Một trong những yếu tố thể hiện đậm đặc ý thức sáng tác của các tiểu thuyết gia Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực chính là tư duy về nghệ thuật, là sự đổi mới cách viết.. Sau khi Làm
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Luận đề giới tính trong tranh luận tiểu
thuyết trước 1945 – trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ” là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi Các thông và kết quả nghiên cứu là trung thực và được đúc rút trong quá trình tôi nghiên cứu các tài liệu khoa học và tác phẩm của hai nhà văn Việc tham khảo các tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng như quy định Luận văn hoàn toàn đảm bảo tính khách quan, trung thực và khoa học
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Phú Thọ, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn PGS TS Phùng Ngọc Kiên, người thầy đã tận tình, nhiệt huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành thành cảm ơn thầy cô khoa Ngữ văn, Ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng, tôi xin bầy tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan đã quan tâm, động viên, chia sẻ và giúp tôi hoàn thành khoá học và luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC……… iii
MỞ ĐẦU……….1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu………1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu……… 7
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……… 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 14
5 Phương pháp nghiên cứu……… 14
6 Đóng góp của luận văn……… 15
7 Cấu trúc luận văn……….15
CHƯƠNG 1 GIỚI TÍNH TRONG CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI………….17
1.1 Mối quan hệ xã hội trong Đời mưa gió……… 17
1.1.1 Định kiến nam quyền………17
1.1.2 Sự nổi lên của tính nữ………23
1.2 Quan hệ xã hội trong Làm đĩ………27
1.2.1 Thái độ bất bình đẳng nam nữ……… 27
1.2.2 Ý thức về thân thể phụ nữ……….29
Tiểu kết ………….……….32
CHƯƠNG 2 PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH……… 34
2.1 Giới tính trong gia đình Đời mưa gió……… 34
2.1.1 Tuân phục phong tục truyền thống………34
2.1.2 Vượt khỏi những ràng buộc và chuẩn mực……… 38
2.2 Vấn đề giới tính trong gia đình của tiểu thuyết Làm đĩ………49
2.2.1 Truyền thống phân biệt nam nữ……….49
2.2.2 Sự trỗi dậy của vai trò thân thể……… 58
Tiểu kết ……… 65
Trang 6CHƯƠNG 3 GIÁO DỤC TRONG LUẬN ĐỀ GIỚI TÍNH……….67
3.1 Giới tính trong giáo dục mới và cũ……… 67
3.1.1 Giáo dục để quy phục………67
3.1.2 Giáo dục để giải phóng cá nhân………69
3.2 Giáo dục thể chất và tinh thần……… 72
3.2.1 Nhấn mạnh đời sống thân xác……… 72
3.2.2 Giáo dục về đời sống tinh thần……… 79
Tiểu kết chương 3……… 83
KẾT LUẬN………85
TÀI LIỆU THAM KHẢO………89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Giai đoạn 1930 - 1945 được đánh giá là giai đoạn văn học Việt
Nam hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại Trên tiến trình ấy, tiểu thuyết với tư cách là một bộ phận góp phần tạo nên sự bề thế cho nền văn học xứng đáng là đại diện tiêu biểu nhất Chính
vì thế, thể loại này luôn dành được rất nhiều sự quan tâm từ phía các nhà phê bình, nghiên cứu khi nghiên cứu văn học
Góp phần lớn vào những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, không thể không nhắc đến hai trụ cột tiểu thuyết lãng mạn Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực phê phán Việc nghiên cứu tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực phê phán chính là để làm rõ hơn giá trị của hai trụ cột ấy Trải qua sự chắt lọc khắt khe cùng với nhiều sự phản hồi khác nhau của thời gian và dư luận, văn chương của Tự lực văn đoàn
đã thực sự khẳng định được chỗ đứng của mình trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Song song với đó là văn học hiện thực phê phán, với đại diện tiêu biểu là những tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng
Đối với tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, lâu nay, người ta vẫn cho rằng các luận đề được đặt ra là luận đề xã hội Điều này gắn với tôn chỉ và mục đích
của văn đoàn đề ra từ khi thành lập, đó là “dùng văn chương để cải tạo xã
hội” Tiểu thuyết luận đề minh hoạ cho một tư tưởng, một quan điểm có sẵn,
một vấn đề mà nhà văn luôn đau đáu suy nghĩ và tìm cách đấu tranh cho nó, nhà văn có khi sẵn sàng hi sinh nghệ thuật, bỏ đi những cái hay, cái tinh tuý trong nghệ thuật để phục vụ cho luận đề của mình Những tác phẩm tiêu biểu
như: Đoạn tuyệt, Lạnh lùng của Nhất Linh, Nửa chừng xuân, Thoát ly, Gia
đình, Thừa tự, Trống Mái của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo
đã rất thành công trong việc lên án quan niệm phong kiến khắc nghiệt lỗi thời,
cổ vũ tự do cá nhân, đề cao tầng lớp bình dân và phản đối lối sống trưởng giả,
Trang 8kiểu cách Qua những tác phẩm ấy, có thể thấy trong quan điểm của Tự lực văn đoàn, văn chương thực sự là một thứ công cụ đắc lực để tác động vào xã hội.
Khi nghiên cứu tiểu thuyết ở phạm vi nhỏ hẹp ta sẽ thấy được những giá trị và ý nghĩa riêng nhưng nếu chỉ quan tâm ở tầm rộng lớn thì khó mà nhận ra Do đó, giới tính là một trong những vấn đề rất quan trọng, nhất là vào thời điểm sáng tác trong giai đoạn văn học 1930 - 1945 Cho nên đề tài chúng tôi thực hiện nhằm góp phần đáp ứng phần nào yêu cầu cấp thiết đó
1.2 Một trong những yếu tố thể hiện đậm đặc ý thức sáng tác của các
tiểu thuyết gia Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực chính là tư duy về nghệ thuật, là sự đổi mới cách viết Các vấn đề được đặt ra trong các tác phẩm mới
mẻ phù hợp với thị hiếu của độc giả và được xã hội quan tâm nhiều Đó là sự đấu tranh giữa những cái mới, cái tiến bộ, hiện đại chống lại những cái cũ, cái lạc hậu, thể hiện khát vọng chân chính và tự do trong tình yêu hôn nhân gia đình của con người Giá trị cách tân trong quan điểm sáng tác của các nhà văn
(đóng góp quan trọng nhất vào tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam)
được thể hiện tương đối rõ nét trong từng tác phẩm Khi làm rõ được điều này
sẽ góp phần khẳng định giá trị đích thực của văn chương Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực Trong đó, tiêu biểu phải kể đến các nhà văn như: Nhất
Linh, Khái Hưng và Vũ Trọng Phụng với hai tiểu thuyết nổi tiếng Đời mưa
gió và Làm đĩ
Có thể nói, hai tiểu thuyết kể trên rất gần nhau về thời gian sáng tác
Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng xuất bản vào năm 1933 Tác phẩm
xây dựng hình ảnh một cô gái giang hồ nhưng lại đề cao sự tự do nam nữ,
sống chung không bị ràng buộc những lễ nghi hà khắc Dù vậy, trong Đời
mưa gió nhà văn không miêu tả về ân ái, giao hợp của nhân vật Tiểu thuyết Làm đĩ ra đời sau 3 năm (1936), cũng viết về một cô gái làm nghề bán hương
Trang 9nhưng Vũ Trọng Phụng lại mô tả về quá trình trụy lạc rất tỉ mỉ, chân thực và mạnh dạn hơn
Sau khi Làm đĩ cùng với một số tác phẩm khác của Vũ Trọng Phụng ra
đời, trên diễn đàn văn học ở miền Bắc khi ấy đã có hai khuynh hướng báo chí đối lập nhau: một bên là Tự lực văn đoàn với Phong Hóa, Ngày Nay và một bên là những tờ báo chống lại Tự lực văn đoàn, như Tiểu thuyết thứ bẩy, Hữu Ích, Phổ Thông bán nguyệt san thuộc nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long, với các nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Lan Khai, Trường Tửu
Trong những sự xung đột, đối đầu thì riêng trường hợp giữa Khái Hưng
- Nhất Linh và Vũ Trọng Phụng có nguyên do sâu xa, căng thẳng hơn Đó là
sự đối lập về quan điểm, tư tưởng và phong cách văn học trong quá trình sáng tác Khái Hưng và Nhất Linh đã thể hiện thái độ ra mặt chê nhà văn Vũ Trọng
Phụng Cụ thể, Khái Hưng chê Vũ Trọng Phụng chỉ nhìn thấy cái xấu trong con người và Nhất Linh chê Vũ Trọng Phụng là dâm ô Còn về phía Vũ Trọng
Phụng, ông phản bác lại một cách thẳng thắn theo quan điểm của nhà văn tả chân rằng: Mình chỉ nói lên sự thực
Cuộc tranh luận về Vũ Trọng Phụng chung quanh vấn đề “dâm hay không dâm” tương đối quyết liệt nhưng vẫn không thể phân bua rõ bên nào thắng bên nào bại Và từ lúc mở đầu cho đến khi kết thúc, cuộc tranh luận ấy kéo dài khoảng 3 năm (từ cuối năm 1936 đến cuối 1939) Chính Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn, trên số 25 ra ngày 01/09/1936, là người châm ngòi cho cuộc
tranh luận qua bài Văn chương dâm uế Trong bài viết, Thái Phỉ tập trung
nhằm vào cá nhân Vũ Trọng Phụng, một người mà ông vẫn thường quý mến
vì văn tài Đồng thời, ông Hữu Phỉ muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo một khuynh hướng văn chương nguy hại tả cái dâm uế một cách táo bạo, khó coi, trần truồng hết sức gây phản cảm đối với độc giả Cho nên, ông gọi đó là thứ
“văn chương dâm uế” không có tính nghệ thuật cần có
Trang 10Mặc dù trước đó 2 năm trên Ngọ báo, Thái Phỉ từng có bài viết khen ngợi về thành công của Vũ Trọng Phụng với phóng sự Cạm bẫy người Ông
đã thực lòng khen ngợi vì nhà văn có một tác phẩm viết rất thành công và có giá trị về phương diện khảo chứng cũng như về phương diện văn chương
Cạm bẫy người là tác phẩm được viết một cách có tính nghệ thuật cao, có sức
cám dỗ lay động người đọc với mục đích chính đáng là phê phán, lật tẩy hiện tượng xã hội xấu xa là cờ bạc bịp Trong tác phẩm, giọng văn trào phúng, mát
mẻ của Vũ Trọng Phụng được đánh giá là rất phù hợp Thái Phỉ cũng rất tinh
tế khi nhận ra khuynh hướng tả chân mà Vũ Trọng Phụng đã dẫn theo gót các bậc thầy như G Maupassant, G.Flaubert Đồng thời ông cũng dè chừng lối viết mà theo ông dễ bị quy là tính chất khiêu dâm trên những tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng
Bởi vậy, người đọc ngạc nhiên khi thấy Vũ Trọng Phụng phản ứng gay
gắt với Thái Phỉ qua bài Thư ngỏ cho ông Thái Phi, chủ bút báo Tin văn về bài Văn chương dâm uế đăng trên Hà Nội báo, số 38 ra ngày 23/09/1936 Phải
chăng với Thái Phỉ, ông chỉ là cái cớ để Vũ Trọng Phụng nói cho thoả thích, cho hả lòng hả dạ và công khai sự đối lập quan điểm với những người khác vì
đố kỵ, vì muốn tranh giành độc giả mà châm chọc, công kích ông?
Là một nhà văn tả chân nên khi đọc bài của Thái Phỉ, Vũ Trọng Phụng nhận thấy phải có trách nhiệm, phải bộc lộ thái độ dứt khoát, rành mạch Vì vậy, ông đã thẳng thắn nói rằng, lý lẽ của Thái Phỉ là không có sức thuyết phục, bởi tối tăm, luẩn quẩn là sự phỉ báng, phạm thượng đối với văn chương
tả thực
Cũng vì do bắt bẻ chữ nghĩa của Thái Phỉ đã dùng trong bài Văn
chương dâm uế, đứng ở vị trí và lập trường, quan điểm của người viết, Vũ
Trọng Phụng đã phản ứng trước sự quy chụp thiển cận cho rằng ông đã miêu
tả cái dâm để khiêu dâm người đọc, khiến họ mất đi sự tỉnh táo, phê phán cần thiết Vũ Trọng Phụng đã tự tin với mục đích viết văn với quan điểm rõ ràng
Trang 11và chính đáng của mình: viết về cái xấu, nhơ bẩn, dâm uế để tố cáo, lên án nó, khơi dậy trong độc giả sự công phẫn, đối phó chống lại thực trạng và những
kẻ thủ phạm gây ra những tệ nạn xã hội xấu xa ấy
Có thể thấy, trên những nét cơ bản, quan điểm của Thái Phỉ cũng như
Vũ Trọng Phụng về đối tượng và mục đích viết về những cái xấu xa, nhơ bẩn của xã hội…là gần gũi và đồng thuận nhau Chỗ khác nhau trong quan niệm của mỗi ông chỉ là ở mức độ và cách viết như thế nào thì phải và có thể chấp nhận được, để không rơi vào tình trạng khiêu dâm người đọc Thái Phỉ e ngại
về sự miêu tả quá đà, nhồi nhét quá mức cảnh dâm uế vào bất cứ đâu, làm cho người đọc mụ mị không còn tỉnh táo minh mẫn hoặc ghê sợ hoặc rung động một cách lệch lạc bị kích thích về mặt thú tính của con người Còn Vũ Trọng Phụng, ông nhất nhất bảo vệ quan điểm của mình và khẳng định: nhà văn tả chân có quyền và bổn phận tả những cảnh về thuộc về đời sống tình dục tự nhiên của con người, về cái dâm thuộc về thiên tính - nhưng lúc nào cần tả, lúc nào không nên tả thì cần phải cân nhắc để văn chương không rơi vào khiêu dâm Còn thứ dâm uế dâm loạn – tức là những hành vi xấu xa, cần lên
án thì phải mô tả cho thật kỹ về nó, phải lôi nó ra dưới ánh sáng ban ngày, có như vậy mới khiến người đọc bất bình, công phẫn tố cáo nó Với Vũ Trọng Phụng, ông không tán thành lối viết của một số tác giả theo kiểu nửa kín nửa
hở, phủ lên bằng những câu văn bóng bẩy, thanh nhã bởi như vậy càng làm cho độc giả thêm tò mò mà không thỏa nguyện Phong cách của Vũ Trọng Phụng là viết thẳng thắn, thành thực, là nói toạc ra các khía cạnh của sự thật cho dù có tàn nhẫn, có khó đọc, khó nghe Những sự thật cay nghiệt, giống như những liều thuốc đắng dù khó uống, khó nuốt trôi nhưng lại có tác dụng làm cho người ta mau khỏi bệnh
Tháng 10 năm 1939, Vũ Trọng Phụng qua đời Sau đó, cả hai phía tranh luận: phía người phê phán và phía người tự bảo vệ, bên nào xem ra cũng
có lý, không bên nào chịu bên nào Và đến Tạp chí Tao đàn số 12-1939, số
Trang 12tưởng niệm Vũ Trọng Phụng 2 tháng ngay sau ngày nhà văn qua đời thì có sự thay đổi Lúc này, những lời khen kèm những lời tiếc thương nhà văn đầy tài năng và số phận ngắn ngủi đã đưa Vũ Trọng Phụng lên vị trí rất cao trong nền văn chương đương đại Đồng thời cuộc tranh luận về vấn đề “dâm hay không dâm” cũng được khép lại
1.3 Giới tính luôn là vấn đề tương đối nhạy cảm, nhất là trong xã hội
Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ XX Tuy nhiên, đối với câu chuyện văn chương, đây lại là vấn đề rất mới, được nhiều người quan tâm, đồng thời cũng quan ngại nên đã gây ra không ít những bài viết tranh luận trên các diễn đàn ngôn luận
Trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu luận đề giới tính trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực ngoài việc khẳng định những giá trị nội tại còn có ý nghĩa bổ sung cho cách nhìn hệ thống về giới tính trong văn học Việt Nam
Điều thú vị là các nhà văn của hai cuốn tiểu thuyết Đời mưa gió và Làm
đĩ lại cùng viết về một chủ đề, nhân vật chính trong tác phẩm đều là giới tính
nữ Hai nhân vật nữ ấy, họ cùng sinh ra trong những gia đình khá giả, cha có địa vị xã hội Hai tác phẩm với những dữ kiện được đặt ra giống nhau, nhưng dưới những góc độ nhìn nhận khác nhau, sự chiếu rọi của quan điểm nghệ thuật khác nhau, các tác giả lại tìm ra những kết quả, những cách hóa giải khác biệt mang đậm dấu ấn từng người Đó là cách xây dựng diễn biến số phận của nhân vật chính, là các mối quan hệ của nhân vật chính với các nhân vật xung quanh với cách kể chuyện trong hai tiểu thuyết cũng không giống nhau Mỗi nhân vật được giao trọng trách gửi gắm quan điểm, tư tưởng, phong cách văn học của mỗi nhà văn Từ đó, cho ta thấy rõ quan điểm nhìn nhận về giới tính đối với các nhà văn đương thời, và cách nhìn, cách lý giải,
xử lý tình huống của các nhà văn là vô cùng phong phú, đa dạng, không hề
Trang 13trùng lặp Đây chính là đặc tính sáng tạo, hết sức quan trọng trong quá trình sáng tác văn học.
Có thể thấy, đặt hai tác phẩm trong cùng bình diện để phân tích và so sánh, người viết đã nhận thấy được điểm tương đồng và khác biệt về luận đề
“giới tính”, từ đó nhận diện được những sáng tạo riêng giữa hai tác phẩm thuộc hai trào lưu văn học: văn học lãng mạn và hiện thực Chính bởi thế,
chúng tôi đề xuất đề tài: “Luận đề giới tính trong tranh luận tiểu thuyết
trước 1945 - trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ” của nhà văn Nhất Linh
cùng viết với nhà văn Khái Hưng và nhà văn Vũ Trọng Phụng để nghiên cứu
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Từ khi ra đời đến nay, Tự lực văn đoàn đã trở thành tiêu điểm chú
ý của giới nghiên cứu văn học Có rất nhiều công trình xuất sắc nghiên cứu từ trước năm 1945 ở cả hai miền Nam Bắc Nhưng ý kiến đánh giá lại không hoàn toàn nhất quán, thậm chí trái ngược nhau Ý kiến khen cũng nhiều nhưng chê cũng không ít
Trước năm 1945, xuất hiện các công trình của Trương Chính Trong
cuốn Dưới mắt tôi (1939), ông đã dành nhiều trang để đánh giá những tác
phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của Khái Hưng, Nhất Linh đang “làm mưa làm gió” trên văn đàn thời đó với thái độ tôn trọng, ghi nhận sự tiến bộ, mới mẻ
Tiêu biểu là những tiểu thuyết như: Đoạt tuyệt, Lạnh lùng, Tối tăm của Nhất Linh; Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Gia đình của Khái Hưng và hai tác phẩm viết chung của Nhất Linh và Khái Hưng là Gánh hàng
hoa và Đời mưa gió Tác giả Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1941), cũng dành nhiều trang đánh giá về Tự lực văn đoàn nhưng
chủ yếu là Nhất Linh và Khái Hưng Trong sách ấy, ông nhận định rằng Nhất Linh thiên về tiểu thuyết luận đề, còn Khái Hưng thiên về khuynh hướng lí
tưởng Rồi nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong bộ Nhà văn Việt Nam hiện
đại(1942) cũng đã dành hơn một trăm trang đánh giá về Tự lực văn đoàn,
Trang 14thừa nhận tài năng của các nhà văn.Ông gọi nhà văn Nhất Linh là “tiểu thuyết
gia” [36] Ngoài ra còn có Trương Tửu với bài Loa số 76 (1935), Lê Thanh báo Ngày Nay số 126/9- 1938, Trần Thanh Mai với báo Phong Hóa số 2/1934
và Sông Hương số 5/1941 đã đánh giá cao về Tự lực văn đoàn Các công trình
trên bước đầu mới chỉ nêu lên một số đóng góp của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về tư tưởng và nghệ thuật như đấu tranh giải phóng cá nhân, nghệ thuật
tả cảnh và miêu tả tâm lí nhân vật Tuy nhiên những luận điểm nêu ra còn được đánh giá chung chung và có phần còn đơn giản
Từ năm 1945 đến 1986, do điều kiện đất nước có chiến tranh và khắc phục hậu quả của chiến tranh, công việc nghiên cứu văn học tạm lắng xuống
để nhường chỗ cho hoạt động tuyên truyền chính trị Tuy nhiên không vì thế
mà vấn đề về Tự lực văn đoàn, thơ Mới hay văn học lãng mạn ít được chú ý
Tự lực văn đoàn vẫn được nghiên cứu ở cả hai miền với những góc độ khác nhau
Ở miền Nam, những tác phẩm của Tự lực văn đoàn được in lại, nhiều
vấn đề được nghiên cứu sâu hơn Nguyễn Văn Xung với Bình giảng về Tự
Lực văn đoàn (1958), Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III (1960), Doãn Quốc Sỹ có bài Về Tự Lực văn đoàn (1960), Lê
Hữu Mục viết Khảo luận về Đoạn tuyệt (1960), Thanh Lãng có cuốn Phê bình
văn học thế hệ 32 (1972), Vũ Hân xuất bản Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX 1800- 1945 (1973), Thế Phong viết Nhà văn tiền chiến 1930 -
1945 (1974), Bùi Xuân Bào viết Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1972)…
Nhìn chung các tác phẩm này đánh giá nghiêng về khen nhiều hơn chê Phần lớn họ đều đề cao Tự lực văn đoàn ở tiểu thuyết luận đề và nghệ thuật tả cảnh, miêu tả tâm lí nhân vật, còn vấn đề về giới tính thì chưa có được đề cập đến
Ở miền Bắc, có công trình nghiên cứu của nhóm Lê Quý Đôn Lược
thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập II- 1958; Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ với
Trang 15Văn học Việt Nam 1930- 1945,1961; Vũ Đức Phúc có Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930- 1945, 1961) và Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại 1930 - 1945, 1971; cùng các bài phê bình của Nam
Mộc, Nguyễn Đức Đàn….Nhìn chung các công trình chủ yếu tập trung phê bình nội dung xã hội của tác phẩm trên phương diện chính trị, đạo đức, tư tưởng Họ có cái nhìn khắt khe đối với Tự lực văn đoàn, cho những tác phẩm này “căn bản là bạc nhược, suy đồi” vì không cổ vũ con người hành động trong cảnh nước mất nhà tan mà “ru ngủ thanh niên” trong những chuyện tình cảm lãng mạn Trong khi hàng nghìn người đang sống chết cho một lý tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc, giải phóng con người thì Tự lực văn đoàn lại để cho các nhân vật của mình chìm đắm trong giấc mộng tình yêu, hạnh phúc cá nhân Vì thế nên Tự lực văn đoàn được xem như là “cơ hội chủ nghĩa”, “tư tưởng tiểu tư sản”, “lãng mạn thoát ly”….[61]
Từ năm 1986 trở đi, hiện tượng Tự lực văn đoàn đã được nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn Chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã thực sự thổi luồng sinh khí mới và “cởi trói” về mặt tư tưởng cho các văn nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu phê bình Họ được tự do hơn trong việc tiếp cận theo những góc nhìn khoáng đạt hơn, được mạnh mẽ và thẳng thắn cả khi khen và chê một cách khách quan và khoa học Các hiện tượng văn học, các nghi án văn học được đánh giá, xem xét lại với thái độ bình tĩnh
và khách quan hơn Tự Lực văn đoàn cũng nằm trong quỹ đạo đó Nhiều bài nghiên cứu, chuyên luận mới ra đời Họ có những cách nhìn mới về văn xuôi
Tự Lực văn đoàn Huy Cận trong cuộc Hội thảo về Tự Lực văn đoàn ngày 27 tháng 5 năm 1989 tại khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội đã đi tới kết
luận: “Tự Lực văn đoàn đã có những đóng góp lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết,
vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân
tộc, với lối văn trong sáng và rất Việt Nam” Giáo sư Hà Minh Đức cho rằng
Tự Lực văn đoàn với những tiền đề về văn hoá xã hội mới đã “tạo nên những
Trang 16giá trị mới cho văn học” Còn Giáo sư Phan Cự Đệ khẳng định: “tiểu thuyết
Tự Lực văn đoàn có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những năm
30 của thế kỷ, đổi mới từ quan niệm nghệ thuật cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đường hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong
sáng và giàu có hơn.” Giáo sư Trương Chính trong Báo Người giáo viên
nhân dân số đặc biệt, (27, 28, 29, 30, 31) tháng 7/1989 cũng cho rằng “Tự
Lực văn đoàn có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của văn học ta những năm 30” Giáo sư Trần Đình Hượu nhấn mạnh: “Những năm 20 là quá trình khẳng định văn học mới và Tự Lực văn đoàn đánh dấu giai đoạn toàn thắng với sự đóng góp lớn chủ động và tích cực” Ngoài ra còn hàng loạt các
công trình nghiên cứu chuyên sâu của Lê Thị Đức Hạnh Thêm mấy ý kiến
đánh giá Tự Lực văn đoàn, Vũ Thị Khánh Dần Nhìn nhận về tiểu thuyết Nhất Linh hơn nửa thế kỉ qua, Đỗ Đức Dục Góp phần đánh giá văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945), Lê Thị Dục Tú Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, Phạm Quang Long Tự Lực văn đoàn – một kiểu tư duy văn học, Mã Giang Lân (chủ biên), Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900- 1945 và những đóng góp của nó, Nguyễn Hữu
Hiếu Mấy suy nghĩ về nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn) Tự Lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Dương Hương Nghệ thuật miêu tả tâm lí trong tiểu thuyết luận đề của Nhất
Linh, Lê Minh Truyện Thạch Lam với Tự Lực văn đoàn, Nguyễn Trác và Đái
Xuân Ninh Về Tự Lực văn đoàn, Vũ Tiến Quỳnh (Tuyển chọn) Nhất Linh -
Khái Hưng - Hoàng Đạo, Hà Minh Đức Tự lực văn đoàn – Trào lưu tác giả,
Khúc Hà Linh Anh em Nguyễn Tường Tam – Nhất Linh ánh sáng và bóng
tối… Do được nhìn nhận một cách khách quan và công bằng hơn nên ở miền
Bắc Tự lực văn đoàn đã trở thành đề tài thu hút sự chú ý của nhiều sinh viên ngành Ngữ văn trong các luận văn, luận án và khóa luận tốt nghiệp
Trang 17- Trong cuốn Tự lực văn đoàn, trào lưu - tác giả, Hà Minh Đức có bài viết Lời giới thiệu tiểu thuyết Đời mưa gió của Khái Hưng và Nhất Linh với
những ý kiến, đánh giá về tiểu thuyết này
- Trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24B , Nxb Khoa học xã hội, năm 1997 có bài Đời mưa gió với những phân tích và đánh giá chung nhất về tiểu thuyết Đời mưa gió.
- Bài viết Những ấn tượng còn đọng lại, Bùi Hiển in trong cuốn Tự lực
văn đoàn, trào lưu - tác giả đã ghi lại những ý kiến, nhận xét của tác giả về
nhân vật Tuyết trong Đời mưa gió.
- Trong cuốn Tự lực văn đoàn, trào lưu – tác giả có bài Thế giới nhân
vật trong Tự lực văn đoàn Bài viết nói đến các kiểu nhân vật thường thấy
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Trong đó đề cập đến nhân vật Tuyết, một kiểu nhân vật mới mẻ trong văn chương Tự lực văn đoàn
Trung tâm của văn đoàn đó là chống lễ giáo phong kiến mà người phụ
nữ là nạn nhân tiêu biểu Có thể nhắc tới bài viết Nhìn lại vấn đề giải phóng
phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn của Trương Chính Lê Thị Dục Tú
trong cuốn Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn có đề
cập đến hình tượng người phụ nữ, đặc biệt là ở chương 2, 3 nói về Thế giới nội tâm và Vẻ đẹp thể chất Nhưng nhìn chung những bài viết này chủ yếu khai thác nhân vật để thấy sự đổi mới về quan niệm, tư tưởng của tác giả so với đương thời, xem xét nhân vật ở bình diện xã hội, triết học, mỹ học chứ chưa nhìn nhận nhân vật ở góc độ giới tính
2.2 Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, các nhà văn luôn phấn đấu để
sáng tạo những giá trị mới, thể hiện được tầm cao của thời đại và chiều sâu của truyền thống Đồng thời cũng trân trọng tiếp thu, giữ gìn các giá trị truyền thống của cha ông Năm 18 tuổi, Vũ Trọng Phụng đã đến với văn chương qua
một loạt truyện ngắn trong chuyên mục Chuyện thứ hai đăng trên tờ Ngọ báo
Những tác phẩm ấy vượt qua ý nghĩa thử bút, bước đầu đã bộc lộ những dấu
Trang 18hiệu của một tài năng Ông bắt đầu được công chúng chú ý và đón nhận nhiều
từ vở kịch Không một tiếng vang (1931), các phóng sự Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934) Với các tác phẩm này đồng nghiệp tôn vinh
ông là “ông vua phóng sự đất Bắc” Đến năm 1936, báo chí càng quan tâm và viết nhiều hơn về ông Vì tính riêng trong năm 1936, ngoài tập phóng sự nổi
tiếng Cơm thầy cơm cô, các truyện ngắn Bộ răng vàng, Hồ sê líu hồ líu sê
sàng… Vũ Trọng Phụng lần lượt cho ra đời nhiều tiểu thuyết hiện thực xuất
sắc: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ.
Như vậy, hơn chín mươi năm qua, kể từ lúc Vũ Trọng Phụng gia nhập
làng văn với tác phẩm Chống nạng lên đường (1930) trở đi, cả khi sinh thời
cũng như lúc đã quá cố, dường như ông luôn một mình lênh đênh chìm nổi trên dòng sông dư luận Giờ đây, xem xét lại những chặng đường, những khúc quanh, ngã rẽ của lịch sử phê bình nghiên cứu con người và sự nghiệp sáng tác Vũ Trọng Phụng không chỉ có ích cho tìm hiểu, đánh giá về nhà văn mà còn có ý nghĩa tích cực về mặt quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu di sản văn học trong quá khứ nói chung
Tính từ thời điểm viết luận văn tháng 7 năm 2020, theo sự thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, đã có gần 200 tiểu luận, phê bình viết về Vũ
Trọng Phụng Và có hai cuốn sách viết về riêng ông Đó là Vũ Trọng Phụng –
mớ tài liệu cho văn sử Việt Nam của Lan Khai (Nxb Minh Phương, H.1941)
và cuốn Vũ Trọng Phụng – nhà văn hiện thực của Văn Tâm (Nxb Kim Đức, H.1957) Bên cạnh đó có Luận án tiến sĩ Ngữ văn: Nhân vật trong tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng của tác giả Đinh Trí Dũng, người hướng dẫn là phó giáo sư
Nguyễn Hoàng Khung Nhân vật gái điếm trong tác phẩm “Làm đĩ” của Vũ
Trọng Phụng và “Xóm Rá” của Ngọc Giao” tác giả Đào Phú Nghĩa do tiến sĩ
Vũ Thị Trang hướng dẫn… Trong cuốn sách Bản sắc hiện đại trong các tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn học Hà Nội - 2003, giáo sư Hà Minh
Đức chủ biên có gần 30 bản tham luận trong cuộc hội thảo khoa học ở Việt
Trang 19Nam được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng 10 năm 2002 nhưng chưa có bài viết và luận văn nào nghiên cứu về luận đề giới tính.
2.3 Khi chúng tôi tìm hiểu về luận đề giới tính trong tiểu thuyết nói
chung và tiểu thuyết của Nhất Linh - Khái Hưng và Vũ Trọng Phụng trong
hai trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ chưa có công trình và đề tài luận văn
nào nghiên cứu làm về vấn đề này Trong khi đó, vấn đề giới tính trong môi trường giáo dục hiện nay rất chú trọng và được quan tâm Vì thế, luận văn này của chúng tôi phù hợp với tình hình thực tế
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nhất Linh, Khái Hưng và Vũ Trọng Phụng đều là những tên tuổi lớn trong văn học Việt Nam trước năm 1945 nên tìm hiểu tác phẩm của những nhà văn đó luôn thấy sự sáng tạo và có giá trị sâu sắc Nhất là vấn đề giới tính
trong hai cuốn tiểu thuyết Đời mưa gió và Làm đĩ cho tới hôm nay vẫn còn
mới và được nhiều sự quan tâm của độc giả Vì vậy khi thực hiện đề tài này, luận văn hướng tới phân tích làm rõ về luận đề giới tính trong tranh luận tiểu
thuyết trước 1945 – trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ Từ đó, nhận diện
điểm tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm khi viết cùng một chủ đề như những đóng góp của các nhà văn trong văn học Việt Nam hiện đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài khảo sát nhận diện, so sánh luận đề giới tính trong tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945 qua trường hợp
Đời mưa gió và Làm đĩ Trong quá trình nghiên cứu, phân tích sẽ thực hiện
nhiệm vụ cụ thể:
- Nhận diện, phân tích giới tính trong các mối quan hệ xã hội của hai cuốn
tiểu thuyết Đời mưa gió và Làm đĩ
- Nhận diện, phân tích về phụ nữ trong gia đình của hai cuốn tiểu thuyết Đời
mưa gió và Làm đĩ
Trang 20- Nhận diện, phân tích về giáo dục trong luận đề giới tính của hai cuốn tiểu
thuyết Đời mưa gió và Làm đĩ
Từ đó, hiểu rõ được về luận đề giới tính trong hai cuốn tiểu thuyết Đời
mưa gió và Làm đĩ là vấn đề luôn mới mẻ có tính thời đại và cần được độc giả
quan tâm nhiều hơn theo chiều hướng tích cực
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượngnghiên cứu
- Luận đề giới tính trong tranh luận tiểu thuyết trước 1945 - trường hợp
Đời mưa gió và Làm đĩ
- Nội dung kiến thức về luận đề giới tính
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát hai trường hợp Đời mưa gió của Nhất Linh - Khái Hưng và Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau:
5.1 Phương pháp xã hội học văn học
Vận dụng cách nhìn từ góc độ văn hóa và xã hội để tiếp cận cuộc tranh luận tiểu thuyết của ba tác giả lớn trong văn học Việt Nam về một đề tài dễ gây tranh luận và chưa có tiền lệ trong lịch sử văn học: tính dục
5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học
- Đọc, nghiên cứu, lựa chọn những chi tiết và sự việc tiêu biểu trong tác phẩm, phân tích, tổng hợp, hệ thống các nguồn trích dẫn trong tài liệu, tham khảo các tài liệu liên quan tới đề tài
5.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Để chỉ ra những nét tương đồng, khác biệt về luận đề giới tính trong từng tác phẩm, cần đối chiếu so sánh làm rõ giới tính được biểu hiện như thế
Trang 21nào trong tiểu thuyết Đời mưa gió của Nhất Linh - Khái Hưng và Làm đĩ của
Vũ Trọng Phụng
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên biệt về luận đề giới tính
trong tranh luận tiểu thuyết trước 1945 - trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ
Trong quá trình chúng tôi xem xét, nghiên cứu và phân tích thì những kết quả đạt được sẽ góp phần làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm được ra đời trong cùng một giai đoạn văn học, cùng viết về một chủ đề Đồng thời thấy được những quan điểm, lối sống và cách sống của người phụ nữ trong hôn nhângia đình ở xã hội truyền thống xưa mà các tác giả đã gửi gắm thông qua hình tượng nhân vật ở hai cuốn tiểu thuyết này Từ
đó, thấy được những đóng góp của mỗi nhà văn trong hai trào lưu văn học lãng mạn và văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Như trên đã trình bày, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài khảo sát nhận diện, so sánh về luận đề giới tính trong tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945 qua trường
hợp Đời mưa gió và Làm đĩ Chỉ ra được điểm tương đồng và khác biệt giữa
hai cuốn tiểu thuyết Từ đó, đề xuất nhận định về tư tưởng, quan điểm, thái độ của mỗi nhà văn trong cách nhìn hiện thực xã hội Việt Nam đương thời, thấy được sự đóng góp của mỗi nhà văn trong văn xuôi Việt Nam trước 1945 Qua
đó, ta có sẽ cách nhìn, cách hiểu đầy đủ sâu sắc hơn về luận đề giới tính trong
trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ
Cấu trúc của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương Trong mỗi chương chúng tôi sẽ lựa chọn những chi tiết và sự việc tiêu biểu gắn với
những nhân vật chính, cụ thể trong hai trường hợp Đời mưa gió và Làm đĩ rồi
Trang 22phân tích để thấy được những khía cạnh của vấn đề giới tính được đặt ra với văn học đương thời trong góc nhìn xã hội học văn học học Cụ thể:
Chương 1 – Giới tính trong các mối quan hệ xã hội
Chương 2 – Phụ nữ trong gia đình
Chương 3 - Giáo dục trong luận đề giới tính
Trang 23CHƯƠNG 1 GIỚI TÍNH TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI
Xã hội Việt Nam trước năm 1945 có rất nhiều mâu thuẫn và bất công
về giới tính trong các mối quan hệ Trước bối cảnh đó, các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng và Vũ Trọng Phụng đã thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình thông qua hình tượng nhân vật được xây dựng trong từng tác phẩm nhất
là tiểu thuyết Đồng thời, mỗi nhân vật đều được nhà văn đặt trong các mối quan hệ xã hội khác nhau về giới tính Thông qua các mối quan hệ xã hội của
nhân vật nam và nhân vật nữ trong tiểu thuyết Đời mưa gió và Làm đĩ, Nhất
Linh, Khái Hưng và Vũ Trọng Phụng thể hiện rõ vai trò vị thế của họ trong cuộc sống xã hội
1.1 Mối quan hệ xã hội trong Đời mưa gió
1.1.1 Định kiến nam quyền
Trong tiểu thuyết Đời mưa gió của nhà văn Nhất Linh và Khái Hưng,
Chương là nhân vật nam gắn với biểu biểu tượng nam quyền thời bấy giờ Cuộc đời của Chương có nhiều biến động đổi thay, nhất là liên quan tới phụ
nữ
Trước khi cô Tuyết xuất hiện, Chương đã quen hai người phụ nữ trẻ
đẹp đó là Loan và Thu Nhưng từ hình ảnh cô Thu của hiện tại,“một cô gái
đến thì mơn mởn như bông hoa xuân đượm hạt móc” [28,7], đã khuấy động
tâm hồn Chương trở nên hỗn loạn như mặt biển đầy sóng Chương nhớ lại quãng đời đã qua
“Bốn năm trước, một cô thiếu nữ xinh đẹp Cô Loan! Thu với Loan không biết có ý nghĩa gì nối liền với nhau, không biết vì sự liên tưởng chi mà vừa thoạt nghĩ tới cô Thu, Chương nhớ ngay tới cô Loan” [28,8]
Người con gái thứ nhất trong đời Chương quen là Loan Nhưng Chương nhớ tới Loan lại qua hình ảnh Thu Vì năm ấy, Loan cũng trạc tuổi Thu, có phần còn trẻ hơn Trong cảm nhận của Chương, Loan cũng xinh tươi,
Trang 24cũng yểu điệu dịu dàng Thời gian yêu Loan, Chương là một chàng trai mơ mộng, ao ước, bài trí ra những cảnh tương lai tốt đẹp Thế những tháng ngày
mơ mộng ấy đã bị dập tắt khi chàng hỏng thi Anh đến báo tin cho người vợ chưa cưới, hy vọng sẽ được an ủi, động viên, vỗ về từ phía gia đình nhà người yêu Ngờ đâu anh nhận được lại là vẻ mặt lãnh đạm của ông bố và dáng điệu khinh bỉ của bà mẹ Nhất là câu nói của mẹ Loan đã ám ảnh văng vẳng mãi bên tai chàng
“Người lấy con tôi phải là người có nghề nghiệp, căn bản.”[28,8]
Thái độ khinh bỉ, coi thường của bố mẹ Loan như xát muối vào lòng, làm tổn thương trái tim Chương Một thời gian sau Chương đã xóa hẳn hình ảnh Loan trong tâm tư Chương phẫn chí và quyết tâm học, bỏ hết tính mơ
mộng, ảo tưởng, vì chàng đã nhận ra “sự mơ mộng về tình ái đã làm cho
chàng thất bại về đường học vấn thi cử” [28, 8]
Mục đích tập trung vào học của Chương là đi thi và phải đỗ để không
bị coi khinh nữa Trong xã hội xưa, người đàn ông có vai trò rất quan trọng trong cả gia đình và ngoài xã hội Người đàn ông phải là rường cột của gia đình, là trụ cột của mọi mối quan hệ trong xã hội Người đàn ông muốn có cơ hội phát triển là phải được học hành “đến nơi đến chốn”, phải có công danh,
sự nghiệp đàng hoàng Nếu không có công danh, sự nghiệp sẽ bị những người xung quanh nhất là phụ nữ coi thường, thậm chí là khinh bỉ Trong khi, thông thường, phụ nữ chỉ là người nâng khăn sửa áo cho chồng, chăm lo con cái và làm công việc bếp núc của gia đình Cho nên, Chương thi hỏng đồng nghĩa với việc Chương sẽ không có tương lai, khó có thể làm trụ cột, che chở cho Loan nếu lấy được Loan Chương cũng không thể kiếm tiền, đem lại cuộc sống no đủ và hạnh phúc cho vợ con sau này Do vậy, thái độ của bố mẹ Loan
là hệ quả tất yếu của xã hội Việt Nam nói chung thời bấy giờ Cha mẹ có quyền lựa chọn chồng cho con cái của mình Đồng thời, họ thường giáo dục con cái phải theo một quy tắc chung, nhất nhất nghe lời bố mẹ theo một chiều
Trang 25dù đúng hay không đúng Khi con cái đến tuổi xây dựng gia đình thì “cha mẹ
đặt đâu con ngồi đấy” không được tự ý quyết định cho dù không có tình yêu
Do đó, Chương không thể oán trách cha mẹ của Loan được Đây cũng là tâm
lí chung của những ông bố bà mẹ trong xã hội lúc truyền thống xưa
Cũng từ đó, Chương hoàn toàn thay đổi suy nghĩ, không có ý niệm mơ mộng hay nghĩ về phụ nữ
“Những người biết Chương đều lấy làm lạ về sự thay đổi tâm tính mau chóng như thế Họ thì thầm bảo nhau:
Không ngờ một người mơ mộng ái tình đến nỗi biếng lười cả học nay bỗng trở nên một người ghét phụ nữ một cách cay độc!”[28, 9]
Lý do Chương ghét phụ nữ vì được bắt nguồn từ chính người phụ nữ
mà Chương từng yêu và muốn lấy làm vợ đó là Loan Khi cha mẹ coi thường, khinh bỉ Chương, Loan làm gì, ở đâu và có nói gì với Chương? Không! Loan không hề có một lời nào để an ủi, động viên hay đứng về phía Chương mà chỉ
im lặng Như vậy, Loan cũng như bao cô gái khác, không có quyền được lên tiếng, không có quan điểm riêng, không được thổ lộ tâm tư mà chỉ giấu kín trong lòng Thế rồi, cha mẹ bảo sao Loan nghe vậy, im lặng và nhẫn nhịn, chấp thuận ý lòng cha mẹ Loan đúng chuẩn người con gái xưa, hoàn toàn thụ động khi bị cha mẹ tước đi quyền được lựa chọn người mình muốn yêu và muốn được cưới làm chồng Vì sao cô Loan lại thụ động như vậy? Đó là kết quả của cả một xã hội đương thời hướng tất cả mọi gia đình nói chung trong cách giáo dục con cái đều gióng theo một chiều là chỉ biết nghe, vâng lời và thực hiện theo nếu không sẽ trở thành bất hiếu với ông bà, cha mẹ
Có lẽ sự giáo dục ấy đã trở nên cổ hủ, lạc hậu vì biết bao ông bố, bà mẹ
đã đẩy con cái vào thế bị động khi không được lựa chọn hạnh phúc cho mình
Trong Đời mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng, nhân vật Loan và Thu vẫn
còn ảnh hưởng rất sâu về lễ giáo phong kiến, cổ hủ lạc hậu truyền từ bao đời
“cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”
Trang 26Người con gái thứ hai Chương quen là Thu, con gái út của bà phủ Thanh Một cô gái xinh đẹp dịu dàng, ngoan ngoãn chỉ biết vâng lời mẹ mỗi khi sai việc Thu sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả, có điều kiện nhưng sao cô vẫn chưa có người yêu, chưa được sống hạnh phúc? Có lẽ Thu cũng như Loan, luôn thụ động trong cuộc sống Cô cũng không có quyền lựa chọn người mình yêu Gia đình cô rất khuôn phép theo lễ giáo xưa Mẹ cô là người lo toan, sắp xếp mọi thứ trong gia đình Các chị gái của Thu đều do một tay mẹ Thu lựa chọn chồng rồi gả đi Đến lượt Thu cũng không ngoại lệ, cô luôn e dè, bẽn lẽn khi gặp Chương mặc dù trong ý nghĩ muốn được đến với Chương, vì đã có ngầm ý thích Chương Nhưng tại sao cô Thu không dám bộc lộ tình cảm trước mặt Chương? Lí do của cô cũng như Loan, đều ảnh hưởng của sự giáo dục một chiều không được cân bằng về giới tính trong gia đình Nghĩa là “nam nữ thụ thụ bất thân” Bà phủ - mẹ của Thu lại luôn định hướng cho cô phải kén chọn thật kỹ rồi lấy chàng trai nào thì nhất thiết là phải
có địa vị trong xã hội, giàu có và tiếng tăm, trong khi Thu không muốn Vì lẽ
đó, mỗi khi gặp Chương, Thu cũng chỉ nói những câu xã giao hoặc nhìn từ xa không dám nói lời gần gũi hay thân mật
Còn Chương, từ khi đến nhà cô Thu đánh tổ tôm về chàng đã có sự khác lạ và đổi thay trong ý nghĩ Chương bắt đầu như có sự hồi sinh trong trí
óc khi bắt đầu có hình ảnh người phụ nữ xuất hiện Đặc biệt Chương nhớ lại
câu nói của Thu: “Mời anh giáo xơi nước.” [28,18] Hay “Anh giáo ở lại em
hỏi tí việc”.[28,19] Nhớ lại những lời nói êm dịu ấy của Thu, đã làm cho
Chương có cảm giác sung sướng, nồng nàn
Như vậy, bản tính của Chương không phải là người ghét phụ nữ, là
“Nan du” mà nguyên nhân chính là do sự đối xử bất công minh của thế hệ cha
mẹ (như cha mẹ Loan) Sự phân biệt đối xử đề cao vai trò nam quyền trong xã hội đã chạm đến lòng tự trọng của Chương, làm Chương trở nên khô cứng, vô cảm trước những cô gái dù rất xinh đẹp, dịu dàng chung quanh Chương Nay
Trang 27Chương trở nên nghĩ ngợi rất nhiều xoay quanh những câu nói của Thu Điều
ấy chứng tỏ Chương hoàn toàn bình thường giống như bao chàng trai khác Anh vẫn có xúc cảm trước những cô gái dịu dàng, xinh đẹp Nhưng Chương
đã yêu Thu chưa, hay đó chỉ là xúc cảm thông thường của người con trai trước hình ảnh người con gái dịu dàng như Thu Do đó, trong Chương nảy ra
rất nhiều suy nghĩ Chương đã bị lung lay về tính tự cao tự đại của mình
“Phải, bốn, năm năm nay, cái lòng ghen ghét đàn bà đã làm tôn giá trị của chàng, đã làm cho chàng có những tư tưởng triết lý độc địa đối với anh em đồng nghiệp Thế mà nay, chẳng lẽ chàng đem lòng yêu một người con gái, nhất là người con gái ấy lại là con nhà giàu sang.”[28,20]
Dù có lung lay trong tâm tưởng, có xao động trong tâm hồn nhưng sao Chương không yêu Thu Có lẽ Thu vẫn chưa phải là người con gái làm cho Chương xóa bỏ mặc cảm, thậm chí ác cảm trước những gia đình giàu có khi khinh thường người như Chương lúc thời trai trẻ hỏng thi Phải chăng sự e dè, nhẹ nhàng của Thu không làm cho Chương ngạc nhiên để thay đổi cách nghĩ? Thậm chí khi Chương nghe thấy những lời buồn rầu có ý kêu van của người
thiếu phụ ngoài đường như: “Em lạy anh, anh tha lỗi cho em… anh đừng
đi…”[28,21] Chương còn lẩm bẩm không tin: “Đó! Đàn bà! Họ lừa dối mình,
họ đã cho là đủ đâu? Họ còn giở những giọng thỏ thẻ, nũng nịu để mê hoặc lòng mình nữa kia.”[28,21] Chương quên luôn hình ảnh của Thu và anh cũng
không nghĩ về cô nữa Điều đó cho thấy sự tự tôn trong lòng Chương vẫn còn rất cao Anh chưa yêu trở lại vì vẫn mất niềm tin vào lời nói ngọt ngào của phụ nữ
Những người quen biết Chương, sống xung quanh và làm việc cùng môi trường với Chương, họ lại hay quan tâm đến đời sống riêng tư của anh
Dù họ chỉ là những nhân vật phiếm chỉ, nhân vật quần chúng nhưng họ cũng
có quyền riêng tư cá nhân để được nói, được tham gia bình phẩm đến vấn đề cho là quan trọng mà họ quan tâm Điều đó chứng tỏ, Chương là nhân vật gây
Trang 28được nhiều chú ý đến mọi người làm cho họ luôn bàn tán thì thầm về anh Họ
đã chứng kiến tháng ngày Chương sống như thế nào để rồi có định kiến hằn
sâu trong nếp nghĩ và nhận định về Chương là một người “ghét phụ nữ một
cách cay độc” Và những người phụ nữ dễ dàng trong một vài gia đình mới
thì lại đặt cho Chương cái tên “Nan du” và lâu dần, họ chỉ gọi Chương là anh chàng “Nan du” Những lời thì thầm và cách gọi tên về Chương, đó chính là những dư luận xã hội nhận xét, đánh giá Chương trong mọi mối quan hệ, nhất
là mối quan hệ giới tính trong xã hội ấy Từ đó, hai nhà văn Nhất Linh và Khái Hưng đã đưa ra những quan điểm, tư tưởng suy nghĩ của mình về những định kiến, dư luận trong xã hội thời bấy giờ - một xã hội có sự phân chia, đối
xử bất phân minh về giới tính; một xã hội quá đề cao vai trò của người đàn ông trong mối quan hệ giữa đàn ông với phụ nữ Xã hội ấy, quá đề cao trọng trách, trách nhiệm của người đàn ông trong xã hội Chương từ một người đàn ông rất yêu phụ nữ nhưng do bị khinh bỉ và coi thường vì không có địa vị trong xã hội, trong tương lai nên trở thành người ghét phụ nữ một cách cay
độc là như vậy
Đến khi tình cờ Chương gặp Tuyết, lúc đó cô đang bị nhân tình đuổi đánh trên đường Quan Thánh, bất bình trước hành động một người đàn ông đuổi đánh một người đàn bà, Chương ra tay ngăn cản dù chưa biết người đàn
bà đó là ai Theo lời người đàn ông nói với Chương: “Trời ơi! Ông chưa biết
cô Tuyết của tôi, tôi xin giới thiệu với ông Đây là cô Tuyết, nhân tình của tôi
mà tôi yêu, tôi thương hơn hết những người thân yêu của tôi ở trên đời, mà tôi sắp cưới làm vợ chính thức Thế mà cô ấy lừa tôi đi ngủ với hết thảy mọi người.”[28,23]
Trước lời nói ấy, dường như Chương không quan tâm cô ấy là ai, như thế nào, đơn giản chỉ là một người phụ nữ (phái yếu) qua đường mà thội
Chương thể hiện rất rõ quan điểm: “Dẫu thế nào mặc lòng, ông cũng không
Trang 29nên dùng võ lực với một người phái yếu Như thế, tôi thiết tưởng hèn nhát lắm.”[28,23]
Hành động của Chương xuất phát từ tấm lòng trượng nghĩa, giúp người, cứu người khi họ gặp nạn Hành động này xuất phát từ một tấm lòng của phái mạnh ra tay cứu phái yếu được diễn ra một cách tự nhiên Hơn nữa theo quan điểm của Chương, đã là đàn ông thì không nên đánh phụ nữ Cho nên, dù có là Tuyết hay với bất kỳ cô gái nào trong hoàn cảnh ấy thì chắc chắn Chương cũng ra tay giúp Nhưng với Tuyết, cô đã để lại ấn tượng rất đặc biệt, dù xuất hiện trong hoàn cảnh éo le bị người tình đuổi đánh nhưng nàng vẫn luôn mỉm cười Rồi khi Chương bị thương, Tuyết lấy khăn buộc vết thương cho Chương rất tự nhiên mà không hề do dự Trong khoảnh khắc ngắn, hai người trò chuyện với mối quan hệ xã giao, qua đường nhưng
Chương đã nhận thấy “vẻ đẹp lộng lẫy của nàng”[28,25]
Qua hành động cứu Tuyết, Chương vẫn thể hiện rõ là một con người của xã hội đó - một xã hội đương thời mà người đàn ông luôn có vai trò rất quan trọng trong công tác xã hội Người đàn ông đứng ra gánh vác, lo mọi việc lớn Bởi vậy, người đàn ông thường làm những việc chính quan trọng trong cơ quan nhà nước còn người phụ nữ thì ở nhà chăm sóc chồng con, trông nom gia đình Người đàn ông thường được nuôi ăn học và thi cử phải
đỗ đạt để có công việc ổn định, có địa vị trong xã hội thì mới được tôn trọng Với tư tưởng đó, ngay từ lần đầu gặp Tuyết, Chương là người chủ động trước những hành động và lời nói của mình
1.1.2 Sự nổi lên của tính nữ
Có thể nói, hình ảnh một cô Tuyết xuất hiện trước anh Chương rất đặc biệt Đó là một người phụ nữ khác hẳn với cô Thu và Loan mà Chương quen biết Tuyết không e thẹn, dịu dàng, thậm chí còn “lăng nhăng” theo lời nhân tình cô nói Nhưng, Chương lại nhận thấy vẻ đẹp lộng lẫy, gây ấn tượng của nàng Thậm chí, Tuyết còn làm cho Chương ngạc nhiên khi không quen biết
Trang 30lại dám nói rằng muốn về ngủ nhờ nhà Chương: “Hay anh cho em về nhà anh
ngủ nhờ một tối” [28,26]
Mặc dù, Tuyết bị người tình đuổi đánh nhưng Tuyết đã có sự chuyển đổi từ người đàn bà bị động sang chủ động trong cuộc sống Cô dám từ bỏ gia đình, từ bỏ chồng con, sẵn sàng chạy theo sống chung với tình nhân
Đến khi gặp lại Chương, Tuyết đến ở nhà Chương một cách rất tự nhiên như đôi vợ chồng Tuy nhiên, hai người yêu nhau say đắm chỉ được một tuần lễ thì Tuyết sẵn sàng bỏ rơi Chương để đi ở với người tình khác tên
là Bảo Lúc này, Tuyết đã làm cho Chương đau khổ, rơi vào trạng suy sụp,
mất hết tinh thần mạnh mẽ trước kia Thậm chí “Chương cảm thấy sự thiếu
thốn trong đời chàng.” [28,53] Vì “Sáu, bảy hôm với tình yêu đắm đuối, mê man! Tuy không là tình yêu trong trẻo, và chân chính làm cho ta đề huề vui thú cảnh gia đình, nhưng vẫn là tình yêu mà lại là tình yêu nhục dục thứ nhất trong đời ngây ngất của chàng.” [28,53]
Kể từ khi lòng Chương ghét phụ nữ, chàng chưa hề gần gũi một người đàn bà nào Lần này, Chương từ một người đàn ông luôn chủ động đã chuyển sang một người bị động trong tình yêu Vắng Tuyết, Chương trở nên cau có, hay bực tức vô cớ và vẻ mặt của anh trở nên khó đăm đăm Chương cảm thấy rất khổ tâm khi nhận thấy mình không dám thú thực với cái nguyên nhân làm cho chàng bực tức Lòng tự cao, tự đại thái quá khiến chàng tưởng rằng, yên trí rằng mình không yêu, và một tuần lễ lăn lộn say đắm với cái thú vật dục, chàng cho đó chỉ là sự nhu yếu của một con vật, cũng như sự ăn, sự uống Chàng lẩm bẩm:
“Phải là ái tình họa chăng…” [28,54]
Thế nhưng khi vắng Tuyết, Chương muốn níu kéo cô bằng cách nhớ và
ôn lại về hình ảnh, dáng vẻ, điệu bộ của Tuyết khi ở cùng với chàng.Từ thói quen uống cà phê của Tuyết, nàng đã thuyết phục Chương sinh nghiện cà phê
Mà xưa nay chàng vẫn luôn tự phụ rằng không thể nghiện được thứ gì, thế mà
Trang 31lần này vì nể một “đứa con gái”, một “đứa con đĩ” mà chàng lại nghiện được Và “Chương cho rằng chàng mới bắt đầu nghiện Tuyết, nghĩa là
nghiện cái thú nhục dục cũng như một vài anh em nghiện thuốc phiện, nghiện
đi hát.” [ 28,55]
Rồi lần thứ hai Chương bị Tuyết rời bỏ, đi theo người tình cũ đó là Văn Chương đau khổ và muốn quên đi bằng cách đi đánh tổ tôm ở bên bà
phủ Nhưng quên sao được vì: “Đối với Chương, ái tình gần như là một sự
thiêng liêng, nhất lần này, chàng lại mới yêu là một, yêu hoàn toàn, yêu nhục thể và tâm hồn.” [28,116]
Như vậy, Chương tự nhận mình là đã “nghiện” Tuyết và yêu nàng bằng
cả trái tim Chương vốn từ một người ghét phụ nữ và “Nan du” nay đã bị Tuyết cám dỗ và đã chìm đắm say sưa cùng người tình trong quan hệ nam nữ
- giới tính Chương đã có sự ham muốn thú vui xác thịt và cũng rất yêu Tuyết khi ở cùng Tuyết Yêu Tuyết, bị Tuyết rời bỏ đi theo người tình khác, Chương trở nên bị động, không còn tư thế chủ động của người đàn ông và cũng không làm chủ được bản thân Chương buồn chán nhớ Tuyết cả ngày lẫn đêm Ngày
uể oải, thẫn thờ chán ăn; đêm băn khoăn, trằn trọc không sao ngủ được
Còn Tuyết, nàng đã chủ động rời bỏ Chương đi ở với người tình khác
và đây là một hành vi rất tự nhiên Dù Tuyết biết là Chương yêu mình Nhưng nàng không muốn đời nàng có dính dáng mật thiết với đời một kẻ khác, nhất
kẻ khác lại là Chương mà nàng hơi thương hại Nàng đã khắc sâu vào trái tim,
trái tim sắt đá của nàng một câu châm ngôn ghê gớm:“Không tình, không
cảm, chỉ coi lạc thú ở đời như vị thuốc trường sinh” [28, 62] Tuyết chủ động
bỏ Chương đi với người tình khác: “Là vì nàng coi thường tình ái, hay đúng
hơn, nàng cho rằng tình ái chỉ là tình dục, thế thôi” [28, 115,116]
Như vậy, Tuyết đã lựa chọn cách sống không muốn bị ràng buộc bởi tình yêu của Chương dành cho nàng Tuyết cũng không muốn phá vỡ câu châm ngôn ghê gớm tạc vào trái tim mình Tuyết coi thường tình ái Vì đối
Trang 32với cô, khi đến với Chương và ở cùng Chương, chỉ là để thỏa mãn quan hệ xác thịt – quan hệ giới tính mà thôi Do đó, Tuyết luôn chủ động trong các mối quan hệ về giới tính với người tình Khi nhớ thì cô đến, buồn chán nàng lại bỏ đi Nhưng với Chương có chút khác biệt, cho dù nàng bỏ đi ở theo tình nhân khác thì cô vẫn chủ động quay lại nhà chàng rất nhiều lần mỗi khi chàng vắng nhà hay đi trường dạy học Những lúc đến nhà Chương, Tuyết làm rất nhiều việc trong nhà như cô đã từng làm khi ở cùng Chương như: cắm hoa, nấu cơm… Đặc biệt, nàng đến để được đọc cuốn nhật ký của Chương Qua nhật ký Chương viết trong sổ tay, Tuyết biết Chương yêu nàng thật lòng nhưng Tuyết để lại:
“Em đã thề với em rằng bao giờ em cũng sẽ là của em, từ thể phách cho chí tâm hồn Em không sao làm vợ, nghĩa là làm vật sở hữu của ai được.”, “Và, chúng ta cũng không nên kéo dài cái đời sốngchung của chúng
ta ra làm gì Sẽ có hại cho ái tình của chúng ta lắm lắm.” [28,115]
Nếu như trong xã hội xưa, ta thấy người đàn ông phải có sự nghiệp, công danh, người đàn ông là trụ cột, là chỗ dựa vững chãi trong gia đình Thì
ở Chương, từ một người đàn ông chủ động từ bỏ ái tình, tính mộng mơ để học hành phấn đấu cho có sự nghiệp khỏi bị coi thường, khinh bỉ, chàng lại chuyển sang bị động, thụ động khi biết thế nào là yêu và được yêu lần đầu Trong khi đó người phụ nữ, tiêu biểu là Tuyết lại chủ động trong mọi mối quan hệ về giới tính xung quanh các người tình Người đàn bà đã chủ động tìm nơi ở, chủ động tìm đối tượng cho mình để được thỏa mãn nhu cầu cá tính, chạy theo lối sống cá nhân, không chịu ràng buộc bởi bất kỳ điều gì Nhân vật nữ mang tên Tuyết không xuất hiện từ đầu truyện nhưng được nhà văn xây dựng để gửi gắm tư tưởng, quan điểm, truyền tải thông điệp của mình, đó là một người phụ nữ đã thoát khỏi sự ràng buộc của dư luận xã hội, vượt lên trên những định kiến của xã hội Trong quan hệ xã hội, những người phụ nữ như Tuyết không còn thụ động mà trở nên chủ động, cô đã chủ động
Trang 33tìm người yêu và cũng chủ động rời bỏ người tình này sẵn sàng đi ở với người tình khác Hình ảnh người phụ nữ như vậy khác hẳn với những người phụ nữ truyền thống như Loan và Thu, dù cho cả ba cô cùng sinh sống trong xã hội truyền thống xưa ấy Như vậy, với sự nổi lên của tính nữ, Tuyết đã làm cho vị trí nam quyền của nhân vật Chương thay đổi hoàn toàn
1.2 Quan hệ xã hội trong Làm đĩ
1.2.1 Thái độ bất bình đẳng nam nữ
Huyền không phải là nhân vật xuất hiện từ mở đầu câu chuyện Cô là đối tượng đi tìm của những người đàn ông - khách làng chơi đi mua vui Trong những người đàn ông ấy có hai nhân vật tôi và Quý Quý đến nhà bạn chơi và hai người đã có hứng muốn đến một nơi đặc biệt để giải tỏa tâm lý Tôi và Quý đã gặp Huyền trong một hoàn cảnh rất đặc biệt Lúc này, Huyền
đã “làm đĩ” ở một nơi “Bồng Lai tiên cảnh” Thế nhưng hai người không hiểu nguyên do tại sao Huyền lại ở đó Cả hai vô cùng ngạc nhiên và họ không thể
tin đó là sự thật Vì trước kia hồi còn đi học, Huyền là một cô học sinh: “đẹp,
ngoan, đứng đắn, con nhà lương thiện, con một ông phán, cháu một ông đốc
tờ Cả lớp chúng tôi anh nào cũng có thể phải lòng Huyền được, nhất là Quý thì lại mê nó hơn hết thảy Chúng tôi đã ngầm tôn Huyền là một nữ lang hoàn toàn.” [39,29]
Trong mắt mọi người, Huyền luôn được tôn sùng và ngưỡng mộ Huyền đi đến đâu mọi người đều dõi theo Dù có bao người muốn gần gũi, bắt quen Huyền đều không dám vì:
“Huyền có cái dáng điệu nghiêm trang, đến nỗi thằng học trò nào mất dạy vào bậc nhất cũng không dám bén mảng tới, vì vẻ đẹp của Huyền là vẻ đẹp ngây thơ, trong sạch, mai sau sẽ trở nên đức phụ, cái thứ đẹp đáng kính trọng của những bông hoa mỏng manh, nó làm cho người hâm mộ nó, thấy mình là phàm tục, sợ mình là chưa xứng đáng và nếu động vào thì là phạm phải một điều bất lịch sự, hoặc là vẻ đẹp sẽ biến đi.” [39,29]
Trang 34Có lẽ, Huyền đã được ông trời ưu ái rất nhiều về nhan sắc Vẻ đẹp của Huyền không lẫn với một ai Vẻ đẹp ấy có quyền được thích bất kỳ người đàn ông nào nếu Huyền muốn, và cô xứng đáng sẽ có một tương lai thật tốt đẹp
như ý muốn Và trong đám bạn của nhân vật tôi đã có đến: “ba mươi thằng
phải lòng nó, nhưng tịnh không có một anh nào đá nói ra miệng” [39,30] Và
cái giá trị của Huyền cao đến nỗi: “thằng nào tự phụ nhất, kiêu ngạo nhất
đời, cũng thấy mình là không xứng đáng.” [39,30]
Có biết bao nhiêu cái tên nổi tiếng người ta đặt cho Huyền như: Hằng Nga, Tây Thi, Nàng thơ, Mỹ nhân ngoài tên cha mẹ đã đặt cho cô Điều đó chứng tỏ Huyền quá đẹp và nổi bật từ thời còn nữ sinh đi học trong nhà trường Vẻ đẹp của Huyền đã làm khuynh đảo bao nhiêu chàng trai lúc bấy giờ Trong đó có Quý Quý thì lúc nào cũng gọi Huyền là “nàng”, y như trong tiểu thuyết Trước mắt Huyền, đám con trai luôn đua nhau ăn mặc tỏ ra con
nhà giàu có, con nhà có giáo dục Thế nhưng “Không bao giờ Huyền thèm để
ý đến một ai cả; nàng cứ giữ mực đúng đắn và vô tình y như người đã có chồng.” [39,30]
Vì Huyền luôn giữ khoảng cách trong mối quan hệ xã giao với những người xung quanh Đối với Huyền, họ chỉ là những người bạn học cùng trường mà thôi
Cuộc đời không ai đoán trước được, nay gặp lại Huyền, cả tôi và Quý đều ngỡ ngàng, không thể tin được vào thực tế là như vậy Huyền đã là người đàn bà sống trụy lạc “làm đĩ”, “tiếp khách làng chơi” Trong hoàn cảnh ấy, ba người từ quan hệ bạn học chuyển thành quan hệ xã hội giữa người mua vui với kẻ trụy lac Huyền lúc này không còn là Huyền của ngày xưa, mà Huyền
đúng như câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã miêu tả: “giờ sao tan
tác như hoa giữa đường”
Có lẽ với thân phận là một người đàn bà làm gái làng chơi, Huyền không thể được mọi người trong xã hội tôn trọng Thậm chí còn bị cả xã hội
Trang 35khinh bỉ và phỉ nhổ Theo quan niệm của người đời“làm đĩ” là thứ làm băng hoại đạo đức xã hội, phá vỡ hạnh phúc gia đình của người khác, làm mai một những giá trị nhân văn của loài người Nhưng với người đàn ông muốn đi tìm của lạ, mua vui với tửu sắc thì không bị xã hội phê phán và lên án Quả thực trong mối quan hệ giữa Huyền với hai người bạn kia đã thấy rõ đó là sự bất bình đẳng giới trong xã hội đương thời một cách công khai Trong xã hội ấy, người đàn ông có quyền được đi chơi, được đi mua vui tùy thích nhưng là đàn
bà, phụ nữ phải chính chuyên, đứng đắn nếu không sẽ cho là “hư”, là “hỏng” ảnh hưởng xấu tới danh tiếng gia đình và bố mẹ Có lẽ vì vậy mà từ khi Huyền bước chân vào con đường trụy lạc - làm đĩ, cô đã cự tuyệt với gia đình,
bố mẹ và không có người thân thích
1.2.2 Ý thức về thân thể phụ nữ
Ngay từ khi còn là trẻ con mới lên 9 tuổi, nhưng với Huyền lại có sự thay đổi rất lớn và mở ra một chặng đường mới trong cuộc đời của cô Huyền được đến trường học và có mối quan hệ mới với bạn bạn bè và được tiếp xúc với những điều mới lạ ngoài xã hội
“Bắt đầu cắp sách đi học, có sự tiếp xúc với xã hội ngây thơ đầy những
sự ngu dốt, dại dột, tinh quái, nhảm nhí, đã làm cho em mất cả cái lương thiện chi bản năng đi vì em thấy cuộc đời có toàn những điều bí mật cần phải khám phá cho rõ Vấn đề nam nữ, vấn đề hôn nhân, sự tiếp tục cho khỏi bị tiêu diệt của loài người, ngần cái xô vào trí não em như nước bể đánh vào hốc đá Lòng tò mò, sự muốn khám phá cho ra lẽ huyền bí của tạo vật, sự muốn hiểu biết, làm cho em rất để ý đến những chuyện thô tục mà người ta vẫn nói xung quanh em một cách vô tâm.” [39,43]
Cho dù còn trẻ con, Huyền luôn có suy nghĩ và tò mò đặc biệt là về chuyện nam nữ và hôn nhân của người lớn Đâycó lẽ là sự khác biệt rất nhiều
so với những đứa trẻ khác cùng trang lứa Thế rồi, khi mới bắt đầu kết giao với bạn bè học chung lớp 2, Huyền cùng chơi với cả con gái và con giai Và
Trang 36Huyền vẫn còn ngây thơ đến nỗi“chưa phân biệt giai gái khác nhau ở chỗ
nào” [29,43] Hơn nữa, Huyền chơi với những bạn học cùng ấy để thường
xuyên trao đổi bài và mượn sách vở lẫn nhau Ngoài giờ học ra, chúng cùng tham gia các trò chơi dân gian của trẻ con Nhưng trong đám bạn trẻ con của Huyền cùng chơi, nhất là mấy đứa con giai lại thường hay nói đến những chuyện riêng của người lớn
“Một hôm, cùng cả ba ngồi trên một chiếc ghế trong vườn hoa, hai đứa con giai, bạn em, nói đến cái vấn đề ấy Một thằng phồng mồm thổi cái búp
đa ra
Em ngồi vờ nhìn ra xa, nhưng vẫn lắng tai nghe chúng nõ cãi nhau, bảo nhau là dốt, là ngu
Em xen vào:
- Mẹ tôi vẫn hôn tôi, sao tôi không có con đi?
- Phải là chồng chị hôn chị, thì mới có con được chứ lị…?” [39,43]
Tại sao những đứa trẻ con lại hay nói đến chuyện của người lớn, lẽ ra ở lứa tuổi ấy chúng phải rất vô tư chơi đùa trong sáng mới phải? Thế mà mới 9,
10 tuổi chúng lại toàn bàn về chuyện quan hệ vợ chồng của người lớn Và người lớn có quan tâm đến chúng không, hay vẫn luôn coi chúng chỉ là trẻ con? Đúng như vậy, bình thường thì người lớn không thể ngờ tới điều đó vì chúng vẫn còn nhỏ tuổi thật Chưa dừng lại ở đó, Huyền còn được nghe câu chuyện mười mươi là sự thật mà bạn kể cho Nguy hiểm hơn, vì sự ngây ngô
và tò mò mà Huyền đã cùng bạn mình là thằng Ngôn thực hành giống chuyện người lớn làm với mình để chứng minh cho nó nói là đúng
Sau khi làm trò người lớn, Huyền bắt đầu ý thức được về sự tinh nghịch, dại dột không có ai ngăn ngừa đúng lúc nên đã phạm vào tội lỗi đáng
thương Huyền cảm thấy trong thân thể có sự thay đổi.“Lúc về nhà cho đến
buổi chiều hôm ấy, ở trong lớp học, em vẫn nhận thấy trong người có một thứ cảm giác hơi lạ Chẳng những thế, mà cả trong thân thể em, em cũng bắt đầu
Trang 37phát kiến ra cái thứ nước mà trước kia, em chưa hề thấy bao giờ.”[39.45]
Đồng thời, Huyền bắt đầu ý thức và hiểu ra sự khác nhau giữa thân thể của
người con gái với người con trai như thế nào “Như vậy em đã vào cái sự đời
Em đã hơi hiểu tại sao trời lại sinh ra con trai và con gái, tại sao phải có vợ chồng ” [39,45]
Vậy là, từ việc quan hệ nghịch ngợm của trẻ con ấy, đã làm thay đổi suy nghĩ của Huyền Huyền đã bắt đầu hiểu ra những lời người lớn thường hay chửi thô tục là như thế nào Và tại sao lại hay chửi bậy như thế Nhưng
Huyền cảm thấy “việc giao cấu” lẽ ra phải là trách nhiệm của “người lớn,
thầy me, cô giáo em, phải giảng dạy cặn kẽ cho em để được công dung và sự lợi hại của nó thế nào, thì họ lại lặng thinh, đã đánh mắng em” [39,46] Và
Huyền đã bị khủng hoảng lớn về tinh thần “Cái linh hồn hèn yếu của một cô
gái mới có chín tuổi, đã nao núng trước sự kích thích của tính tò mò và những
ý nghĩ đáng ghê tởm…”[35,46] Đồng thời khi nghĩ về chuyện ấy với thằng
Ngôn dạy Huyền “em cảm thấy hổ thẹn, thấy lo sợ, sợ ngộ thầy me em biết
chắc em đến nát xương vì phải đòn”[39,46] Cũng từ đấy Huyền không chơi
cùng với đám con giai như mọi ngày trước nữa
Đến khi bước sang tuổi mười lăm mười sáu, hai năm ấy Huyền đã bị
khủng hoảng về tinh thần “thật là kịch liệt, thật là tàn khốc, thật là thảm thê.” Vì“Tuổi xuân đem đến với em một cách dữ dội lạ thường, cái xác thịt của em
như không còn chịu nổi những sự khuyên bảo của linh hồn nữa Thế rồi thì…những dâm ý, những sự rạo rực của xác thịt dần dần cứ đánh tan nát mất
cả sự hổ thẹn đáng quý báu của em – cái sự hổ thẹn không có không được của người đàn bà.” [39,51] Huyền đã được một bạn gái học cùng tên là Ngân
(một cô gái đứng đắn nhất lớp) khuyên Huyền làm thế nào để khỏi “hư” và Huyền đã nghe và làm theo để đối phó với “sự thúc giục của xác thịt” Nhưng
dần dần Huyền nhận thấy “tai em hay ù, mắt em hay lóa, đầu em hay nhức,
lưng em hay mỏi, mặt mũi em mỗi ngày một xanh.”[39,55] Đấy chính là tác
Trang 38hại của sự “hư với chính mình” Huyền đã nhận ra khi không kiềm chế được bản thân Thế rồi may mắn thay cho Huyền khi em được một người bạn khác tên là Văn đã cho Huyền một cuốn sách “vào loại nam nữ tu trí” Cuốn sách
ấy giúp Huyền đi đến khoa học, đưa Huyền trở lại là một người khôn ngoan, biết nghĩ và có tư tưởng tốt đẹp không bị chi phối bởi thúc giục xác thịt của thân thể nữa
Vậy là bài học về giới tính đầu đời mà Huyền hiểu ra lại bắt đầu từ trong mối quan hệ xã hội đầu tiên giữa trẻ con với nhau, từ một đứa một đứa trẻ khác giới cùng học lớp 2 dạy bảo cho biết mà không phải là cha mẹ hay thầy cô giáo Nhưng sự dạy bảo ấy trái với đạo lí, không đúng với chuẩn mực đạo đức nhất là ở lứa tuổi thiếu niên tuyệt đối không được làm Huyền và bạn
đã thực hành bắt chước người lớn giao hợp trước sự chứng kiến của những đứa trẻ khác Sự ngây thơ dại dột ấy của Huyền đã ám ảnh cô, tác động vào trí
óc cô, gây ảnh hưởng xấu đến suy nghĩ và lối sống của cô sau này
Hành động thiếu trong sáng của Huyền với Ngôn và “hư với chính mình” khi đến tuổi xuân của Huyền chính là lỗi của người lớn, của cha mẹ và thầy cô không dạy bảo đầy đủ đến nơi đến chốn Nhất là đối với một đứa trẻ
cá tính thiên về bản năng như Huyền Đó cũng là mục đích và quan điểm của nhà văn hướng tới người đọc Ông muốn cảnh tỉnh những bậc làm cha, làm
mẹ và thầy cô phải luôn biết quan tâm dạy bảo trẻ nhỏ đầy đủ khi chúng có nhu cầu muốn hiểu biết về cuộc sống cả về kiến thức lẫn kỹ năng sống Đặc biệt là vấn đề giới tính, dù nhạy cảm nhưng không thể né tránh mà phải có trách nhiệm quan tâm dạy bảo thế hệ thiếu niên để góp phần xây dựng cho xã hội tiến bộ thực sự chứ không phải là kiểu “tân thời rởm”
Tiểu kết
Trong xã hội, mỗi con người có những mối quan hệ khác nhau, tùy
thuộc theo từng lứa tuổi Ở Đời mưa gió, nhân vật Chương tuy không phải là
nhân vật chính để nhà văn thể hiện rõ chủ đề của tác phẩm nhưng từ Chương
Trang 39ta thấy được sự khác nhau trong cách đối xử về giới tính ở xã hội lúc bấy giờ
Vì đã là đàn ông thì phải có công danh sự nghiệp, có tiền đồ rộng mở trong tương lai Còn người phụ nữ có thể được cha mẹ cho đi học hoặc không cần phải đi học Khi đến tuổi xây dựng gia đình, cũng không có quyền lựa chọn
mà tuân theo sự sắp đặt của cha mẹ Nghĩa là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” không được tham gia bàn, cãi Cho nên nhân vật Chương khi thi hỏng đã bị khinh thường không lấy được vị hôn thê ước hẹn Từ sự đối xử bất công ấy, Chương trở nên uất hận và ghét phụ nữ đến cay độc là vậy Rồi Chương cũng
từ một người đàn ông chủ động rơi vào trạng thái bị động bên cạnhsự nổi lên
nữ tính của người đàn bà anh yêu Ở Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng, nhà văn đã
xây dựng và miêu tả rất chi tiết về nhân vật Huyền trong mối quan hệ xã hội bắt đầu từ khi Huyền mới đi học lớp 2 Từ sự chập chững của một đứa trẻ mới
ra ngoài xã hội lại không hiểu biết về sự khác nhau giữa con trai và con gái nên Huyền đã mắc sai lầm ngay từ nhỏ về quan hệ giới tính Từ đó Huyền luôn sống thiên về bản năng, sa đà vào sự cám dỗ của dục vọng bản thân.Khi lớn lên Huyền lại tiếp tục đánh mất giá trị của người con gái về chữ “trinh” trước khi lấy chồng Cứ thế, mỗi ngày Huyền lún sâu vào khát vọng khoái lạc của xác thịt dần dần về sau đi đến truỵ lạc không còn đường lui
Trang 40CHƯƠNG 2 PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
Trong xã hội trước năm 1945, người phụ nữ trong gia đình thường phải tuân phục theo đạo lý truyền thống “nam nữ thụ thụ bất thân” và khi đến tuổi xây dựng gia đình thì “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Vì vậy các nhà văn khi sáng tác những tác phẩm văn xuôi thường xây dựng nhân vật, nhất là nhân vật
nữ thường có số phận theo tư tưởng quan điểm chung của trong bối cảnh xã
xã hội đó Nhưng với Nhất Linh, Khái Hưng và Vũ Trọng Phụng, ba nhà văn lại có tư duy mới, quan điểm mới mẻ khi viết lên những câu chuyện của người phụ nữ trong gia đình Những người phụ nữ ấy, dù họ vẫn tuân phục theo đạo lý truyền thống nhưng lại có khát vọng đổi mới trong hôn nhân gia đình, được tự do lựa chọn tình yêu, được sống theo sở thích cá tính mà mình mong muốn Đồng thời, họ muốn phá bỏ nền nếp phong hóa truyền thống khi
ép người phụ nữ vào khuôn khổ thậm chí cổ hủ lạc hậu Tiêu biểu là nhân vật
Tuyết trong Đời mưa gió và Huyền trong Làm đĩ
2.1 Giới tính trong gia đình “Đời mưa gió”
2.1.1 Tuân phục phong tục truyền thống
Tuyết vốn được sinh ra trong một gia đình giàu có, cha cô cũng có địa
vị xã hội và Tuyết cũng được cha mẹ nuôi ăn, nuôi học đầy đủ Qua bức thư
Tuyết viết đã kể cho Chương biết: “Em là con một nhà quý phái, - anh tin
hay không cũng mặc anh, - thuở nhỏ, em học chữ Pháp Năm mười bốn tuổi,
em đậu tốt nghiệp, nhà cho ra Hà Nội theo học trường nữ Cao đẳng tiểu học
“Tuy ở tỉnh nhỏ mới ra Hà Nội lần đầu, nhưng cũng chẳng bao lâu em theo được ngay các cách lịch sự nơi thị thành Nhà em lại giàu có và em lại được cha mẹ nuông chiều, nên tuy năm ấy em mới mười sáu, nghĩa là hai năm sau, em đã đua ăn đua mặc chẳng kém một ai Trong óc em chứa bao nhiêu
hy vọng về tương lai, về một đời rực rỡ mà em sẽ cùng người bạn trăm năm