1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Không gian làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái

110 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không Gian Làng Quê Trong Thơ Nôm Nguyễn Khuyến Nhìn Từ Phê Bình Sinh Thái
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoa
Người hướng dẫn TS. Đặng Thị Bích Hồng
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Ngôn Ngữ, Văn Học Và Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND TỈNH PHÚ THỌ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG NGUYỄN THỊ THANH HOA KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN

Trang 1

UBND TỈNH PHÚ THỌ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

NGUYỄN THỊ THANH HOA

KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN

NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 8220120

Phú Thọ, 2018

Trang 2

UBND TỈNH PHÚ THỌ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

NGUYỄN THỊ THANH HOA

KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 8220120

Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Thị Bích Hồng

Phú Thọ, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài Không gian làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Phú Thọ, ngày 16 tháng 6 năm 2018

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Hùng Vương

Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới TS Đặng Thị Bích Hồng Cô đã nhiệt tình, chu đáo giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi mong luận văn sẽ nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô

và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Phú Thọ, ngày 16 tháng 6 năm 2018

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ CẢM QUAN SINH THÁI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN 7

1.1 Khái quát về phê bình sinh thái 7

1.1.1 Bối cảnh xuất hiện phê bình sinh thái 7

1.1.2 Nhận diện một số đặc điểm của phê bình sinh thái 10

1.2 Phê bình sinh thái với văn học trung đại Việt Nam 13

1.2.1 Mối liên hệ giữa phê bình sinh thái và triết lý sinh thái phương Đông cổ điển 13

1.2.2 Quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học trung đại Việt Nam 16

1.3 Nguyễn Khuyến: nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam 20

1.3.1 Nguyễn Khuyến: một cuộc đời giữa hai thế kỷ 20

1.3.2 Hành trình thơ trở về không gian sinh thái làng quê 22

Tiểu kết 24

Chương 2 KHÔNG GIAN SINH THÁI LÀNG QUÊ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN 25

2.1 Tự nhiên trong không gian làng quê 25

2.1.1 Thế giới hữu sinh 25

2.1.2 Thế giới phi sinh 30

2.2 Con người trong không gian làng quê 42

2.2.1 Hình ảnh người dân quê 42

Trang 6

2.2.2 Chân dung tinh thần Nguyễn Khuyến 50

Tiểu kết 58

Chương 3 PHƯƠNG THỨC TẠO DỰNG KHÔNG GIAN SINH THÁI LÀNG QUÊ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN 59

3.1 Phương thức tạo dựng bài thơ cổ điển: sự kế thừa mô hình thi luật 59

3.1.1 Cấu trúc thi phẩm theo đặc trưng thể thơ 59

3.1.2 Xác lập cấu tứ thơ 62

3.2 Phương thức tạo dựng không gian sinh thái như một sự cách tân nghệ thuật 64

3.2.1 Bút pháp tả thực 64

3.2.2 Chất liệu đời thường 68

3.2.3 Ngôn ngữ 71

3.2.4 Giọng điệu 79

Tiểu kết 83

PHẦN KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Gắn bó ngàn năm với nền nông nghiệp lúa nước, không gian làng quê Việt Nam đi vào sáng tác văn chương với gốc đa, giếng nước, mái đình, cánh cò bay trên đồng ruộng, con trâu già nằm gặm cỏ, người nông dân vác cuốc ra đồng… Tất cả gợi nhớ, gợi thương, trở thành một phần máu thịt của mỗi người dân đất Việt Tuy nhiên, sự hiện diện của không gian làng quê trong văn chương cũng mang tính lịch sử Sự phản ánh không gian làng quê ở mỗi thời kỳ, mỗi tác giả lại có nét riêng, độc đáo với những chuẩn mực riêng về tư tưởng, thẩm mỹ hay văn hóa

1.2 Nguyễn Khuyến là một trong số những nhà thơ xuất sắc, tiêu biểu của văn học Việt Nam nói chung, văn học trung đại nói riêng với sự nghiệp sáng tác phong phú, đa dạng Sáng tác của Nguyễn Khuyến in dấu đậm nét cuộc đời ông với những biến động thăng trầm từ khi làm quan cho triều Nguyễn tới khi cáo quan về ở

ẩn tại quê nhà Đặc biệt, quãng thời gian gắn bó với “vườn Bùi chốn cũ” đã đem đến cho thơ Nguyễn Khuyến một hơi thở mới với nhiều tác phẩm viết về không gian làng quê Bắc Bộ Nguyễn Khuyến thực sự gắn bó thân thuộc với quê hương làng cảnh vùng Hà Nam cũ, đất Bình Lục cũ của ông Thiên nhiên, cuộc sống và tâm tình người dân quê đã đi vào thơ ông chân thực và sinh động vô cùng

1.3 Giữa thập niên 90 của thế kỉ XX, trước tình trạng môi trường trái đất ngày một xấu đi, phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên Phê bình sinh thái đã chỉ ra con người và trái đất có quan hệ hòa hợp sinh mệnh cùng tồn vong, nhân loại không thể là chúa tể của muôn loài mà

là một thành viên trong muôn loài trên trái đất, cùng sinh tử với các thành viên khác trong thế giới tự nhiên Phê bình sinh thái nghiên cứu tư tưởng, văn hóa khoa học, phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con người đã ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên như thế nào Có thể nói, sự xuất hiện của phê bình sinh thái có

ý nghĩa rất lớn trong việc cảnh tỉnh thái độ ứng xử của con người với tự nhiên

Không chỉ có vậy, phê bình sinh thái còn mở ra hướng tiếp cận mới trong

Trang 8

nghiên cứu văn học Trong nghiên cứu văn chương, phê bình sinh thái tiếp cận các tác phẩm văn chương bằng các tri thức liên ngành như xã hội học, văn hóa học, khoa học kỹ thuật, từ đó tác động đến nhận thức của con người về sự tương tác của chính mình và tự nhiên, đến hành vi đạo đức của con người với phần còn lại của thế giới tự nhiên

1.4 Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến nói chung, thơ Nôm Nguyễn Khuyến nói riêng với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, cách tiếp cận thơ Nguyễn Khuyến từ góc độ phê bình sinh thái vẫn chưa

có những nghiên cứu phổ biến, cụ thể

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết chọn đề tài nghiên cứu Không gian làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Khuyến là một cây đại thụ của văn học Việt Nam Trải qua thời gian, bóng mát của cây đại thụ ấy tỏa rợp văn đàn, gốc rễ của nó ăn sâu vào lòng đất Việt, góp phần tạo nên tâm hồn Việt Vì thế, đã từ lâu, cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nguyễn Khuyến đã trở thành mảnh đất trù phú, hấp dẫn biết bao cây bút nghiên cứu, phê bình văn học

2.1 Những nghiên cứu về thơ Nôm Nguyễn Khuyến

Cho tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời,

sự nghiệp của Nguyễn Khuyến Trong đó có thể kể tới các công trình tiêu biểu như:

- Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) đã xếp Nguyễn

Khuyến vào khuynh hướng trào phúng: “Ông thích tự vịnh, tự trào, có vẻ ung dung phóng khoáng Ông cũng hay giễu cợt người đời, chỉ trích thói đời một cách nhẹ nhàng kín đáo, rõ ra một bậc đại nhân quân tử muốn dùng lời văn trào phúng để khuyên răn người đời” [16;139]

- Lê Trí Viễn trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) đã khảo sát

thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và nhìn nhận, đánh giá Nguyễn Khuyến là nhà thơ trào phúng

- Trên quan điểm nghiên cứu xã hội học, Văn Tân trong Nguyễn Khuyến –

Trang 9

nhà thơ Việt Nam kiệt xuất (1959) đã khái quát tư tưởng, bút pháp, gương mặt thơ

Nguyễn Khuyến Tuy nhiên công trình ra đời khi công tác văn bản học về Nguyễn Khuyến còn gặp khó khăn nên vẫn có những hạn chế nhất định

- Xuân Diệu trong Thơ văn Nguyễn Khuyến (1971) đã khẳng định Nguyễn Khuyến là nhà thơ của quê hương, dân tình Việt Nam Trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (1981, 1982), Xuân Diệu tiếp tục đánh giá Nguyễn Khuyến là nhà thơ có

sở trường nhất là những “nhuần nhị của nét cảnh nông thôn”, Nguyễn Khuyến là

“nhà thơ của làng mạc và dân quê” [9;12] Đây là phát hiện mới mẻ của Xuân Diệu

so với các nhà nghiên cứu trước đó khi đánh giá Nguyễn Khuyến là nhà thơ trào phúng hay nhà thơ trữ tình yêu nước

- Nguyễn Văn Huyền trong cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm (1984) đã sưu

tầm, biên dịch, nghiên cứu Nguyễn Khuyến đầy đủ nhất so với các công trình trước

đó Đây là cuốn sách quan trọng góp phần mở ra những chặng đường nghiên cứu tiếp theo cụ thể, sâu sắc hơn về một tác gia lớn của thơ ca dân tộc Trong cuốn sách, Nguyễn Văn Huyền có lời đề tựa giới thiệu về Nguyễn Khuyến, tuy nhiên do tính chất của một lời đề tựa nên vẫn còn sơ lược, khái quát

- Vũ Tiến Quỳnh đã tuyển chọn và cho ra đời cuốn Phê bình, bình luận văn học Nguyễn Khuyến (1992), trong đó tổng hợp những bài phê bình, bình luận xuất

sắc về thơ ca của Nguyễn Khuyến

- Nguyễn Huệ Chi chủ biên tập sách Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ

(1992) đã đem đến cái nhìn bao quát toàn diện về cuộc đời, vị trí, đặc điểm thơ Nguyễn Khuyến với hai bình diện cụ thể, rõ ràng: Thứ nhất, giới thiệu về làng quê Yên Đổ, hệ phả dòng họ Yên Đổ và khí hậu văn hóa xã hội của đời sống Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX Thứ hai, nghiên cứu về cái nhìn nghệ thuật con người của Nguyễn Khuyến, những biến động trong nguyên tắc sáng tác và quan điểm thẩm

mỹ, sự đa dạng trong bút pháp thể hiện

- Vũ Thanh tuyển chọn, tập hợp Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm

(1998) nhìn nhận, đánh giá Nguyễn Khuyến từ cuộc đời đến những biến đổi trong

tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ, phong cách thơ ca độc đáo Đây là công trình “tập hợp những bài viết và công trình tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn

Trang 10

Khuyến từ xưa đến nay” [60;20]

Như vậy, có thể thấy, từ trước tới nay, đã có nhiều công trình quy mô, đồ sộ nghiên cứu một cách hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nguyễn Khuyến Nhìn chung, các công trình nghiên cứu từ trước tới nay đều đi đến cách nhìn nhận, đánh giá chung về Nguyễn Khuyến như sau:

Thứ nhất, Nguyễn Khuyến là một tác giả mang ý nghĩa dấu nối của thơ ca

dân tộc, thể hiện sự chuyển mình của tư duy thơ dân tộc

Thứ hai, thơ ca Nguyễn Khuyến mang màu sắc dân tộc độc đáo, Nguyễn

Khuyến thực sự là tác gia lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng, văn học Việt Nam nói chung

2.2 Những nghiên cứu về không gian làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến

Không gian làng quê chiếm vị trí khá lớn trong sáng tác của Nguyễn Khuyến Tuy nhiên, đa phần các nhà nghiên cứu, phê bình thường nhìn nhận không gian trong sự đánh đồng với thiên nhiên

- Trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (1998), Xuân Diệu khi “Đọc thơ Nguyễn Khuyến” đã nhận định: “Nguyễn Khuyến là nhà thơ của dân tình làng cảnh

Việt Nam” [9;15]

- Lê Trí Viễn trong Thơ văn Nguyễn Khuyến – Trần Tế Xương viết: “Gắn bó

tha thiết với ngôi nhà tranh, với mảnh vườn con đó là tấm lòng của Nguyễn Khuyến gần với nông dân không phải bằng lí luận mà bằng tình cảm, bằng máu thịt của mình” [70;123]

- Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ (1994) khẳng định không gian trong thơ

Nguyễn Khuyến là “không gian tầm thường, quẩn quanh, trong làng ngoài ngõ”,

Nguyễn Khuyến là “nhà thơ làng cảnh Việt Nam” [5;13]

- Trần Nho Thìn trong Từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho đến bức tranh sinh hoạt nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến (1992), nhận định: “Nguyễn Khuyến có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử

văn học Nôm dân tộc phản ánh một cách khá cụ thể, sinh động bức tranh sinh hoạt hàng ngày của làng quê vào trong thơ ông” [64;167]

- Đặng Thị Hảo trong Đề tài thiên nhiên và quan điểm thẩm mỹ đánh giá:

Trang 11

“Dường như không phút nào nhà thơ ngừng theo dõi và tái hiệu những bức tranh thiên nhiên sống động quanh mình”

Qua các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã khai thác khá kĩ về đề tài thiên nhiên, trong đó có xen kẽ khám phá, nhìn nhận về không gian sinh thái làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều không tiếp cận thơ Nguyễn Khuyến như một môi trường sinh thái với các biểu hiện cụ thể, với các đặc trưng cụ thể mà chủ yếu nhìn nhận ở các biểu hiện bên ngoài

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định các biểu hiện của không gian làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn phê bình sinh thái tự nhiên và phê bình sinh thái tinh thần, nhận diện những độc đáo trong phương thức biểu hiện không gian sinh thái làng quê từ đó thấy được đóng góp của Nguyễn Khuyến đối với thơ ca trung đại Việt Nam

Để đạt được mục đích này, đề tài giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm và vấn đề văn học sử có liên quan đến đề tài Thứ hai, khảo sát và hệ thống hóa các tác phẩm viết về không gian sinh thái làng quê trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến trên các bình diện cụ thể như thế giới sinh loài, thế giới vô sinh, sự tồn tại và xuất hiện con người…, từ đó phân tích đánh giá thế giới tự nhiên và con người nhìn từ phê bình sinh thái

Thứ ba, phân tích phương thức tạo dựng không gian sinh thái làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, tập trung vào sự kế thừa mô hình thi luật bài thơ cổ điển

và sự cách tân nghệ thuật thông qua bút pháp, chất liệu và giọng điệu thơ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu không gian sinh thái làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ điểm nhìn phê bình sinh thái

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để tiến hành khảo sát, luận văn sử dụng cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm của

tác giả Nguyễn Văn Huyền Sưu tầm – Biên dịch – Giới thiệu, Nhà xuất bản khoa

Trang 12

học xã hội, Hà Nội, năm 1984

Cách trích dẫn thơ Nguyễn Khuyến sử dụng trong luận văn được trích từ tài liệu số [26]

Trong quá trình khảo sát, luận văn sẽ so sánh với các sáng tác có cùng chủ đề của các tác giả trước và sau ông như thơ văn Lý Trần, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Tản Đà…

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này giúp phân loại và lựa chọn chính xác đối tượng nghiên cứu Trong quá trình triển khai và giải quyết vấn

đề, phương pháp này có tác dụng chỉ ra và cụ thể hóa các khía cạnh của vấn đề

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này phục vụ đắc lực cho quá trình tìm hiểu, khám phá và đánh giá ý nghĩa của vấn đề được nghiên cứu Đây là phương pháp không thể thiếu để có thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp so sánh (lịch đại, đồng đại) để tạo ra tương quan so sánh nhằm chỉ ra sự tiếp nối cũng như những sáng tạo mới mẻ riêng biệt của đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp liên ngành, vận dụng hiệu quả các môn khoa học liên ngành (lịch sử học, văn hóa học…) nhằm giúp cho vấn đề được nhìn nhận bao quát và

chính xác hơn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Khái quát về phê bình sinh thái và cảm quan sinh thái trong thơ

Nôm Nguyễn Khuyến

- Chương 2: Không gian sinh thái làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến

- Chương 3: Phương thức tạo dựng không gian sinh thái làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI

VÀ CẢM QUAN SINH THÁI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN

1.1 Khái quát về phê bình sinh thái

1.1.1 Bối cảnh xuất hiện phê bình sinh thái

Bước sang thế kỉ XX, xã hội loài người có những bước tiến dài trong sự phát triển với nhiều thành tựu to lớn đáng ghi nhận Nhưng để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng cao, con người đã khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có trong tự nhiên Hoặc vô tình hoặc cố ý, chủ nghĩa nhân văn được sử dụng tối đa Người ta cho con người là trung tâm của vũ trụ, không ít kẻ nhân danh lợi ích con người chặt những cánh rừng để trồng cây công nghiệp, điều chỉnh dòng nước sông theo ý riêng mình Nhưng nghịch lý xảy ra khi con người càng nỗ lực cải thiện cuộc sống lại càng huỷ hoại môi trường sống của chính mình, càng dẫn đến giảm chất lượng sống, đẩy nhân loại đối mặt với hiểm hoạ môi trường đang lớn dần Những cánh rừng đại ngàn chỉ còn trong dĩ vãng, đất đai bị sa mạc hóa, nhiệt độ trái đất nóng dần lên, nhiều loài động vật đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng… Lúc đó, con người mới sửng sốt nhận ra rằng lợi ích do máy móc, kỹ thuật mang lại không

đủ bù cho tác hại nó gây ra Những phát minh của loài người, những thứ máy móc

kỹ thuật lại chính là thứ tiếp tay hủy diệt sự sống của loài người một cách gián tiếp Các nhà tư tưởng phương Tây nhận ra rằng chủ nghĩa nhân văn là chưa đủ Thay vào đó, họ bắt đầu hiểu rằng để con người sống hạnh phúc thì muôn loài cũng phải được sống Con người dù trí tuệ, quyền năng đến đâu cũng không thể chống lại các quy luật của tự nhiên Người ta nhận ra rằng cần phải ứng xử khác với thiên nhiên

Từ đó phê bình sinh thái ra đời như một tất yếu, đáp ứng phần nào nhu cầu cấp thiết mới của văn học, giúp văn học hòa nhập vào những vấn đề đang xảy ra trong đời sống đương đại, trong đó có vấn đề môi trường

“Sinh thái (oisos) theo nghĩa gốc tiếng Latin là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình Thuật ngữ sinh thái học (ecology)

Trang 14

có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sống) và logos (học thuyết, khoa học)” [46; 9]

Năm 1886, E.Herkel - nhà sinh học người Đức lần đầu tiên đề xuất khái niệm sinh thái học Theo E.Herkel, sinh thái học là bộ môn khoa học nghiên cứu tất

cả mọi quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Sau đó, năm 1935, sinh thái học bắt đầu hình thành tại các nước Anh, Mỹ Tuy nhiên, chủ nghĩa sinh thái (ecologism) chỉ thực sự ra đời vào những năm 70 của thế kỷ XX, khi con người đứng trước khủng hoảng sinh thái trên phạm vi toàn thế giới Năm 1972, Hội nghị

môi trường Liên Hiệp Quốc thông qua Tuyên ngôn môi trường nhân loại, toàn nhân

loại phải đối mặt với những nguy cơ sinh thái nghiêm trọng hơn bao giờ hết Bắt đầu từ đây, nghiên cứu sinh thái lại tiếp tục có sự phân chia thành các nhánh nhỏ, cụ thể và sâu sắc Năm 1973, Arne Jonas nêu khái niệm “sinh thái học chiều sâu”, cùng với vấn đề hệ thống sinh thái, đề ra sinh thái tinh thần của con người đã đem đến cho nhân loại một tư tưởng sâu sắc về sinh thái tinh thần bên trong mỗi con người Không chỉ có vậy, một loạt các nhánh nghiên cứu sinh thái như “triết học sinh thái”,

“thần học sinh thái”, “chính trị học sinh thái”, “luân lí học sinh thái”, “tâm lí học sinh thái”, “mĩ học sinh thái”, “ngữ học sinh thái”, “nghệ thuật học sinh thái”, “nhân loại học sinh thái”, “sinh lí học sinh thái”, “kinh tế học sinh thái”, “nữ quyền sinh thái”, “chủ nghĩa nhân văn sinh thái”, “văn học sinh thái”… đã khiến cái nhìn sinh thái trở nên phong phú, đa dạng, có khả năng vươn tới tận cùng mọi khía cạnh của đời sống con người Sinh thái thực sự trở thành một nhân sinh quan, một thế giới quan mới để con người nhìn nhận tất cả các vấn đề liên quan đến tự nhiên, xã hội,

sự sống, hoàn cảnh, vật chất, văn hóa, văn học…

Theo đó, phê bình văn học theo quan điểm sinh thái phát triển rầm rộ từ những năm 1990 với nhiều đóng góp đáng kể Các hội nghị khoa học quốc tế hàng năm được tổ chức để bàn về môi trường thiên nhiên trong văn học Năm 1991,

phiên họp đặc biệt nhất của Hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại (MLA) với chủ

đề: “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” đã thực sự tạo tiếng vang và thúc đẩy hướng nghiên cứu này phát triển mạnh mẽ Từ đó, nhiều cuốn sách, nhiều

Trang 15

chuyên luận cụ thể về phê bình sinh thái đã được xuất bản đánh dấu hướng nghiên cứu riêng biệt, cụ thể, có hệ thống trong phê bình văn học Năm 1994, Kroeber xuất

bản chuyên luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần Năm 1995, Lawrence Buel khoa Anh văn đại học Harvard cho xuất bản chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, văn viết về tự nhiên và sự cấu thành của văn hóa Mĩ Người có công phát triển phong trào phê bình sinh thái là

Cheryll Clotfelty, người đã cùng Harold Fromm biên tập một công trình tuyển tập

các bài viết có tính định hướng quan trọng: Tuyện tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái Văn học Năm 1999, Tân văn học sử là chuyên san về

phê bình sinh thái, gồm 10 bài chuyên về phê bình sinh thái Năm 2000, có các

tuyển tập về phê bình sinh thái như: Lĩnh vực rộng lớn của nghiên cứu văn học theo khuynh hướng tự nhiên do Murphy chủ biên, Tuyển tập mới về phê bình sinh thái do Tallmadge chủ biên, Bài ca của trái đất của Bethe… Năm 2001, Lawrence Buelll xuất bản cuốn Viết về thế giới đang lâm nguy: văn học, văn hóa, môi trường nước

Mĩ và các quốc gia khác; Maizel chủ biên cuốn Thế kỉ phê bình sinh thái Năm

2002, Julian Wolfreys biên tập Giới thiệu Phê bình đầu thế kỷ XXI, trong đó, chương 7 có nội dung Phê bình sinh thái Nhà xuất bản Đại học Virginnia giới thiệu

Bộ sách tìm tòi phê bình sinh thái Cuối năm 2003, Lofgren xuất bản cuốn Phê bình sinh thái thực dụng Năm 2004, Grey Garrand xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái Năm 2005, chuyên luận phê bình sinh thái mang tên Tương lai của phê bình môi trường: khủng hoảng môi trường và tưởng tượng văn học của Lawrence Buell

ra đời Gần đây nhất là cuốn Sự mơ hồ sinh thái: Khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á năm 2012 của Karent Thornber Cùng với đó, nhiều tổ chức gồm các khoa học gia, các nhà nghiên cứu văn học có trách nhiệm được thành lập như Hiệp hội nghiên cứu Văn học và Môi trường (Association for Study of

Literature and Environment- ASLE) thành lập năm 1992; tạp chí Nghiên cứu Liên ngành Văn học và Môi trường (ISLE) xuất bản số đầu tiên năm 1993 Có thể nói,

phê bình sinh thái thực sự trở thành một trào lưu mạnh mẽ trong giới học thuật Đây

Trang 16

đích thị là trào lưu có sức lan tỏa nhất đối với giới phê bình văn học trong những năm 90 của thế kỷ XX

1.1.2 Nhận diện một số đặc điểm của phê bình sinh thái

Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về phê bình sinh thái Trong đó định nghĩa của Cheryll Glofety được xem là ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả Cheryll Glotfelty cho rằng: “Phê bình sinh thái nghiên cứu quan hệ giữa văn học và môi trường vật lí Giống như phê bình chủ nghĩa nữ quyền từ góc độ ý thức giới tính khảo sát ngôn ngữ và văn học, phê bình chủ nghĩa Mác đem phương thức sản xuất

và giai cấp kinh tế vào đọc văn bản, phê bình sinh thái vận dụng phương pháp lấy

địa cầu làm trung tâm nghiên cứu văn học”.“Phê bình sinh thái là nghiên cứu mối

quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” [46;10]

Cho tới nay, lí luận tìm hiểu nghiên cứu về phê bình sinh thái khá phong phú,

đa dạng Trong đó, chúng tôi tán đồng quan điểm của Vương Nhạc Xuyên Trên cơ

sở tìm hiểu các lí thuyết về phê bình sinh thái, Vương Nhạc Xuyên trong Đương đại tây phương tối tân văn luận giáo trình (dẫn theo Đỗ Văn Hiểu [24] có đưa ra các

đặc trưng, đặc điểm cơ bản của phê bình sinh thái gồm sáu nội dung cơ bản

Thứ nhất: phê bình sinh thái lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học làm chủ, muốn trong tác phẩm thể hiện mối quan hệ

phức tạp của con người và thế giới tự nhiên, quan hệ tương tác giữa văn học và môi trường tự nhiên

Phê bình sinh thái đi vào khai thác, khám phá, tìm hiểu, lí giải mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên, tác động của con người đối với thế giới tự nhiên hay vai trò của môi trường đối với con người và xã hội loài người Không chỉ thế, phê bình sinh thái còn giải quyết các vấn đề sinh thái xã hội, xác lập lí tưởng sống cao đẹp, khắc phục các ô nhiễm tinh thần, làm cho tinh thần trong sạch, cân bằng, góp phần làm ổn định xã hội Phê bình sinh thái nhìn nhận đời sống tinh thần

xã hội như là bối cảnh của sáng tạo văn học, coi đó là mảnh đất, vườn ươm các sáng tạo nghệ thuật

Trang 17

Thứ hai: phê bình văn học cũng có thể từ góc độ văn hóa sinh thái đọc lại kinh điển văn học truyền thống, từ đó tìm ra ý nghĩa văn hóa sinh thái và ý nghĩa

mỹ học sinh thái từng bị che lấp, và xây dựng lại mối quan hệ thẩm mĩ thi ý giữa con người và tự ngã, con người và người khác, con người và xã hội, con người và tự nhiên, con người và trái đất

Trong dòng chảy lịch sử văn học nhân loại từ xưa tới nay, hầu như mọi sáng tác đều có sự liên quan tới thế giới tự nhiên Nhưng không phải sáng tác nào cũng trở thành văn học sinh thái mà chỉ những tác phẩm góp phần phơi bày nguy cơ sinh thái thế giới, phê phán quan điểm giá trị chủ nghĩa nhân loại trung tâm, phản tỉnh đối với nền văn minh hiện đại dẫn đến nguy cơ sinh thái mới là văn học sinh thái Nhiều tác phẩm kinh điển trong kho tàng văn học đã được nghiên cứu, khám phá ở nhiều bình diện khác nhau Tuy nhiên, trong ánh sáng mới của phê bình sinh thái, người đọc thời hiện đại vẫn có thể tiếp tục tìm thấy những giá trị thẩm mỹ mới,

những bài học sinh thái có giá trị quan trọng với nhân loại hôm nay

Thứ ba: phê bình sinh thái chú trọng quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, chủ trương nhân loại chuyển biến từ “ý thức tự ngã” sang “ý thức sinh thái”

Khi mới xuất hiện, phê bình sinh thái phương Tây chủ trương theo đuổi “chủ nghĩa sinh thái trung tâm” và cực đoan phê phán “chủ nghĩa nhân loại trung tâm”, coi đây là nguồn gốc sâu xa của hiện tượng môi trường ngày càng xấu đi Nhưng dần dần, người ta đã nhận ra rằng, chúng ta bảo vệ môi trường tự nhiên là để duy trì môi trường tự nhiên lâu hơn, tốt hơn, phục vụ cho nhu cầu lợi ích của nhân loại, để nhân loại có một không gian sinh tồn và phát triển tốt hơn Bảo vệ tự nhiên chính là

để bảo vệ sinh mệnh con người Chỉ có sự cộng sinh giữa con người và tự nhiên mới có thể giúp trái đất tránh khỏi nguy cơ diệt vong Con người và trái đất có quan

hệ hòa hợp sinh mệnh cùng tồn vong, nhân loại không thể là chúa tể của muôn loài nữa, mà là một thành viên trong muôn loài trên trái đất, cùng sinh tử với các thành viên khác trong thế giới tự nhiên

Thứ tư: phê bình sinh thái có đặc tính liên ngành văn học

Trang 18

Phê bình sinh thái nghiên cứu văn học trên cơ sở nhận thức các vấn đề về tự nhiên, môi trường Chính vì vậy nhà phê bình phải có sự hiểu biết về các vấn đề tự nhiên, những biến đổi trong môi trường sinh thái, các vấn đề dân tộc học, sử học, triết học, chính trị, đạo đức… từ đó có sự liên kết, thâm nhập vào các tầng diện văn học Phê bình sinh thái đồng thời chú ý đến những thể loại và hình thức truyền thông đa dạng khác ngoài văn bản viết như phim hoạt hình, mỹ thuật sinh học, kiến trúc xanh, các nguồn dữ liệu kỹ thuật số…

Thứ năm: phê bình sinh thái khi tiến hành quan chiếu đối với hiện tượng văn hóa sinh thái đã kế thừa hình thái ý thức cách mạng xanh, nhấn mạnh không thể xa rời tinh thần văn học và diễn ngôn văn học, cần phải cố hết sức có thể tại tầng diện

hình thức văn bản văn học và thủ pháp nghệ thuật triển khai tự sự diễn ngôn, thông qua thủ pháp cái đẹp hình thức của sáng tác mang “tính văn học” để thể hiện ra tinh thần văn hóa sinh thái

Phê bình sinh thái không có khuôn khổ nhất định về đối tượng, phương pháp cũng như các vấn đề chính mà có xu hướng mở rộng và phức tạp Phê bình sinh thái dung hợp nhiều lí thuyết phê bình, trong đó có phương pháp tiếp cận thi pháp học

để nhận diện điểm nhìn, cốt truyện, nhân vật, giọng điệu

Thứ sáu: Nội dung của phê bình sinh thái yêu cầu trong tầm nhìn song trùng

của bản chất sinh mệnh và địa cầu, khảo sát trạng thái tồn tại quá khứ và tương lai của con người Góc nhìn này liên kết nghiên cứu văn học đã rơi vào chủ nghĩa hình thức và vấn đề sinh tồn với đầy những nguy cơ của trái đất Văn học từ đó có thể từ

bỏ trò chơi văn tự của chủ nghĩa hình thức, xốc lại tinh thần từ trong đủ các loại diễn ngôn phê bình hóa giải ngôn ngữ

Như vậy, phê bình sinh thái coi quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên

là lĩnh vực nghiên cứu của mình Phê bình sinh thái vừa phải nghiên cứu “tính văn học”, vừa phải tiếp cận vấn đề “tính sinh thái” Sự kết hợp giữa “tính văn học” và

“tính sinh thái” làm cho phê bình sinh thái khác với phê bình văn học hoặc lí luận văn học khác

Trang 19

1.2 Phê bình sinh thái với văn học trung đại Việt Nam

1.2.1 Mối liên hệ giữa phê bình sinh thái và triết lý sinh thái phương Đông cổ điển

Trong lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại, môi trường sống của cư dân phương Đông vốn là xứ nóng sinh ra mưa nhiều, tạo thành các con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú, trái ngược với phương Tây vốn là xứ lạnh với khí hậu khô, không thích hợp cho thực vật tăng trưởng Hai loại địa hình này khiến cho

cư dân hai khu vực phải sống bằng hai nghề khác nhau Nếu cư dân phương Tây sớm phát triển chăn nuôi thì cư dân phương Đông lại có nhiều thuận lợi cho việc trồng trọt, từ đó tạo ra hai loại hình văn hóa tương ứng: loại hình văn hóa gốc du mục và loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, người phương Đông phải phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, từ đó hình thành ý thức tôn trọng tự nhiên, ước muốn sống hòa bình với thiên nhiên Tư tưởng văn hóa phương Đông đề cập nhiều tới mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó,

trong đó nổi bật nhất phải kể đến tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo

Phật giáo ra đời từ thế kỉ thứ VI trước công nguyên với tư tưởng nhân sinh sâu sắc, đưa ra nhiều quan niệm về cuộc sống của con người, trong đó có mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên Tư tưởng bao trùm của đạo Phật là từ bi, bác ái, bởi sâu xa, đạo Phật cho rằng mọi sinh vật đều có sinh mệnh ngang nhau Sinh mệnh con người cũng giống như sinh mệnh muôn thú, cũng giống như sinh mệnh muôn loài cỏ cây, hoa lá… Bởi thế, con người không nên sát sinh, hãy từ bỏ lòng ham muốn vật chất, hãy trân trọng mọi sự sống trong cuộc đời dù là nhỏ nhất Đạo Phật cũng giải thích về sự tồn tại của con người Đó là sự hình thành từ các yếu tố tự nhiên, là sự kết hợp của các yếu tố vật chất gồm lửa, đất, nước, khí Chính bởi vậy, con người cũng chỉ là một sinh vật trong giới tự nhiên, giữa con người và tự nhiên

có sự tương hỗ lẫn nhau Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ bình đẳng Từ đó, Phật giáo khuyên con người hãy đối xử với vạn vật, cây cỏ, giới vô sinh như con người với con người, hãy biết yêu môi trường xung quanh, không sát sinh Đồng thời, Phật giáo cũng chỉ ra con đường để con người bảo vệ môi trường

Trang 20

và đảm bảo cuộc sống của mình, đó là lối sống cộng sinh Con người hãy giống như những con ong, chỉ lấy phấn hoa làm mật mà không mất đi vẻ đẹp, hương thơm của bông hoa

Cùng với Phật giáo, Nho giáo cũng hình thành một ý thức sinh thái giàu tính

nhân văn Nguyễn Tài Đông trong bài viết Nền tảng Nho giáo của xã hội hài hòa

(2009) cho rằng Nho giáo đã kế thừa tư tưởng “thiên địa nhân hợp nhất” trong Kinh Dịch để nói về mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên Các nhà nho cho rằng, con người là tiểu vũ trụ, ở đó con người là một bộ phận hữu cơ của vũ trụ, sánh ngang với trời đất, đối xứng với trời đất, đồng nhất với vũ trụ, có cùng bản thể

- bản thể vật lý - tâm linh, tương đồng, liên thông, hoà điệu với vũ trụ Ngay Đổng Trọng Thư cũng cho rằng trời sinh ra người, trời dựa theo cấu tạo của bản thân mà sáng tạo ra người thì cứ lấy người mà xét trời Vũ trụ cũng như con người là đồng cấu, giống nhau về cấu tạo và quy luật vận hành, dù ở dạng vật chất hữu hình hay vật chất vô hình, năng lượng hay thông tin, vật lý hay tâm linh Con người sinh ra từ

vũ trụ, trong môi trường vũ trụ, chịu ảnh hưởng cũa vũ trụ không chỉ ở mặt hữu hình, vật lý, mà còn ở dạng năng lượng, thông tin, vật chất vô hình Con người cũng chịu ảnh hưởng từ các môi trường thiên nhiên, tạo nên nhịp điệu sinh học, chu kỳ sống từng ngày, từng năm; đồng thời con người cũng đa dạng về mặt tự nhiên, nhưng cũng tương đồng về tính chất, mỗi người tương đồng với một sao (hành tinh), hoặc cầm tinh một con vật (trong 12 con giáp), hoặc tương ứng với các chất thủy, mộc, thổ, hỏa, kim, như một quá trình tương sinh, tương khắc, tương hỗ, tương hòa, tương thành, tương phản mà tạo thành các cá tính, số phận khác nhau [11]

Cũng theo Nho giáo, con người và tự nhiên không chỉ tương đồng, tương cảm mà còn tương dữ, tức là vừa đồng nhất vừa cách biệt, có khi đối lập Điều này thể hiện ở quan niệm cho rằng trời có thể gây tác hại hoặc tác lợi cho con người và ngược lại con người có thể làm cho trời nổi giận, hoặc mang lại điều lành cho con người Nếu con người làm sai lòng trời như việc con người làm suy thoái môi trường, suy thoái hệ sinh thái thì sẽ bị trời trừng trị, trả thù Hoặc có quan niệm cho

Trang 21

rằng, nhà vua, quan lại mà độc ác với dân thì trời sinh ra lũ lụt, hạn hán, hoặc vua quan chăn dân, phải đạo với dân thì trời ban phúc cho mưa thuận, gió hòa…

Các nhà nho cũng đã thấy được vai trò quan trọng của thiên nhiên đối với đời sống con người, được thể hiện qua quan niệm của Mạnh Tử khi ông nói về cách cai trị Ông đã nói lên mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa con người với tự nhiên, yêu cầu con người cũng phải nắm được quy luật của tự nhiên trong hoạt động sản xuất, hướng dẫn nhân dân về đạo lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên đồng thời cũng thể hiện sự nhân ái của con người đối với cây cối, loài vật Tư tưởng trên không phân biệt con người với con vật, cho rằng tự nhiên hòa hợp với mình, con người có đức nhân thì không chỉ đức nhân ấy ở con người với nhau mà còn đối với cây cỏ, con vật

Đạo giáo cũng đưa ra triết lí về sinh thái tự nhiên, mà tiêu biểu là Lão Tử với

cuốn Đạo đức kinh Trong đó, Lão Tử quan niệm về đạo như một quy luật của tự

nhiên Lão Tử cho rằng, quy luật của con người là ở đất, quy luật của đất là ở trời, quy luật của trời là của đạo, quy luật của đạo là ở tự nhiên Đạo được hiểu là khởi nguyên của toàn thể vũ trụ, toàn thể trời đất, vạn vật và con người Đạo được hiểu là quy luật vận hành của vũ trụ, tạo nên sự thống nhất của vũ trụ Trong quan niệm của Lão Tử, đạo còn được hiểu như là cái không chỉ tạo ra trời đất, vạn vật và con người mà nó còn tạo ra sự thống nhất, định hướng cho sự vận hành của vạn vật theo lẽ tự nhiên

Từ quan niệm về thế giới đến quan niệm xã hội, Lão Tử cho rằng, sự vận hành của xã hội thuận theo tự nhiên, con người phải cư xử không thái quá, không bất cập trong quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên Con người phải sống theo tự nhiên, trong cuộc sống không nên thiên quá về vấn đề vật chất, phải tiết chế lòng ham muốn, chú trọng tinh thần, lấy tâm đè nén khí, thà bỏ thân

mà giữ được đạo và đức Lão Tử không nhắc đến thượng đế, linh hồn mà ông chỉ nói một cách rất chung về nguồn gốc của con người và giới tự nhiên Vạn vật đều bắt đầu từ đạo mà ra, cuối cùng lại trở về đạo, hòa vào đạo Để đạt được đến cái đạo

tự nhiên đó, con người cần phải đạt được cảnh giới cao nhất của vô vi Vô vi có thể được hiểu là cứ để theo diễn tiến tự nhiên, không can thiệp vào tự nhiên, để con người sống theo tự nhiên và cùng với tự nhiên tiến hóa Theo Lão Tử, tự nhiên vận

Trang 22

hành có quy luật của nó và tự nhiên cũng có tính tự điều tiết Ông thấy tự nhiên có lợi chứ không có hại nên cứ để cho tự nhiên vận hành theo đúng quy luật của nó, không nên đảo lộn trật tự của giới tự nhiên Vô vi được ông ứng dụng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, về xã hội, nhân sinh, tự nhiên, tu thân, thể hiện quan niệm của Lão Tử về một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên

Như vậy, triết lí sinh thái phương Đông cổ điển đã đưa ra những quan niệm hết sức tích cực, giàu tính nhân văn về mối quan hệ giữa con người với môi trường

tự nhiên Triết lí của các triết gia phương Đông tạo nên một lối sống thân thiện với môi trường, có tác dụng tích cực đến bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn

sự đa dạng sinh học, đảm bảo sự cân bằng sinh thái Con người muốn sống lành mạnh, bền vững, hạnh phúc thì phải sống phù hợp với các quy luật sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội, quy luật của thế giới nội tâm, phát triển được mọi tiềm năng, tiềm lực của mình phục vụ cuộc sống của mình và xã hội Điều này phù hợp với mục đích mà phê bình sinh thái hướng tới, tạo cơ sở quan trọng để tìm hiểu, khám phá các không gian môi trường sinh thái trong văn học từ cổ chí kim

1.2.2 Quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học trung đại Việt Nam

Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng, trong

đó không thể không kể tới mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên

Buổi sơ khai văn học, dưới hình thức độc đáo của tư duy huyền thoại, các tác phẩm văn học dân gian đã kể lại quá trình ông cha ta nhận thức, cải tạo, chinh phục thế giới tự nhiên hoang dã để xây dựng non sông đất nước tươi đẹp và tích lũy nhiều hiểu biết phong phú, đa dạng về tự nhiên Người nguyên thủy chưa lí giải được tự nhiên kì bí nên luôn có tâm lí ngưỡng vọng, tôn thờ tự nhiên Thần thoại sáng tạo nên hàng loạt các vị thần tự nhiên như thần Trụ trời, thần Núi, thần Sông, thần Sao, thần Mặt trời… Ca dao, dân ca xuất hiện những hình ảnh tươi đẹp của thiên nhiên Việt Nam như núi sông, đồng lúa, cánh cò, vầng trăng, dòng suối, gió mây, cây đa, bến nước… Cảnh quan các vùng miền khác nhau của đất nước vô

Trang 23

cùng phong phú đa dạng nên hình ảnh thiên nhiên trong ca dao, dân ca của mỗi vùng cũng có những nét đặc sắc riêng biệt

Đến sáng tác của thơ ca thời trung đại, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được thể hiện mang tính thẩm mỹ, tư tưởng sâu sắc Triết lí sinh thái phương Đông cổ điển đã chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật

Trước hết, trong văn học trung đại, các nhà thơ coi thiên nhiên là một đối tượng đặc biệt được miêu tả Thiên nhiên gắn bó với con người, là người bạn tri âm tri kỷ với con người Thiên nhiên chiếm một vị trí danh dự trong văn học Nhưng thiên nhiên trong văn học trung đại ít được khám phá như một khách thể riêng biệt, độc lập, với những giá trị tự thân Con người thường gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình Người ta tìm đến với thiên nhiên và xem thiên nhiên như là một tư liệu để để ngụ tình hay giáo huấn đạo đức Hình tượng thiên nhiên gắn với lí tưởng đạo đức, thẩm mĩ Các hình tượng tùng, cúc, trúc, mai thường tượng trưng cho nhân cách cao thượng; các đề tài ngư, tiều, canh, mục thường thể hiện lí tưởng thanh cao, ẩn dật, không màng danh lợi của nhà nho Chính

vì vậy, một bông mai trong thơ của Mãn Giác Thiền sư, một cây tùng trong thơ Nguyễn Trãi cũng gợi lên bao ý nghĩa sâu xa về nhân sinh, lẽ sống ở đời Các nhà thơ, nhà văn có thể nói chuyện sinh hoạt đời thường, nhưng tuyệt nhiên đó không chỉ là lối sống, cách sống thông thường mà là cả phẩm chất, khí tiết thanh bạch, trắng trong đáng kính, như trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

(Nhàn)

Nhà thơ nhắc tới bốn mùa trong năm với những sản phẩm riêng của từng mùa Nhưng điều đáng nói, măng trúc gợi tiết tháo ngay thẳng, giá đỗ gợi sự trắng trong, hồ sen, ao gợi không gian thanh mát, trong sạch Như thế cách miêu tả đã không chỉ cho thấy nếp sinh hoạt thuận theo tự nhiên, mùa nào thức ấy mà quan trọng hơn gợi lên cả một nhân cách sống cao đẹp Điều này khác với văn chương

Trang 24

hiện đại – nhìn thiên nhiên như một khách thể để khám phá, tôn trọng sự sống riêng của tạo vật thiên nhiên

Chính vì quan niệm này nên trong văn học trung đại, các tác giả thường không tả hình xác của tạo vật mà chủ yếu gợi tả linh hồn của thiên nhiên Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng, chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người Thiên nhiên là nơi gửi gắm những tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người nên bút pháp miêu tả thiên nhiên chủ yếu là tả cảnh ngụ tình Thêm nữa, các nhà thơ trung đại thường dùng bút pháp gợi, chấm phá là chính để tả thiên nhiên chứ không đi sâu vào đường nét, hình sắc tỉ mỉ, cụ thể Thiên nhiên gắn với khí phách, phẩm tiết của con người nên thiên nhiên được chọn mô tả cũng là những hình ảnh tao nhã, sang trọng như phong, hoa, tuyết, nguyệt, mai, lan, trúc, cúc…

Trong quan hệ với tự nhiên, con người tự nhận thức mình là một mảnh vỡ của vũ trụ bao la Bởi vậy, thiên nhiên trở thành “khuôn vàng thước ngọc” cho con người soi chiếu Vẻ đẹp của con người bao giờ cũng được đặt trong sự đối sánh với thiên nhiên Người con gái đẹp phải là “làn thu thủy, nét xuân sơn”, lông mày “lá liễu”, “tóc mây”, “gót sen”… Người anh hùng phải “râu hùm”, “hàm én” “mày ngài”… Thiên nhiên trở thành tiêu chí vĩnh cửu, vĩnh hằng cho con người soi mình Con người mang dấu ấn của thiên nhiên qua đất trời, mây nước, cỏ cây, muông thú… với cái đạo vững bền, sâu thẳm của nó Đây là nét khu biệt không thể lẫn so với các kiểu con người trong các thời kì sau của văn học

Thiên nhiên còn là nơi cứu rỗi tâm hồn con người Cách hành xử của nhà nho muôn đời là “dụng chi tắc hành, xả chi tắc hàng” (dùng thì ta hành đạo, không dùng thì ta quy ẩn) Khi con người xã hội bất như ý họ thường đi ở ẩn, xa lánh xã hội rối ren, loạn lạc để trở về với thiên nhiên, vơi quên nỗi buồn thế sự Thiên nhiên thực sự trở thành cái nôi đón đỡ con người, là nơi lánh đục tìm trong, di dưỡng tinh thần, tìm thấy bản ngã chân thật, trong sạch của mình Thiên nhiên luôn là nguồn an

ủi Mỗi khi tổn thương, vấp ngã, người ta lại tìm về tự nhiên như tìm về một bến bờ tĩnh lặng để nguôi quên Thiên nhiên là người bạn lớn vĩnh hằng của con người mà

Trang 25

ở đó, những muộn phiền, day dứt, đau đớn vơi đi Vì thế, nhà nho nhàn dật có khuynh hướng vui với cây cỏ, chối từ con người lí trí, rũ bỏ áo khoác xã hội để hòa mình vào thiên nhiên, xa lánh cảnh trầm luân, nhiễu nhương của thế sự Bởi vậy, từ Khuất Nguyên, Đào Tiềm cho đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… do mệt mỏi với quan trường ganh ghét, lòng người hiểm độc đã “quy khứ lai” - trở về với mây trắng núi ngàn để xoa dịu, thanh thản Những vần thơ của Nguyễn Trãi ca ngợi cuộc sống thanh tĩnh nơi Côn Sơn, lấy tiếng suối thay tiếng đàn, lấy rêu phong nơi mỏm

đá thay chăn ấm đệm êm chốn nhung lụa hay những vần thơ “tìm nơi vắng vẻ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều thể hiện một tư tưởng sống khiêm nhường, ẩn dật và hòa hợp vào “dòng sống thâm áo của thiên nhiên” Đối với kẻ sĩ phương Đông, có lẽ tiền tài, danh vọng, chức tước không phải là mục đích của sự sống mà việc con người trở về với cõi thiên nhiên, với bản thể của vũ trụ mới là mục đích chân chính nhất Phò vua giúp đời chỉ là nghĩa vụ trong chốc lát còn tâm thế họ vẫn hướng về

tự nhiên sâu thẳm trời xanh mây trắng vĩnh cửu muôn đời

Qua những trang viết về thiên nhiên, ta có thể thấy một tình yêu thiên nhiên sâu đậm, một tấm lòng tha thiết với cảnh vật Đó là sự cảm nhận tinh tế, nhạy cảm

những xao động tế vi nhất của thiên nhiên, đất trời (“Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì” – Sâu trong khóm hoa liễu, chim hót chậm rãi – Trần Nhân Tông) Đó là niềm vui sướng, tự hào gắn với nỗi nhớ thương da diết của người con xa xứ (“Dâu già lá rụng tằm vừa chín/ Lúa sớm bông thơm cua béo ghê” - Nguyễn Trung Ngạn) Đó là những xúc cảm nên thơ, gắn bó với cảnh “Mục đồng, sáo vẳng, trâu về hết/ Cò trắng từng đôi, liệng xuống đồng” (Trần Nhân Tông) Đó là lời tự thú chân thành để thỏa tấm lòng yêu mến, gắn bó: “Non nước cùng ta đã có duyên” (Nguyễn Trãi) Bởi lẽ, thiên nhiên đã trở thành gia đình thương mến: “Cò nằm hạc lẩn nên bầu bạn/ Ấp ủ cùng ta làm cái con”, thành niềm khao khát trở về: “Tùng cúc do tồn quy

vị mãn/ Lợi danh bất tiển ẩn phương chân - Tùng cúc hãy còn ta về chửa muộn/ Lợi danh không thèm, ẩn mới đúng hơn”

Có thể khẳng định, trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam nói riêng, văn học Việt Nam nói chung, thiên nhiên luôn giữ một vị trí danh dự Tuy nhiên, do

Trang 26

những quy định riêng về ý thức hệ tư tưởng của thời đại văn học nên mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong văn học trung đại cũng có điểm khác biệt Một mặt, nó kế thừa tình yêu thiên nhiên trong văn học truyền thống, mặt khác, nó có sự nhận thức, khám phá, mô tả thiên nhiên theo những quan niệm thẩm mỹ riêng Tuy nhiên, dù nhìn nhận thiên nhiên ở phương diện nào thì tư tưởng bao trùm vẫn là sự hợp nhất giữa con người và thiên nhiên, thái độ coi trọng, tôn sùng thiên nhiên

1.3 Nguyễn Khuyến: nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam

1.3.1 Nguyễn Khuyến: một cuộc đời giữa hai thế kỷ

Bước sang thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam đi vào con đường khủng hoảng, bế tắc Giai cấp phong kiến thống trị giai đoạn này không còn năng lực quản lý và lãnh đạo nhà nước mà lao vào ăn chơi trụy lạc, tranh giành quyền lực, sinh ra cảnh nồi da nấu thịt, nội chiến liên miên khiến đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, lầm than Nông nghiệp đình đốn, kinh tế hàng hóa manh nha từ sớm song không có điều kiện phát triển, công thương nghiệp giẫm chân tại chỗ… Tất cả điều đó khiến các cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội diễn ra gay gắt chưa từng có Các phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp trong suốt giai đoạn từ Bắc tới Nam mà đỉnh cao của nó là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã cùng một lúc lật đổ các tập đoàn phong kiến Đằng Trong (chúa Nguyễn), Đằng Ngoài (vua Lê, chúa Trịnh), đánh tan các cuộc xâm lược của quân Xiêm ở phía Nam, quân Thanh ở phía Bắc Nhưng phong trào Tây Sơn sau khi giành được thắng lợi huy hoàng đã không còn phát huy được vai trò tích cực của mình mà đi vào con đường phong kiến hóa, cuối cùng thất bại trước

sự tấn công của tập đoàn Nguyễn Ánh Nguyễn Ánh lên ngôi, xây dựng triều đại nhà Nguyễn Nhà Nguyễn không nhượng bộ trước cuộc đấu tranh của quần chúng Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, vì quyền lợi ích kỷ của mình, họ không đứng

về phía nhân dân chống xâm lược nên đã thất bại Năm 1858, việc thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng đã kết thúc một giai đoạn cũng mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc

Trang 27

Nguyễn Khuyến sinh năm Ất Mùi (1835) ở quê mẹ, làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha, làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Lúc đầu, ông có tên là Nguyễn Thắng, sau thi hội không đỗ, ông mới đổi thành Nguyễn Khuyến, biệt hiệu là Quế Sơn

Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình có dòng dõi Nho học: ông tổ bốn đời đậu Tiến sĩ, ông nội là Nguyễn Tông Tích đỗ nho sinh, cha là Nguyễn Tông Khải đỗ liền ba khoa tú tài, nhưng trượt cử nhân, mẹ là con gái cụ sinh đồ Bản thân ông cũng theo học đạo Nho từ tấm bé, nổi tiếng là người thông minh, học giỏi

Năm mười bảy tuổi, Nguyễn Khuyến đi thi hương với cha nhưng không đỗ, sau đó cha mất, nhà nghèo, ông phải bỏ học đi dạy thuê kiếm ăn nuôi mẹ Năm Giáp Tý (1864), Nguyễn Khuyến đi thi Hương, đỗ giải Nguyên trường Nam Định Năm sau ông vào Huế thi Hội nhưng không đỗ Năm Tân Mùi (1871), Nguyễn Khuyến thi Hội lần thứ hai và đỗ Hội nguyên, sau đó vào thi Đình, đỗ Đình nguyên

Cả ba lần thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ, và Tự Đức ban cờ biển cho ông cũng viết hai chữ “Tam nguyên”

Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến được bổ làm quan ở Nội các Huế, năm sau đổi thành Đốc học Thanh Hóa, rồi án sát Nghệ An, nhưng được mấy tháng thì mẹ mất, ông xin về để tang mẹ Mãn tang, ông vào Kinh làm Biện lý bộ Hộ Năm 1877, đổi làm Bố chánh Quảng Ngãi, năm 1879, Nguyễn Khuyến bị điều về Kinh sung chức Trực học sĩ và làm Toản tu ở Quốc sử quán Năm 1883, triều đình Huế cử ông làm phó sứ đi công cán nhà Thanh Nhưng tháng 8 năm 1883, Thuận An thất thủ, việc đi sứ bị đình, ông lại về chức cũ Tháng 12 năm ấy, thực dân Pháp đánh Sơn Tây, Tổng đốc Sơn Tây là Nguyễn Đình Nhuận chạy lên Hưng Hóa kháng chiến cùng với Nguyễn Quang Bích Thực dân Pháp bắt Nguyễn Hữu Độ là Kinh lược Bắc Kỳ, chọn người thay Nguyễn Đình Nhuận Nguyễn Hữu Độ cử Nguyễn Khuyến làm quyền Tổng đốc nhưng ông dứt khoát từ chối, lấy cớ đau mắt nặng xin cáo quan về làng

Khi thực dân Pháp lần lượt chiếm Trung Kỳ, Bắc Kỳ, chúng tìm cách mua chuộc hàng ngũ sĩ phu có tên tuổi lúc bấy giờ để đối phó với phong trào yêu nước

Trang 28

nổi dậy khắp nơi Chúng nhiều lần mời Nguyễn Khuyến ra làm quan nhưng ông nhất quyết từ chối Về sau, Hoàng Cao Khải làm Kinh lược sứ Bắc Kỳ mời ông về nhà dạy học Từ chối mãi không tiện, lần này, ông miễn cưỡng nhận lời nhưng dạy được hai năm (1891-1893) thì cho con trai là Nguyễn Hoan đến thay Năm 1905, Lê Hoan, Tổng đốc Hưng Yên tổ chức cuộc thi vịnh Kiều để lôi kéo các nho sĩ từ bỏ con đường vận động cứu nước, Nguyễn Khuyến được mời vào ban khảo duyệt Nguyễn Khuyến tham gia nhưng ngụ ý kín đáo tâm sự của mình trong những bài thơ vịnh Kiều để đả kích bọn Lê Hoan và đồng bọn Nguyễn Khuyến luôn phải sống trong cảnh nghi kỵ nặng nề, nên cuối cùng ông cho Nguyễn Hoan ra làm quan Từ

đó trở đi ông được sống yên ổn tại quê nhà và từ trần vào tháng giêng năm Kỷ Dậu (1909), thọ 74 tuổi

Như vậy Nguyễn Khuyến làm quan tất cả 11 năm (1872-1883) còn phần lớn cuộc đời ông là ở quê nhà Trong cả cuộc đời làm quan mình, Nguyễn Khuyến luôn nổi tiếng là người thanh liêm, chính trực Khi về sống giữa quê nhà, Nguyễn Khuyến vẫn giữ nếp sống thanh bạch, gần gũi với quần chúng, hiểu biết những lo toan và tâm tình của họ Nguyễn Khuyến thực sự là một người có tài năng, cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân, được người đời trân trọng, cảm phục

1.3.2 Hành trình thơ trở về không gian sinh thái làng quê

Nguyễn Khuyến là đại diện khá tiêu biểu cho lớp người được xã hội phong kiến đào tạo Non nửa đời lăn lóc trong chốn quyết khoa, Nguyễn Khuyến đã dụng công, dụng sức, dụng tâm nhiều cho kỹ xảo văn chương cử tử Sái tảo, ứng đối, tiến thối, hết kinh truyện đến đại gia, bách gia, Nguyễn Khuyến đều tinh thông Rèn luyện, tập tành, vận dụng nhiều, dấu vết văn cử tử để lại trong ông không phải mờ nhạt Thuộc điển tích, nhớ sách vở, giỏi chiết tự, cho đến tức sự, cảm hoài, thù tạc, ngôn chí, vịnh sử, vịnh vật… đối với một ông Tam nguyên là chuyện không khó nhọc gì Nhưng sống trong thời đại rối ren của xã hội phong kiến Việt Nam, Nguyễn Khuyến lại là một trong số ít các trí thức nhận ra được sự tan vỡ trong hệ tư tưởng của giai cấp mình cũng như thừa nhận sự bất lực của nó trước lịch sử Trong suốt 11 năm tham gia triều chính, tuyệt nhiên Nguyễn Khuyến không hề phản ánh

Trang 29

trong thơ văn những bước thăng trầm của lịch sử Ông không hề đề cập tới chuyện

“chiến” hay “hòa” sôi nổi trong những năm 1860 từng làm khắc khoải rất nhiều sĩ phu Ông cũng không nhắc tới chuyện “bình Tây sát tả” vốn là sản phẩm của các nhà nho cực đoan, gây ra biết bao thảm kịch ở miền Trung, miền Nam Ông cũng

im hơi lặng tiếng trước con đường mộ binh đánh giặc của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích… Nguyễn Khuyến không cam chịu làm tay sai cho triều đình bán nước, nhưng cũng không lựa chọn con đường dấy nghĩa đánh giặc bởi sâu xa trong ông đã có sự khủng hoảng, rạn nứt nghiêm trọng về tư tưởng Khủng hoảng trong xã hội kéo theo khủng hoảng về ý thức hệ xã hội Nho giáo tàn

tạ, phá sản Lão – Trang hay Phật giáo cũng không là chỗ dựa cho con người Gia tô giáo mới du nhập bị coi là “tà đạo” Giai cấp thống trị mất đi vai trò lịch sử của mình nên tư tưởng “trung quân” cũng không còn giá trị, “xả thân thủ nghĩa” “liều chết để đền ơn vua” không còn là tiêu chí cho hành vi ứng xử của kẻ sỹ Vì thế, trong quãng đời hành đạo của mình, dường như Nguyễn Khuyến né tránh mọi chủ

đề “trung quân ái quốc” trong sáng tác

Nhưng khi “trở lại vườn Bùi”, con người Yên Đổ đã có sự biến đổi hoàn toàn khác Mất chỗ dựa trong đời sống thực tại, Nguyễn Khuyến chỉ còn một cách là tìm

về tinh thần dân tộc qua việc khai thác các yếu tố văn hóa truyền thống Nguyễn Khuyến một mặt tìm về quá khứ, một mặt tìm vào tĩnh lặng, tìm về sau luỹ tre xanh Nếu tìm về quá khứ là cách để Nguyễn Khuyến phủ định hiện tại, đau xót cho hiện tại thì tìm về với thế giới làng quê là cách ông phát hiện hồn văn hóa dân tộc, sức sống

dân tộc còn tiềm tàng Không gian sinh thái làng quê thực sự trở thành một phạm trù

không gian mang đặc sắc phong cách Nguyễn Khuyến Trở về với làng quê, Nguyễn Khuyến đã đi từ đỉnh cao danh vọng với mũ áo xênh xang về hòa mình với những người dân chân lấm tay bùn Nguyễn Khuyến đã đi từ các phạm trù thẩm mỹ về “cái cao cả” nhường chỗ cho những cảm xúc nẩy ra từ những vui buồn, sướng khổ, gắn với những cảnh đời bình dị, chân thật Nhà thơ đã bỏ lại những tầm chương, trích cú, những vẫn thơ quý phái, đài các để đưa văn học về với cội nguồn dân tộc, với làng quê, với những người nông dân nghèo khổ vất vả Sự trở về của Nguyễn Khuyến là

Trang 30

sự hòa mình với môi trường sống, môi trường văn học đã gắn bó từ thuở lọt lòng Từ đây, một thế giới tự nhiên phong phú đa dạng đi vào thơ Nguyễn Khuyến với những tầng ý nghĩa sâu sắc Không gian làng quê hiện lên giàu giá trị văn hóa với những con người dân quê chân chất, mộc mạc Nguyễn Khuyến đã phục dựng cả một chiều sâu văn hóa dân tộc qua không gian làng quê ấm áp nghĩa tình Xét ở khía cạnh đó, tinh thần yêu nước trong thơ ca Nguyễn Khuyến đã có những bước chuyển mình đáng ghi nhận trong tiến trình thơ ca trung đại Việt Nam

Tiểu kết

Điểm qua một vài nét như vậy, có thể thấy, nghiên cứu phê bình sinh thái là một xu hướng tất yếu của nghiên cứu văn học trong bối cảnh xã hội hiện đại Nghiên cứu phê bình sinh thái giúp con người nhận thức được mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, cảnh tỉnh được nguy cơ hủy hoại sinh thái môi trường đang xảy

ra trong đời sống hôm nay Soi rọi góc nhìn sinh thái vào dòng chảy văn học Việt Nam, có thể thấy, từ sâu xa, người phương Đông đã có nhận thức tích cực, nhân văn

về môi trường sinh thái tự nhiên với các biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng Là một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Khuyến vừa mang trong mình dấu ấn của tư tưởng sinh thái phương Đông cổ điển, vừa có sự

chuyển biến nhận thức, mỹ cảm theo xu hướng hiện đại

Trang 31

Chương 2 KHÔNG GIAN SINH THÁI LÀNG QUÊ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN 2.1 Tự nhiên trong không gian làng quê

2.1.1 Thế giới hữu sinh

2.1.1.1 Thế giới thực vật

Thế giới thực vật trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến luôn hiện lên phong phú, sống động vô cùng Sống giữa tự nhiên, Nguyễn Khuyến tự hòa mình thành một bản thể trong dòng chảy vĩnh hằng của của sự sống Ta không thấy ông tách mình riêng rẽ, trở thành một chủ thể để quan sát thiên nhiên như một khách thể biệt lập, cũng không thấy ông tự coi mình là trung tâm của vũ trụ mà ngược lại, ông và thiên nhiên luôn có mối quan hệ tương giao, tương ứng Sinh ra từ làng quê, sau mấy chục năm hoạn lộ chốn quan trường lại trở về với làng quê, sống giữa ruộng đồng thôn dã, thiên nhiên thực sự gắn bó máu thịt với thi nhân

Trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, ta luôn thấy tình yêu mến sâu sắc, thái độ nâng niu mọi sự sống nhỏ nhất của thân cỏ Chiếm phần lớn trong thơ ông là thế giới thực vật thôn quê, gần gũi, mộc mạc Ông hay nhắc tới hoa, cây, cành, chồi, lá trong cái nhìn phong phú, say mê:

“Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái”

(Vịnh mùa thu, 136)

“Khi uốn cây cảnh chậu ngâm nga”

(Mừng cụ Đặng Tự Ý bảy mươi tuổi, 152)

“Đầu cành mấy tiếng chim kêu tuyết”

(Đêm đông cảm hoài, 115)

“Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây”

(Trở về vườn cũ, 119)

“Thung thăng chiếc lá rượu lưng bầu”

(Lụt hỏi thăm bạn, 151)

Trang 32

Thế giới thực vật cỏ cây bước vào trang thơ thật đa dạng, sống động trong những hình sắc riêng, trở thành một phần trong nhân sinh quan, thế giới quan, trong nếp cảm và nếp nghĩ của nhà thơ Nhìn hoa nhớ thời gian, nhìn cây nhớ người, nhìn cành lá thấy tháng năm trôi Thực vật tự nhiên đã trở thành nhịp điệu luân chuyển của thời gian Con người cảm nhận thời gian qua hình sắc cỏ cây Con người và tự nhiên hòa hợp, gắn bó không thể tách rời

Với Nguyễn Khuyến, thực vật tự nhiên còn là phần không thể thiếu trong đời sống con người Đó là cơm ăn, thức uống hàng ngày, đáp ứng những nhu cầu vật chất tối thiểu, thiết yếu cho con người

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa Chợ búa trầu cau chẳng dám mua”

Có những lúc ta thấy nhà thơ như một ẩn sỹ ung dung nhàn tản, thoát tục

“thảnh thơi thơ túi rượu bầu”, nhưng có lúc ông như một lão nông tri điền thật sự Trở về sống giữa làng quê dân dã, ông Tam nguyên đã cất lại áo cao mũ dài để về với ruộng đồng mênh mông, thân thuộc Dưa muối, trầu cau, cải, cà, bầu, mướp vốn

là những món ăn bình dân quen thuộc của người Việt Món ăn ấy từng đi vào ca dao với nỗi nhớ thiết tha, sâu đậm:

“Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

Trang 33

Rau cỏ sản vật là những hình ảnh của làng quê, của nông thôn Việt Nam Trước đó, Nguyễn Trãi là một trong những nhà thơ đầu tiên đưa thơ ca trở về với cuộc sống đời thường Những hình ảnh bè rau muống, giậu mùng tơi, dọc mùng, kê khoai, củ ấu trở thành nét đẹp thôn quê hồn hậu, đáng yêu trong thơ Nguyễn Trãi Nguyễn Khuyến đã kế tục mạch cảm hứng ấy với niềm rung cảm sâu sắc, chân thực Cuộc sống hưu quan của Nguyễn Khuyến là thửa mạ ngoài đồng, là cây cải trong vườn, dưa muối ngoài chợ Một cọng cỏ, một cánh bèo, một bờ rêu cũng đều gợi nỗi niềm riêng trong thơ Yên Đổ Người đọc không thấy cái hùng vĩ, tráng lệ trong cảnh sắc nước non mà chỉ có bức tranh dân dã, giàu chất dân tộc, đậm đà tâm hồn người bình dân Việt Nam Thậm chí, ẩn trong đó còn có chút ngậm ngùi, chua xót bởi cuộc sống nghèo túng, đói kém trong tiếng than thở mệt mỏi của người nông dân, trong nỗi ngại ngùng với bữa cơm đạm bạc khi tiếp đãi bạn hiền Nhà thơ đã không chỉ gửi gắm hồn mình vào thiên nhiên mà còn miêu tả thành công một bức tranh thôn quê hết sức tự nhiên, sống động với chính ngôn ngữ của dân tộc Ông đã thực sự sống cuộc đời, hòa mình vào thế giới thực vật nhỏ bé, sống động của làng quê Và ngược lại, thế giới thực vật ấy chính là tấm gương phản ánh rõ nét cuộc sống hưu quan giản dị, đạm bạc của nhà thơ

Đặc biệt, Nguyễn Khuyến luôn nhìn nhận tự nhiên và con người trong mối quan hệ tương giao, thậm chí là đồng nhất Thiên nhiên và con người tồn tại ngang hàng, đồng đẳng với nhau Bởi thế, con người nhiều khi giống thiên nhiên và thiên nhiên nhiều khi lại giống như con người Nhà thơ hay nhìn thiên nhiên như một sinh thể người, có sự sống, có linh hồn, luôn căng tràn, sống động Đó là hình ảnh của một bông hoa thủy tiên chớm nụ:

“Một khóm thủy tiên năm bảy cụm Xanh xanh như sắp thập thò hoa”

(Nguyên đán ngẫu vịnh, 127)

Hoa thủy tiên vốn gắn với mùa xuân, với không khí tết rộn ràng Trong niềm vui của đầu năm mới khi con dựng được nhà, ngồi bên mâm rượu tề tựu đông đủ, cảm xúc hân hoan của tác giả không giấu nổi qua từng con chữ, cảm xúc ấy tràn cả

Trang 34

vào những bông hoa thủy tiên đang “thập thò hoa” Niềm vui lai láng, túi thơ tuôn trào, hoa kia cũng như không thể kiên nhẫn chờ đợi trong hình hài nụ non, chồi biếc

mà muốn bung tỏa, “phát tiết ra ngoài” Hai chữ “thập thò” làm bông hoa trở nên sống động, có linh hồn riêng chứ không đơn thuần là chuyện chữ nghĩa, sách vở theo điển cố, điển tích thông thường Bông hoa không “e ấp” mà “thập thò” Nếu “e ấp” gợi cái tình tứ, duyên dáng, nở rồi mà muốn ẩn đi, muốn giấu đi vẻ đẹp vì thẹn thùng, ngại ngùng thì “thập thò” là khao khát, nôn nóng mong muốn được phơi bày hết nhan sắc, vẻ đẹp của mình dù chưa đủ độ chín, độ say Nhà thơ không miêu tả hình hài, dáng vẻ bên ngoài mà nhìn thấy “chất sống” trong nội tại của sự vật, khiến

sự vật không là những hóa thạch trên trang giấy mà đang cựa quậy, sống động vô cùng Bông hoa như một con người mang tâm trạng, mang sức sống, chỉ thi nhân là người thấu hiểu

Như thế có thể thấy, Nguyễn Khuyến đã hòa hồn mình vào thực vật thiên nhiên đồng quê thôn dã Thực vật không chỉ gắn bó với thi nhân trong đời sống vật chất sinh hoạt hàng ngày mà còn trở thành điệu tâm hồn riêng của ông Giữa thế giới thực vật thôn quê ấy, nhà thơ đã đã tìm thấy niềm vui sống an nhiên, thanh bình, chan hòa, giản dị

2.1.1.2 Thế giới động vật

Cùng với thế giới thực vật, thế giới động vật trong thơ Nguyễn Khuyến cũng được mô tả vô cùng đa dạng, phong phú Khảo sát trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, chúng tôi thống kê được 29 loại động vật khác nhau Có thể thấy, Nguyễn Khuyến gắn

bó với thế giới thực vật như thế nào thì ông cũng trân trọng, yêu quý thế giới động vật như thế ấy Nhà thơ nâng niu mọi sự sống trên đời, dù là nhỏ bé, bình dị nhất

Bước vào trang thơ Nguyễn Khuyến, ta như được sống giữa mênh mông đồng ruộng qua ánh sáng lập lòe của đom đóm đêm sâu, ta nao lòng bởi một tiếng

gà eo óc sang canh hay một tiếng chó sủa trăng cũng trở nên thân thiết vô cùng… Tất cả cứ âm thầm nói với ta về một nhịp sống thôn quê đang chảy trong từng câu chữ Đó là những loại động vật gắn với cảnh sống sinh hoạt thường nhật của con người Những loại động vật ấy là một phần không thể thiếu của cuộc sống thôn quê,

Trang 35

không thể tách rời khỏi đời sống sinh hoạt, ăn uống, lao động, làm việc của người dân quê:

“Bò cày một chiếc ruộng vườn ba”

Một hình ảnh động vật xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Khuyến là “con trâu” Nhà thơ miêu tả con trâu ấy thật đời, thật chân thực:

“Trâu già gốc bụi phì hơi nắng, Chó sủa bên ao cắn tiếng người”

(Đến chơi nhà bác Đặng, 132)

Ta như sống lại với hình ảnh thân thuộc của làng quê ngàn đời qua hình ảnh con trâu già phì phò bên bụi cây và tiếng chó sủa bên kia ao Không phải ngẫu nhiên, hai câu thơ này được coi là bức tranh điền viên nổi tiếng nhất trong dòng thơ Nôm Hai loài vật quen thuộc của nhà nông, “con trâu là đầu cơ nghiệp”, con chó là người bạn trung thành thân thiết gợi ra nhịp sống yên bình, thanh tĩnh sau lũy tre xanh Nhà thơ lắng nghe được cả tiếng thở nặng nhọc, mệt mỏi của con trâu già Tiếng thở ấy như phả ra cả cái nắng nóng oi bức của đất trời Một tiếng chó sủa giận dữ bên ao cũng khiến ta giật mình Hai động từ “sủa” “cắn” cùng đặt trong một câu thơ cho thấy trạng thái “sống” của loài vật Như thế, tác giả đã cảm nhận “linh hồn sống” của động vật Ông không nhìn động vật như những công thức, biểu tượng

Trang 36

mà quan sát bằng sự giao cảm tinh thần sâu xa Động vật là một sinh thể người, có đời sống, có tâm hồn, có tình cảm và hoạt động

Có lúc, hình ảnh con trâu ấy lại có vẻ mơ màng, mang đậm khí vị thiền:

“Chuông xưa vắng tiếng người không biết, Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.”

(Nhớ núi Đọi 2, 134)

Bài thơ mang cái thanh tĩnh nơi cửa chùa, mơ hồ bảng lảng trong khói sương huyền thoại Con trâu xuất hiện như trong bức tranh mục đồng thổi sáo, chấm phá, điểm nét, thoát tục đúng không khí thiền của đạo Phật Điều đáng nói, con trâu và con người có sự giao cảm qua một giấc “ngủ gốc cây” Sự mập mờ của chủ thể đem đến suy tưởng: con trâu ngủ gốc cây hoặc con người ngủ gốc cây hoặc mơ hồ, đồng nhất, không phân định Vật và người chẳng qua là những biến thể khác nhau của một bản thể gốc nên sự nhòe mờ trong lằn ranh ngăn cách cũng là điều dễ hiểu

Thơ Nguyễn Khuyến đã tạo dựng được cả một thế giới sinh loài sống động, phong phú Động thực vật trong thơ ông chính là một phần không thể tách rời của đời sống con người, mang linh hồn sống động, thể hiện sự gắn bó sâu sắc, nếp sinh hoạt gần gũi của con người Nhà thơ không cảm nhận thế giới sinh loài như một triết nhân, như một tao nhân mặc khách mà ông sống là một con người đời thường giữa sự phong phú của sự sống muôn loài Sự chan hòa, gắn bó với sinh loài của Nguyễn Khuyến không phải là sự gắn bó của những người bạn tri âm, tri kỷ, mà là

sự gắn bó tự nhiên, hồn hậu như hơi thở, như nước uống hàng ngày Có lẽ, đó chính

là sự gắn bó máu thịt, thân thiết nhất giữa con người với tự nhiên

2.1.2 Thế giới phi sinh

Thế giới vô sinh trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến cũng sống động vô cùng

Có thể chia thế giới ấy thành ba loại cơ bản là không khí, đất và nước với các biến

thể khác nhau

2.1.2.1 Không khí

Không khí là lớp khí rất dày bên ngoài bao phủ toàn bộ bề mặt của trái đất Không khí không màu, không mùi, không vị

Trang 37

Trong thơ Nguyễn Khuyến, không khí trước hết được hiện hình trong hình ảnh bầu trời Bầu trời có khả năng khơi gợi tưởng tượng về một không gian vô tận của tự nhiên và suy tưởng của nó, bởi đó là chiều cao, chiều rộng và cả chiều sâu, bởi nó hướng về một viễn tưởng xa xôi Thống kê cho thấy, hình ảnh bầu trời xuất hiện 10 lần trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến

Bầu trời gắn với môi trường sống của thế giới sinh loài phong phú Bầu trời đem lại sự sống cho thế giới động, thực vật làng quê, trong đó có con người:

“Vừa gặp buổi trời xanh gió mát Đường cỏ non xanh ngát chim gù”

(Mừng cụ Đặng Tự Ý bảy mươi tuổi, 153)

Câu thơ ngỡ tưởng chỉ là miêu tả bầu trời, thiên nhiên, nhưng đọc kỹ ta thấy trong tự nhiên có dấu ấn sự xuất hiện của con người với cái nhìn tri giác “trời xanh gió mát” Vì bầu trời cao rộng, đẹp đẽ nên thế giới sinh loài cũng thật thanh bình,

êm ả: cỏ thì non xanh, tiếng chim gù tha thiết Sâu xa hơn, “cỏ non xanh” “chim gù”

là cái nhìn, sự cảm nhận của con người về tự nhiên Như thế, không gian bầu trời đã đem đến cho con người niềm vui sống, thái độ sống hòa hợp với tự nhiên, qua tự nhiên mà thấy được tâm hồn phóng khoáng, an nhiên của con người

Bầu trời còn gắn với cuộc sống, quan niệm sống của con người thời trung đại Nguyễn Khuyến nhìn trời mà biết thời tiết:

“Dở trời mưa bụi còn hơi rét”

(Chợ đồng, 134)

Con người nhìn vào trời mà sống, mà trông đợi như một yếu tố linh thiêng,

kỳ bí Bầu trời – ông trời theo quan niệm xưa vốn có quyền năng vạn phép, có khả năng tạo ra lẽ biến hóa, vận hành sự sống, sự tồn tại, phát triển của con người Bởi thế, con người có tâm lý phụ thuộc vào trời, trông trời, kêu trời, than trời:

“Vắt tay ngảnh mặt trông trời”

(Ông Phỗng đá, 138)

“Trời đã sinh ta ắt có ta”

(Vịnh lụt, 130)

Trang 38

Bầu trời trong thơ Nguyễn Khuyến cũng có lúc trở nên thật gần gũi Nguyễn Khuyến “giải thiêng” tấm áo tâm linh để tả bầu trời thật hóm hỉnh:

“Chót vót trên này có một tao Nào tao có muốn nói đâu nào

Da tao xanh ngắt pha đen trắng Chỉ tại dì Oa vá váy vào”

(Trời nói, 180)

“Trời nói” xưa nay là “sấm truyền”, là huyền bí Theo Luận ngữ của Lão Tử,

trời không nói mà vạn vật vẫn cứ xoay vần, sinh hóa, thuận theo tự nhiên “Vô ngôn” “vô vi” mà “vô bất vi” Nguyễn Khuyến “giải thiêng” cả lời Lão Tử, để cho

“trời nói”, nghĩa là không thể “vô ngôn” “vô vi” được nữa Trời không nói thì chớ, chứ đã nói thì thật ngạo nghễ, cao ngạo, từ cách xưng hô “tao” tới tư thế “chót vót” tót vời Nói mà lại phân bua “không muốn nói”, như thế là bị “ép nói” vì phải nói để giải thích cái kệch cỡm, lố lăng của màu sắc pha lẫn trắng đen

Nhiều nhất trong thơ Nguyễn Khuyến là hình ảnh bầu trời gắn với tâm hồn rộng mở, thoáng đạt của thi nhân theo lối “thiên – nhân hợp nhất”

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”

(Vịnh mùa thu, 136)

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”

(Câu cá mùa thu, 136)

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”

(Uống rượu mùa thu, 137)

Bầu trời trong xanh vốn là hình ảnh đặc trưng của mùa thu Bắc Bộ Đó là hình ảnh nên thơ, hiền dịu, trong sáng trong tâm cảm của nhiều người Ở cả ba bài thơ, Nguyễn Khuyến đều dùng tính từ “xanh ngắt” để tả bầu trời “Xanh ngắt” diễn

tả màu xanh cực độ, xanh cao vời vợi, xanh trong thăm thẳm Không khí mùa thu se sắt như được thanh lọc, đẩy bầu trời cao hơn, xanh hơn, đẹp hơn Ta như thấy ẩn trong đó cái nhìn dõi theo của thi nhân đến vô cùng vô tận Tâm hồn con người cũng mở rộng theo bầu trời Khoảng cao xanh kia dường như còn nguyên dấu vết

Trang 39

của một môi trường sinh thái làng quê vĩnh hằng ngàn đời Nhà thơ đã thấu nhập cái

“tôi” vào vũ trụ, tan vào những yếu tố bản nguyên của sự sống

Biến thể thứ hai của không khí là gió bởi gió vốn là sự chuyển dịch các khối không khí trong tự nhiên Gió xuất hiện 9 lần trong thơ Nguyễn Khuyến Nguyễn Khuyến tả hoạt động, trạng thái của gió một cách cụ thể Khi “gió lọt”, lúc “gió lùa”, khi lại “hây hẩy”:

“Gió lùa cửa cống bèo man mác”

(Gái góa than lụt, 103)

“Ôm tiu, gối mõ ngáy khò khò Gió lọt phòng thiên mát mẻ cô”

(Bỡn cô tiểu ngủ ngày, 103)

“Gió hây hẩy nức mùi hương xạ”

(Chơi Tây Hồ, 116)

Thơ Nguyễn Khuyến không có bão hay cuồng phong Ngọn gió trong cảm nhận của ông vẫn mát lành, dịu nhẹ, mang hơi thở tươi mát của bản hòa tấu đồng quê Gió như một con người có hành động, có cử chỉ, lúc như xua đuổi, lúc như trêu đùa, bất ngờ, lúc như tình tứ, nồng nàn Ngọn gió vô hình mà cũng mang cả sự sống bên trong Gió không chỉ làm dịu mát không gian làng quê mà quan trọng hơn, gió xoa dịu tâm hồn thi sỹ Ngọn gió trong lành của môi trường sinh thái thôn quê trở thành nguồn nuôi dưỡng, vỗ về cho tâm hồn khi trở về

Đôi khi, gió trong thơ Nguyễn Khuyến còn là ngọn gió thời gian Nhà thơ cảm nhận gió theo mùa:

“Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khăn Tính thương hải tang điền qua mấy lớp?”

(Trở về vườn cũ, 119)

“Gió thu hiu hắt đượm màu sương”

(Gửi ông đốc học Ngũ Sơn, 162)

Thơ Nôm Nguyễn Khuyến thường có gió đông lạnh lẽo, gió thu hiu hắt Đó

là những cơn gió cuộc đời lạnh buốt, tê tái trong buổi trở về, trong cảnh đời loạn

Trang 40

Gió không đem tới niềm vui mà chỉ gợi giọt nước mắt, gợi mái tóc pha sương Gió héo hon cả thời gian, gió ngỡ ngàng đã qua bao bể dâu cuộc đời Ngọn gió tâm hồn tác giả trĩu nặng nỗi niềm thế sự, trĩu nặng sự bất lực, nhỏ bé của con người trước thời gian vĩnh hằng miên viễn, trước cuộc đời thương hải tang điền

Như vậy, khái niệm không khí vốn trừu tượng, vô hình nhưng với hai biến thể bầu trời và gió, Nguyễn Khuyến đã khiến không khí trở nên thật gần gũi, thân thuộc Không khí vừa là, môi trường sống của con người và hệ động, thực vật; vừa gợi lên không gian quê kiểng đặc trưng trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến

2.1.2.2 Đất – Nước

Cặp đôi đất - nước là một trong những mẫu gốc trong quan niệm âm - dương của người Việt Đất - nước là môi trường sống cơ bản của thế giới sinh loài Thơ Nguyễn Khuyến không chỉ nói tới đất, nói tới nước mà có rất nhiều bài hai hình tượng đó được ghép sóng đôi, đồng nhất

Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt Trái Đất, có khả năng hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng sự sống động vật từ các vi sinh vật tới các loài động vật nhỏ Đất là môi trường sống phổ biến, dễ nhận diện và quan sát nhất Biến thể của đất là đồng ruộng hay gò, bãi, đá, núi,…

Đất là không gian sống của con người Đất gắn với sở hữu, gắn với sinh hoạt, chăn nuôi của người dân quê

“Hầu lẽ mấy người, con cái nhỏ,

Bò cày một chiếc, ruộng vườn ba.”

(Tặng người làng ra làm quan, 147)

“Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”

(Bạn đến chơi nhà, 149)

Đất gắn với những câu chuyện vui buồn của làng trên, xóm dưới:

“Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại lôi ông bỏ giữa đồng”

(Hỏi thăm quan tuần mất cướp, 161)

Ngày đăng: 07/07/2022, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (chủ biên) (1997), Từ điển văn học Vệt Nam từ ngồn gốc đến hết thế kỷ XIX, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Vệt Nam từ ngồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
5. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) (1994), Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
6. Nguyễn Đình Chú (chủ biên) (1990), Tác giả văn học Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Chú (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
7. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề lí luận của văn học so sánh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận của văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
8. Xuân Diệu (1998), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Xuân Diệu (1971), Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Khuyến
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1971
10. Nguyễn Tài Đông, “Nền tảng Nho giáo của tư tưởng xã hội hài hòa”, http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/nen_tang_nho_giao_cua_tu_tuong_xa_hoi_hai_hoa-2.html (ngày truy cập 12/8/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nền tảng Nho giáo của tư tưởng xã hội hài hòa”
11. Phan Cự Đệ (1984), Tác phẩm và chân dung, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1984
12. Nguyễn Đăng Điệp, “Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa”, http://vannghequandoi.com.vn/Phe-binh-van-nghe/Tho-moi-tu-goc-nhin-sinh-thai-hoc-van-hoa-4743.html (ngày truy cập: 15/8/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa
13. Hà Minh Đức (chủ biên) (1996), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
15. Dương Quảng Hàm (1941), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1941
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1991), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
17. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lí luận văn học – vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học – vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
19. Hồ Sĩ Hiệp (1997), Nguyễn Khuyến phê bình bình luận văn học, NXB Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến phê bình bình luận văn học
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 1997
20. Đỗ Đức Hiểu ( 1999 ), Đổi mới đọc và bình văn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đọc và bình văn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
21. Đỗ Đức Hiểu ( 2000 ), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
22. Đỗ Văn Hiểu (2016), “Tính khả dụng của phê bình sinh thái”, tạp chí Lí luận phê bình văn học nghệ thuật, số tháng 9 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tính khả dụng của phê bình sinh thái
Tác giả: Đỗ Văn Hiểu
Năm: 2016
23. Đỗ Văn Hiểu, “Phê bình sinh thái một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới”, https://phebinhvanhoc.com.vn/phe-binh-sinh-thai-mot-khuynh-huong-nghien-cuu-van-hoc-moi/ (ngày truy cập 16/8/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ở đây, chúng tôi mô hình hóa bài thơ Vịnh mùa thu để cho thấy sự thuần thục, khéo léo của nhà thơ trong việc xây dựng cấu trúc thi phẩm theo đặc trưng thơ Đường: - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
y chúng tôi mô hình hóa bài thơ Vịnh mùa thu để cho thấy sự thuần thục, khéo léo của nhà thơ trong việc xây dựng cấu trúc thi phẩm theo đặc trưng thơ Đường: (Trang 67)
STT Hình ảnh Số lần - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh Số lần (Trang 100)
STT Hình ảnh Số lần - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh Số lần (Trang 101)
STT Hình ảnh Số lần - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh Số lần (Trang 102)
STT Hình ảnh Số lần - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh Số lần (Trang 103)
STT Hình ảnh Số lần - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh Số lần (Trang 104)
Phụ lục 2. Bảng khảo sát thế giới vô sinh trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến STT  Hình ảnh - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
h ụ lục 2. Bảng khảo sát thế giới vô sinh trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến STT Hình ảnh (Trang 105)
– Bƣớc 2: Set chuẩn, nhấn phím ta b, bảng điều khiển bằng tay xuất hiện, chỉnh tốc độ và di chuyển 3 trục đến vị trí cần rà ( ghi lại tọa độ tại những  điểm đó) - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
c 2: Set chuẩn, nhấn phím ta b, bảng điều khiển bằng tay xuất hiện, chỉnh tốc độ và di chuyển 3 trục đến vị trí cần rà ( ghi lại tọa độ tại những điểm đó) (Trang 105)
STT Hình ảnh - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh (Trang 106)
STT Hình ảnh - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh (Trang 108)
STT Hình ảnh - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh (Trang 109)
STT Hình ảnh - Không  gian  làng quê trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nhìn từ phê bình sinh thái
nh ảnh (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w