ tiên phong, đấu tranh kiên cường cho cái mới vừa nảy mầm trước cái cũ
Trang 28vẫn chưa tàn lụi Loan đã học đến năm thứ tư bậc cao đẳng tiểu học; cô kết giao, chơi thân với bạn bè cũng là những người có tư tưởng tiến bộ; người làm nghề giáo, người thích cuộc sống tự do theo lý tưởng riêng của bản thân mình Họ lớn lên đúng vào thời điểm văn hóa phương Tây có một sự ảnh hưởng lan tỏa cả chiều rộng và chiều sâu đối với văn hóa phương Đông Trong khi từ truyền thống hàng ngàn năm của đất nước với sự ảnh hưởng của xã hội phong kiến, vẫn còn những lễ giáo cổ hủ, thân phận nữ nhi lại vốn lệ thuộc theo đạo “Tam tòng” Khi được học hành, được nhận thức những điều mới mẻ từ giáo dục phương Tây ấy khiến họ được thức tỉnh,
họ nhận thức được chính mình; đặc biệt là giá trị con người mình và quyền mà mình đáng được hưởng Nó không chỉ là ý thức con người cá nhân mà còn là giới tính, sự
đòi hỏi về quyền bình đẳng trong xã hội, suy nghĩ của Loan trong Đoạn tuyệt đã cho
thấy rõ điều đó:
“Học thức mình không kém gì Dũng, sao lại không thể như Dũng, sống một đời tự lập, cường tráng, can chi cứ quanh quẩn trong vòng gia đình, yếu ớt sống một đời nương dựa vào người khác để quanh năm phải kình địch với những sự cổ hủ mà học thức của mình ghét bỏ Mình phải tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình.” (24, tr.28)
Khi nhìn Dũng, Loan tự nhìn lại chính mình; tại sao Loan lại có thể tự nhìn nhận, tự đánh giá chính mình, dù là nữ nhi nhưng Loan đâu có kém cạnh gì Dũng? Theo phong tục, truyền thống ngàn đời nay của đất nước phong kiến vốn chỉ là những quan niệm: “Phu xướng, phụ tùy” hay những câu cửa miệng nôm na “Đàn bà đái không qua ngọn cỏ” đều thể hiện vị trí, vai trò thấp kém của phụ nữ so với nam giới Tại sao ở đây Loan lại dám, lại mạnh dạn so mình với Dũng? Suy nghĩ ấy như báo trước một điều gì đó rất khác, rất mới so với những cái trước kia chưa hề có, hoặc có nhưng chỉ thấp thoáng ẩn hiện trong mong ước được thay hình, đổi kiếp Chúng ta không thể không nhớ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm đã từng ao ước, mong muốn:
“Giá đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?” (26, tr.146)
Trang 29Cười mỉa, khinh bỉ trước Sầm Nghi Đống; một đấng nam nhi, một tên tướng giặc bại trận, thất bại thảm hại đến mức phải treo cổ tự vẫn trên nước khác Hồ Xuân Hương đã tự nhủ, nếu mình có thể đổi phận làm kiếp nam nhi thì chắc chắn sự nghiệp của người anh hùng, người nam nhi không chỉ có được như kết cục mà bà đã chứng kiến Điều gì đã khiến Loan nghĩ mình “Mình phải tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình”? Từ “Mình phải” chứ không phải là “Mình sẽ” cho thấy lời khẳng định, kế hoạch đặt ra và chắc chắn sẽ thực hiện Dựa vào đâu, dựa vào điều kiện gì mà Loan lại muốn phá vỡ đi cái ranh giới vô hình ngăn cản sự ngang bằng về quyền lợi, vị trí của nam và nữ? Vì “Học thức”, Loan có học thức,
mà nhất là “học thức” ấy “Không kém gì Dũng” Vậy tại sao “lại không thể như Dũng, sống một đời tự lập, cường tráng, can chi cứ quanh quẩn trong vòng gia đình, yếu ớt sống một đời nương dựa vào người khác để quanh năm phải kình địch với những sự cổ hủ mà học thức của mình ghét bỏ”? Nhờ giáo dục Loan hiểu, Loan nhận thức rõ điều đó, từ đó có nhu cầu đòi hỏi sự bình đẳng về vai trò của con người trong xã hội Tại sao cùng được sinh ra trên thế giới này, được học hành, có kiến thức, có hiểu biết đâu có kém cạnh gì nam giới; mà bản thân người phụ nữ nữ lại phải bị gò ép vào những đạo luật, lễ giáo trong khuôn khổ của gia đình, không được làm chủ cuộc đời mình, không thể có một vị trí, một chỗ đứng trong xã hội xứng đáng với giá trị của bản thân Họ cũng không có quyền làm chủ chính số phận của mình Phải chăng đó là điểm mới, tiến bộ đầu tiên mà Nhất Linh để nhân vật của mình thể hiện Để thấy họ mạnh mẽ, cá tính, bản lĩnh qua lời nói, thái độ tự tin
để khẳng định chính mình
Nhờ giáo dục họ nhận thức được sự thay đổi của xã hội, mặc dù sinh ra trong một gia đình vốn vẫn mang nặng những dấu ấn của giáo dục phong kiến, của văn hóa phương Đông Song họ đã có cái nhìn tiến bộ, cái nhìn mới về hôn nhân, về tương lai của cuộc đời mình Hãy cùng đọc và ngẫm lời Loan trong câu chuyện với
mẹ mình khi bà ép Loan lấy Thân vì lời hứa gả của hai gia đình từ ngày trước; nhưng thật ra gả nàng đi là để trừ món nợ:
“Loan vẫn ung dung từ tốn:
Trang 30-Thưa mẹ, chính vậy Chính vì con lớn, con biết nghĩ nên con mới thưa cùng
mẹ rằng con không thể về làm dâu nhà ấy…
Bà Hai nói:
-Dễ thường cô tưởng chuyện chơi hay sao?
Loan đáp:
-Không, con không cho rằng chuyện chơi Con cho là một chuyện rất quan
hệ trong đời con, mà chỉ quan hệ đối với con mà thôi.” (24, tr.46)
Cái câu: “chỉ quan hệ đến đời con mà thôi" là một lời khẳng định, một sự tự
ý thức và mạnh rạn đòi hỏi về quyền được tự quyết định tương lai của chính mình
Nữ nhi cũng cần, cũng phải được làm chủ cuộc đời mình vì nó là “đời con”, “chỉ quan hệ đối với con mà thôi” ; bởi xã hội đã dần đổi thay rồi, thời đại mới đã dần
mở ra thay thế cho cái xã hội “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”
Còn đây là cách nghĩ, là ý kiến của Loan khi trình bày với cha mình:
“Thưa thầy con không hỗn Không bao giờ con dám vô lễ với mẹ con Nhưng ít ra mẹ con phải để con nói chuyện phân bày phải trái về một việc quan hệ đến đời con” (24, tr.46)
“Vâng, con nhận rằng con mới quá, nhưng con đã đi học, không thể không
cư xử theo sự học của con được Bây giờ thì tùy quyền thầy me” (24, tr.48)
Một lời khẳng định, một sự tự ý thức cá nhân về giá trị của mình; về tương lai của mình rất rõ ràng, đúng đắn Bởi nó “chỉ quan hệ đối với con mà thôi” Hơn
ai hết, Loan thấy rõ hôn nhân là chuyện hệ trọng, nó liên quan đến hạnh phúc của con người Và đương nhiên hạnh phúc của cô thì chỉ quan hệ đối với cô mà thôi…một sự nhận thức sâu sắc và trách nhiệm trước tương lai của mình Mỗi con người có quyền cũng như phải chịu trách nhiệm trước tương lai, số phận của chính
họ Bởi vậy nên hay không phải là chính họ được quyền lựa chọn cuộc sống tương lai cho bản thân Nếu cứ chìm đắm trong sự giáo dục truyền thống còn vô vàn những lễ giáo ngặt nghèo trong một xã hội phong kiến hàng nghìn năm Mà không
Trang 31được tiếp xúc, giao thoa, thụ hưởng nền giáo dục mới, giáo dục văn hóa phương Tây thì những cô gái như Loan làm sao có thể có được những cái nhìn mới lạ, tiến
bộ như vậy Đến chính bạn cô - cô giáo Thảo - một trong những cô gái có những tư tưởng cũng phải nhận xét:
“Chị táo bạo lạ Nhiễm những tư tưởng quá mới
Loan buồn rầu bảo bạn:
-Tôi cũng nhận thấy như vậy, nhưng biết làm thế nào Không thể mỗi chốc
và đổi được hết tư tưởng mình đi được Tôi biết là rồi tôi cũng sẽ gặp những cảnh
ấy
Loan cúi đầu, trong lòng bối rối, lo sợ cho tương lai mù mịt ”, “Em lo sợ việc nhân duyên của em lắm Chị chắc biết, nếu em không đổi được tính đi, thì không thể về làm dâu nhà nào được cả…” (24, tr.30)
Điều lo sợ của một cô gái có những tư tưởng mới tiến bộ Một dự cảm mơ hồ cho cuộc sống sau này không biết sẽ ra sao, sẽ đi đâu về đâu? Cô dự đoán trước điều không thể tránh khỏi, bởi sinh ra và lớn lên giữa một môi trường vẫn chưa thể dứt khỏi những tư tưởng cũ Là phận con Loan phải chấp nhận kiểu hôn nhân hứa
gả vì món nợ từ đời cha mẹ ấy, và cô đã phải trả bằng hôn nhân của cả cuộc đời mình… cho thấy Nhất Linh đã nhấn mạnh, đề cao yếu tố giáo dục Nhờ có sự thụ hưởng giáo dục, sự ảnh hưởng bởi giáo dục văn hóa phương Tây đã khiến Loan nhận thức rõ giá trị, khát vọng thay đổi cuộc đời mình để thoát khỏi sự đè nặng bởi
lễ giáo phong kiến Tác giả đã lựa chọn con đường đi cho nhân vật của mình là được tiếp nhận, được đào tạo làm nghề giáo Tuy nhiên cô phải bỏ dở sự nghiệp học hành, vì chữ hiếu phải đặt lên hàng đầu; con cái không thể trái lời cha mẹ Trong ngày cưới, mọi hành động, cử chỉ đều răm rắp nghe theo lời mọi người như một cái máy Còn tâm hồn, tình cảm, tâm lý của cô ra sao? Có thực sự đúng tâm trạng háo hức, mong đợi đúng kiểu của một cô con dâu mới không hay chỉ như một tấm “ván
đã đóng thuyền” mà không cách nào tháo gỡ, dỡ bỏ được Câu đùa của Loan sao mà nghe thật chua chát:
Trang 32“Loan nói đùa:
-Nào thì dậy để về nhà chồng;
Hai chữ “nhà chồng”, Loan nhắc đi nhắc lại như thể nhồi vào óc rằng việc lấy chồng đã là một việc nhất định rồi, nàng không còn phải nghĩ ngợi lôi thôi gì nữa Làm bộ ngây thơ, Loan hỏi bà Đạo:
-Thế bây giờ cháu phải làm gì, thưa cô?
- Cô phải rửa mặt, phấn sáp vào rồi đi tập lễ
Loan lại nói:
-Vậy từ giờ trở đi, con làm như bị người ta đẩy đi lấy chồng Ai bảo lễ thì lễ,
ai bảo bước thì bước, bảo cười thì cười, con không biết gì đâu, cô nhé?” (24, tr.73)
Lấy chồng, nhưng thực chất bị trở thành cô con dâu “gán nợ”, “ trước kia, cha mẹ Loan giao ước cho nàng làm vợ Thân đã làm một việc bán linh hồn của con
đi, nay cha mẹ bắt nàng làm vợ Thân đã bán xác thịt nàng với một số tiền ba nghìn bạc” (24, tr.94)
Khi bạn nàng “Cô Nhung bước vào phòng, cười, nói:
-Nào, vào để xem một người sung sướng
Loan hỏi:
-Tôi sung sướng à? Lạ nhỉ! Thế mà tôi không biết đấy!
Rồi nàng cười tít đi, nói tiếp:
-Nào thì sung sướng” (24, tr.74)
Lấy chồng, lấy một người mình không hề có tình cảm; đến ở nhà chồng, một gia đình đại phong kiến giàu có Loan liệu có biết trước được cuộc sống của mình sẽ như thế nào? Chính Loan còn không rõ, còn mơ hồ điều đó Những chữ “Nào thì sung sướng” ấy nó như được kéo dài trong câu nói của Loan, liệu cái sự “sung sướng” ấy có quá xa vời, xa xỉ với một người đến chỉ với tư cách một “con nợ” không hơn không kém?
Trang 33Khi bước vào làm lễ, nhìn thấy Thân, “Rồi nàng thấy hiện ra trước mặt hình ảnh Dũng ngồi trước lò sưởi, vẻ mặt rắn rỏi, cương quyết, vẻ mặt của một người có chí khí cao rộng và so sánh Dũng với Thân, chồng nàng, người có một vẻ mặt tầm thường và một cuộc đời mà nàng biết chắc cũng tầm thường
Nàng vừa cúi lễ trước bàn thờ vừa có những ý tưởng phức tạp ấy… Lễ tổ tiên
ấy bao giờ cũng chỉ là một cái lệ, nên Loan không thấy mảy may cảm động nàng cúi xuống ngửng lên như một cái máy Nhưng đến khi lễ bố mẹ, Loan tưởng không đời nào quên được vẻ mặt sung sướng của bà hai lúc đó; cái sung sướng ấy thật đã
an ủi được Loan, vì nàng cảm thấy sự hy sinh của nàng là có nghĩa lý
Khi ra đến ngoài, lúc sắp lên cái ô tô hòm kết đầy hoa, trong lúc tiếng pháo tiễn đưa nổ ran bên tai Loan thẫn thờ ngước mắt nhìn lên cao; qua cành mấy cây bàng điểm lộc non, da trời xanh trong nhẹ vờn mấy làn mây trắng Nàng nghĩ đến bao nhiêu sự sung sướng nó đợi nàng ở những nơi đâu, mà nàng không bao giờ đi tới, bị những sợi dây vô hình rất chặt nó giữ nàng ở lại đây, không tài nào thoát ly được” (24, tr.77)
Biết trước điều sẽ xảy ra như chính cô đã từng lo lắng: “Em lo sợ việc nhân duyên của em lắm Chị chắc biết, nếu em không đổi được tính đi, thì không thể về làm dâu nhà nào được cả” (24, tr.30)
Sự hiểu biết nên khiến Loan nhìn rất rõ, nhìn thấu sự kìm hãm, bó buộc cuộc sống phía trước của cô khi bước chân vào cái gia đình đại phong kiến ấy Có thể dung hòa được không? Khi một cô gái mới như Loan, có những suy nghĩ tiến bộ, muốn sống một cuộc sống tự do, bình đẳng, lại phải chấp nhận bước chân vào và chịu đựng cảnh sống trong môi trường đầy giãy những điều cổ hủ, bảo thủ; phải chịu đựng mọi sự giày vò, hành hạ của cả gia đình nhà chồng sau một đám cưới không hề có tình yêu Như chính nàng đã suy nghĩ “quanh năm phải kình địch với những sự cổ hủ mà học thức của mình ghét bỏ Mình phải tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình” Và cái lời khẳng định “Mình phải” ấy phải đợi đến tận khi cái sự “kình địch” ấy không thể nào giải tỏa được đến lúc bùng nổ như một trái bom ấp ủ lâu ngày; mà ngòi nổ lại do tác nhân cổ hủ mà học thức của mình ghét
Trang 34bỏ” ấy châm lên Và khi ấy đúng như nhan đề của tác phẩm Đoạn tuyệt, Loan mới
có thể “tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình” Cái mới ở đây phải
“đoạn tuyệt” với cái cũ, thoát ly hẳn gia đình chồng để bắt đầu cuộc sống mới cho
mình Loan trở lại với cái nghề mình được đào tạo mà cô đã bỏ dở dang cho cái gọi
là hy sinh vì gia đình ấy, Loan bắt đầu cuộc sống mới sau khi đoạn tuyệt cái cũ bằng nghề dạy học Có thể nói với chi tiết này Nhất Linh lại đề cao tính tất yếu không thể thiếu của giáo dục Những cô gái Tân thời được thụ hưởng nền giáo dục văn hóa phương Tây Qua đó thể hiện quan niệm của Nhất Linh ý hệ “văn minh” hướng tới
văn minh phương Tây, hướng tới cái mới sau khi “đoạn tuyệt” cái cũ
1.2.3 Vai trò của giáo dục đối với sự kiến tạo ý hệ “văn minh” trong Cô giáo Minh
Cùng đặt ra vấn đề ý hệ “văn minh” trong việc xây dựng hình ảnh cô gái
mới, mang những tư tưởng tiến bộ như Loan trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh
Nhưng cách đặt ra mạch chuyện của Nguyễn Công Hoan lại theo một hướng khác,
thể hiện quan điểm, cái nhìn của mỗi nhà văn không giống nhau Trong Cô giáo
Minh, ngay từ đầu tác phẩm ta đã gặp hình ảnh Minh đi dạy học, cho thấy Minh là
một cô gái có giáo dục; được đào tạo có nghề nghiệp, được thụ hưởng giáo dục văn hóa phương Tây Người con gái ấy còn được nhà văn của mình khẳng định vị trí, giá trị con người cá nhân bằng cách đặt nàng tham gia vào sự nghiệp giáo dục công Đem những hiểu biết, kiến thức của bản thân góp phần vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà Có thể thấy được thông qua nhân vật của mình; Nguyễn Công Hoan đã khẳng định vai trò của giáo dục Nếu không được học hành, không được giáo dục sao Minh có thể tạo dựng cho mình một vị trí, một chỗ đứng trong xã hội? Trong khi lúc bấy giờ chế độ phụ quyền và sự giáo dục còn nhiều hạn chế, vẫn như một tảng đá khiến với sức nặng ngàn cân Làm cho nhận thức của bao nhiêu thế hệ con người Việt Nam không thể nào nhấc và vứt nó sang một bên; để lấy đường cho cái mới có thể đặt bước chân và bước những bước đi đầu tiên trên con đường đầy dư
âm của chế độ cũ Và bây giờ nhờ giáo dục, nhờ sự thụ hưởng những tư tưởng mới tiến bộ trong nền giáo dục văn hóa phương Tây khiến Minh đã có thể nhận thức về
Trang 35con người cá nhân; ý thức về quyền, vị trí và vai trò, nhất là sự tự do cá nhân:
“Ngày nay, người ta trọng tự do, và cần tự do” (21, tr.245)
Và nàng đã nghĩ: “thời buổi mỗi ngày mỗi khác Ngày nay, người ta trọng tự
do, và cần tự do, nhất là trong việc hôn nhân, có quan hệ đến hạnh phúc một đời Những cái các cụ ưa, không phải rồi con cháu cũng ưa Nàng có học, lại biết nghĩ
Vả lại nhân duyên của nàng, quyền nàng được có người mà yêu mà quý để vợ chồng nương tựa lẫn nhau Vậy chồng nàng phải là người của nàng Thế thì khi con
đã khôn lớn, bậc cha mẹ chỉ nên tự nhận là những người cố vấn mà thôi” (21, tr.245)
Trong Đoạn tuyệt khi cha mẹ đề cập đến chuyện hôn nhân, Loan đã nhấn
mạnh, khẳng định thái độ, quan điểm của mình về hôn nhân "chỉ quan hệ đến đời con mà thôi" Còn Minh thì sao? Không chỉ khẳng định: “ việc hôn nhân, quan hệ đến hạnh phúc một đời” bởi vậy “chồng nàng phải là người của nàng” và “cha mẹ chỉ nên tự nhận là những người cố vấn mà thôi”
Như vậy cùng đặt ra vấn đề về ý hệ “văn minh”; thái độ, cái nhìn về việc hôn nhân của Nhất Linh và Nguyễn Công Hoan cùng giống nhau; là để cho nhân vật của mình thể hiện rõ quan niệm về quyền cá nhân trong việc quyết định lựa chọn chuyện hôn nhân, việc liên quan đến hạnh phúc của đời mình Nhưng điểm không giống trong cách thể hiện quan niệm của Nguyễn Công Hoan so với Nhất Linh Ở đây Nguyễn Công Hoan không chỉ muốn đòi hỏi quyền cho con người, nhất là người nữ với vai trò trong cuộc sống của chính cá nhân mình Mà còn nhấn mạnh qua suy nghĩ của Minh: “chồng nàng phải là người của nàng” và “cha mẹ chỉ nên tự nhận là những người cố vấn mà thôi” Thời buổi mỗi ngày mỗi khác, xã hội đang dần đổi thay, những cái mới, cái tiến bộ đang lan tỏa khắp xã hội Việc khẳng định rằng bây giờ không còn là “thời cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nữa Suy nghĩ ấy, quan niệm ấy như một hồi chuông cảnh tỉnh đánh vào những tư tưởng cổ hủ, lạc hậu vẫn còn đè nặng, chèn ép; làm cho cái quyền được hạnh phúc, được tự do, được sống là chính mình ấy của mỗi người phụ nữ không còn được coi trọng
Trang 36“Minh so sánh các bạn, Mai thì được cha mẹ cho tùy tâm, nên đã vì ái tình
mà kết hôn với một người trong ý tưởng Loan thì vì sự gả bán ép nài, đến nỗi vợ chồng không hợp tính nhau, rồi bị mẹ chồng và chế độ gia đình cũ áp chế, nay hai người ly dị, suốt đời Loan tai tiếng hoặc lẻ loi
Sở dĩ ít lâu nay, Minh không muốn nghe mẹ nói đến việc trăm năm của nàng,
vì Minh đã yêu Nhã, là anh họ Xuân, một người bạn gái” (21, tr.245)
Việc so sánh, đánh giá qua chuyện hôn nhân của bạn bè của Minh, đã thể hiện ý thức do cá nhân đối với tương lai cả cuộc đời mỗi con người Nếu cha mẹ để cho con cái tự do lựa chọn, họ không chỉ chọn được người trong ý tưởng của mình, tuy không ai nói trước được cuộc sống trong tương lai nhưng ít nhất hạnh phúc sẽ được tạo dựng một cách dễ dàng, dễ có trên cái nền tình cảm của những người cùng
ý tưởng Và tất nhiên câu chuyện về cô bạn Loan của Minh vì bị gả bán ép nài rồi kết quả cuộc hôn nhân ấy thế nào không phải là đoán được trước?
Cái sự đối lập trong tư tưởng cũ - mới ấy, vấn đề đặt ra trong quan niệm, cái thái độ của Nguyễn Công Hoan khẳng định quyền cá nhân con người Đặc biệt ở đây là ý thức về người phụ nữ, giải phóng họ khỏi đêm trường của xã hội phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm Thái độ ấy được thể hiện qua suy nghĩ, nhận thức của nhân vật Minh Nếu không được tiếp xúc, thụ hưởng nền giáo dục mới liệu ý thức về bản thân, về giá trị con người ấy đã có được trong những cô gái như Minh? Tuy nhiên cô gái Tân thời ấy đã phải lựa chọn chữ hiếu mà đánh đổi hạnh phúc cá nhân của mình, để trở thành cô dâu trong một cuộc hôn nhân ép gả Trong khi chính cô cũng không thể biết những gì đang chờ đón mình phía trước Khi bạn cô:
Trang 37Nàng đi giữa mọi người, bước theo vào trong làn khói mù mịt, bâng khuâng như sa vào hang chuột bị hun.” (21, tr.263)
Cũng như Loan (Đoạn tuyệt - Nhất Linh) cũng không biết được cái sự “sung
sướng” của mình như thế nào khi phải thành cô dâu gán nợ - món nợ ba nghìn bạc Minh cười, những chữ “Tân thế giới” ấy mà khi bước cô bước vào như “sa vào hang chuột bị hun.”, cái thế giới mới ấy trong một gia đình quan lại phong kiến sẽ hứa hẹn cho cô điều gì? Cái Tân thế giới ấy mà một đám cưới chạy tang, một vụ bắt cóc, một vụ cướp người thì đúng hơn; một cuộc đón dâu không khác gì áp giải một tên tù, hay một người phạm tội
“Minh bị hai người xốc nách, vực xuống thang gác Nàng lả người, bước theo, rồi như cái máy, nàng ngồi phịch vào đệm xe ô tô.” (21, tr.262)
Rồi cảnh lễ: “Nàng cứ đến một chiếc chiếu, là ngồi thụp xuống cuống quýt
vớ tà áo Hễ người ta ấn đầu xuống là nàng uốn lưng để lễ Thật ra, nàng chẳng biết
lễ những chỗ nào.” (21, tr.264)
Nếu như Loan khi lễ, đến lúc lễ cha mẹ, lòng cô cảm nhận rõ được sự sung sướng hiện rõ trên khuôn mặt mẹ, mới thấy rõ sự hy sinh của nàng có ý nghĩa như thế nào Còn tâm trạng của Minh thì sao? Vì chữ hiếu mà để mẹ an lòng, nhưng rút cục nàng có được làm tròn chữ hiếu?
“Nàng đau đớn nghĩ đến mẹ nằm chết trong cái buồng lạnh ngắt, chờ khi đám cưới xong xuôi mới được người ta mó tay đến khâm liệm; càng thấy người ta cười nói nồng nàn, nàng càng thấy trong mình tâm hồn lạnh lẽo.” (21, tr.264)
Tình cảnh của Minh khi bước chân vào cái “Tân thế giới” ấy, thực chất cũng
là bắt đầu một cuộc đời bị giam hãm, đày ải, bởi chính nàng cũng đã đoán biết khi chấp nhận vì chữ hiếu để đánh đổi tuổi xuân, hạnh phúc của mình Một cô gái có bản lĩnh vì không muốn phải gò mình theo cái lễ giáo cổ hủ, lạc hậu, sống không được lựa chọn theo quyền tự do cá nhân của mình Cô đã nghĩ tạm chấp nhận cho
để yên lòng mẹ, rồi tính sau, dù mọi chuyện có như thế nào thì một mình cô cũng dễ
xử Tuy nhiên khi cái mới chưa thể gây ảnh hưởng sâu rộng; chưa làm thay đổi
Trang 38được nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng của những con người trong giai đoạn giao thời
ấy Dự tính của cô, ý định để được sống với tự do của chính mình chưa thể thực hiện Cô phải chấp nhận, phải chịu đựng sự giày vò, hành hạ đúng kiểu xứng với giá
mà gia đình quan lại phong kiến ấy đã bỏ ra để mua cô về Thậm chí mong muốn được thoát ly, được tự do vì khả năng tự lập của chính mình cũng không thể thực hiện Cô phải nghỉ dạy học để ở hẳn nhà để làm người nội trợ, phục vụ gia đình theo đúng nghĩa Sự đày ải, đàn áp của bàn tay mẹ chồng, đại diện cho thế lực tàn độc của tư tưởng cổ hủ, bảo thủ, lạc hậu; đã khiến nàng từng có tư tưởng phải nhờ sự
can thiệp của pháp luật, thậm chí bỏ trốn đi Điều này ta cũng đã thấy trong Đoạn
tuyệt, Loan đã phải ra tòa, và nhờ phiên tòa ấy đã giúp Loan đoạn tuyệt, dứt bỏ hẳn
với cái cũ, gia đình cũ “tạo ra một hoàn cảnh hợp với quan niệm mới của mình”
Tuy nhiên quan niệm của Nguyễn Công Hoan lại có cách giải quyết khác so với Nhất Linh, Trong suy nghĩ, nhận thức của Nguyễn Công Hoan lịch sử bao đời nay của dân tộc Việt Nam, với những truyền thống luân lý có những lễ giáo cổ hủ, lạc hậu cần tẩy chay, xóa bỏ; nhưng còn rất nhiều truyền thống đạo đức tốt đẹp cần giữ gìn, phát huy Như vậy điều ta nhận thấy quan niệm, cái nhìn, thái độ của Nguyễn Công Hoan về ý hệ văn minh hoàn toàn khác so với Nhất Linh Tại sao phải xóa bỏ cái cũ, phải chấm dứt cái cũ thì cái mới mới có thể tồn tại được? Trong khi dù mới hay cũ thì mục đích sống con người đều tiến đến mọi điều tiến bộ, tốt đẹp hơn; vì hạnh phúc của con người, của xã hội nói chung Như vậy cái cũ và mới
có thể dung hòa, có thể cùng tồn tại, có thể sống chung là một điều tất yếu
1.2.4 Điểm giống và khác nhau trong cách thể hiện vai trò của giáo dục đối với việc kiến tạo ý hệ “văn minh” của hai nhà văn
Trong hai tác phẩm cho thấy Nhất Linh và Nguyễn Công Hoan đều quan tâm đến giáo dục, khẳng định vai trò của giáo dục trong việc thể hiện ý hệ “văn minh” Cả hai ông đều chọn nghề giáo làm nghề nghiệp cho đứa con tinh thần của mình Nghề rất được coi trọng trong xã hội Việt Nam từ lâu đời, nhưng điều đặc biệt ở đây cả hai nhà văn đều chọn nữ nhân vật làm nghề giáo Có thể nói người phụ
nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong gia đình, sự giáo dục của gia đình nhưng
Trang 39việc tham gia vào giáo dục công rất hiếm Trong xã hội Việt Nam, trước năm 1945 không chỉ trong thực tế mà trong cả tác phẩm văn học; rất ít nhà văn đưa người nữ, nhân vật nữ tham gia vào giáo dục công Phải chăng mỗi nhà văn đều có ý muốn thay đổi vị trí, vai trò của họ? Để họ không còn là những người bị phụ thuộc, thụ động, đặt đâu ở đấy Như sự gò ép vào hàng loạt các quy tắc lễ giáo: “Tam tòng, tứ đức” mà xã hội phong kiến hàng nghìn năm đã khiến con người, đặc biệt người phụ
nữ không được sống là chính mình Những mặt cổ hủ, lạc hậu khiến bao con người
bị giam cầm, bị hạn chế Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã biến người phụ nữ sinh ra không được tự quyết định cuộc sống, cũng như tình yêu, hạnh phúc của mình Ở nhà họ phải nghe theo lời cha mẹ “tại gia tòng phụ”, hôn nhân thì bao nhiêu phần hoặc là hứa gả, hoặc là món hàng trao đổi, khi sống trong nhà chồng thì “phu xướng phụ tùy” Phận người phụ nữ với thiên chức là sinh nở, luôn phải gò mình theo đặc tính như một kiến tạo của xã hội phong kiến với “Công dung ngôn hạnh”, với bổn phận duy trì nòi giống, chăm lo cho chồng, dạy dỗ con Sự gò bó trong khuôn khổ đạo đức phong kiến hàng nghìn năm cùng sự bó hẹp trong không gian, mảnh đất truyền thống, cả năm cả tháng không đi ra khỏi lũy tre làng…
Vai trò của người phụ nữ không thể thiếu trong gia đình và xã hội, đơn giản
và tất yếu như việc duy trì nền tảng gia đình, cơ sở của nền tảng xã hội Mỗi thành viên trong gia đình lớn lên và trở thành các công dân của xã hội đều từ cái nôi văn hóa và giáo dục của gia đình Bàn tay, trí óc và cũng như chính trái tim, tình yêu thương của người mẹ, người vợ, người chị, người bà ghi dấu trong mọi ngôi nhà Ngoài ra những vị trí công việc trong xã hội sẽ thành công, hiệu quả hơn nếu được giao vào tay họ Họ có thể song hành, thậm chí có thể thay thế nam giới trong nhiều lĩnh vực công tác khác nhau Có thể nói là người nữ ấy không thể thiếu trong bất cứ mối quan hệ trong gia đình và xã hội Vậy tại sao, sự không công bằng ở chỗ chính những chỗ, những nơi có vai trò đóng góp, tạo dựng từ chính họ thì họ lại bị "gạt" đi? Không có chỗ để gọi tên hay điểm danh đến họ? Chối bỏ họ, phủ nhận họ, vứt
bỏ họ ra bên lề cái rộng rãi, mênh mông vô bờ của môi trường lớn, môi trường chung Rồi lại "dồn" họ vào cái phạm vi nhỏ bé, tù túng của gia đình.Việt Nam thời
kỳ phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo đã thể chế hóa điều này bằng
Trang 40"đạo Tam tòng", “tứ đức” như đã nói ở trên “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, ở bất cứ phạm vi nào, vị trí của người nữ đều đứng sau nam giới Không chỉ có thế, người con gái phải thường xuyên giữ mình trong cái vòng cương tỏa của “công, dung, ngôn, hạnh”
Nếu trung, hiếu là những phẩm chất để đánh giá người nam nhi trong xã hội phong kiến; thì một trong những yếu tố không thể thiếu được đối với người con gái chính là “công, dung, ngôn, hạnh” Điều cần thiết phải chuẩn bị cho người con gái trước khi xuất giá, họ phải bồi đắp, tu tâm, dưỡng tính Công là nói đến công việc gia đình, nữ công gia chánh; sự khéo léo, đảm đang, tháo vát, nhanh nhẹn trong thu vén, sắp xếp công việc nội trợ, bếp núc Dung là nói đến dung nhan, hình dáng; chú
ý đến ăn mặc, biết tôn trọng hình thức của bản thân Ngôn là ngôn ngữ, cách ăn nói dịu dàng, hòa nhã, lịch thiệp, thông minh, khéo léo Hạnh là đức hạnh, là phẩm chất, phẩm hạnh của người phụ nữ; có hiếu với cha mẹ, chung thủy với chồng, giàu lòng
vị tha nhân ái yêu thương hết mực với các con; điều quan trọng nhất là sự giữ gìn tiết hạnh, phẩm chất, giá trị của bản thân Ngẫm ra đó là những vốn cần thiết, có ý nghĩa cho cuộc sống ở bất cứ nơi đâu, tại gia đình cũng như khi theo chồng Khi trở thành người vợ, người phụ nữ còn phải gánh thêm trách nhiệm của người dâu trong gia đình nhà chồng Bắt đầu từ đây ngưỡng cửa mới với những thử thách mà họ cần phải vượt qua Không chỉ là giải quyết, bố trí, thu xếp công việc ngổn ngang, bộn bề của gia đình mới ấy Họ đâu chỉ phải giải quyết công việc một cách đơn giản theo nghĩa xong thì thôi; mà còn phải làm dưới sự soi xét, nhòm ngó của những con người trong cái gia đình hoàn toàn mới, hoàn toàn xa lạ so với những con người trong gia đình mình Thực tế ấy đã khiến họ rèn cho mình được tính kiên nhẫn, ý chí và nghị lực vươn lên hoàn cảnh Nhưng hiểu một cách đầy đủ và rộng hơn là thực tế phũ phàng, cay nghiệt của cuộc sống làm dâu ấy lại khiến họ “phải chấp nhận, phải cam chịu” Bởi cảnh làm dâu của ngày ấy, đồng nghĩa với việc không có đường lui, họ không thể thay đổi hay có một lựa chọn khác Bước chân vào nhà chồng là có thể hiểu là chấp nhận một bản án tù chung thân của đời sống hôn nhân phong kiến