Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng cách mạng, chủ nghĩa hiện thực trong khoảng thời gian ngắn đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận với hàng loạt
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH -
CAO NGUYỄN HẢI YẾN
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN -
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
7 Cấu trúc khóa luận 10
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN 11 1930 - 1945 11
1.1 Cơ sở lí luận về đám đông 11
1.1.1 Thuật ngữ “tâm lí” 11
1.1.2 Thuật ngữ “đám đông” 13
1.1.3 Thuật ngữ “tâm lí đám đông” 15
1.2 Nhà văn Nguyễn Công Hoan trong dòng chảy văn học Hiện thực phê phán 1930 – 1945 24
1.2.1 Tiểu sử 24
1.2.2 Quan điểm văn học 26
1.2.3 Những đóng góp trong nền văn học Hiện thực phê phán 1930 - 1945 27
CHƯƠNG 2: TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN- TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 29
2.1 Khảo sát trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 29
2.2 Cộng đồng dân nghèo 36
2.2.1 Từ đặc trưng tâm lí cộng đồng dân nghèo 36
2.2.2 Đến niềm tin, đạo đức đám đông nghèo trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 37
2.2.3 Nguyên nhân cốt lõi của niềm tin đạo đức đám đông nghèo 44
2.3 Cộng đồng người giàu 46
Trang 32.3.1 Từ đặc trưng tâm lí cộng đồng người giàu 46 2.3.2 Đến những biểu biện vô đạo và tham vọng thống trị của đám người giàu
3.1.1 Khái lược về nghệ thuật trào phúng trong văn học Hiện thực phê phán 54 3.1.2 Nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Công Hoan trong thể hiện tâm lí đám đông 55
3.2 Nghệ thuật trần thuật 63
3.2.1 Khái niệm và vai trò của nghệ thuật trần thuật đối với truyện ngắn 63 3.2.2 Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Công Hoan trong thể hiện tâm lí đám đông 65
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thúy Hằng - Trưởng khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa Du lịch (Trường Đại học Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ) - người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Đầu thế kỉ XX, hoàn cảnh xã hội đặc biệt, làn gió văn hóa phương
Tây cùng sức mạnh nội sinh đã khiến văn học Việt Nam phát triển tột bậc Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng cách mạng, chủ nghĩa hiện thực trong khoảng thời gian ngắn đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận với hàng loạt tên tuổi của các nhà văn lớn: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao Nguyễn Công Hoan (1903-1977) được xem là cây bút mở đầu dòng văn học phê phán nửa đầu thế kỉ XX Với sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai, Nguyễn Công Hoan chứng tỏ tài năng đặc biệt trong
hệ thống sáng tác để lại - một di sản quý cho dòng văn học dân tộc, đó là hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết và một số những ghi chép tản mạn khác
1.2 Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan thường đi sâu khám phá
những bình diện hiện thực trong xã hội, nhất là xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Đa số các sáng tác của ông đều bắt nguồn từ những đề tài, những mảnh đời mà ông chứng kiến Đó là những ngang trái, bất công nảy sinh trong xã hội hiện tại Yếu tố thực, tính thời sự vì thế trong truyện ngắn và tiểu thuyết của ông luôn luôn nóng hổi Hơn một nửa thế kỉ cầm bút, với phong cách nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Công Hoan có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là thể loại truyện ngắn Cho đến nay, Nguyễn Công Hoan có một vị trí vững vàng, đầy vinh dự trong lịch sử văn học dân tộc Là một trong số những nhà văn đặt nền móng cho văn học hiện thực trong văn học Việt Nam 1930 – 1945, “ông có đóng góp quan trọng trong việc mở đường và phát triển thể loại truyện ngắn hiện đại, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng, đưa nó tới một tầm cao mà cho tới nay, chưa
có cây bút nào sánh nổi” [21]
1.3 Văn học là sản phẩm của con người Văn học có mối quan hệ khăng
khít, gắn bó chặt chẽ với văn hóa Trong văn học có văn hóa và ngược lại, văn hóa thời đại tác động hình thành sản phẩm văn chương mang dáng hình của chính nó Xưa nay, mối quan hệ văn hóa - văn học luôn hiện hữu song việc khai
Trang 7thác yếu tố văn hóa trong văn học chưa phải là nhiều Hầu hết, giới nghiên cứu phê bình vẫn quen con đường tiếp cận văn học bằng phương thức tự sự, thi pháp học, cấu trúc hoặc bằng rất nhiêu lí thuyết hiện đại khác Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa, giới nghiên cứu phê bình thực sự làm phát lộ những khía cạnh giá trị không đơn giản từ chính những tác phẩm vốn quen thuộc Chúng tôi cho rằng, đó cũng là một cánh cửa mở đối với người nghiên cứu Văn học cũng đồng thời là sản phẩm của một quá trình tâm lí hoặc một xung năng tâm lí ẩn ức trong một thời gian nào đó của đời người Khám phá văn học từ một cái nhìn của tâm lí học không đơn thuần nhưng cũng hết sức khả thi khi xác định một vỉa tầng giá trị trong tư tưởng của một nhà văn về những vấn
đề xã hội nổi cộm
Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ góc độ văn hóa và góc độ tâm lí học, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến biểu hiện của “tâm lí đám đông” trong hàng loạt truyện ngắn của ông trước cách mạng tháng Tám Dù lí thuyết về
tâm lí đám động chưa được phổ chúng rộng rãi, song học thuyết Tâm lí học đám
đông (Le Bon) đã trở thành công cụ nền tảng cho những ai yêu thích khai thác
văn học từ góc độ này
1.4 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã được đưa vào cấp học phổ thông
và Đại học Tiếp cận truyện ngắn của ông từ nhiều phía sẽ giúp cho thầy trò trong trường học nhìn nhận rõ hơn đặc sắc thế giới nghệ thuật cũng như những đóng góp của nhà văn đối với văn học nước nhà
Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn “Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan – nhìn từ tâm lí đám đông” làm đề tài nghiên cứu khóa luận
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Công Hoan là nhà văn được coi là người tạo nền móng cho khuynh hướng văn xuôi hiện thực phê phán nước ta giai đoạn 1930-1945 Viết nhiều thể loại, song Nguyễn Công Hoan đã gây được sự chú ý của dư luận ngay
từ khi những truyện ngắn đầu tiên ra đời bởi tính hiện thực nóng hổi và giá trị nhân đạo sâu sắc của từng tác phẩm Đã có nhiều công trình tìm hiểu, đánh giá truyện ngắn của ông trên nhiều lĩnh vực (đề tài, chủ đề, tư tưởng, nghệ thuật )
Trang 8Không thể thống kê hết các công trình nghiên cứu về một nhà văn lớn như Nguyễn Công Hoan, song chúng tôi đã gắng khảo cứu sắp xếp những nghiên
cứu về truyện ngắn của ông trên những nét lớn mà các nhà nghiên cứu quan tâm
2.1 Những nghiên cứu chung về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:
Hải Triều trong bài Cuộc tranh luận “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh”
giai đoạn 1935 – 1939 đã có cảm nhận khá sâu sắc về ý nghĩa của khuynh
hướng sáng tác vì con người trong những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan:
“Cái chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh của tôi ngày nay đã được biểu hiện rõ bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Nguyễn Công Hoan” [26]
Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tác giả Nguyễn Trác đã đưa ra
những nhận định sâu sắc về nội dung truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: “Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một tấn trò đời rộng rãi và phong phú Ông chỉ cốt khám phá trong hiện thực những mâu thuẫn, những cảnh tương phản hoặc trái ngược nhau Thế giới của Nguyễn Công Hoan là thế giới của những kẻ khốn khổ đáng thương” [25]
Trong cuốn Văn và người được viết năm 1976, tác giả Phong Lê đã nhận
định về tiếng cười Nguyễn Công Hoan: “Một thứ vũ khí Ông đứng trên tất cả
mà cười Cười với mọi cung bậc: hả hê, khoái trá, chua chát, chê giễu, khinh bỉ, đau xót, căm giận,… Có cái cười ra nước mắt của một tấm lòng nhân hậu Nhưng lại có cái cười để mà cười, của một người vô tình hay vô tâm, thậm chí
có khi lạc điệu Cho nên cần thấy nét đặc sắc trong cái cười của Nguyễn Công Hoan, nhưng cũng phải thấy không phải cái cười nào của ông cũng đúng chỗ và
có ý nghĩa” [14;87]
Tiếp cận từ góc nhìn thể loại, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại
đã có ý kiến khá sắc sảo chỉ ra những ưu, nhựơc điểm về nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: “Ông tả đủ hạng người trong xã hội nhưng ít khi ông tả những ý nghĩ của họ nhất là những điều u uẩn của họ thì không bao giờ ông đả động đến Bao giờ ông cũng đặt họ vào những khuôn riêng, đó là khuôn
lễ giáo hay phong tục mà họ đã ra trò với những bộ mặt phường tuồng của họ”
Trang 9Bên cạnh đó, Vũ Ngọc Phan còn nhận xét rất sâu sắc và xác đáng về Nguyễn Công Hoan ở hai thể loại: “Người ta nhận thấy Nguyễn Công Hoan sở trường về truyện ngắn hơn truyện dài Trong các truyện dài nhiều chỗ lúng túng rồi ông kết thúc giản dị quá, không xứng với một truyện to tát ông dựng Trái lại ở truyện ngắn ông tỏ ra là một người kể truyện có duyên Phần nhiều truyện ngắn của ông linh động lại có nhiều cái bất ngờ, làm cho người đọc khoái trá vô cùng Những truyện ngắn của ông tiêu biểu cho một thứ văn rất vui, thứ văn mà có lẽ
từ ngày nước Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mòn người ta chỉ thấy ở ngòi bút của ông thôi” [22] Có thể thấy, Vũ Ngọc Phan là một trong số ít những nhà nghiên cứu trước cách mạng đã có cái nhìn rất thấu đáo về nhân vật cũng như ngòi bút xây dựng truyện của nhà văn Nguyễn Công Hoan Như vậy, từ những năm đầu tiên, quá trình nghiên cứu nhân vật trong truyện của cây bút Nguyễn Công Hoan đã được chú ý
Trong lời giới thiệu Truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 nhà nghiên cứu
Nguyễn Hoành Khung cũng đã nhấn mạnh về tài năng của Nguyễn Công Hoan đối với thể loại truyện ngắn: “Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là hiện tượng chưa từng có tới hai lần trong văn học Việt Nam Tính chất trào phúng ở Nguyễn Công Hoan là thuộc về năng khiếu thiên bẩm là sự kế thừa truyền thống trào phúng của văn học dân tộc” [12]
Tiếp cận tác phẩm từ hệ thống nhân vật, tác giả Nguyễn Đức Đàn trong
Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam (NXB khoa học xã hội 1968)
đã có nhận xét khá sắc sảo về thế giới nhân vật trong truyện Nguyễn Công Hoan như sau: “Với một số lượng khá lớn như vậy truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hợp thành một bức tranh rộng lớn khá đầy đủ về xã hội cũ Hầu hết trong xã hội thực dân phong kiến đều có mặt: nông dân, công nhân, tiểu tư sản, trí thức làm các nghề tự do như thầy thuốc, làm báo, nhà văn, nhà giáo, các nghệ sĩ, rồi tư sản, nhà buôn, nhà thầu khoán, địa chủ, quan lại, cường hào, nghị viên, công chức, học sinh, cô đào, nhà thổ, đứa ở, phu xe, kẻ cắp, anh hát xẩm, chị bán hàng rong, binh lính, bồi bếp từ các giai cấp bị áp bức, bóc lột, các giai cấp
Trang 10thống trị và các tầng lớp trung gian cho đến những người ở dưới đáy của một xã hội hết sức phức tạp” [4]
Là người dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, cũng
trong cuốn Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán (NXB Khoa học - xã hội
1968), Nguyễn Đức Đàn đã nhận định: “Về nghệ thuật viết truyện ngắn phải nói rằng Nguyễn Công Hoan là người có nhiều khả năng và kinh nghiệm Truyện của ông thường rất ngắn Lời văn khúc chiết, giản dị Cốt truyện được dẫn dắt nghệ thuật để hấp dẫn người đọc Thường kết cục bao giờ cũng đột ngột Mỗi truyện thường như một màn kịch ngắn có giới thiệu, thắt nút và mở nút Cố nhiên không phải tất cả truyện đều đạt cả Nhưng thường những truyện không đạt chủ yếu là do nội dung tư tưởng” [4;77-81]
Tiếp cận tác phẩm từ cái nhìn lịch sử - xã hội, trong cuốn Tìm hiểu truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan (NXB Khoa học - xã hội 1979) PGS Lê Thị Đức đã
chia quá trình viết truyện ngắn của nhà văn thành 5 thời kì Theo PGS Lê Thị Đức thời kì 1929-1935 Nguyễn Công Hoan viết theo 3 chủ đề: - Thứ nhất là tố cáo, lên án những bọn chuyên sống bằng cách áp bức, bóc lột, hành hạ những người nghèo khổ Ở chủ đề này, cây bút Nguyễn Công Hoan đã miêu tả những cảnh khổ cực của người nông dân và những người nghèo khác như kép hát, đi ở, phu xe – Thứ hai là phê phán những hạng người dù không phải là tư sản nhưng cũng nhờ đế quốc mà phong lưu, ảnh hưởng lối sống tư sản đồi truỵ ở Châu Âu Thời kì 1936-1939: Ngòi bút Nguyễn Công Hoan đã có những truyện đả kích, châm biếm từ tên đầu sỏ phong kiến rồi tên thực dân Pháp và cả những vấn đề chiến tranh chống phát xít Đối với tầng lớp lao động Nguyễn Công Hoan đã có những truyện viết về những người công nhân Thời kì 1940-1945: Nguyễn Công Hoan bước đầu biểu lộ sự bất bình, tố cáo những hiện tượng áp bức nhưng do những khó khăn chủ quan, khách quan nên mặt tiến bộ của nhà văn không phát triển được, còn mặt tiêu cực thì lại có dịp được bộc lộ Đó là tư tưởng vốn có của nhà văn, cộng với ảnh hưởng một cách không tự giác của chủ trương không phục cổ của thực dân phát xít [5]
Trang 11Nguyễn Hoành Khung trong: Văn học Việt Nam 1900 – 1945 (tập 1) đã đi
từ quá trình sáng tác trước cách mạng đến sau cách mạng của Nguyễn Công
Hoan và đã dừng lại lâu hơn ở tiểu thuyết Bước đường cùng Nguyễn Hoành
Khung đã có những phát hiện, phân tích và lý giải rất nhiều về những vấn đề thuộc về nội dung cũng như nghệ thuật trong các tác phầm của Nguyễn Công Hoan mang đầy sức thuyết phục Đặc biệt là ở phương diện nghệ thuật, Nguyễn Hoành Khung đã có những ý kiến sắc sảo chỉ ra được những ưu nhược điểm về
nhân vật trong Bước đường cùng : “Đã xây dựng thành công hai nhân vật chính
Nghị Lại và Pha Do cái nhìn xã hội tiến bộ gần với quan điểm giai cấp nhà văn
đã thể hiện khá sâu sắc bản chất giai cấp bọn địa chủ và số phận người nông dân lao động Tuy vậy những hình tượng nhân vật này vẫn chưa có sức sống nội tại mạnh mẽ với một cá tính sắc nét Cây bút Nguyễn Công Hoan ít thành công trong việc xây dựng những tính cách có giá trị điển hình cao vừa có cá tính sắc nét vừa đa dạng, đầy đặn có sức sống nội tại tự thân Chưa hoàn toàn vượt khỏi trình độ tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết truyền thống” Dù được viết bằng bút pháp hiện thực hay lãng mạn, nhìn chung về các tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đã phản ánh được nhiều mặt của đời sống xã hội Việt Nam thời kì này, có sức tố cáo mạnh Nhiều nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất và khẳng định “Tiểu thuyết không phải là sở trường của Nguyễn Công Hoan” [13]
Trong bài Vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn trong truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng (tạp chí Văn học, số 6/1970), Lê Thị
Đức Hạnh đã viết: “Nguyễn Công Hoan cũng đã sống ở nông thôn trong nhiều năm, ông chịu khó quan sát nên có nhiều hiểu biết về nông thôn Ông sáng tác nhiều truyện về đề tài này” [7]
Các nhà nghiên cứu tựu chung đều khẳng định ưu thế của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, song cũng có tác giả đã nói về một vài hạn chế trong truyện
ngắn của ông Phê bình Kép Tư Bền in trong báo Bắc Hà 8/1835, Trần Đình Hạc
viết: “Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ có ở trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là nhà văn ưa tả, ưa vẽ cái xấu xa, hèn mạt, đê tiện
Trang 12của một hạng ngưòi xưa nay vẫn đeo cái mặt nạ giả dối Ông không hề có tỉ mỉ, lôi thôi như phần nhiều các nhà văn tả chân Vậy mà từ một lời nói, từ một cử chỉ của những nhân vật trong truyện đều như chép nguyên sự thực Ông làm
“sống” một cách linh động những nhân vật” [9]
Gần đây cũng đã có rất nhiều những chuyên đề luận văn thạc sĩ tìm hiểu
về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan về phương diện nghệ thuật, ngôn ngữ, phong cách Đó là những công trình chúng tôi sơ bộ, thống kê có đề cập đến truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Điều này giúp cho chúng tôi có những gợi ý quan trọng và có hướng khám phá về truyện ngắn của tác giả này
2.2 Những nghiên cứu có dẫn gợi đến vấn đề tâm lí đám đông trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan
Có thể nhận định rằng, trong các bài viết hoặc các luận văn viết về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chưa có bài viết nào nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ góc độ tâm lí đám đông Tuy nhiên, trong một số bài nghiên cứu đã có một số tác giả ít nhiều đụng chạm đến cộng đồng đám đông, tâm lí, đặc trưng của cộng đồng ấy Chúng tôi cho rằng đó là những dẫn gợi đáng quý Ví như GS Trần Đình Sử cho rằng: “Con người trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là con người bị tha hóa, vật hóa, sống và hoạt động hầu như phi nhân tính Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là thế giới làm trò, nhân vật là kẻ làm trò” Với nhận định này, Trần Đình Sử hướng người nghiên cứu nhìn nhận về cộng đồng của những “sân khấu hề” trong quá trình tha hóa Tiếp
cận tác phẩm từ góc độ nghệ thuật, nói về đám quan lại, nhà giàu, trong cuốn Sơ
thảo Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945, tập thể tác tác giả đã nhận xét : “Ông
sở trường về cách mô tả tư cánh hèn hạ, đê tiện hết chỗ nói của bọn quan lại sâu mọt, bọn nha lại hãnh tiến giàu có sang trọng và khinh người” [22] GS Lê
Thị Đức Hạnh trong cuốn Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã có
một nhận định chung: “Với Nguyễn Công Hoan thì chỗ mạnh nhất của ông là miêu tả nhân vật phản diện, tức bọn quan lại, địa chủ, cường hào với bao điều xấu xa, dơ dáy của xã hội cũ Cách miêu tả nhân vật là miêu tả trong sự đối
Trang 13lập giữa hai sự vật, bản chất khác nhau, giữa bản chất - hiện tượng, giữa nội dung - hình thức” [8]
Dù không liên quan trực tiếp, nhưng những nghiên cứu nêu trên tạo ra một định hướng cho chúng tôi khi đánh giá, nhìn nhận đám đông người giàu trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Như vậy, các công trình nghiên cứu, các bài viết, tiểu luận, chuyên đề nói nhiều đến Nguyễn Công Hoan và các tác phẩm của ông nhưng vấn đề tâm lí đám đông và những giá trị tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm qua biểu hiện của tâm lí đám đông thì chưa được giới nghiên cứu quan tâm Vì vậy, trong quá trình khai thác vấn đề, một mặt tôi kế thừa, tiếp thu những kết quả, thành tựu đáng trân trọng của các nhà nghiên cứu, một mặt mong muốn được đi sâu tìm hiểu và khám phá những giá trị ẩn chứa trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan qua
đề tài: Tâm lí đám đông trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi hướng đến mục tiêu quan trọng nhất là tìm hiểu, minh chứng về tâm lí đám đông được thể hiện trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Trong khuôn khổ đề tài khóa luận, chúng tôi hướng tới nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ phương diện tâm lí học – tâm lí đám đông, qua đó thấy được những ý nghĩa về nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm trong bối cảnh chung của truyện ngắn Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi hướng đến ba nhiệm vụ:
- Thứ nhất, xác định cơ sở lí luận về tâm lí đám đông và vai trò truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945
- Thứ hai, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ phương diện tâm lí học – tâm lí đám đông, từ đó hiểu được các đặc trưng của tâm lí đám đông cộng đồng được thể hiện qua nội dung của truyện ngắn
Trang 14- Thứ ba, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ phương diện nghệ thuật để thấy rõ được tài năng Nguyễn Công Hoan trong thể hiện tâm lí đám đông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tâm lí đám đông trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Phạm vi tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu: Truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan (Tập 1, Nhà xuất bản Văn học, năm 2014)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt những yêu cầu mà đề tài đặt ra, tôi tiến hành khóa luận dựa trên sự vận dụng, kết hợp những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tâm lí học: Trong luận văn, chúng tôi áp khuynh hướng nghiên cứu tâm lí học sáng tác nhằm tìm hiểu những tác động tâm lí nguồn gốc tới sáng tác; đồng thời, khuynh hướng nghiên cứu tâm lí học tiếp nhận cũng được sử dụng nhằm đưa ra những nhận thức của người đọc về vấn đề tâm lí đám đông trong đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Từ cái nhìn văn hóa, chúng tôi sẽ tìm thấy những mối quan hệ tương hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học
- Phương pháp hệ thống: được dùng trong hệ thống ngữ liệu nghiên cứu
- Phương pháp loại hình: dùng để nghiên cứu, phân loại ngữ liệu dựa trên những dấu hiệu đặc trưng về mặt loại hình
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp khác như so sánh, phân tích, thuyết minh,… như những thao tác thường xuyên
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần xây dựng cơ sở tìm hiểu tâm lí đám đông nói chung và trong truyện truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nói riêng để phục vụ cho việc nghiên cứu Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu góp phần nhỏ trong việc nghiên cứu, giảng dạy học tập học phần Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Trang 157 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của khóa luận được triển trai qua ba chương:
Chương 1: Vấn đề tâm lí đám đông và truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trong văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945
Chương 2: Tâm lí đám đông trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan – từ phương diện nội dung
Chương 3: Tâm lí đám đông trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan – từ phương diện nghệ thuật
Trang 16CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
1930 - 1945 1.1 Cơ sở lí luận về đám đông
1.1.1 Thuật ngữ “tâm lí”
Tâm lí là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc chúng
ta, nó tham gia điều khiển, điều chỉnh những hành vi, hành động, hoạt động của con người Tâm lí là hiện tượng tinh thần, là đời sống nội tâm của con người, vô cùng phong phú đa dạng và đầy tính tiềm tàng bởi tâm lí mỗi người mỗi khác và biến đổi theo thời gian Tâm lí còn được gọi là thời gian nội tâm hay “lòng người”, là sự phản ánh hiện thực của bản thân, của tự nhiên, của xã hội Định nghĩa về khái niệm này, có một số ý kiến như sau:
Theo Từ điển tiếng Việt (1988): “Tâm lí là ý nghĩa, tình cảm làm thành
thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người” [19] Nói một cách chung nhất, tâm lí là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người
Từ điển Tâm lí học đã viết: “Tâm lí là thuộc tính đặc biệt của vật chất tổ
chức cao, là sự phản ánh hiện thực khách quan đảm bảo cho cơ thể sống có thể thích ứng với môi trường một cách hiệu quả” [18;731] Phản ánh tâm lí về thế giới luôn được thực hiện trong các hoạt động sống tích cực của cơ thể Trong tâm lí thể hiện cả các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai Ở con người, các sự kiện quá khứ được thể hiện trong kinh nghiệm, các biểu tượng trí nhớ; các sự kiện của hiện tại được thể hiện trong các hình ảnh, các trải nghiệm cảm xúc và hành động trí tuệ; còn các sự kiện của tương lai được thể hiện trong các lực thúc đẩy, các mục đích, tưởng tượng và ước mơ Bên cạnh đó, tâm lí của con người
có thể được ý thức hoặc không được ý thức, nhưng những gì không được ý thức
ở con người khác về chất so với tâm lí động vật Điểm khác biệt cơ bản nhất của tâm lí người so với tâm lí động vật – đó chính là tính mục đích có ý thức của các biểu hiện tâm lí người Ý thức là đặc điểm cơ bản của tâm lí người Nhờ có ý
Trang 17thức, con người nhận biết được các mối liên hệ nhân qủa của các sự vật, hiện tượng, xác định được mục tiêu cho hành động của mình Với sự phát triển của ý thức, con người trở thành một thực thể xã hội Nhờ não bộ và các cơ quan cảm giác của những cơ thể sống có tổ chức cao có thể phản ánh một cách tích cực và thậm chí phản ánh trước (trước khi hành động) các khách thể bên ngoài dưới hình thức tâm lí, nên những cơ thể sống đó có thể thực hiện các hành động một cách phù hợp với thuộc tính của các khách thể đó Và cũng nhờ đó mà con người có thể sống sót và phát triển Các dấu hiệu cơ bản của tâm lí là: Phản ánh đem lại hình ảnh về môi trường hoạt động và cơ thể sống; định hướng cho cơ thể trong môi trường đó; thỏa mãn như cầu tiếp xúc của cơ thể với môi trường và sự tiếp xúc này theo nguyên tắc mối liên hệ ngược, cho phép cơ thể sống kiểm tra lại tính đúng đắn của các phản ánh
Trong lịch sử, tâm lí học đã từng được định nghĩa như khoa học về tâm hồn, về tinh thần hay ý thức Sau đó tâm lí học đã được xem như khoa học về hành vi con người Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng và phong phú các lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng tâm lí cũng làm cho định nghĩa về tâm lí học cũng đa dạng có thể đưa ra một định nghĩa tương đối khái quát như sau: “Tâm lí học là khoa học về tâm lí, về các quy luật xuất hiện và phát triển tâm lí” Tâm lí học đã xuất hiện từ rất lâu, cụ thể là từ thời cổ đại Trong lịch sử phát triển của mình, đã có một thời gian tâm lí học xuất hiện trong lòng của triết học Thuật
ngữ tâm lí học xuất hiện ở cuối thế kỉ thứ XVI và trở thành phổ biến và giữa thế
kỉ XVIII, tâm lí học trở thành khoa học độc lập vào thế kỉ XIX với việc đưa thực nghiệm vào lĩnh vực khoa học này
Trong một thời gian dài đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật về các vấn đề tâm lí học Đó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật từ thời cổ đại đến nay về các vấn
đề tâm lí là gì? Ý thức là gì? Mối quan hệ giữa quá trình tâm lí và sinh lí ở con người Theo chủ nghĩa duy tâm tâm hồn (đời sống tâm lí của con người) tách khỏi vật chất, diễn ra một cách riêng biệt không phụ thuộc vào não Theo quan điểm duy vật biện chứng thì tâm lí là sản phẩm đặc biệt của vật chất có tổ chức
Trang 18cao (não), phản ánh hiện thực khách quan Tâm lí và ý thức chỉ xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao của vật chất Các hiện tượng tâm lí và sinh lí có mối liên hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tâm lí học ngày càng xuất hiện nhiều phân ngành mới Người ta ước tính hiện nay tâm lí học có trên 70 phân ngành và chắc chắn số lượng các phân ngành tâm lí học không dừng lại ở con số này trong thời gian tới Có thể nêu ra một số phân ngành tâm lí học sau: Tâm lí học bệnh học, tâm lí học dân tộc, tâm lí học di truyền, tâm lí học đại cương, tâm
lí học lao động, tâm lí học lứa tuổi, tâm lí học ngôn ngữ, tâm lí học đám đông, tâm lí học sáng tạo, tâm lí học thần kinh, tâm lí học tôn giáo, tâm lí học tuyên truyền, chuẩn đoán tâm lí, tâm sinh lí học, tâm vật lí,…
Tâm lí học ngày càng góp phần quan trọng đối với việc giải quyết những vấn đề nảy sinh của đời sống xã hội và ngày nay, tâm lí học tham gia vào việc nghiên cứu và ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội
Qua việc tìm hiểu trên, tôi nhận thấy rằng: Tâm lí đóng vai trò rất quan
trọng, nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người, chi phối hành vi hoạt động của con người Nói một cách chung nhất thì tâm lí là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người (Người viết nhấn mạnh)
1.1.2 Thuật ngữ “đám đông”
Theo nghĩa thông thường đám đông có nghĩa là một sự kết hợp của những
cá nhân bất kì không phụ thuộc vào dân tộc, giới tính và nguyên do kết hợp Là tên gọi một nhóm người có những biểu hiện thống nhất về cảm xúc và hành động nhất thời khi cùng chú ý như nhau đến một đối tượng hay lí tưởng giống nhau Người ta thường nói tới tinh thần của đám đông, linh hồn của đám đông hay các hiện tượng của đám đông
Trong tâm lí học đám đông trước đây, đám đông là một số người tụ tập
với nhau và đó là điều kiện gây ra tình trạng thiếu sự kiểm tra lý trí, làm tăng việc lây lan cảm xúc hay những “tình cảm và đạo đức của đám đông” mà trong
cuốn Tâm lí học đám đông (1985), G.Lebon đã khái quát như sau: Tính bốc
Trang 19đồng, dễ thay đổi, dễ bị kích động; tính dễ bị gợi ý và nhẹ dạ; sự phóng đại và giản đơn trong tình cảm; đạo đức không thuần nhất, quyền lợi là động cơ đặc biệt của cá nhân riêng lẻ
Trong Tâm lí học đám đông theo tinh thần thực nghiệm (W.Moede,
1920), cho rằng đám đông chẳng qua là sự hiện diện bên nhau của những người tiến hành các công việc giống nhau, do đó, số thành tích của các thành viên riêng rẽ chịu sự tác động qua lại lẫn nhau (thuận lợi, ức chế, cào bằng…)
Theo R.H.Turnen & L.M.Killian (1963), có thể phân loại đám đông theo
sự kết hợp của ba mặt hay ba chiều kích sau đây: cá nhân chủ nghĩa hay hợp tác; tập trung hay phân tán; tích cực hay chỉ hướng vào các mục tiêu ở ngoài đám đông
Theo G.Lebon cho rằng những đám đông luôn bị vô thức tác động, họ xử
sự như người nguyên thủy, người dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận
mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tưởng, họ không kiên định, thất thường và đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ ngẩn nhất Vả lại, do thể trạng của mình, những đám đông ấy cần có một thủ lĩnh, một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho bản năng của họ một ý nghĩa Ông cho rằng đám đông nuôi dưỡng sự giấu tên và tạo ra xúc cảm đã bị một số nhà phê bình tranh cãi Clark McPhail chỉ ra các nghiên cứu cho thấy
rằng đám đông điên rồ không đảm nhận một cuộc sống riêng của mình, ngoài
những suy nghĩ và ý định của các thành viên
Norris Johno sau khi điều tra sự hoảng loạn tại một buổi hòa nhạc của The Who vào năm 1979 đã kết luận rằng đám đông bao gồm nhiều nhóm những người hầu hết là cố gắng giúp đỡ lẫn nhau Thêm vào đó, lí thuyết của Le Bon
đã bỏ qua bối cảnh văn hóa – xã hội của đám đông, mà một số nhà lí luận cho rằng có thể làm mất đi sự thay đổi xã hội R.Brown thì giả định rằng đám đông
là đồng nhất, cho thấy thay vì những người tham gia tồn tại trên một liên tục, khác nhau trong khả năng của họ để đi chệch khỏi các chuẩn mực xã hội
Khác với sự đối lập đám đông thấp kém của Lebon, Ortega Y Gasset coi
xã hội là sự thống nhất của hai yếu tố: Giới tinh hoa và các đám đông
Trang 20Nhà phê bình người Anh - Raymond Williams đã có cái nhìn rất sâu sắc:
“Trong các loại hình xã hội, chúng ta thấy những người khác rất thường xuyên, trong vô số biến thể khác nhau; một cách hữu hình, luôn đứng cạnh nhau Họ ở đây, và chúng ta cũng ở cùng với họ Vấn đề là chúng ta không thoát khỏi họ
Đối với người khác, chúng ta cũng là đám đông Đám đông là những người
khác, những người mà chúng ta không biết và không thể biết”
Qua việc tìm hiểu trên, tôi nhận thấy rằng: đám đông là một hiện tượng
phổ biến trong xã hội hiên nay, họ là một tập thể, một nhóm người phản ánh những tính chất khác nhau của xã hội Nghiên cứu về đám đông sẽ giúp chúng
ta hiểu rõ hơn được bản chất, những suy nghĩ của con người trong cùng một tập thể chứ không phải là một cá thể riêng lẻ nữa (Người viết nhấn mạnh)
1.1.3 Thuật ngữ “tâm lí đám đông”
1.1.3.1 Sự hình thành đám đông
Ở trên, chúng ta đã đi tìm hiểu và hiểu rõ được những nét khái quát về khái niệm tâm lí và khái niệm đám đông Tâm lí là một hiện tượng tinh thần rất quan trọng , là đời sống nội tâm vô cùng phong phú và đa dạng của con người,
nó gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người Đám đông có nghĩa là một sự kết hợp của những cá nhân bất kì không phụ thuộc vào dân tộc, giới tính và nguyên do kết hợp Việc chỉ ra tâm lí đám đông là kết quả hoạt động
khoa học của nhà tâm lí học người Pháp Gustave Le với công trình Tâm lí học
đám đông (1985) Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định: “Thời đại mà
chúng ta bước vào sẽ thực là thời đại của những đám đông” [3;19] Vậy thì ta hiểu khái niệm về tâm lí đám đông như thế nào?
Theo S.Freud “tâm lí đám đông là một tập hợp người có sự gắn bó libido với tộc trưởng (lãnh tụ) và giữa các cá nhân với nhau” [6] Khái niệm tâm lí đám đông nhằm phân biệt với một đám đông nhẫu nhiên
Lí giải về vấn đề này, Le Bon đã đưa ra những chính kiến thuyết phục để
lí giải một hiện tượng đời sống tâm lí con người: tâm lí đám đông Đề tài này sẽ dựa vào cuốn sách trên và có phần trích dẫn những quan điểm của Le Bon, từ đó
có những đánh giá, phân tích theo cách hiểu của bản thân ca nhân người viết
Trang 21Theo Gustave Le Bon, trong cuốn Tâm lý học đám đông, những đám đông
luôn bị vô thức tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người dã man, không
có khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tưởng, họ không kiên định, thất thường, và đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ ngẩn nhất Vả lại, do thể trạng của mình, những đám đông ấy cần có một thủ lĩnh, một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt
họ và cho bản năng của họ một ý nghĩa Le Bon đã chỉ rõ đó là sự ngộ ngận và cho thấy rằng, có những tiêu chí để làm nên tên gọi là đám đông Đó chính là
“Tâm lí đám đông”
Theo tác giả: “Hành động vô thức của đám đông thay thế cho hoạt động
có ý thức của mỗi cá nhân là một trong những điểm chính của thời hiện tại” [2;20] Le Bon cho rằng mỗi một cá nhân lại có một ý thức tâm lí riêng, là suy nghĩ cá nhân của từng người Nhưng khi một số cá nhân này họp nhau lại thành đám đông để hành động, thì chính sự áp sát nhau của những cá nhân này sẽ sinh
ra một số nét tâm lí mới, những nét tâm lí này lại tạo nên tâm hồn của chủng tộc
đó và nó là điểm chính của thời đại lúc bấy giờ
Le Bon chỉ ra vai trò, cho thấy quyền lực của đám đông: “Trên đống đổ nát của biết bao tư tưởng, được coi là chân lí trước đây nhưng nay đã chết, của biết bao quyền lực mà cuộc cách mạng đã liên tiếp đập tan, thì quyền lực của đám đông là cái bậc nhất vượt lên, và nó sớm được giao cho sứ mệnh hấp thu hết những quyền lực khác Trong khi mọi niềm tin cổ xưa đều trao đảo và biến mất, những trụ cột già cỗi của xã hội lần lượt sụp đổ thì quyền lực của đám đông
là lực lượng duy nhất chẳng gì đe dọa nổi và uy thế của nó ngày càng lớn lên” [3;29] Việc nảy sinh quyền lực đám đồn, xuất phát từ việc một số tư tưởng đã
du nhập vào bộ não của con người, rồi từng bước liên kết với những cá nhân để hiện thực hóa về mặt lí thuyết Và qua đó, sức mệnh đám đông trở nên vô cùng
to lớn: “Những tín điều mà ta thấy đang nảy sinh chẳng mấy chốc sẽ có sức mạnh như những tín điều xưa cũ, nghĩa là sức mạnh chuyên chế và tối thượng không được bàn cãi Luật thiêng của đám đông thay thế luật thiêng của vua chúa” [3;31]
Trang 22Le Bon quan niệm: “Đám đông tâm lí là một tồn tại tạm thời, hợp thành bởi những yếu tố dị loại chỉ gắn kết với nhau thành một sinh vật mới, biểu lộ những tính cách rất khác biệt với tính chất mà riêng từng tế bào đã có” [2;48] Theo Le Bon, nếu các cá nhân trong đám đông đã liên kết với nhau thành một khối thống nhất thì nhất định phải có yếu tố nào đó gắn kết chúng lại vớ nhau và
có thể là đặc trưng của đám đông
Qua việc tìm hiểu trên, tôi nhận thấy rằng: tâm lí đám đông là một nhánh
của tâm lí học xã hội nghiên cứu về tâm lí và hành xử của một người bình thường trong những hoạt động mang tính chất tập thể Nghiên cứu tâm lí đám đông giúp chúng ta có sơ sở để phân tích nét tâm lí này trong các tác phẩm văn học cụ thể, qua đó khẳng định được tài năng và những đóng góp bậc thầy của các tác giả khi đưa một nét tâm lí mới này và trong tác phẩm của mình (Người
Thứ nhất, là tính bốc đồng, dễ thay đổi và tính dễ bị kích động của đám
đông Những hành vi của nó thường chịu ảnh hưởng của hệ thần kinh thực vật hơn là của não Về phương diện này, đám đông gần giống với nguyên thủy Những hành vi thực thi có thể được thực hiện một các hoàn hảo, song não bộ lại không chỉ đạo những hành vi ấy, nên cá nhân hành động ngẫu nhiên tùy theo các kích thích Đám đông là trò chơi của mọi kích thích bên ngoài và phản ánh những biến đổi không ngừng của chúng Vì vậy, đám đông chính là nô lệ của các kích thích mà nó thu nhận Mỗi cá nhân riêng lẻ có thể cùng chịu những kích thích như con người trong đám đông; nhưng vì bộ não chỉ ra những bất lợi khi nhượng bộ điều đó, nên nó không nhượng bộ Về mặt sinh học, đó là điều người
ta có thể biểu lộ khi nói rằng cá nhân tách riêng có khả năng làm chủ những phản xạ của mình, nhưng đám đông thì không
Trang 23Những xung đột khác nhau mà đám đông phải tuân theo này, tùy theo các kích thích mà những cơn bốc đồng của đám đông có thể là độ lượng hay tàn bạo, anh hùng hay hèn nhát, nhưng các xung đột ấy luôn quyết liệt đến mức lợi ích cá nhân và thậm chí cả sự tồn tại của chính cá nhân không chế ngự được nữa Các kích thích tác động vào đám đông thay đổi liên tục một cách đa dạng và đám đông luôn tuân theo chúng, do vậy mà đám đông cực kì dễ dao động và dễ biến đổi; và chính vì thế ta thấy họ trong phút chốc có thể chuyển từ trạng thái tàn bạo đẫm máu nhất sang trạng thái khoan dung độ lượng nhất hoặc can đảm nhất Một đám đông có thể dễ dàng trở thành đao phủ, nhưng cũng không khó để trở thành một kẻ tử vì đạo Chính vì trong tim họ luôn tràn đầy nhiệt huyết, mà đây
là điều rất cần cho sự khải hoàn của mỗi đức tin Không cần phải ngược dòng lịch sử về với thời đại anh hùng để thấy được những gì đám đông có thể làm Theo những gì chúng ta nói ở trên, thì khi có một cuôc chiến nào nổi dậy, họ không bao giờ tiếc sinh mạng của mình; và chỉ cách đây không lâu, một vị tướng
đã được lòng dân dễ dàng có được hàng nghìn người sẵn sang hy sinh vì sự nghiệp của ông ta nếu vị tướng đó yêu cầu
Và những điều được mưu tính trước, lên kế hoạch sẵn thì không tồn tại trong đám đông Đám đông có thể liên tiếp chuyển đi qua các sắc thái tình cảm rất trái ngược nhất, song vẫn luôn do ảnh hưởng của những kích thích nhất thời
Họ giống như những chiếc lá bị giông bão cuốn lên, tan tác thành từng ngả rồi rơi xuống
Tính thay đổi của đám đông làm cho nó rất khó điều khiển, đặc biệt là khi một phần quyền lực công rơi vào tay họ Khi những nhu cầu cần thiết của cuộc sống hàng ngày không phải là một nhân tố điều hòa vô hình của sự vật, thì các nền dân chủ cũng khó tồn tại lâu dài Ngay cả khi đám đông ước muốn điều gì một cách cuồng nhiệt thì những mong muốn đó cũng không tồn tại quá lâu, điều này cho thấy rõ nét về tính hay thay đổi của tâm lí đám đông Nó không có ý chí bền bỉ, cũng như là khả năng tư duy
Đám đông không chỉ có tính bốc đồng và tính hay thay đổi Giống như những kẻ hoang dã, họ không cho phép bất cứ thứ gì hay điều gì xem vào giữa
Trang 24sự thèm muốn và việc thỏa mãn sự thèm muốn đó Họ càng ít cho phép hơn khi hiểu rằng đám đông đảm bảo cho họ về sức mạnh bất khả kháng Đây là khái niệm về điều không thể biến mất ở mỗi cá nhân trong đám đông Một cá nhân đơn lẻ ý thức rất rõ ràng về việc anh ta không thể một mình đốt cháy một cung điện, cướp phá một cửa hàng Và nếu bị xúi giục thì anh ta sẽ dễ dàng kháng cự được cám dỗ của chính mình Nhưng khi là thành viên của đám đông, anh ta sẽ nhận rõ sức mạnh của số đông mang lại và chỉ cần gợi lên cho anh ta ý tưởng về việc giết người hay là cướp bóc là đủ để anh ta sẵn sàng tuân phục cám dỗ Một vật cản vô tình sẽ bị đập tan trong cơn thịnh nộ Nếu cơ thể người cho phép giận
dữ vĩnh tồn, thì ta có thể nói rằng giận dữ là trạng thái bình thường của đám đông bị dồn nén
Các tính cách cơ bản đó vốn là ngọn nguồn không thay đổi nảy sinh mọi tình cảm của chúng ta, luôn tác động đến tính dễ bị kích động, thói bốc đồng và tính dễ bị thay đổi của đám đông, cũng như đến tất cả các tình cảm phổ biến mà chúng ta sẽ nghiên cứu Mọi đám đông đều bị kích động và bốc đồng, tuy nhiên
nó cũng tùy thuộc vào những mức độ khác nhau Một đám đông Latinh và một đám đông Anglo – Saxon rất khác nhau Những sự kiện gần đây nhất trong lịch
sử nước Pháp là bằng chứng sống động về điều này Năm 1870, chỉ việc công bố bức điện tín tường trình việc một vị đại sứ hình như bị xúc phạm đã làm bùng lên một cơn thịnh nộ, và đó là nguyên nhân dẫn đến một cuộc chiến khủng khiếp Vài năm sau, cũng chỉ vì một bức điện về thất bại nhỏ tại Lạng Sơn (trong chiến tranh Pháp – Thanh 1984 – 1985) lại gây ra một cơn giận dữ mới dẫn đến sự việc chính phủ bị giải tán Nhưng cùng thời điểm đó, thất bại nặng nề hơn nhiều của quân viễn chinh Anh tại Sudan chỉ gây nên một xáo động nhỏ và chẳng có bộ nào bị lật đổ Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, đám đông mang thói bốc đồng, tính hay thay đổi và dễ bị kích động
Thứ hai, là tính dễ bị ám thị và tính cả tin của đám đông Khi định nghĩa
về đám đông, chúng ta đã nói một trong những đặc tính chung về tình cảm của đám đông là tính dễ bị ám thị, điều này lí giải cho việc tình cảm nhanh chóng hướng về một chiều nhất định Tuy nhiên, dù ta giả định đám đông tập trung đến
Trang 25mấy, thì nó vẫn đứng ở trạng thái chờ đợi, thuận lợi cho tiếp nhận ám thị Ám thị đầu tiên được đưa ra là qua sự lây nhiễm, não bộ lập tức được áp đặt và sự định hướng cũng được thiết lập ngay Cũng như ở tất cả những người bị ám thị, ý tưởng đi vào não bộ có xu hướng biến thành hành động Dù là phá hủy một cung điện hay là tận tụy hy sinh bản thân mình, đám đông cũng sẵn sàng Tất cả phụ thuộc vào bản chất của các tác nhân kích thích chứ không phụ thuộc vào mối liên hệ giữa hành động bị ám thị và những lí do có thể ngăn cản việc thực hiện hành động đó
Do đó đám đông “luôn lang thang trong ranh rới của sự vô thức, dễ dàng chịu mọi ám thị, có sự mãnh liệt trong cảm xúc phù hợp với những người không chịu ảnh hưởng của lí trí, chẳng có tinh thần phê phán, đám đông cũng quá cả tin” [3;53] Đối với đám đông, không có gì là không thể
Những gì lưu truyền trong đám đông không chỉ vì tính cả tin mà còn do
sự xuyên tạc các sự kiện trong trí tưởng tượng của đám đông một cách khủng khiếp Có khi chỉ là những sự kiện bình thường nhất cũng bị đám đông bóp méo Đám đông suy nghĩ bằng hình ảnh và khi hình ảnh hiện lên lại kéo theo một chuỗi các hình ảnh mới chẳng có liên hệ logic nào với hình ảnh ban đầu Để hiểu
rõ hơn thì chúng ta có thể liên tưởng đếm một loạt ý nghĩa kỳ cục mà đôi khi một sự việc bất kì dẫn dắt chúng ta tới Lí trí cho ta thấy những hình ảnh rời rạc, nhưng đám đông lại không để ý đến và thậm chí lại trộn thêm trí tưởng tượng méo mó vào những sự kiện có thật Đám đông không phân biệt được cái chủ quan và khách quan Đám đông luôn ý thức rằng những hình ảnh gợi lên trong tâm thức là thực, và thường hình ảnh ấy lại khác xa với thực tại được quan sát
Do các cá nhân trong đám đông có tính cách khác nhau nên đám đông nhào nặn sự việc mà họ chứng kiến theo cách thức khác nhau Sự bóp méo đầu tiên là hạt nhân làm lây nhiễm ám thị Qua lây nhiễm và ám thị, bất cứ một điều
gì do một người lan truyền lại được đám đông tiếp nhận ngay Quá trình hình thành hoang tưởng thường xảy ra trong lịch sử, có những đặc điểm được mang tính xác thực, vì đó là những hiện tượng được hàng nghìn người chứng kiến
Trang 26Đám đông không nhất thiết phải gồm nhiều người thì mới có thể xóa bỏ
sự thật trước mắt và thay thế bằng những ảo giác chẳng có quan hệ gì Chỉ một vài cá nhân tụ họp lại cũng tạo thành đám đông, và dù họ là gì đi chăng nữa thì
họ vẫn mang đủ mọi đặc tính của đám đông trước những sự việc nằm ngoài chuyên môn của họ, từ đó khả năng phân tích và quan sát của mỗi cá nhân hoàn toàn biến mất
Thứ ba, là sự thái quá và phiến diện của tình cảm đám đông Tình cảm dù
tốt hay xấu thì đám đông thể hiện đều có hai mặt, đó là chúng rất thái quá và cũng rất phiến diện hay nói dễ hiểu hơn là phóng đại và giản đơn trong tình cảm
Về điểm này, cá nhân trong đám đông lại gần giống với người nguyên thủy Không thể hiểu được những nét khác biệt tinh tế, họ chỉ nhìn sự vật theo cách tổng thể mà không thấy được diễn biến chuyển tiếp Vì vậy, sự thái quá trong đám đông tăng lên vì khi chỉ cần một tình cảm được thể hiện thì cũng lan truyền rất nhanh bằng con đường gợi ý và lây nhiễm, sự tán thưởng dành cho tình cảm
đó sẽ làm tăng sức mạnh đáng kể của nó
Tính phiến diện và thái quá của tình cảm đám đông đã làm cho nó không còn nghi ngờ và lưỡng lự Giống như phụ nữ, đám đông cũng rất cực đoan khi một hoài nghi cũng có thể biến thành điều hiển nhiên không cần bàn cãi Một phần tử của ác cảm hay phản đối ở một cá nhân sẽ không trở nên đậm nét, nhưng ở một cá nhân trong đám đông thì sẽ lập tức trở thành nỗi căm hận vô cùng hung dữ
Sự mãnh liệt của tình cảm đám đông thường thái quá do thiếu tính trách nhiệm, nhất là trong các đám đông hỗn tạp, không thuần nhất Việc tin chắc rằng không bi trừng phạt – đám đông càng đông thì việc chắc chắn càng cao, bền vững; và ý thức về sức mạnh trong giây lát trở thành vĩ đại nhờ số đông, đã khiến cho tập thể khả dĩ có những tình cảm và hành động mà cá nhân riêng lẽ không thể có Trong đám đông, những kẻ ngu dại, kẻ dốt nát, kẻ đố kị được giải phóng khỏi ý thức về sự vô dụng và bất lực của mình, ý thức ấy được thay bằng
ý thức về một sức mạnh hung tàn nhất thời nhưng cực kì mạnh mẽ
Trang 27Sự thái quá ở đám đông lại thường dựa trên những tình cảm xấu, di chứng lại mang tính giống của những người bản năng nguyên thủy Vì lo sợ bị trừng phạt nên những cá nhân riêng rẽ buộc phải có trách nhiệm buộc phải kìm nẽn những bản năng ấy lại Điều này đã giải thích vì sao đám đông thường dẽ bị quá khích dẫn đến những hành động xấu xa nhất
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khi được tác động khéo léo thì đám đông lại không mang chủ nghĩa anh hùng, đức hy sinh và sự cao cả Thậm chí, đám đông còn có khả năng thể hiện tốt hơn so với nhiều cá thể riêng lẻ Do đám đông luôn có ấn tượng với những cảm xúc quá khích nên muốn lôi cuốn được họ thì cần sử dụng những lời lẽ khẳng định mạnh mẽ Nhiều nhà diễn thuyết quần chúng đã sử dụng các phương pháp tranh luận để lôi cuốn đám đông như: phóng đại, quả quyết, sử dụng thủ pháp lặp lại và không cố gắng chứng minh điều gì bằng lí lẽ Bên cạnh đó, sự thái quá trong cảm xúc ở những người hùng của đám đông cũng cần chú ý tới Đương nhiên là những đức tính, phẩm chất của người hùng phải được thổi phồng lên
“Sự thái quá của đám đông chỉ diễn ra duy nhất trong tình cảm chứ không diễn ra trong trí tuệ Khi cá nhân là một bác học đi chăng nữa thì chỉ cần ở trong đám đông thì năng lực trí tuệ của cá nhân ấy sẽ giảm đáng kể Như vậy, tình cảm của đám đông có thể lê đến cao trào nhưng ngược lại, có thể xuống rất thấp” [2;27]
Thứ tư, là sự bất khoan dung, độc đoán và bảo thủ của đám đông Đám
đông chỉ biết đến những tình cảm giản đơn và thái quá Những ý kiến, tư tưởng
và niềm tin đã gợi ý cho đám đông đều được tiếp nhận hoặc chối bỏ toàn bộ, rồi được xem như những chân lý hoặc những sai lầm tuyệt đối Cá nhân có thể chịu đựng được mâu thuẫn và tranh cãi, còn đám đông thì không bao giờ chịu đựng được điều đó “Trong những cuộc hội họp đông người, diễn giả chỉ mới bộc lộ chút mâu thuẫn thôi, lập tức đã bị bao vây bởi những tiếng la hét cuồng nộ và những lời thóa mạ kịch liệt, ngay tiếp theo là những hành động gây tổn thương
và xua đuổi dù diễn giả có cố nài nỉ Nếu không có sự xuất hiện của người có quyền lực, người có ý kiến trái ngược, thậm chí còn bị giết” [1;67] Tính chuyên
Trang 28chế và bất khoan dung là tiêu biểu cho tất cả các loại đám đông, nhưng chúng ở nhiều mức độ khác nhau, và ở đây lại xuất hiện khái niệm cơ bản về chủng tộc,
kẻ thống trị mọi tình cảm và tư tưởng của con người
Đối với đám đông, độc đoán và bất khoan dung là những tình cảm rất rõ ràng mà nó hiểu dễ dàng và chấp nhận cũng dễ dàng cũng như thực hiện ngay điều đó khi bị áp đặt: “Đám đông coi trọng sức mạnh và xem thường lòng nhân
ái vì đối với họ đó chỉ là dấu hiệu của sự yếu đuối Đám đông không bao giờ có tình cảm với những ông chủ nhu nhược, nhưng lại tôn sùng với những bạo chúa đàn áp họ một cách mạnh mẽ Bao giờ đám đông cũng dựng nên tượng đài cao nhất cho các bạo chúa này Nếu như đám đông sẵn sàng xem thường bạo chúa
đã bị lật đổ vì khi đó ông ta đã mất hết quyền lực, bị thuộc vào những kẻ đáng khinh mà người ta khinh bỉ vì người ta không còn sợ ông ấy nữa” [2;27]
Đám đông luôn sẵn sàng chống lại một quyền lực yếu, song lại sẵn sàng khuất phục trước một quyền lực mạnh Nếu sức mạnh của quyền lực không vững chắc thì nó sẽ đi theo những tình cảm cực đoan, từ chỗ vô chính phủ sang quy phục và ngược lại
Tính thay đổi liên tục của đám đông chỉ thể hiện ở vấn đề rất bề ngoài Thực ra họ có những bản năng bảo thủ không thể mất đi lại giống như với người nguyên thủy Đối với truyền thống thì đám đông tuyệt đối tôn thờ, việc họ căm ghét một cách vô thức mọi sự đổi mới có thể làm thay đổi cuộc sống hiện tại là
có nguyên do Nỗi sợ hãi vô thức của họ đối với những cái mới có khả năng làm thay đổi điều kiện sống thực tế của họ là hoàn toàn sâu sắc
b “Đạo đức” của đám đông
Nếu đạo đức ở đây được hiểu là cái nhìn chỉ sự tôn trọng đối với những quy định của xã hội nào đó và sự kiềm chế thường xuyên những tham vọng cá nhân ích kỷ thì rõ ràng đám đông đã quá bốc đồng và dễ thay đổi để có thể giữ được đạo đức Tuy nhiên, nếu trong khái niệm đạo đức, chúng ta đưa vào một số đức tính nhất thời như sự hy sinh, sự tận tâm, nhu cầu công lí thì ta có thể nói ngược lại, đám đông đôi khi cũng có đạo đức rất cao
Trang 29Rất ít các nhà tâm lí học nghiên cứu đám đông chỉ dừng lại ở những hành động tội lỗi của đám đông, đánh giá mức độ thường xuyên của những hành động
đó và nhanh chóng kết luận rằng đạo đức đám đông là rất thấp kém Câu hỏi đặt
ra là tại sao như vậy? Những hành động hung bạo mang tính phá hoại vẫn luôn tồn tại trong mỗi con người Trong đời sống cá nhân độc lập, sẽ rất nguy hiểm cho anh ta khi thỏa mãn những khả năng này, nhưng khi nằm trong đám đông vô trách nhiệm mà do đó chắc chắn không bị trừng phạt, nên đã tạo ra cho anh ta hoàn toàn tự do để theo đuổi những bản năng ấy Thông thường, chúng ta thường thực hiện bản năng đó lên loài vật Đó chính là nguồn gốc nảy sinh những đam mê phổ biến đối với các thú săn bắn và các hành vi tàn bạo của đám đông Việc một đám đông hành hạ một nạn nhân không có khả năng tự vệ chính
là biểu hiện của sự tàn bạo hèn hạ, nhưng đối với những nhà triết học thì sự tàn bạo này giống như những hành động của thợ săn họp nhau lại để tìm thú vui, thích thú xua đàn chó săn đuổi bắt và giết hại một chú hươu đáng thương
Nếu đám đông có khả năng gây ra các kiểu tội ác, có khả năng chém giết
và đốt phá thì nó cũng có khả năng hy sinh, tận tụy, hiến dâng có khi còn cao hơn cả một cá nhân độc lập có thể làm Người ta đã tác động chủ yếu lên cá nhân nằm trong đám đông, vinh quang, danh dự và lòng nhân ái của nó ở một mức độ có thể nào đó thì nó có thể hy sinh cả mạng sống của mình
1.2 Nhà văn Nguyễn Công Hoan trong dòng chảy văn học Hiện thực phê phán 1930 – 1945
Chủ nghĩa hiện thực tuy chỉ phát triển mạnh trong khoảng mười lăm năm nhưng đã để lại nhiều tên tuổi lớn và ở độ chín của sự nghiệp, nổi bật là nhà văn Nguyễn Công Hoan Nguyễn Công Hoan (1903-1977) là một nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX Ông là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai, một tài năng đặc biệt Ông là người có vị trí rất quan trọng, được coi là người mở đầu cho trào lưu văn học Hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945
1.2.1 Tiểu sử
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 06/03/1903 trong một gia đình quan lại xuất thân khoa bảng bắt đầu thất thế Ông quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn
Trang 30Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) Cha là Nguyễn Đạo Khang, đỗ tú tài, làm huấn đạo (chức quan trông coi việc học trong huyện) Bác ruột ông là Nguyễn Đạo Quán, đỗ phó bảng, làm tri huyện, sau được thăng tri phủ Người bác, tuy làm quan nhưng vẫn giữ lối sống sinh hoạt thanh bạch
Nhân vật Lê Sĩ Cư trong tiểu thuyết Thanh đạm là hình ảnh của chính người bác
nhà văn
Vì nhà nghèo, lại đông anh em nên từ năm lên bốn tuổi, Nguyễn Công Hoan đã đượng người bác ruột nuôi cho ăn học Ông Nguyễn Đạo Quán là người luôn chăm sóc việc học hành cho cháu, thích sưu tầm “cả phương ngôn, tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn và sách dạy chữ Nho bằng đề tài Việt Nam” Bà nội Nguyễn Công Hoan thuộc nhiều thơ Đường, truyện Nôm “nên tối tối, trước khi
đi ngủ, bà thường ngâm nga, rồi dạy truyền khẩu cho các cháu cả thơ lẫn thổng”
Vì thế “niêm luật của thơ ca, nhạc điệu của ngôn ngữ, được luyện vào tai tôi,
được nhuần vào óc tôi, ngay từ ngày ấy” (Đời viết văn của tôi)
Sinh trưởng trong một gia đình quan lại, Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thấy đủ mọi chuyện của quan trường, được chứng kiến biết bao tấn kịch diễn ra hàng ngày ở phòng nha lại hay trại lính lệ, lính cơ Điều đó tạo thành điều kiện thuận lợi cho ông viết về quan lại và lính tráng sau này
Năm 1926, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm ông đi dạy và vừa dạy học, vừa viết văn cho tới cách mạng tháng Tám năm 1945 Đời dạy học của ông rất long đong, bị đuổi đi hết nơi này đến nơi khác (thị xã Hải Dương, huyện Nam Sách, huyện Kinh Môn, thị xã Lào Cai, thành phố Nam Định, bán đảo Trà Cổ,…) Song, những nỗi long đong của nghề lại là điều rất có ích với nghề văn Ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều bố mẹ học sinh, với đủ hạng người giàu, nghèo, sang, hèn trong xã hội, được sống ở nhiều vùng đất, chứng kiến nhiều cảnh đời… tạo nên vốn sống vô cùng phong phú
Nguyễn Công Hoan là người có tinh thần cầu tiến, thường xuyên theo
dõi thời sự, thích tìm đọc báo chí tiến bộ như Việt Nam hồn, Người cùng
khổ,… Gia đình, họ hàng, bạn bè của ông có nhiều người hoạt động cách
mạng Năm 1928, ông gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng Thời kì Mặt trận
Trang 31Dân chủ, Nguyễn Công hoan được tiếp xúc và chịu ảnh hưởng một số chiến sĩ
cộng sản ở Nam Định và ông đã viết thiểu thuyết Bước đường cùng để “trả
món nợ lòng” đối với những chiến sĩ cộng sản ở đó Cuối năm 1939, cuốn tiểu thuyết có tư tưởng tiến bộ này bị cấm, và sau đó, chính quyền thực dân ra mật lệnh cho Sở kiểm duyệt không in bất cứ những gì ông viết Ông bị chính quyền thực dân theo dõi, thường xuyên khám nhà và có lần bị truy tố trước tòa Sau Cách mạng, ông tiếp tục sáng tác Khi Hội Nhà văn được thành lập (1957), ông được bầu làm chủ tịch Ông mất ngày 06/06/1977 Năm 1996, Nguyễn Công Hoan được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I)
1.2.2 Quan điểm văn học
1.2.2.1 Quan điểm xã hội
Nhìn hiện thực cuộc sống từ quan điểm giàu – nghèo là quan điểm xã hội chủ yếu của Nguyễn Công Hoan Hầu hết trong những truyện dài, truyện ngắn
của ông đều xoanh quanh mâu thuẫn kẻ giàu và người nghèo Trong Nhà văn
hiện đại (tập 2) nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận ra: “Nếu xét về những vấn
đề ông thường quan tâm và luôn luôn nó khêu gợi nguồn cảm hứng của ông trong các truyện, chúng ta thấy ông băn khoăn nhất về sự đụng chạm của cái giàu và cái nghèo trên đường đời Sự xung đột giữa kẻ giàu và người nghèo là cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan Khi hạng nghèo động chạm với hạng giàu, bao giờ người ta cũng thấy ông ngả về hạng nghèo” [23;939]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung nhận xét: “Mâu thuẫn giữa giàu – nghèo trong xã hội là nỗi ám ảnh thường trực, trở thành ý thức nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan, chi phối cả cách dựng truyện, cách kết cấu, xây dựng nhân vật trong tác phẩm của ông” [12;105]
Phản ánh quan điểm này, một mặt ông đứng về phía người nghèo khổ,
mặt khác, ông lên án những bọn có tiền, có quyền mà bất nhân, bất nghĩa (Sáu
mạng người, Thịt người chết, Tấm giấy một trăm…)
Trang 321.2.2.2 Quan điểm luân lí, đạo đức
Trong quan điểm này, Nguyễn Công Hoan căm ghét, khinh bỉ những trò nhố nhăng, quái thai của xã hội mới ngang nhiên trà đạp lên những truyền thống
đạo đức của dân tộc Trong Đời viết văn của tôi, ông thổ lộ: “tôi sinh trưởng
trong một gia đình phong kiến suy tàn vì chế độ đổi thay, nên bị lép vế Do đó tôi đã chịu sự giáo dục hằn học với bọn quan lại ôm chân đế quốc để mưu cầu phú quý trên lưng những người nghèo hèn”
Xung quanh vấn đề hôn nhân, vấn đề phụ nữ, quan điểm luân lí, đạo đức của Nguyễn Công Hoan bị chi phối nặng nề của tư tưởng phong kiến bảo thủ
(Cô giáo Minh, Thanh đạm, Danh tiết…)
1.2.3 Những đóng góp trong nền văn học Hiện thực phê phán 1930 - 1945
Nguyễn Công Hoan là một nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam, trong phê phán lại có chất trữ tình rất sâu đậm Các nhà nghiên cứu văn học đều khằng định rằng ông là bậc thầy của truyện ngắn trào phúng Trong sự nghiệp sáng tác, ông đã để lại hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài
và nhiều tiểu luận văn học Ông bắt đầu sáng tác khi ông 20 tuổi Tác phẩm đầu
tay của ông mang tên Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư xuất
bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ quốc ngữ
Đến Kép Tư Bền (viết năm 1927, xuất bản năm 1935) thì ông đã thực sự trở
thành “một nhà văn bậc thầy về truyện ngắn và nghệ thuật trào phúng” (Lê Thị
Đức Hạnh) Kép Tư Bền đã gây nên một chấn động lớn trên văn đàn, 18 tờ báo
suốt từ Nam chí Bắc đã đăng bài khen ngợi Đây cũng chính là đề tài cho cuộc chiến giữa hai quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” Là một nhà văn tài ba và tâm huyết với đời, với người Nguyễn Công Hoan độc đáo từ cách nhìn rọi vào cuộc đời, ông lắng nghe và lọc từ trong đó ra những bi kịch và đưa nó vào tác phẩm bằng một giọng văn giễu cợt, mỉa mai Những điều đó tạo nên phong cách truyện ngắn vô cùng độc đáo, một phong cách rất riêng làm cho ông khác hẳn với những nhà văn hiện thực cùng thời với ông
Từ điển bách khoa Việt Nam đánh giá: “Có thể nói Nguyễn Công Hoan là
ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam Nguyễn Công Hoan
Trang 33đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng Từ những truyện ngắn đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội
Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có và quan lại, cường hào Toàn những cảnh xấu xa, bỉ ổi,, những chuyện bất công, ngang ngược, những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ Nguyễn Công Hoan tạo
ra những tình huống bất ngờ, rồi phá lên cười theo, nhưng ngẫm lại thật thương tâm đau xót” [17]
Tiểu kết
Tâm lí là một hiện tượng tinh thần, là đời sống nội tâm của con người, vô cùng phong phú và đa dạng, nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động của con người Đám đông theo nghĩa thông thường được hiểu là một sự kết hợp của những cá nhân bất kì không phụ thuộc vào dân tộc, giới tính và nguyên do kết hợp Hai khái niệm này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và có thể cùng nhau tạo ra được một khái niệm mới Tâm lí đám đông là một loại tâm lí nghiên cứu về hành động, hoạt động của một cá nhân khi ở trong tập thể Hiện nay, nghiên cứu về tâm lí đám đông là một công việc khá trừu tượng và khó khăn, tuy nhiên là hướng nghiên cứu hấp dẫn và thu được những giá trị không thể phủ nhận trong nghiên cứu văn học
Nguyễn Công Hoan là nhà văn thuộc lớp kỳ cựu, ông sáng tác từ hồi văn xuôi “quốc ngữ’ còn chập chững, sau hơn năm mươi năm cầm bút, ông đã để lại cho nước nhà một sự nghiệp văn học có thể nói là rất đồ sộ Ông là một trong những tên tuổi tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng Nhiều tác phẩm của ông thuộc vào những tác phẩm “cổ điển” trong nền văn xuôi nửa đầu thế kì, được in lại nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài Và thể loại khiến ông có vị trí vẻ vang trong văn học sử được khẳng định chính là truyện ngắn Với đề tài phong phú, nội dung mang tính thời sự nóng hổi về hiện thực, bút pháp nghệ thuật trào lộng, giễu nhại, nghệ thuật trần thuật đặc sắc, Nguyễn Công Hoan góp phần tạo ra diện mạo độc đáo cũng như thành công vang dội của khuynh hướng văn học hiện thực 1930 - 1945
Trang 34CHƯƠNG 2 TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN- TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều hàm chứa một tư tưởng, suy nghĩ do nhà văn viết ra mang tính chủ thể Trong đó, nội dung của tác phẩm được coi là nhân
tố quan trọng, giữ vị trí trung tâm, thể hiện tư tưởng, lí tưởng thẩm mĩ của tác giả Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau, và Nguyễn Công Hoan khi viết
về những truyện ngắn của mình cũng vậy Tiếp cận biểu hiện của tâm lí đám đông trong truyện ngắn của ông, trước hết chúng tôi tiến hành thao tác khảo sát nội dung từng tác phẩm, tiến tới hệ thống những ngữ liệu từ những đặc điểm chung, phân loại chúng Bên cạnh đó, tìm hiểu nội dung biểu hiện của tâm lí đám đông, chúng tôi quan tâm đặc biệt đến hai vấn đề: cộng đồng người nghèo
và cộng đồng người giàu với những biểu hiện đặc biệt nổi trội
2.1 Khảo sát trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Do thời gian làm khóa luận còn hạn chế, không thể đi sâu vào phân tích tất cả các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được, tôi sẽ chọn lọc một số tác phẩm tiêu biểu được ông viết ở thời kì trước cách mạng tháng 8/1945 rồi từ đó rút ra được những nét đặc trưng của tâm lí đám đông được biểu hiện trong nội dung ở các tác phẩm của ông
Quan niệm giàu - nghèo là quan niệm đã được rất nhiều nhà văn lấy làm
đề tài để viết về các tác phẩm của mình Và Nguyễn Công Hoan cũng vậy, đây
là quan điểm nhìn nhận hiện thực chủ yếu ở văn xuôi Nguyễn Công Hoan Nhưng tại sao lại là chủ yếu? Và sự chủ yếu đó được biểu hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm của ông để có thể rút ra được kết luận như vậy? Quan niệm
về giàu – nghèo trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan được nói đến qua rất nhiều tầng lớp với những loại nhân vật đa dạng khác nhau
Trang 35Trước khi đi vào kết luận về quan niệm nhận thức của tác giả, chúng ta sẽ khảo sát qua các tác phẩm của nó Người nghèo trong cái xã hội ấy không những khổ vì đói rách mà còn khổ vì bị xúc phạm về nhân phẩm và bị chà đạp phũ phàng Dư luận thành kiến bất công trút lên kẻ nghèo đói đủ mọi thứ tội lỗi xấu
xa, trong khi họ chỉ có “tội” nghèo đói! Vì đói quá mà những thằng ăn cắp phải
ăn quỵt hai xu bún riêu, vài củ khoai luộc, một chiếc bánh… để rồi bị gán cho những tội tày đình và bị đánh đập rất dã man; tất cả đều coi chúng như những kẻ hết sức nguy hiểm
Trong truyện ngắn Cái vốn để sinh nhai đã miêu tả rất chân thực về một
nhân vật ăn xin có hoàn cảnh đáng thương, “nó có máu động kinh, lắm lúc đương yên lành tử tế, thì lăn đùng ra đất, mắt trợn lên, bọt mép sùi ngầu”, nhưng người ta không biết nó bị bệnh, nghĩ rằng nó lười làm ăn nên không ai cho gì cả
Để rồi khi được cho đồng xu, hay chỉ là quẳng cho nó cái bánh giò ăn dở cũng khiến cho nó vui đời lắm
Cũng viết về đề tài người nghèo trong xã hội, trong truyện ngắn Kép Tư
Bền cũng vậy, truyện nói về nỗi cay cực và khốn khổ của người nghèo trong xã
hội đồng tiền Nhân vật trong truyện là Tư Bền – là một kép hát nghèo đã kí hợp đồng biểu diễn cho một ông chủ gánh hát Mặc dù bố ốm nặng sắp chết, lòng dạ đau đớn nhưng anh vẫn phải ra sức pha trò bông lơn trên sân khấu để cho đám khasn giả kia được cười thỏa thích, hả hê… Trớ trêu thay, vì phải kiếm tiền mà
kẻ nghèo không được tự do trong cả việc khóc cười; trong lúc muốn khóc lại phải cười, chỉ vì cá cười của anh đã được trả tiền rồi Hay trong truyện ngắn
Ngựa người và người ngựa cũng vậy Truyện miêu tả sự đụng độ oái oăm bất
đắc dĩ trong đêm giao thừa, một anh phu xe ế khách với một gái giang hồ cũng đang đi kiếm khách Vì không có khách, không trả được tiền xe nên cô gái điếm
đã lừa quỵt anh xe, bỏ mặc anh một mình trong đêm giao thừa sau khi chạy suốt mấy tiếng đồng hồ không công Và dẫn đến cái kết thúc thật buồn: “Anh phu xe bàng hoàng khi biết mình bị lừa, bao nhiêu hy vọng đặt vào chuyến xe khách đêm tất niên thế là tan tành mây khói, lòng chết cay chết đắng, anh lủi thủi dắt
xe đi giữa lúc tiếng pháo chào năm mới nổ ran khắp nơi” Qua việc miêu tả về
Trang 36số phận người nghèo trong xã hội, Nguyễn Công Hoan cũng bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc của tác giả đối với những số phận này
Truyện ngắn Chiếc quan tài (I) vẽ một bức tranh thương tâm về số phận
của người nông dân lao động Truyện không có chuyện này lại nói về người nghèo trong xã hội thật xúc động Cái xác chết của người nghèo đã chôn rồi lại còn bị bật lên để trôi nổi dập dềnh trên cánh đồng quê lụt lội mênh mông kia,
là biểu tượng xót xa kiếp sống khốn khổ, chết còn bị đày đọa gió dập sóng dồi không yên của người nông dân trông coi cõi trần gian mà như địa ngục rùng rợn vậy
Người nghèo, cái nghèo trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất đa
dạng và phong phú Cùng viết về đề tài người nghèo trong xã hội, trong Được
chuyến khách lại nói về nghề kéo xe vô cùng vất vả, cay đắng, mỗi miếng ăn
phải đổ bằng bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, có khi là bằng cả máu Nỗi khốn khổ của người dân trong xã hội được miêu tả ở rất nhiều phương diện và ngành nghề khác nhau
Ở một khía cạnh khác, trong Sáng, chị phu mỏ là truyện ngắn viết về
người phụ nữ công nhân Nhà văn đã nói lên tình cảnh lầm than khổ cực của người thợ mỏ bị bóc lột tàn bạo và còn bị trà đạp lên nhân phẩm của một người phụ nữ Hình ảnh “ông chủ nhì” người Tây, con quỷ dâm dục được miêu tả rất sắc sảo: “Sáng vừa vào, ông chủ đã làm ngay như mọi bận Ông đến cửa, vặn khóa, bỏ chìa vào túi, và nhăn nhở cười, ôm thốc lấy người con gái Không nếp
tẻ gì cả Bởi vì ông yên trí hạng này chỉ là những vật cho ông tiêu khiển khi vắng vợ Họ với ông cách nhau một vực một trời, thì nói chuyện làm gì cho mất thì giờ Ông là chủ kia mà, cần gì phải tán tỉnh lôi thôi” Bên cạnh việc miêu tả cuộc sống nghèo khổ khó khăn của người dân trong xã hội thì Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định nhân phẩm đẹp đẽ và sức phản kháng tiềm tàng, mãnh liệt của họ
Trong khi những người nghèo đã phải chịu không biết bao nhiêu khốn khổ thì những kẻ giàu sang, ông Huyện, ông Đốc, kỹ sư, cử nhân, bà Tham, bà
Cử, rất lịch sự văn minh nhưng lại … ăn cắp ví tiền của nhau (Cái ví ấy của ai)
Trang 37Nhà văn chua chát so sánh hai hạng ăn cắp: một hạng vì đói khát phải “ăn cắp dấm dúi để nuôi thân”, một hạng giàu có sang trọng lại “ăn cắp đường hoàng”
Tác giả khi ghét hạng nhà giàu mà bất nhân, vô đạo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan đặc biệt sắc sảo trong việc vạch trần bộ mặt tàn ác và nhem nhuốc của chúng, từ những quan phụ mẫu, những cụ Chánh, ông Lý ở nông thôn đến các ông chủ, bà chủ ở thành phố
Thật là phúc là câu chuyện tiêu biểu về thói nhũng nhiễu, hống hách của
đám nha lại, lính tráng, dữ thế quan làm mọi trò ngàng ngược; đồng thời, cho thấy sự thối nát của bộ máy luật pháp khi ấy qua cách xử của một ông quan về một vụ án “lấy thịt đè người” của tên lính cơ Ván-cách Ngài mải chơi tổ tôm nên chẳng buồn để ý đến những lời kể lể của kẻ bị ức hiếp khốn khổ Và cuối cùng: “Khi nghe câu chuyện bẩm xong thì vừa hết ván bài Quan ngẩng đầu lên nhìn anh Tam rồi cho gọi chị Tam vào Quan ngắm một lúc, hai con mắt sáng quắc như hai ngọn đèn trời, khiến cho hai vợ chồng nhà hàng bánh giò phải thất đảm (…) Một lúc sau ngài sang sảng tiếng truyền xuống, như ông Long thần ban hạnh phúc cho chúng sinh mà dạy rằng: “Đáng lẽ đương đêm chúng bay đánh nhau, thì không biết nếp tẻ ra sao, ông hãy bỏ tù hăm bốn giờ cái đã! Nhưng ông tha cho về mà làm ăn lương thiện, không được lôi thôi nữa Vả lại
vợ mày mặt mũi thế kia chắc hẳn có thế nào với nó thì nó mới thế chứ! Thôi ông cho về! Ông đang bận” Vậy là lính tráng thì đểu cáng, trắng trợn, quan phụ mẫu thì vô trách nhiệm tới quái gở, không thèm đếm xỉa đến công lí và luật pháp Trong cái xã hội như thế, người dân lương thiện bị ức hiếp không biết kêu vào đâu
Cũng nói về nhân vật quan lại, trong tác phẩm Thịt người chết Nhân vật
được nói đến trong tác phẩm là anh Xích Anh bị chết đuối, nhưng gia đình lại không được chôn thi thể luôn mà phải đợi quan đến khám xét Nhưng đợi mãi
không thấy quan đến, mặc dù quãng đường không xa Quan là phải đặt lợi ích
của dân lên trên hết, làm việc vì dân và phải có trách nhiệm với sự tin tưởng của nhân dân Nhưng ở trong tác phẩm này và tác phẩm trên chúng ta được phân tích thì bọn lính, quan huyện đã lợi dụng chức vụ của mình không làm tròn bổ phận,
Trang 38chèn ép và bắt nạt nhân dân, không thương yêu và chăm lo cho nhân dân Nguyễn Công Hoan đã dùng ngòi bút châm biếm đả kích sâu sắc về các tầng lớp quan lại trong xã hội mục rỗng và thối nát này, từ đó bày tỏ tư tưởng nhân đạo của mình trong tác phẩm
Trong truyện ngắn Răng con chó của nhà tư sản sự thái quá trong giới
nhà giàu cũng được thể hiện thật rõ rệt Ông chủ hãng ô tô đánh xe đuổi theo người ăn mày vì người này đã đánh gẫy răng con chó Tây của ông khi nó chồm vào cắn anh ta: “A mày tát gãy răng chó của ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng, bất quá ba chục bạc là cùng” Câu nói của nhà tư bản bộc lộ đầy đủ bản chất giai cấp lang sói của ông ta và cho thấy cái giá trị thảm hại của người nghèo trong xã hội đồng tiền đó Chúng ta có thể nhận thấy rằng ông chủ này đại diện cho một cá nhân đang chạy theo xu hướng Tây hóa trong xã hội lúc bấy giờ, có tiền là coi thường những người dân nhỏ bé trong xã hội Ông đại diện cho một tầng lớp tư sản đông trong xã hội đáng bị lên án không khoan nhượng về hành động thiếu tính người, coi mạng người không bằng một con vật, nghĩ rằng mọi thứ đều có thể giải quyết bằng tiền: “Người đời ai được phú quý cũng khoe của Cho nên, dù khôn ngoan khéo léo hơn người, ông chủ nhà này cũng mắc phải cái bệnh ấy” Cái “bệnh” ở đây là bệnh nhà giàu, chỉ những nhà
tư sản giàu có trong xã hội này mới mắc phải
Ở một khía cạnh khác, Nguyễn Công Hoan miêu tả rất chi tiết đám con
gái nhà giàu, nhõng nhẽo, đua đòi ăn diện và yêu đương tự do trong Cô Kếu, gái
tân thời Nguyễn Công Hoan đã nói về làn sóng “Âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung” lan
tràn ở thành thị khi đó Ông lên án với những lối sống xa hoa, đú đởn, tự do cá nhân quá trớn của xã hội tư sản lúc bấy giờ Họ chỉ biết làm đẹp, ăn chơi, quan tâm đến bản thân và không biết đến sự lầm than của những người dân nghèo
đói Hay trong Nỗi lòng ai tỏ cũng vậy Đây là một câu chuyện về một tiểu thư
nhà giàu suốt ngày chỉ ngắm vuốt trước gương và nằm ườn nghiền tiểu thuyết tình rẻ tiền
Nguyễn Công Hoan cũng miêu tả, đả kích đối với những “ông chủ”,
“bà chủ” tư sản và cả xã hội đồng tiền vô đạo Bọn chúng giàu có, sang trọng
Trang 39mà bất hiếu, bất nghĩa, giả đạo đức đối tới mức kinh tởm Cụ thể trong truyện
Báo hiếu: trả nghĩa cha; Báo hiếu: trả nghĩa mẹ Lợi dụng sự thành kính, cái
gọi là đền ơn đáp nghĩa đối với cha mẹ trong ngày giỗ, đối với những người giàu này lại là sự khoe khoang, phô trương vô độ và thái quá Hay trong
truyện Cụ Chánh bá mất giày nói về bọn cường hào địa chủ tác quai tác quái
ở nông thôn, bên cạnh đó còn vạch trần thói ăn cắp đê tiện của “hạng nhà giàu” Đằng sau bộ mặt tôn nghiêm đáng sợ “khét tiếng trong hàng tổng”,
“hét ra lửa” của cụ Chánh bá là tâm địa ti tiện của một tên ăn cắp chính cống
Cụ dàn dựng màn kịch mất giày để kiếm giày mới rất xuất sắc: ăn cắp mà cứ… oai nghiêm như thường!
Truyện Tấm giấy một trăm đã nói đến sự bóc lột tàn bạo của bọn tư bản
trong xã hội lúc bấy giờ Câu chuyện nói về một bà chủ xưởng dệt đánh mất tấm giấy một trăm, tuy “bà có thể một buổi” vặn chậm đồng hồ ở xưởng lại năm phút, là đủ thu lại món tiền xấp xỉ bị thiệt”, “hàng ngày chồng bà có thể thu hơn ngần ấy lãi” ở xưởng dệt đó, nhưng bà nhất định không chịu thiệt; bị mất của bà cứ đổ tiệt tội ăn cắp cho người nghèo Các ông chủ, bà chủ giàu có luôn gán tâm lý vụ lợi, hám tiền của họ cho người nghèo, với cái logic tư sản:
“Trăm thằng nhà nghèo, thằng nào không có tính ăn cắp? (…) Thấy đồng tiền, đến thánh cũng híp mắt, nói chi người phàm tục như bọn mình, nói chi bọn nghèo khổ?” Và đây là giọng lưỡi kẻ đại diện pháp luật: “Trăm thằng thằng nào cũng có một lối nói Bà ấy có quyền lơ đễnh Nhưng hễ mày lấy thì mày phải tù Rõ ràng luật pháp, cảnh sát chỉ là công cụ của bọn giàu mà không đếm xỉa tới người nghèo
Như vậy, khảo sát sơ đẳng về nội dung và hệ thống nhân vật, người viết nhận thấy có hai đối tượng được khắc họa nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: người giàu và người nghèo Tầng lớp người giàu gồm quan tham, nông dân, ông chủ tư sản Người nghèo đa số là nông dân, con sen, đầy tớ Cụ thể như sau:
Trang 40Bảng 1.1 Bảng thống kê theo tiêu chí “giàu - nghèo”
Tiêu chí phân
loại
Số lượng tác phẩm Tên tác phẩm
Người nghèo 6/ 16 truyện
Cái vốn để sinh nhai; Kép Tư Bền; Chiếc quan tài; Ngựa người và người ngựa; Sáng, chị phụ mỏ; Được chuyến khách
Bọn nhà giàu 10/ 16 truyện
Răng con chó của nhà tư sản; Cô Kếu, gái tân thời; Cái ví ấy của ai; Thịt người chết; Nỗi lòng ai tỏ; Thật
là phúc; Báo hiếu, trả nghĩa cha; Báo hiếu, trả nghĩa mẹ; Cụ chánh Bá mất giày; Tấm giấy một trăm
Bảng 1.2 Bảng thống kê theo vị trí xã hội của nhân vật
Các kiểu nhân vật phân
loại
Số lượng tác phẩm phân tích Tên tác phẩm
Tầng lớp quan tham
thống trị
1/16 truyện Thịt người chết
Nhân vật nông dân 3/16 truyện
Cái vốn để sinh nhai; Thật là phúc; Chiếc quan tài
Nhân vật làm thuê đầy tớ 4/16 truyện
Kép Tư Bền; Ngựa người
và người ngựa; Sáng, chị phụ mỏ; Được chuyến khách