Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở THCS, những tác phẩm viết về hình tượng người phụ nữ khá nhiều và cũng là một chủ đề nổi bật ở mọi giai đoạn văn học từ văn học dân gian đến vă
Trang 1UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÀ THỊ BÍCH THỦY
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC VIẾT VIỆT NAM QUA SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số:8220120
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Thị Bích Hồng
Phú Thọ, năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài Hình tượng người phụ nữ trong văn học viết Việt Nam qua sách Ngữ văn Trung học cơ sở là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Phú Thọ, ngày 16 tháng 6 năm 2018
Người viết luận văn
Hà Thị Bích Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Hùng Vương
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới TS Đặng Thị Bích Hồng Cô đã nhiệt tình, chu đáo giúp đỡ tôi hoàn thành luận này
Tôi mong luận văn sẽ nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô
và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày 16 tháng 6 năm 2018
Người viết luận văn
Hà Thị Bích Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.2 Những nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT 9
VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ 9
TRONG SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ 9
1.1 Khái quát về hình tượng nghệ thuật 9
1.1.1 Khái niệm hình tượng nghệ thuật 9
1.1.2 Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật 11
1.2 Sự xuất hiện của hình tượng người phụ nữ trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở 14
1.2.1 Bộ phận văn học trung đại Việt Nam 14
1.2.2 Bộ phận văn học hiện đại Việt Nam 16
Tiểu kết 18
Chương 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC 19
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM QUA SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ 19
2.1 Hình tượng người phụ nữ nhìn từ ý thức hệ phong kiến 19
2.1.1 Người phụ nữ và chuẩn mực tứ đức 19
2.1.2 Người phụ nữ và khát vọng tình yêu 28
2.1.3 Người phụ nữ và khát vọng khẳng định bản thân 32
2.2 Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam 37
Trang 52.2.1 Người phụ nữ và sự bất hạnh trong gia đình 38
2.2.2 Người phụ nữ và sự bất hạnh ngoài xã hội 40
2.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ trong văn học trung đại 44
2.3.1 Bút pháp ước lệ 45
2.3.2 Nghệ thuật tạo dựng yếu tố kỳ ảo trong truyện truyền kỳ 47
2.3.3 Nghệ thuật kể chuyện trong truyện Nôm 50
Tiểu kết 53
Chương 3 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC 54
HIỆN ĐẠI VIỆT NAM QUA SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ 54
3.1 Hình tượng người phụ nữ nhìn từ vẻ đẹp mẫu tính 54
3.1.1 Người phụ nữ: hiện thân của đức hi sinh 54
3.1.2 Người phụ nữ: hiện thân của tình yêu thương 59
3.2 Hình tượng người phụ nữ thời đại mới 64
3.2.1 Người phụ nữ và năng lực phản kháng 64
3.2.2 Người phụ nữ như là biểu tượng Mẹ Tổ quốc 67
3.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ trong văn học hiện đại 72
3.3.1 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 72
3.3.2 Nghệ thuật miêu tả chân dung, tính cách 77
Tiểu kết 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Đã từ rất lâu người phụ nữ trở thành đề tài phổ biến của của các loại hình nghệ thuật như văn học, âm nhạc, hội hoạ… Nét đẹp đằm thắm, mặn mà, duyên dáng của họ đã làm cho giới nghệ sĩ và công chúng phải rung động trái tim yêu và tạo nên nguồn cảm hứng, sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ ca ngợi vẻ đẹp của người phụ
nữ dân tộc Đặc biệt từ khi nền văn học viết ra đời, hình tượng người phụ nữ đã thực
sự trở thành một đề tài lớn được tập trung khắc họa ở nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau Trong quá trình phát triển của lịch sử, có nhiều lúc, người phụ nữ phải chấp nhận bi kịch cay đắng, xót xa với số kiếp bị lệ thuộc, họ không làm chủ được cuộc đời của mình Nhưng theo thời gian, người phụ nữ đã vươn lên tự giải phóng bản thân, dành được quyền tự chủ, khẳng định vị thế là “một nửa thế giới” của mình
1.2 Dù trong lĩnh vực nào thì người phụ nữ đều có thể là trung tâm của đề tài nghiên cứu như trong bộ môn tâm lí học, sinh học, chính trị học, xã hội học và văn học… Ở mỗi môn khoa học, người phụ nữ lại mang những đặc điểm, dấu ấn của bộ môn, có thể là con người mang nghĩa sinh học, có thể là con người xã hội, trừu tượng… Trong nghiên cứu văn học, phụ nữ là sản phẩm của nghệ thuật – một
sự sáng tạo đặc biệt mang tính thẩm mĩ sâu sắc Tiếp cận hình tượng trong dòng chảy văn học Việt Nam qua từng thời kì, giai đoạn sẽ đem lại cái nhìn khát quát, toàn diện và sâu sắc về người phụ nữ
1.3 Nhiều tác phẩm viết về đề tài người phụ nữ trong văn học viết Việt Nam
đã trở thành những sáng tạo đỉnh cao, hội tụ cả vẻ đẹp về nội dung lẫn hình thức Ở thời kì văn học trung đại, người phụ nữ là một sự kết hợp hài hòa giữa tài- sắc- tâm,
có đức hạnh, có nhan sắc theo tiêu chuẩn tam tòng, tứ đức Đó là quan niệm thẩm mĩ
đã ăn sâu vào nếp nghĩ của con người trong thời đại ấy Hình tượng người phụ nữ trong giai đoạn văn học này chủ yếu xuất thân quý phái, danh gia vọng tộc Đến Hồ Xuân Hương, thơ mới có bóng dáng những người phụ nữ bình dân Tuy nhiên, cuộc đời người phụ nữ dù là bình dân hay danh gia vọng tộc thì cũng đều đầy rẫy những bẽ bàng, sóng gió, chẳng mấy ai có được hạnh phúc thực sự Sang văn học hiện đại, hình tượng người phụ nữ mang một diện mạo hoàn toàn mới Họ được giải phóng khỏi
Trang 7vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước Khi đất nước chìm trong đêm đen nô lệ, người phụ nữ cũng cùng chịu chung số phận khổ đau Khi toàn dân tộc vùng lên đấu tranh, họ cũng dũng cảm xông pha trên
cả mặt trận tiền tuyến lẫn hậu phương Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn này là hình tượng khá trọn vẹn và có tính chất lí tưởng
1.4 Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS), những tác phẩm viết về hình tượng người phụ nữ khá nhiều và cũng là một chủ đề nổi bật ở mọi giai đoạn văn học từ văn học dân gian đến văn học viết Có rất nhiều những cây đại thụ với những tác phẩm văn học lớn viết về hình tượng người phụ nữ được tuyển chọn vào chương trình như : Nguyễn Du, Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương, Nguyên Hồng, Bằng Việt, Nguyễn Minh Châu… Các tác phẩm văn chương viết về người phụ nữ bao giờ cũng thu hút sự quan tâm đặc biệt cả từ phía độc giả lẫn người nghiên cứu
1.5 Là một giáo viên Ngữ văn THCS, tôi nhận thấy hình tượng người phụ
nữ trong văn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong nội dung giảng dạy và học tập ở cấp học Việc nghiên cứu một cách hệ thống về hình tượng người phụ nữ có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng các chủ đề dạy học, tạo ra cái nhìn toàn diện về người phụ nữ trong văn học xưa nay với sự phát triển qua các thời kỳ Tuy nhiên, cho tới nay, sự nghiên cứu, tìm hiểu về hình tượng người phụ nữ còn rải rác, chưa đầy đủ
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Hình tượng người phụ nữ trong văn học viết Việt Nam qua sách Ngữ Văn trung học cơ sở Thực hiện đề tài này,
chúng tôi hướng đến khái quát cơ sở lí thuyết về hình tượng văn học, từ đó phân tích những độc đáo ở hình tượng người phụ nữ qua hai thời kỳ văn học trung đại và hiện đại Chúng tôi cũng hi vọng đóng góp một cách nhìn mới trong công tác giảng dạy các tác phẩm văn học về đề tài người phụ nữ trong nhà trường phổ thông nói riêng và nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ
Hình tượng người phụ nữ không phải là một đề tài mới trong văn học Có nhiều đề tài luận văn, khóa luận đã tập trung nghiên cứu về hình tượng người phụ
Trang 8nữ với những phạm vi khác nhau, vô cùng phong phú
Hình tượng người phụ nữ trong văn học của các nước trên thế giới nói chung
đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các đề tài khoa học ở nhiều cấp khác nhau
như khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ Có thể kể tới các công trình như “Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn” (2013) – khóa luận của Nguyễn Thị
Tú, Đại học Tây Bắc, Sơn La; “Hình tượng người phụ nữ trong một số tiểu thuyết Kawabata” (2013) – khóa luận của Võ Kim Chọn, Đại học Cần Thơ, Cần Thơ;
“Hình tượng người phụ nữ trong văn học hiện đại Hàn Quốc qua cái nhìn của nhà văn nữ” (2012) - Luận văn thạc sĩ của Cao Thị Lan, Đại học Sư phạm Thành phố
Nguyễn Hoàng Thịnh trong Luận văn thạc sĩ “Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX” (2012), Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chú Minh đánh giá: “Thay đổi đáng ghi nhận là sự mở rộng nội dung về phía đời sống, đưa văn học ngày càng gần gũi, gắn bó với quần chúng Cùng với đó, các nhân vật nữ cũng xuất hiện trong thơ trữ tình với tần suất ngày một nhiều hơn theo chiều dọc tiến trình văn học viết (đặc biệt là ở bộ phận thơ Nôm từ nửa sau thế
kỷ XVIII) Người phụ nữ đã xuất hiện trong văn học viết (bao gồm trong thơ trữ tình) ngay từ những thế kỷ đầu và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình, góp phần hoàn chỉnh diện mạo văn học dân tộc” [45;30]
Trong Luận văn thạc sĩ “Vấn đề thân phận người phụ nữ trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX” (2012), Đại học KHXH&NV, Hà Nội, tác
giả Nguyễn Trà My cho rằng: “Trước thế kỷ XVIII, các nhân vật nữ trong thơ xuất
Trang 9hiện mơ hồ, ngầm ẩn, trong truyện tuy có rõ hơn nhưng tính cách, số phận rập khuôn dưới góc độ của Nho giáo… Các nhân vật nữ ở giai đoạn này (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX) lại khác Họ được đề cao không chỉ ở đức hạnh mà còn tài năng và sắc đẹp, họ quý trọng tuổi trẻ và tình yêu nhiều hơn là danh tiết” [29;17]
Luận văn thạc sĩ “Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực Văn Đoàn” (2011) của Phạm Thanh Tùng, Đại học KHXH&NV,
Thành phố Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận hình tượng người phụ nữ nhưng chủ yếu ở góc độ tính nhân văn để thấy được khao khát sống, quyền sống của người phụ nữ thời hiện đại
Luận văn thạc sĩ “Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975” (2011) của Nguyễn Thị Thu Lan, Đại học Đà Nẵng khu biệt
đối tượng nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của một tác giả cụ thể
- nhà văn Nguyễn Minh Châu Tác giả nhận ra rằng: “Bên cạnh hình tượng người lính với chân dung nối tiếp các thế hệ, người nông dân với bản chất cố hữu được khắc họa đầy ấn tượng, ngòi bút Nguyễn Minh Châu còn dành nhiều tâm huyết biểu hiện hình tượng người phụ nữ với những phẩm chất và đức hi sinh cao cả, sâu lắng
vẻ đẹp nhân văn” [23;3]
Trong luận án tiến sĩ “Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2017), Đại học Sư phạm Hà Nội, bên cạnh việc nhận diện
văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình diễn ngôn, phân tích diễn ngôn
về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam như một hệ thống tu
từ, tác giả Nguyễn Thị Vân Anh còn phân tích diễn ngôn về giới nữ nhìn từ hai góc
độ là chiến lược giao tiếp và trật tự diễn ngôn Tác giả khái quát: “Bước vào địa hạt văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa, người phụ nữ hiện lên khép kín trong khuôn
khổ vai chức năng - xã hội của mình, bao gồm: vai Mẹ - Chiến sĩ, Mẹ - Tổ quốc, Chúng con - Anh hùng và Kẻ lầm đường, lạc lối Mặt nạ ngôn ngữ hay vai diễn
ngôn của nữ giới là người chiến thắng đã được giác ngộ chân lí cao độ Tuy nhiên, vai diễn ngôn của người nữ trong khu vực văn học này chỉ đóng vai trò là dàn đồng
ca mang tính chất phụ họa theo phát ngôn chính thống của người lĩnh xướng là nam giới Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng có khả năng tạo ra nhiều tiếng nói về
Trang 10giới nữ song về cơ bản đó là tiếng nói độc điệu, đồng thuận chứ không có sự phân hóa thành những bè điệu phức tạp Nhìn một cách khái quát, giới nữ trong bộ phận
văn học này có xu hướng nam hóa đậm nét và bước vào phạm vi diễn ngôn chính
thống như những người anh hùng bất khuất của thời đại Họ là hậu phương vững tay súng, chắc tay cày và trở thành điểm tựa vững chắc cho người nam giới nơi tiền tuyến Chân dung người phụ nữ ở đây chủ yếu được khắc họa trong vai trò con người công dân, con người xã hội theo đúng nguyên tắc sáng tác của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Cũng do vậy, các phương diện thuộc về con người đời tư, con người
cá nhân, đặc biệt là bản năng tính dục hay những nỗi bi thương khắc khoải của họ thường bị bỏ qua, thậm chí biến thành luật lệ cần kiêng tránh trong diễn ngôn văn học” [1;147-148]
Điểm qua một vài công trình nghiên cứu như vậy, có thể thấy, hình tượng người phụ nữ trong văn chương đông tây, kim cổ đã trở thành đối tượng phổ biến của nghiên cứu văn học Nhìn chung, các đề tài này đều căn cứ vào bối cảnh thời đại để nhìn nhận, đánh giá người phụ nữ trên các phương diện phẩm chất, tính cách,
số phận và chỉ ra các phương tiện nghệ thuật được sử dụng để khắc họa hình tượng người phụ nữ Đây là những gợi mở quan trọng, những hướng tiếp cận phù hợp để chúng tôi vận dụng trong đề tài nghiên cứu của mình
2.2 Những nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong sách Ngữ văn Trung học
cơ sở
Trong các công trình nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam, chúng tôi nhân thấy, các tác giả cũng đã ít nhiều đề cập tới những tác phẩm, hình tượng đi vào chương trình giáo dục phổ thông nói chung và sách Ngữ văn THCS nói riêng
Ở Luận văn “Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975” (2011), tuy phạm vi nghiên cứu là sáng tác của Nguyễn Minh
Châu nói chung nhưng Nguyễn Thị Thu Lan cũng đề cập tới hình tượng nhân vật
Liên trong tác phẩm “Bến quê” như là biểu tượng của lòng chung thủy Đức tính
truyền thống tốt đẹp ấy trở thành bến đỗ bình yên cho biết bao gia đình, tạo nên nét đặc trưng của cuộc sống và tâm hồn Việt
Trang 11Nguyễn Thị Vân Anh trong Luận án Tiến sĩ của mình đã nhận ra: “trong văn học trung đại, có không ít trường hợp nữ giới bước ra khỏi không gian buồng khuê để nhập vào không gian xã hội Thực chất, đa phần họ không chủ động bước
ra mà là bị hoàn cảnh xô đẩy Do vậy, khi ra ngoài cánh cửa khuê phòng, họ
thường bị rơi vào không gian lưu lạc - thời gian đằng đẵng, cắt chia Họ phiêu dạt
đến những nơi như đầu cầu, đầu quán, lầu xanh sống kiếp phong trần và trở thành nạn nhân bi kịch Có thể thấy rõ đặc điểm này qua số phận của một số nhân
vật tiêu biểu như Đào Hàn Than trong Nghiệp oan của Đào Thị (Nguyễn Dữ), Lệ Nương trong Truyện Lệ Nương (Nguyễn Dữ), Thúy Kiều trong Truyện Kiều
(Nguyễn Du)” [1;114-115]
Chúng tôi nhận thấy, cho đến nay, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hình tượng người phụ nữ trong văn học viết Việt Nam qua chương trình Ngữ văn trung học cơ sở Rải rác trên các nguồn tài liệu chỉ có một số bài viết tản mạn dưới dạng bài văn của học sinh hoặc các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi, các sáng kiến kinh nghiệm mang quy mô nhỏ của các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn Luận văn của chúng tôi lần đầu tiên nghiên cứu hệ thống, toàn diện về vấn đề này Các công trình nghiên cứu
đi trước là những gợi dẫn quý báu để chúng tôi triển khai đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát lý thuyết về hình tượng văn học, đề tài hướng tới xác định các đặc điểm của hình tượng người phụ nữ Việt Nam được phản ánh trong các tác phẩm văn học Việt Nam thời kỳ trung đại và hiện đại được lựa chọn đưa vào Sách giáo khoa Ngữ văn THCS Từ đó, chúng tôi chỉ ra sự vận động, phát triển của hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh xã hội xưa và nay
Để đạt được mục đích này, đề tài giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm và vấn đề văn học sử có liên quan đến đề tài Thứ hai, khảo sát và hệ thống hóa các tác phẩm viết về hình tượng người phụ
nữ trong văn học viết Việt Nam qua chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở với hai
bộ phận: văn học trung đại và văn học hiện đại
Thứ ba, phân tích các đặc điểm của người phụ nữ trong từng thời kỳ cũng như thấy được các hình thức nghệ thuật phản ánh hình tượng ở mỗi thời kỳ văn học
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong văn học viết Việt Nam qua chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn dựa trên bộ Sách giáo khoa lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9 của NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2014 để khảo sát và tìm hiểu hình tượng người phụ nữ Trong quá trình tiến hành khảo sát, chúng tôi sẽ so sánh với các tác giả, tác phẩm khác viết về người phụ nữ nằm ngoài chương trình Sách giáo khoa để có cái nhìn toàn diện hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, khi thực hiện đề
tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử - xã hội: Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển
của văn học Việt Nam qua các thời kỳ, đồng thời tìm hiểu, đánh giá về các tác phẩm viết về người phụ nữ trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở Qua đó xem xét ảnh
hưởng của thời đại đến hình tượng nhân vật trong từng giai đoạn văn học
Phương pháp hệ thống: Đặt các tác phẩm nghiên cứu vào hệ thống, tiến trình
văn học để làm nổi bật những đặc điểm chung của hình tượng
Phương pháp tổng hợp: Sưu tầm và tìm hiểu các tác phẩm khác trong mối tương
quan thời đại để có cái nhìn chính xác, đầy đủ về hình tượng nhân vật
Phương pháp so sánh: tạo ra tương quan so sánh nhằm chỉ ra sự tiếp nối
cũng như những sáng tạo mới mẻ riêng biệt của đối tượng nghiên cứu
Phương pháp liên ngành, vận dụng hiệu quả các môn khoa học liên ngành (lịch sử học, văn hóa học…) nhằm giúp cho vấn đề được nhìn nhận bao quát và
chính xác hơn
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này không tách rời mà bổ sung cho nhau để làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra
Trang 136 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm
ba chương:
Chương I: Khái quát về hình tượng nghệ thuật và sự xuất hiện của hình
tượng người phụ nữ trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở
Chương II: Hình tượng người phụ nữ trong văn học trung đại qua sách Ngữ
văn Trung học cơ sở
Chương III: Hình tượng người phụ nữ trong văn học hiện đại qua sách Ngữ
văn Trung học cơ sở
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT
VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Khái quát về hình tượng nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm hình tượng nghệ thuật
Hình tượng nghệ thuật là một thuật ngữ quan trọng, quen thuộc của lí luận văn học Khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên cách đây hơn 2000 năm Từ thời Hi Lạp cổ đại, các nhà triết học đã bàn đến hình tượng Platon, Aristotle quan niệm hình tượng nghệ thuật là cách mô phỏng thế giới khách quan Họ gọi nghệ thuật là
sự mô phỏng tự nhiên và xã hội Các loại hình nghệ thuật có khả năng tái tạo lại các hiện tượng riêng lẻ trong thế giới thực tại
Tư tưởng của Aristotle tiếp tục được kế thừa ở các giai đoạn sau của nghệ thuật phương Tây Trải qua các thời kỳ từ trung cổ đến cận hiện đại với nhiều trường phái như Rômăng, Gôtíc, Cổ điển, Barốc, Lãng mạn, Hiện thực, Tự nhiên,
Ấn tượng… nghệ thuật chính thống luôn đề cao nguyên tắc “giống như thật” của hình tượng nghệ thuật theo tinh thần của Aristotle
Sau này, Hegel – nhà triết học người Đức chia nhận thức của con người thành ba nhóm: triết học, tôn giáo và nghệ thuật, trong đó, triết học nhận thức thông qua khái niệm, tôn giáo nhận thức thông qua biểu tượng còn nghệ thuật nhận thức thông qua hình tượng Hegel đã phản đối quan niệm của Aristotle, phản đối nghệ thuật sao chép, làm giống như thật các đối tượng của tự nhiên Với Hegel, hình tượng văn học để cho con người thể nghiệm một ý niệm phổ quát về tinh thần
Còn Bêlinxki – nhà phê bình Nga thì phân biệt cụ thể hơn Theo Bêlinxki, nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà kinh tế chính trị được võ trang bằng các số liệu thống kê tác động đến trí tuệ của người đọc và người nghe, còn nhà thơ thì nói bằng các hình tượng và bức tranh…
Điểm qua một vài quan niệm như vậy, chúng ta có thể thấy, khái niệm hình tượng đã xuất hiện từ xa xưa Tuy các quan niệm bắt nguồn từ những góc nhìn khác
Trang 15nhau, thể hiện những quan điểm khác nhau, chưa đồng nhất, song tất cả đều thừa nhận phương thức phản ánh đặc thù của nghệ thuật đó là hình tượng
Có nhiều quan niệm về hình tượng nghệ thuật Có thể điểm qua một vài quan niệm tiêu biểu như sau:
Theo GS Nguyễn Văn Hạnh: “Văn chương, nghệ thuật nhận thức và tái hiện
cuộc sống bằng hình tượng, tức là một cách sinh động, cụ thể - cảm tính, có hình
khối, đường nét, màu sắc, âm thanh, chứ không phải một cách trừu tượng, bằng khái niệm như trong khoa học” [14;7]
Theo Lại Nguyên Ân, hình tượng nghệ thuật là “phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt, vốn có và chỉ có ở nghệ thuật Bất cứ hiện tượng nào được xây dựng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều là hình tượng nghệ thuật; thông thường và quan trọng nhất là hình tượng con người (hình tượng nhân vật)” [3;141] Ngoài ra, Lại Nguyên Ân còn đề cập tới một khái niệm nhỏ hơn
là hình tượng văn học, đó là: “dạng hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu
ngôn từ nghệ thuật; cũng gọi là hình tượng ngôn từ” [3;149]
Theo PGS.TS Trần Khánh Thành: “Hình tượng là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản ánh hiện thực khách quan Hình tượng nghệ thuật phản ánh tính khái quát, tính quy luật của hiện thực qua hình thức cái cá thể, độc đáo; nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, là đứa con tinh thần của nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống” [28;27]
GS Trần Đình Sử cho rằng “Đằng sau văn còn cả một thế giới hình tượng
Đó là hệ thống các hình tượng được dệt nên bởi các chi tiết, tình tiết, quan hệ, cho phép ta hình dung được sự hiểu biết và cảm nhận của tác giả đối với thế giới và con người” [36;104] “Hình tượng nghệ thuật là nền tảng của ý thức nghệ thuật, là phạm
vi hoạt động thẩm mỹ của con người Hình tượng nghệ thuật là cái tính chất làm cho tác phẩm trở thành tác phẩm nghệ thuật” [38;57]
Theo Giáo trình lí luận văn học “Kết quả của quá trình tư duy nghệ thuật đầy sáng tạo là xuất hiện một hình tượng nghệ thuật dưới dạng một tác phẩm Hình tượng trong tác phẩm tách khỏi hoạt động tinh thần của nhà văn đã tồn tại như một
sự thực văn hóa xã hội” [28;138]
Trang 16Như vậy, có thể thấy hình tượng nghệ thuật là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong lí luận văn học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm lí giải, làm rõ Căn cứ vào các khái niệm trên, có thể thấy:
- Phạm trù hình tượng là một phạm trù mang tính khái quát phản ánh tính hệ thống của các khái niệm, phạm trù qui luật về đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Vì tất cả những lý giải về nghệ thuật đều xuất phát từ vấn đề hình tượng
- Hiểu theo nghĩa rộng, hình tượng nghệ thuật là phương thức phản ánh đời sống đặc thù của tất cả các loại hình nghệ thuật Phương thức phản ánh này là cơ sở
để phân biệt nghệ thuật với khoa học và các hình thức ý thức xã hội khác Theo nghĩa hẹp, khái niệm hình tượng được hiểu là hình tượng cụ thể về một con người, một tập thể người, một con vật, đồ vật hay một cảnh sắc thiên nhiên, một cảnh sinh hoạt lao động thường ngày… trong một tác phẩm cụ thể Đi vào tác phẩm nghệ thuật, tất cả các yếu tố chuyển tải những quan niệm sống, những trải nghiệm cuộc đời, những triết lý nhân sinh đều có khả năng trở thành hình tượng
Có thể khẳng định, lí luận về hình tượng sẽ giúp người đọc nhận diện được những phương diện hiện thực mà nhà văn phản ánh trong tác phẩm, đồng thời thấy được chiều sâu tư tưởng, tình cảm trong mỗi người nghệ sỹ Đến với tác phẩm nghệ thuật, độc giả một mặt được thưởng thức cái đẹp, được tiếp cận với nguồn tri thức rộng lớn của nhân loại, mặt khác được tiếp nhận những chân lí về đời sống thông qua hình tượng nghệ thuật
1.1.2 Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật
Về cơ bản, hình tượng nghệ thuật có ba đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, hình tượng nghệ thuật có sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan
Hình tượng nghệ thuật trước hết phải xuất phát từ đời sống khách quan Trước đây, có không ít quan niệm cho rằng nghệ thuật bắt nguồn từ thần thánh, kì
bí, siêu hình Con người nhờ có thần mách bảo, thần nhập mới có thể sáng tác ra các tác phẩm nghệ thuật, chứa đựng những hình tượng nghệ thuật đặc sắc Tuy nhiên, cùng với thời gian, sự phát triển trong tư duy nhận thức của loài người đã khẳng định, nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật được nảy nở, bắt nguồn từ chính mảnh đất
Trang 17hiện thực đời sống Ở bất cứ thời kỳ nào, nghệ thuật bao giờ cũng đi liền với đời thực, cũng bám sát vào các vấn đề của đời sống Mỗi nền văn nghệ đều hình thành trên một bối cảnh hiện thực nhất định Ngay cả những xu hướng sáng tạo tưởng chừng đoạn tuyệt với nền tảng hiện thực như tượng trưng, siêu thực, huyền ảo… suy cho cùng vẫn không cắt đứt hoàn toàn sợi dây liên hệ với những nhịp đập của thời đại
Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, hình tượng nghệ thuật không đơn thuần là
sự tái hiện máy móc những hiện tượng có thật trong đời sống Thông qua lăng kính chủ quan, thông qua bộ lọc của người nghệ sĩ, các vấn đề của đời sống được chọn lọc, sáng tạo để trở thành hiện thực thứ hai trong tác phẩm nghệ thuật Người nghệ
sỹ không rập khuôn một cách máy móc đối tượng mô tả mà phải nói lên được những nét bản chất nhất, qua đó khái quát được những quy luật của đời sống Bằng tài năng của mình, nghệ sỹ có khả năng biến những sự vật nhỏ bé, thậm chí là tầm thường trong đời sống trở thành các hình tượng nghệ thuật đặc sắc, tạo ra những tác động thẩm mĩ mạnh mẽ đến người tiếp nhận
Nghệ thuật còn là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Dấu ấn chủ quan của người nghệ sỹ thể hiện trong cách tiếp cận hiện thức, cách phát hiện vấn
đề và phương thức chuyển tải tư tưởng tình cảm qua hình tượng Vì thế, mỗi hình tượng nghệ thuật là một sản phẩm “duy nhất”, không lặp lại, mang tính cá nhân, mang tính thẩm mỹ và khái quát hóa cao
Như vậy, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ không thoát ly hiện thực mà bằng cách này hay cách khác sẽ tái tạo hiện thực và thể hiện tình cảm chủ quan đối với hiện thực ấy Hình tượng nghệ thuật chính là phương tiện, là cách thức để nghệ sĩ tái hiện đời sống và thể hiện tư tưởng chủ quan của mình
Thứ hai, hình tượng nghệ thuật là một chỉnh thể có sự thống nhất giữa tính
cụ thể và tính khái quát
Tính cụ thể trực tiếp là một đặc trưng quan trọng của hình tượng nghệ thuật Trong thực tế, mỗi sự vật, hiện tượng là một cá thể độc lập, cụ thể Tất cả đều tồn tại ở dạng riêng biệt Con người cũng không là ngoại lệ Mỗi cá nhân là một tồn tại
cụ thể, không lặp lại Do đó, sự phản ánh của nghệ thuật đối với các đối tượng trên
Trang 18phải mang tính cụ thể, đúng với đối tượng Thêm nữa, nếu các ngành khoa học phản ánh hiện thực cuộc sống bằng các khái niệm, các tiền đề, định lí hoặc công thức thì nghệ thuật phản ánh bằng hình tượng cụ thể Nếu qua hình thức phản ánh của khoa học ta thấy được cái chung, cái phổ quát chứ không hình dung được cụ thể cuộc sống một cách cảm tính thì trong nghệ thuật, chúng ta như được gặp gỡ với những con người, những tính cách, số phận riêng biệt, cụ thể
Tuy nhiên, tính cụ thể không tách rời tính khái quát Không chỉ là những tồn tại độc lập, riêng rẽ, mỗi sự vật, hiện tượng còn là một bộ phận trong chỉnh thể, liên
hệ với các sự vật, hiện tượng khác Vì vậy, mỗi sự vật, hiện tượng đều có sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng Nó vừa mang dấu hiệu chung, nét bản chất chung của các hiện tượng, cùng loại, vừa có những dấu hiệu cụ thể, cá biệt, không lặp lại ở bất cứ đối tượng nào Do vậy, người nghệ sỹ một mặt phải biết nắm bắt những nét chủ yếu thuộc về bản chất của sự vật, hiện tượng, mặt khác, phải khái quát hóa thành những quy luật, những nét chung của đời sống xã hội Nhờ sự thống nhất giữa tính cụ thể và tính khái quát, hình tượng nghệ thuật có khả năng tái hiện đời sống vừa có tính độc đáo, vừa có tính đại diện
Thứ ba, hình tượng nghệ thuật có sự thống nhất giữa tính tạo hình và tính biểu hiện
Tính tạo hình là một phẩm chất không thể thiếu được của hình tượng Tạo hình tức là tạo cho hình tượng một không gian, thời gian, đặt hình tượng vào những
sự kiện và những mối quan hệ khác nhau Nhờ có tính tạo hình mà hình tượng được hiện lên cụ thể qua chất liệu Tạo hình chính là phương tiện để biến cái vô hình thành cái hữu hình, biến cái trừu tượng thành cái cụ thể, tri giác được Không có tạo hình thì không có hình tượng Nhưng tạo hình nghệ thuật không có nghĩa là kể lể mọi chi tiết của đối tượng mà người nghệ sỹ chỉ chọn lọc những chi tiết ít ỏi nhất nhưng giàu sức biểu hiện nhất, tiêu biểu nhất cho một cuộc sống, một tình huống hay một tính cách Có thể nói, tạo hình trong nghệ thuật là một cấu tạo tập trung, dồn nén, mang tính ước lệ ở các mức độ khác nhau
Tạo hình không tách rời với biểu hiện Biểu hiện là khả năng bộc lộ cái sâu kín bên trong, cái bản chất của sự vật, hé mở những nỗi niềm khuất lấp trong tâm
Trang 19hồn Biểu hiện khiến cho hình tượng được toàn vẹn, đầy đặn, thể hiện được chiều sâu khôn cùng không nói hết của con người cũng như của chính người nghệ sỹ trước cuộc sóng
Sự thống nhất giữa tính tạo hình và tính biểu biện làm cho hình tượng có một hình thức nghệ thuật độc đáo Đó là một thể thống nhất sinh động giữa thống nhất
và đa dạng, giữa bên ngoài và bên trong, ổn định và biến hóa
Ngoài ra, có nhiều quan điểm khác về đặc trưng của hình tượng như hình tượng mang tính ước lệ, tính đa nghĩa, tính nghệ thuật… Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi chỉ cố gắng khắc họa những nét đặc trưng cơ bản nhất, mang ý nghĩa khái quát nhất của hình tượng, từ đó làm cơ sở, tiền đề để tiếp cận hình tượng người
phụ nữ trong văn học viết Việt Nam một cách khoa học, toàn diện
1.2 Sự xuất hiện của hình tượng người phụ nữ trong sách Ngữ văn Trung học
cơ sở
1.2.1 Bộ phận văn học trung đại Việt Nam
Là sản phẩm của hình thái ý thức xã hội, văn học trung đại Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử đã xây dựng những hình tượng nghệ thuật con người riêng Theo các nhà nghiên cứu, văn học trung đại Việt Nam phát triển qua bốn giai đoạn lớn
Giai đoạn đầu của văn học trung đại bắt đầu từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV Từ cuối thế kỉ X, dân tộc ta giành được quyền độc lập tự chủ và lập nhiều kì tích trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược chống quân Tống thế kỉ XI, chông quân Mông – Nguyên thế kỉ XIII Đây là thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Hình tượng con người nổi bật trong giai đoạn văn học này là con người sử thi, mang tầm vóc của người anh hùng với đầy chiến công lẫy lừng, với những phẩm chất, khí thế chung của cả thời đại Không chỉ có vậy, trong văn học còn xuất hiện hình tượng con người trí thức biết giữ khí tiết, mang phong thái của những hiền sĩ,
ẩn sĩ thoát tục, lánh đời Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, tuyệt nhiên không
có sự xuất hiện của hình tượng người phụ nữ Thời kỳ phong kiến phát triển, hệ tư tưởng Nho giáo giữ vai trò chủ đạo, độc tôn nên vai trò của người phụ nữ hoàn toàn
mờ nhạt Người phụ nữ không phải là đối tượng mô tả của văn học
Từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII, dân tộc Việt Nam tiếp tục làm nên nhiều
Trang 20kì tích: đầu thế kỷ XV là thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cuối thế kỷ này là sự phát triển tới đỉnh cao cực thịnh của chế độ phong kiến Bước sang thế kỉ XVI, chế độ phong kiến tuy bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng nhưng nhìn chung tình hình xã hội vẫn ổn định Bên cạnh hình tượng con người quan phương, con người lí trí theo khuôn mẫu của Nho gia, văn học giai đoạn này đã bắt
đầu xuất hiện những hình tượng phụ nữ đầu tiên Đó chính là trường hợp Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, mà Chuyện người con gái Nam Xương trong sách Ngữ văn
lớp 9 với nhân vật Vũ Nương là tiêu biểu
Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến có nhiều biến động và dần đi vào suy thoái, khủng hoảng Hệ tư tưởng Nho giáo dần trở nên lỗi thời, không bắt kịp với sự phát triển của thời đại Ý thức thị dân bắt đầu phát triển, làm nảy sinh tư tưởng tự do, hưởng lạc Đây là giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam Hình tượng con người được khám phá từ góc độ con người trần tục, con người tài, sắc, con người thân phận… chứ không còn là con người của đạo lí, của lễ nghĩa Đặc biệt, giai đoạn này đánh dấu sự phát triển nở rộ của hình tượng người phụ nữ trong văn học Sự thay đổi trong quan niệm văn học từ “ngôn chí” sang “ngôn tình”, sự cởi trói tư tưởng Nho gia cổ hủ, lạc hậu đã khiến người nghệ sỹ nhận thức vẻ đẹp cũng như thấm thía về số phận, tình cảnh của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ Nhiều đỉnh cao văn học giai đoạn này xoay quanh hình tượng người phụ nữ, đó là người chinh phụ cô đơn vò võ đợi chồng với niềm khao khát hạnh phúc mỏi mòn trong thơ Đặng Trần Côn, là người phụ nữ tài năng, cá tính, cô đơn trong thơ Hồ Xuân Hương, là người con gái “tài tình chi lắm cho trời đất ghen” trong thơ Nguyễn Du…
Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam Nhân dân cả nước kiên cường bất khuất dứng lên chống giặc ngoại xâm Xã hội Việt Nam chuyển dần từ xã hội phong kiến sang thực dân nửa phong kiến Văn hoá phương Tây bắt đầu có những ảnh hưởng tới đời sống xã hội Việt Nam Biến động của thời đại khiến hình tượng người phụ nữ lại vắng bóng trong văn học, nhường chỗ cho hình tượng của người anh hùng, người nông dân khởi nghĩa, người trí thức thất thế, đau đời Trong giai đoạn này, ta thấy xuất hiện duy nhất hình tượng người
Trang 21phụ nữ qua nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn
Đình Chiểu
Như thế, sơ khảo qua các giai đoạn văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chương trình sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở đã lựa chọn, giới thiệu cho học sinh những tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất viết về hình tượng người phụ nữ trong văn học Việc tìm hiểu về hình tượng người phụ nữ sẽ là một cơ sở quan trọng góp phần giúp ta nhận diện được đặc điểm, hành trình của cả một nền văn học
1.2.2 Bộ phận văn học hiện đại Việt Nam
Bước sang thời kì hiện đại, những tư tưởng tích cực, tiến bộ của văn minh phương Tây đã dần thay thế cho tư tưởng lạc hậu, lỗi thời của Nho giáo Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội cũng có sự thay đổi tích cực Người phụ nữ không còn bị bó hẹp cuộc sống của mình trong phạm vi gia đình mà đã có thể khẳng
định tiếng nói trong nhiều lĩnh vực ngoài xã hội
Trước hết, người phụ nữ tiếp tục khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong gia đình Như là một thiên chức, người phụ nữ được sinh ra để “thắp lửa”, “giữ lửa” trong mỗi tổ ấm Bên cạnh đó, người phụ nữ trong xã hội hiện đại đã biết nâng giá trị, dần khẳng định mình trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Khi
có áp bức, bất công, người phụ nữ sẵn sàng vùng lên chống trả Khi có kẻ thù xâm lược, người phụ nữ không chỉ “ở nhà nuôi cái cùng con” mà còn tham gia trực tiếp chiến đấu “ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh” (Nguyễn Khoa Điềm) Họ quả cảm, phi thường, trở thành những nữ anh hùng trong trận mạc Khi đất nước độc lập, thống nhất, người phụ nữ lại có những đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước
Bám sát những chặng đường phát triển của lịch sử, văn chương thời hiện đại cũng có những bước chuyển mình lớn Đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam có sự thay đổi, biến chuyển sâu sắc do ảnh hưởng của văn minh phương Tây Cuộc xâm lược của thực dân Pháp kéo theo sự phát triển, mở mang của các đô thị, các tầng lớp mới được hình thành, chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, nghề in, báo chí
ra đời và phát triển mạnh mẽ… Văn học Việt Nam vì thế thoát ra khỏi những
Trang 22nguyên tắc sáng tác của văn học trung đại để vận động theo xu hướng hiện đại hóa
Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, văn học tiếp tục có bước phát triển tích cực Cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc đã mở ra một kỉ nguyên mới trên đất nước ta, khai sinh ra một nền văn học mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học phát triển theo hướng đại chúng hóa Văn học sát cánh cùng dân tộc trong suốt 30 năm kháng chiến bảo vệ Tổ quốc Sau năm 1975, hòa bình lập lại, văn học lại đồng hành với những vấn đề ngổn ngang, bề bộn của cuộc sống đương đại
Xuyên suốt các giai đoạn sáng tác của văn học hiện đại, ta luôn thấy bóng dáng của người phụ nữ qua mỗi trang văn Nếu ở các tác phẩm văn học trung đại trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở có 6 tác phẩm viết về hình tượng người phụ nữ thì có 12 tác phẩm văn học hiện đại xuất hiện hình tượng người phụ nữ Tỉ lệ vượt trội ấy chứng tỏ, trong văn học hiện đại, hình tượng người phụ nữ được quan tâm nhiều hơn, xứng đáng với vai trò, vị trí quan trọng của họ trong cuộc sống hôm nay Không chỉ có vậy, nếu trong văn học trung đại, người phụ nữ chỉ xuất hiện ở một đối tượng duy nhất – người phụ nữ đứng trước ngưỡng của của tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc thì trong văn học hiện đại, ta bắt gặp đủ các khuôn mặt phụ nữ Thống kê trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở, ở mảng văn học hiện đại, chúng tôi nhận diện các khuôn mặt phụ nữ như sau:
- Khuôn mặt người vợ, người mẹ, người bà trong gia đình: Đó là những người mẹ, người bà đôn hậu, yêu thương, vị tha, sẵn sàng hi sinh vì chồng, vì con,
vì đất nước trong “Tức nước vỡ bờ” (Tắt đèn, Ngô Tất Tổ), “Tiếng gà trưa” (Xuân
Quỳnh), “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm), “Bếp
lửa” (Bằng Việt), “Con cò” (Chế Lan Viên), “Tôi đi học” (Thanh Tịnh), “Bến quê”
(Nguyễn Minh Châu)
- Khuôn mặt người phụ nữ trong chiến đấu, lao động: Đó là những con người anh hùng trong chiến đấu, có sự giác ngộ lí tưởng, có khát vọng sống cao đẹp trong
“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm), “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê)
Như thế, so với văn học trung đại, văn học hiện đại miêu tả, khám phá người phụ nữ một cách phong phú, toàn diện hơn Từ cuộc đời bước vào trang sách, người
Trang 23phụ nữ trong văn học hiện đại đã thực sự trở thành “kỳ quan” tuyệt đẹp của thế giới nghệ thuật lấp lánh sắc màu
Tiểu kết
Có thể nói rằng, hình tượng nghệ thuật là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lí luận văn học, góp phần thể hiện các vấn đề của hiện thực đời sống và phản ánh tư tưởng, tình cảm của người nghệ sỹ Trong văn học nói chung, trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở nói riêng, hình tượng người phụ nữ chiếm một
vị trí quan trọng, được xuất hiện xuyên suốt từ văn học trung đại đến văn học hiện đại Qua các sáng tác, người phụ nữ hiện lên với nhiều góc độ, nhiều đặc điểm khác nhau, nhưng tựu chung lại, họ là phần không thể thiếu để làm nên sự hoàn chỉnh của thế giới Dù trong cuộc đời hay trong trang viết, vị trí của người phụ nữ là không thể thay thế
Trang 24Chương 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM QUA SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Hình tượng người phụ nữ nhìn từ ý thức hệ phong kiến
2.1.1 Người phụ nữ và chuẩn mực tứ đức
Từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc, Nho giáo ra đời và trở thành một hệ thống đạo đức, triết lý giáo dục, triết học xã hội, triết học chính trị Tư tưởng Nho giáo với gốc rễ là đạo làm người còn được đánh giá là đạo trị nước Đối với người phụ nữ,
Nho giáo đặt ra những yêu cầu khắt khe về đạo đức, tập trung ở thuyết tam tòng, tứ đức Tư tưởng này được truyền vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc Tam tòng, tứ đức
cũng trở thành những quy phạm giáo dục đạo đức cơ bản đối với người phụ nữ Việt
Về tam tòng, lễ giáo đòi hỏi người phụ nữ “tại gia tong phụ, xuất giá tòng phu, phu
tử tòng tử” Tư tưởng này giáo dục người phụ nữ về kỷ cương, phép tắc gia đình, là
cơ sở làm nên những đặc trưng tính cách của người phụ nữ Việt Nam: chịu thương chịu khó, nhẫn nại, hy sinh… Tuy nhiên, nó kìm hãm, thậm chí triệt tiêu quyền bình đẳng của nữ giới từ gia đình đến xã hội Về tứ đức, Nho giáo hướng người phụ nữ tới Công - Dung - Ngôn - Hạnh Cùng với quá trình phát triển dài lâu của lịch sử dân tộc, thuyết tứ đức đã đóng góp những giá trị nhất định hình thành vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
Khảo sát qua các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong sách Ngữ văn Trung học cơ sở, ta thấy thuyết tứ đức được thể hiện đậm nét
Trước hết, người phụ nữ trong văn học trung đại gắn với “Công” Với quan niệm “nữ nội, nam ngoại”, công việc của người phụ nữ gắn liền với không gian gia đình: nấu nướng, thêu thùa, may vá… Ngay từ thuở nhỏ, người con gái đã được giáo dục về nhiệm vụ trong gia đình để khi lấy chồng có thể làm lụng để phục vụ gia đình nhà chồng
Hình tượng nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương”
(Nguyễn Dữ) là một nhân vật như vậy Là người phụ nữ sinh ra trong gia đình “kẻ nhỏ” nên Vũ Nương được dạy dỗ, thấm nhuần đức công Trong tình cảnh chồng đi
Trang 25lính phương xa, Vũ Nương đã thể hiện được vai trò một người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó trong gia đình Mặc dù mẹ chồng già yếu, ốm đau nhưng nàng chăm sóc, phụng dưỡng vô cùng chu đáo “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã “hết lời thương xót”, một mình lo liệu việc ma chay tế lễ, tổ chức chu đáo “như đối với cha mẹ đẻ mình” Không chỉ có vạy, khi Trương Sinh đi lính, Vũ Nương đang có mang, vừa một tuần sau nàng sinh con Như thế, Vũ Nương vừa phụng dưỡng, chăm sóc mẹ già, vừa tảo tần nuôi dưỡng con thơ Nàng thực sự là người phụ nữ đảm đang, xứng đáng với chữ “công” theo quan niệm tứ đức
Phẩm chất thứ hai được coi trọng ở người phụ nữ chính là “dung” Dung được hiểu là vẻ đẹp hình thức, thể hiện qua dáng vẻ tự nhiên kết hợp với trang phục, trang điểm tạo nên sự đoan trang Không chỉ là vẻ đẹp hình thức, yêu cầu về “dung” đối với người phụ nữ còn liên quan tới vẻ đẹp tâm hồn, tới tính cách, ứng xử trong cuộc sống hàng ngày
Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ không miêu tả sâu
về dung mạo của Vũ Nương, nhưng chỉ bằng một vài chi tiết ngắn gọn, ta cũng biết được đó là một người con gái “có tư dung tốt đẹp” Hai chữ “tư dung” không đơn thuần chỉ nhan sắc mà là dáng dấp và vẻ mặt của người phụ nữ Nhà văn không đem đến cho người đọc cảm nhận về sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của các mỹ nhân cổ mà gợi ấn tượng đẹp về một con người phúc hậu, khoan thai, điềm đạm, đúng mẫu hình thẩm mỹ của phụ nữ thuở xưa
Cũng là một người phụ nữ bình dân, mộc mạc, người phụ nữ trong thơ Hồ
Xuân Hương được miêu tả rõ nét hơn ở phương diện ngoại hình: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” [61;94] Hai chữ “thân em” cất lên nhẹ nhàng, khiêm nhường, gợi nhắc
âm điệu của câu ca dao tự thuở xưa: “Thân em như củ ấu gai”, “Thân em như tấm lụa đào”, “Thân em như hạt mưa sa”… Với Hồ Xuân Hương, chữ “thân” vừa mang ý
nghĩa chỉ thân thể, vừa hàm ý chỉ thân phận Với ý nghĩa chỉ thân thể người phụ nữ, câu thơ thật táo bạo, độc đáo Bởi xưa nay, quan điểm Nho gia xem thường thân xác của người phụ nữ, cho đó là phàm tục, tà dâm, tầm thường Hồ Xuân Hương lại khác
Bà tiếp thu tư tưởng phồn thực tự nhiên trong văn học dân gian, phá vỡ những quy
Trang 26tắc chuẩn mực của đạo đức phong kiến để ngang nhiên ca ngợi vẻ đẹp trần thế của con người Những tính từ “trắng” “tròn” kết hợp với quan hệ từ tương đồng, tăng cấp
“vừa… vừa” gợi vẻ đẹp nõn nà, đầy đặn, mỡ màng của người phụ nữ Sự miêu tả táo bạo ấy, sau này ta còn gặp trong “Thiếu nữ ngủ ngày”:
“Yếm đào trễ xuống dưới nương long Ðôi gò bồng đảo sương còn ngậm”
[18;27]
Tư tưởng của Hồ Xuân Hương rất tương đồng với tư tưởng của các nhà Phục hưng phương Tây – coi trọng vẻ đẹp hình thể con người, đặc biệt ở vẻ đẹp tròn đầy, căng tràn sức sống Tuy nhiên, trong thơ Hồ Xuân Hương, chữ “thân” còn mang ý nghĩa chỉ thân phận con người “Trắng” “tròn” còn là tâm hồn trắng trong, nhân hậu, sự tròn trịa, đầy đặn của tâm hồn, phẩm giá
Chị em Thuý Vân và Thuý Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thì rõ
ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp:
“Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Trang 27Vân trước rồi tả Kiều sau để tô đậm, nhấn mạnh hơn nhan sắc tuyệt đỉnh của Kiều Khác với Vân, Kiều mang vẻ đẹp “sắc sảo” về trí tuệ và “mặn mà” về tâm hồn Nếu
vẻ đẹp của Vân khiến “mây thua” “tuyết nhường”, thiên nhiên có phần ưu ái thì vẻ đẹp của Kiều lại làm cho “hoa ghen” “liễu hờn”, vẻ đẹp vượt lên trên những khuôn khổ định sẵn, vượt lên trên khuôn mẫu từ xưa khiến vạn vật phải ganh ghét, tị hiềm Nguyễn Du đã dùng những lời hoa mĩ nhất để tả vẻ đẹp chị em Thúy Kiều
Đặc biệt, vẻ đẹp của Kiều còn được Nguyễn Du miêu tả trong tình huống đau đớn, tủi nhục nhất Khi gặp gia biến, Kiều quyết định bán mình chuộc cha và em Cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều thật ê chề đau khổ, xót xa Vậy mà giữa những giọt nước mắt đầm đìa ấy, Kiều vẫn hiện lên thật đẹp:
“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng!
…Mối càng vén tóc bắt tay Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”
Lời nói của Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” luôn dịu
dàng, nữ tính Ngày chồng lên đường ra trận, nàng đã dành cho chồng những lời thắm
thiết, yêu thương: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế
là đủ rồi” [63;44] Đối với Vũ Nương, sự bình an của chồng, hạnh phúc gia đình là
trên hết, hơn tất cả mọi vinh hoa phú quý, công danh địa vị Lời nói của nàng nhẹ nhàng, ấm áp, thể hiện tấm lòng của người phụ nữ nhân hậu, giàu lòng yêu thương
Đặc biệt, khi bị chồng nghi ngờ vô lí, “la um lên cho hả cơn giận”, cách hành
xử của nàng vẫn thật nhẫn nhịn, từ tốn Bị hiểu lầm, bị vu vạ, Vũ Nương chỉ biết
khóc mà thưa rằng: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu Sum họp
Trang 28chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp” [63;45] Lời nói của
nàng dẫu đau đớn, tủi nhục nhưng trước sau vẫn giữ đúng lễ nghi, phép tắc đạo vợ chồng, giữ đúng thái độ tôn kính người chồng
Khi bị hắt hủi, đuổi ra khỏi nhà, nàng vẫn không oán hờn, căm hận mà lúc
Trương Sinh lập đàn tràng bên sông, lời nói của nàng vẫn trọn đạo vợ hiền: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” [63;46]
Là nhân vật truyện nên Vũ Nương là một trong những nhân vật được miêu tả lời nói cụ thể, rõ ràng nhất Lời thoại của nhân vật xuất hiện nhiều, lời thoại nào cũng trang trọng, tề chỉnh, có trước có sau, thể hiện vị thế xưng hô trên – dưới thứ bậc kính cẩn, trân trọng Lời nói, thái độ nói của nàng đã góp phần thể hiện vẻ đẹp nhân phẩm của nàng
Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du cũng miêu tả lời nói của Kiều ở cảnh
“Thúy Kiều báo ân báo oán” Cảnh Kiều báo ân báo oán có hai lượt lời thoại giữa Thúy Kiều - Thúc Sinh và Thúy Kiều - Hoạn Thư
Với Thúc Sinh, người đã có công cứu chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh lần thứ nhất, Kiều đã dành cho tình cảm, thái độ thật trang trọng:
“Cho gươm mời đến Thúc lang, Mặt như chàm đổ mình dường dẽ rung
Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng, Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”
[63;106]
Không phải “gọi”, “vời” mà là “mời” Chữ “mời” được Kiều dành cho Thúc Sinh thể hiện được thái độ trọng vọng nàng dành cho chàng Trong màn báo ân này, Kiều không nói tới chữ “tình” đã từng gắn bó đậm sâu mà lại nói tới chữ “nghĩa” đầy sức nặng và gọi chàng là “cố nhân” Như thế, câu chuyện tình yêu của Thúy Kiều và Thúc Sinh đã thuộc về quá khứ, đã chìm vào dĩ vãng xa xưa Giờ đây, nàng nhìn Thúc Sinh như một người có duyên, có nghĩa, có nợ với nàng Những từ như:
“nghĩa”, “nghìn non”, “Sâm Thương”, “chữ tòng”, “người cũ”, “cố nhân”… cùng với giọng điệu nhẹ nhàng đã thể hiện một tấm lòng trân trọng, biết ơn của Kiều với
Trang 29một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình Qua đó ta thấy được
trái tim nhân hậu, cách ứng xử giàu ân nghĩa thủy chung của Kiều
Ngược lại, khi nói về “vợ chàng”, lời của Kiều chuyển từ trang trọng sang cách nói dân dã, sắc sảo
“Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”
[63;107]
Nếu khi nói về ân nghĩa, giọng của Kiều trang trọng, ôn tồn thì khi nói về oán, Kiều sử dụng cách nói nôm na Nhà thơ đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời của Thúy Kiều, điều đó thể hiện ngôn ngữ của Kiều – của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thật có lễ nghi sâu sắc, hiểu mình, hiểu người, thể hiện văn hóa, đạo đức cao đẹp
Đối với Hoạn Thư, lời nói của Kiều cũng thể hiện cách ứng xử cao đẹp, sâu sắc Là một người “chiến thắng” nên khi gặp lại Hoạn Thư, Kiều đã “chào thưa” bằng những lời “mát mẻ”:
“Thoắt trông nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”
[63;107]
Không còn thấy con người nhẹ nhàng, ân tình lúc trước, đến đây, ngay lập tức nàng trở nên thật đáo để với những lời chì chiết, đay nghiến Các chữ “mấy tay”, “mấy mặt”, “mấy gan” như những mũi dao sắc lạnh:
“Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!”
[63;107]
Kiều nghiêm giọng cảnh cáo người đàn bà đã từng hành hạ mình, làm cho
mình đau khổ: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều” Như vậy, với ân nhân,
Kiều ân nghĩa, ân tình, với kẻ thù, nàng sắc lạnh, nghiêm khắc Nhưng vốn là người phụ nữ khôn ngoan, sắc sảo, Họan Thư đã vô cùng bình tĩnh để tìm cách gỡ tội Dù
Trang 30tay chân đang bị trói nhưng Hoạn Thư vẫn “khấu đầu” giữ lễ và nhận ngay tội lỗi của mình, đó là “ghen tuông” Nhưng Hoạn Thư đã khéo léo “lí giải” nguyên nhân hành động của mình dựa vào tâm lí thường tình của con người, nhất là người phụ nữ trong tình yêu Sau đó, Hoạn Thư còn gợi lại chút “ân tình” ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ chùa chép kinh”; hai là khi Kiều bỏ trốn đã không bắt nàng trở lại Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình Không thể là
“người nhỏ nhen”, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư Lời nói của Kiều cũng rất độ lượng, quân tử
“Đã lòng tri quá thì nên Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”
“Trước xe quân tử tạm ngồi, Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa”
[63;109]
Đối với người có ơn cứu mạng mình, mặc dù mới chỉ gặp gỡ lần đầu, nhưng Kiều Nguyệt Nga đã dành cho chàng những tình cảm trân trọng nhất Nàng khép mình, tự xưng khiêm tốn là “tiện thiếp” Nàng xin được “lạy”, rồi mới “thưa” với chàng Cách hành xử vô cùng phép tắc, có trước sau, lễ nghi tề chỉnh, ngay ngắn, thể hiện là một tiểu thư khuê các, có học thức Nàng xin được báo đáp công đức của Lục Vân Tiên:
“Chút tôi liễu yếu đào thơ, Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần
Hà Khê qua đó cũng gần, Xin theo cho thiếp đền ân cho chàng”
[63;110]
Trang 31Lục Vân Tiên đã không chỉ cứu được tính mạng của Kiều Nguyệt Nga mà quan trọng hơn, chàng đã cứu được tiết hạnh trong trắng, quý giá hơn ngàn vàng của nàng Bởi thế, nàng xưng là “thiếp” thật nhỏ bé, khiêm nhường, thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng hết mức dành cho Lục Vân Tiên Cách nói của nàng dịu dàng, nhỏ nhẹ, cách trình bày rõ ràng, khúc chiết, vừa trả lời câu hỏi của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện niềm cảm kích chân thành đối với ân nhân cứu mạng
Như vậy, qua ngòi bút miêu tả của các nhà văn, ta nhận thấy, người phụ nữ trong xã hội phong kiến mang vẻ đẹp của ngôn từ nhã nhặn, lễ nghi, có trước có sau, có tình có lí trong mọi hoàn cảnh Nếu nói ngôn ngữ là bộ mặt thứ hai của con người thì qua hệ thống ngôn từ của người phụ nữ trong văn học trung đại, ta thấy được những
“khuôn mặt” con người thật có văn hóa, có nhân cách, cách hành xử cao đẹp
Phẩm chất cuối cùng đặc biệt quan trọng trong tứ đức chính là “hạnh”
“Công”, “dung”, “ngôn” chính là những biểu hiện ra bên ngoài của “hạnh” Như vậy, có thể nói, dù đặt ở vị trí cuối cùng trong tứ đức nhưng “hạnh” là biểu hiện tập trung nhất để đánh giá phẩm chất của người phụ nữ Đức hạnh quy định giá trị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Vẻ đẹp rạng ngời, đáng quý nhất ở Vũ Nương chính là đức hạnh Ở phần mở truyện, Nguyễn Dữ đã giới thiệu Vũ Nương là người “thùy mị, nết na”, được Trương Sinh mến vì “dung hạnh” nên hỏi cưới làm vợ Khi về làm vợ Trương Sinh,
dù chồng có tính đa nghi nhưng nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàng luôn cư xử với chồng rất đúng đạo nghĩa,
luôn hết lòng vì chồng, chăm lo cho hạnh phúc gia đình Lúc Trương Sinh đi lính,
Vũ Nương ở nhà một lòng thủy chung với chồng Nàng luôn mong nhớ, lo lắng cho
người chồng trên chiến trường: “Nhìn tăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình thương người đất thú”
[63;44] Nỗi buồn, nỗi nhớ của nàng đối với chồng cho thấy mặc dù nàng phải sống vất vả nhưng nàng không nghĩ cho bản thân mình mà một lòng hướng về chồng Không chỉ có vậy, khi Trương Sinh đi biền biệt ba năm, ở nhà Vũ Nương đã tảo tần, chu đáo là một người con dâu hiếu thảo, một người mẹ thương con, chăm lo, hi sinh tất cả cho những người thân yêu trong gia đình Phẩm chất của nàng thật ngời sáng, thật đáng quý, đáng trân trọng
Trang 32Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương cũng mang những phẩm chất đẹp đẽ:
Thúy Kiều cũng là biểu tượng đẹp đẽ của phẩm chất cao đẹp Trước tai biến bất ngờ của gia đình, nàng đã sẵn sàng hi sinh bản thân, hi sinh tình yêu đầu đời trong sáng, đẹp đẽ, chấp nhận bán mình chuộc cha Cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều thật đẫm nước mắt Bởi lẽ, Kiều thấu hiểu được nỗi đau khi hi sinh tình yêu, thấu hiểu nỗi đau khi thân phận bị rẻ rúng, khinh thường trở thành một món hàng cho người mua, kẻ bán Nhưng nàng buộc phải chấp nhận Về tình cảm, nàng đau đớn, tủi nhục ê chề, về lí trí nàng không có lựa chọn nào khác Vì thế, mỗi bước đi của
nàng là một giọt nước mắt tuôn rơi, hơn thế: “Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng”, một bước chân mà hàng ngàn giọt nước mắt xót xa Sự giằng xé giữa lí trí và
tình cảm ấy, cuối cùng dẫn tới sự lựa chọn hi sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu cho
ta thấy vẻ đẹp đáng quý, đáng trân trọng của Kiều Tới khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bính, cô đơn một mình giữa mênh mang trời nước, Kiều cũng lại quên đi cái thân phận của mình để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm”
[63;93]
Trang 33Đầu tiên nàng nhớ tới chàng Kim, nhớ tới lời thề đôi lứa Không chỉ có vậy, Kiều còn nghĩ đến cha mẹ Tác giả dùng từ “xót” khi tả tâm trạng của Kiều nhớ về cha, mẹ Đó là nỗi xót xa, đau đớn và day dứt bởi cha mẹ đang ngày ngày tựa cửa mong ngóng mình trong vô vọng Nàng còn xót xa bởi cha mẹ lúc già yếu mà nàng không được tự tay chăm sóc và hiện thời không người trông nom Nàng đau đớn nghĩ mình là con bất hiếu, phụ công sinh thành nuôi dạy của mẹ cha Điều này cho thấy, tình cảm Kiều dành cho cha mẹ không lúc nào nguôi
Với Hoạn Thư, Thúc Sinh, Kiều cũng luôn thể hiện cái đức của một người có hiểu biết Thúc Sinh dù nhu nhược nhưng là người có chân tình với Kiều, cưu mang, cứu vớt Kiều ra khỏi kiếp lầu xanh nhục nhằn, bởi vậy, chàng được nàng tri ngộ, tạ ơn Còn Hoạn Thư, mặc dù trong phiên tòa xét xử có một không hai của mình, Kiều dự định báo oán về những nỗi khổ đau Hoạn Thư gây ra cho nàng nhưng cuối cùng, Kiều cũng hiểu ra rằng, chính mình là kẻ xen vào hạnh phúc của Hoạn Thư Vì thế, cuối cùng nàng quyết định tha bổng cho Hoạn Thư Kiều thực sự là người phụ nữ vị tha, bao dung, biết hi sinh mình cho mọi người Đó là phẩm chất cao đẹp của nàng nói riêng, của các nhân vật phụ nữ trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI - XXIII nói chung
Như vậy, soi rọi trong tiêu chí của tứ đức, người phụ nữ trong văn học trung đại qua sách Ngữ văn Trung học cơ sở đều là những con người hội tụ đủ bốn yếu tố
“công, dung, ngôn, hạnh” Đây là tiêu chuẩn vẻ đẹp của người phụ nữ thời phong kiến và nó còn ảnh hưởng tích cực tới xã hội hôm nay
2.1.2 Người phụ nữ và khát vọng tình yêu
Người phụ nữ trong văn học trung đại không chỉ được nhìn nhận ở những yếu tố bên ngoài với những chuẩn mực theo lễ nghi, phép tắc của xã hội mà còn được khám phá ở chiều sâu bên trong với những khát vọng chân chính trong tình yêu Trong giai đoạn đầu văn học trung đại Việt Nam, ta thấy hầu như không có tác phẩm nào nói về
đề tài tình yêu bởi quan niệm “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” Văn chương là con thuyền chở đạo lí, là bài ca ca ngợi chí lớn của người quân tử “Thánh nhân vong tình”
là tư tưởng chi phối đời sống văn học Bậc thánh nhân do nhận thức được lý (tức quy luật tất yếu) nên không để cho tình cảm, nhất là những tình cảm ủy mị, chi phối Thánh nhân lấy lý hóa giải tình Vì vậy, văn học trung đại Việt Nam trong hai giai đoạn đầu
Trang 34tập trung vào việc xây dựng con người theo hình mẫu thánh nhân Nhân vật chính trong thơ đều là người hướng về lý tưởng làm chủ thân, tâm nhằm đạt mục tiêu trở thành Phật, thánh, hoặc ít ra là người quân tử Nhưng sang đến thế kỉ XVIII đã hình thành nên một dòng văn học “thi dĩ ngôn tình” Các tác giả đã dần từ bỏ quan niệm chính thống để tìm về các quan niệm văn chương nghệ thuật Họ có sự chuyển biến tích cực trong tư duy, nhận thức khi không chỉ miêu tả con người với ràng buộc quan hệ xã hội
mà còn thấy con người trong quan hệ với chính mình để phát hiện, nâng niu những khát vọng chính đáng, nhân bản Và người phụ nữ nhanh chóng trở thành đối tượng chính được quan tâm, miêu tả trong văn học Hiện tượng này có thể lí giải bởi người phụ nữ là đối tượng thể hiện tập trung hơn cả về số phận của tài tình trong xã hội phong kiến Hình tượng này cũng tạo một vỏ bọc thuận lợi để các tác gải phát ngôn tư tưởng
đề cao chữ tình thay cho chữ chí
Người phụ nữ được miêu tả trong văn học trung đại qua sách Ngữ văn Trung học cơ sở là những con người khao khát chữ “tình”, chất chứa trong lòng những khao khát cháy bỏng về hạnh phúc, về tình yêu
Ngỡ tưởng Vũ Nương chỉ là một người con gái hiền lành, nhu mì, yếu đuối nhưng thực chất thẳm sâu bên trong lại là một người phụ nữ mãnh liệt, luôn khát khao hạnh gia đình Câu nói của nàng với Trương Sinh trước khi chàng đi là minh chứng sáng tỏ cho khát khao hạnh phúc của nàng Cũng vì thế, khi bị Trương Sinh nghi oan, hạnh phúc đứng trên bờ vực tan vỡ, Vũ Nương đã tìm mọi cách thanh
minh, giải thích với Trương Sinh để mong níu kéo, vớt vát lại hạnh phúc: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu có sự mất nết hư thân như chàng nói” [63;44] Đối với
Vũ Nương và đối với mọi người phụ nữ thời xưa, gia đình là tất cả Đó không chỉ là đạo lí đúng đắn mà còn là phẩm chất tốt đẹp theo đúng chuẩn mực thuở xưa
Thúy Kiều cũng là người con gái thiết tha với hạnh phúc lứa đôi Tình yêu chia lìa, tan vỡ bởi hoàn cảnh éo le, nhưng trong lòng nàng vẫn canh cánh hướng về người tình lang thuở nào Trong những ngày bị giam hãm ở lầu Ngưng Bính, Kiều nhớ về Kim Trọng với bao nồng nàn, say đắm xen lẫn khắc khoải, đớn đau:
Trang 35“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
[63;94]
Nguyễn Du dùng từ “tưởng” để diễn tả nỗi nhớ của Kiều Nàng không chỉ nhớ mà còn hình dung, tưởng tượng, đang sống lại hình ảnh của Kim Trọng và những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi, hiếm hoi bên người yêu Hình ảnh “dưới nguyệt chén đồng” gợi lại đêm thề nguyền đính ước dưới trăng của Kiều và Kim Trọng hay nói khác đi, Kiều đang sống lại những giây phút hạnh phúc nhất của cuộc đời mình Điều này cho thấy tình yêu mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng là vô cùng sâu nặng Cách sử dụng hình ảnh “tin sương” và thành ngữ “rày trông mai chờ” lại nói lên tâm trạng của cả Kiều và Kim Trọng, họ đang mong ngóng, đợi chờ nhau trong mịt mù, tăm tối và vô vọng Nhưng có lẽ, Kiều thương cho Kim Trọng nhiều hơn Kiều tưởng tượng ra cảnh Kim Trọng đang ngóng đợi mình Điều đó càng chứng tỏ tình yêu sâu nặng của Kiều Thành ngữ “bên trời góc bể” và từ láy
“bơ vơ” cho thấy Kiều không chỉ ý thức về tình cảnh hiện tại của bản thân là đang
bơ vơ, trôi dạt nơi chân trời góc bể mà cái chính là Kiều thương cho tình cảnh của Kim Trọng giờ không biết ở phương trời nào, dang dở, phiêu bạt Như thế tình yêu tha thiết khiến Kiều quên đi nỗi đau khổ của bản thân để thương cho Kim Trọng Hình ảnh ẩn dụ “tấm son” là để chỉ tình yêu cao đẹp và tấm lòng thủy chung son sắt của Kiều dành cho Kim Trọng dù cho có gột rửa cũng không bao giờ phai mờ Qua
đó, ta thấy được tình yêu của Kiều đối với Kim Trọng là vô cùng sâu nặng
Có một nhà văn đã từng nói: “Tình yêu trong xa cách ví như ngọn lửa trong gió Gió thổi tắt ngọn lửa nhỏ và thổi bùng ngọn lửa lớn” Có phải bởi thế chăng,
tình yêu trong xa cách luôn là đề tài, cảm hứng của các nghệ sĩ muôn đời Đặng Trần Côn là một trong số các nhà thơ đã thổi bùng lên những khát khao cháy bỏng
về hạnh phúc lứa đôi qua việc miêu tả tâm trạng vò võ đợi chờ của người chinh phụ
có chồng đi lính phương xa
Trang 36“Chàng thì đi cõi xa mưa gió, Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn, Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh”
[61;91]
Ngay sau phút tiễn đưa, bao nỗi niềm đã trào dâng, giằng xé trong lòng người chinh phụ Dường như, nàng không thể cất bước trở về mà cứ thẫn thờ đứng ngóng trông mỏi mòn Tâm trạng nàng cứ ào ạt tuôn trào chảy tràn hết lớp này tới lớp khác Nàng phân định không gian thành hai miền đối ngược: “chàng đi” –
“thiếp về”, “chàng – cõi xa mưa gió” – “thiếp – buồng cũ chiếu chăn” Đôi lứa gắn
bó quấn quýt không rời nay bị số phận tách rời, đứt lìa hai mảnh Chàng đối mặt với hiểm nguy, khó khăn, chết chóc Thiếp đối diện với “buồng cũ chiếu chăn”, cô đơn,
lẻ loi đến tê dại cõi lòng Chàng mang theo cái mịt mùng của trời đất trong lòng, thiếp vương vấn hơi ấm hạnh phúc lứa đôi như vết thương cứ chà đi xát lại, rỉ máu đớn đau Nỗi sầu sinh li tràn ngập cõi lòng người ở lại và thấm vào cảnh sắc thiên nhiên trong hình hài mây biếc, núi xanh
Chưa dừng lại ở đó, nỗi nhớ nhung, sầu muộn của người chinh phụ càng lúc càng mãnh liệt, cồn cào như biển dâng, như sóng tràn Đó là nỗi nhớ dằng dặc nối
Trang 37chứa trong lòng Người chinh phụ như tưởng tượng, như nhìn thấy trong tâm trí mình hình ảnh người chinh phu “còn ngoảnh lại” ngóng trông mình Chữ “còn” như mang theo cả cái nhìn níu kéo, nuối tiếc, chứa đựng tình cảm sắt son, bền chặt vượt qua mọi giới hạn, khoảng cách không gian, thời gian Hòa điệu với tình cảm của người chồng là thái độ “hãy trông sang” của người vợ, ngóng trông đến hóa đá thời gian Trùng trùng điệp điệp xa cách, Hàm Dương cách Tiêu Tương, Tiêu Tương lại cách Hàm Dương Hai khoảng cách thực chất là một nhưng sự ngóng vọng xuất phát từ cả hai đầu nỗi nhớ nên trùng trùng điệp điệp nhớ thương khắc khoải Nghịch lí nhất là sự chia li lại diễn ra
ở những con người yêu thương, gắn bó với nhau nhất
Như vậy, hình tượng người phụ nữ trong văn học trung đại qua chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở đã thể hiện được những tình cảm cá nhân nhân bản trong con người Khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời đập nhịp trong mỗi trái tim, nhưng đưa khát vọng riêng tư, bé nhỏ ấy vào trang viết là một bước tiến mới trong văn học trung đại Việt Nam
tư tưởng Nho - Phật - Lão do đó con người trong văn học trung đại cũng mang dấu
ấn của ba triết thuyết này ở chủ trương phi ngã của Nho giáo, vong ngã của Lão - Trang và vô ngã của Phật giáo Vì thế, trong văn học trung đại nói riêng, trong xã hội phong kiến nói chung, không đề cao “cái tôi”, không coi trọng yếu tố cá nhân,
sự khẳng định bản thân trong mỗi con người “Cái tôi” trong quan niệm triết học và
mỹ học của người phương Đông hầu như khác hẳn với “cái tôi” phương Tây Nếu người phương Tây coi trọng “cái tôi” cá nhân thì người phương Đông không bao giờ tách cá nhân ra khỏi gia đình, xã hội, thậm chí không bao giờ tách cá nhân con người ra khỏi trời đất trong mối tương quan: thiên, địa, nhân Cho nên “cái tôi” của phương Đông là một “cái tôi kép”, vừa là tôi, vừa là ta, vừa là “tôi cá nhân”, vừa là
“tôi xã hội” chứ không phải là “cái tôi” đơn lẻ, cái tôi tuyệt đối phi xã hội, phi quan
Trang 38hệ như phương Tây quan niệm Điều này dẫn tới một hệ quả tất yếu là trong văn học trung đại, chủ yếu xuất hiện các kiểu con người vũ trụ, con người bổn phận, con người phi cá nhân Đây đều là hình tượng con người công dân mang tầm vóc lớn lao, có ý thức trách nhiệm với quốc gia, dân tộc, tâm hồn phóng khoáng, hồn hậu, chân thành, hòa hợp với tự nhiên Nhìn chung, hình tượng con người này gắn chặt với cảm hứng yêu nước trong suốt chiều dài phát triển của văn học
Bên cạnh đó, mặc dù giai cấp thống trị tìm mọi cách thủ tiêu ý thức cá nhân trong mỗi con người, nhưng trong những giai đoạn cuối của thời kỳ phong kiến, khi
hệ ý thức tư tưởng chính thống rơi vào khủng hoảng, ấy là lúc ý thức cá nhân phát triển nở rộ, kéo theo đó, con người cá nhân với những khao khát riêng tư nhất được thể hiện Sự xuất hiện con người cá nhân gắn với cảm hứng nhân đạo sâu sắc trong mỗi sáng tác của người nghệ sỹ Các nhà văn đã đi sâu vào đời sống con người để không chỉ hiểu, cảm thông mà còn trân trọng những mơ ước chính đáng của con người - mơ ước được sống là chính mình, được khẳng định bản thân mình với những giá trị cao đẹp Hình tượng người phụ nữ được miêu tả văn học cũng mang nhu cầu, khát vọng khẳng định bản thân mình như vậy Các nhà văn không chỉ thấy người phụ nữ trong những lễ nghi, phép tắc phong kiến của đạo tam tòng, tứ đức mà còn thấy ẩn sâu trong họ những giá trị nhân văn cao đẹp Người phụ nữ luôn quẫy đạp trong chiếc áo chật của đạo đức, lễ giáo phong kiến để khẳng định bản thân, cá tính riêng của mình
Trước hết, khát vọng khẳng định bản thân của người phụ nữ được thể hiện ở
ý thức khẳng định nhân phẩm, vẻ đẹp và tài năng của mình
Vượt ra ngoài khuôn khổ về “công” của người phụ nữ theo quan niệm Nho gia, Nguyễn Du mô tả Thúy Kiều như là biểu tượng của người phụ nữ tài năng với
với đủ các lĩnh vực cầm, kỳ, thi, họa Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”,
Nguyễn Du đã miêu tả rõ nét điều này:
“Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”
[61;81]
Trang 39Để cực tả cái tài của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng hàng loạt các từ ngữ ở mức độ tuyệt đối: “vốn sẵn”, “pha nghề”, “làu bậc” và “đủ mùi” Kiều có đủ tài cầm
- kì - thi - hoạ của những bậc văn nhân quân tử và tài nào cũng đến mức điêu luyện Nàng giỏi về âm luật đến mức làu bậc Cây đàn hồ cầm trong tay nàng có thể ăn đứt bất cứ nghệ sĩ nào và đã trở thành một nghề riêng Chính tiếng đàn ấy sau này khiến cho Kim Trọng phải “ngơ ngẩn sầu”, Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm cho Hồ Tôn Hiến “nhăn mày, rơi châu” Không những giỏi ca hát, chơi đàn mà Kiều còn sáng tác nhạc nữa Cung đàn nàng sáng tác là một thiên Bạc mệnh Bản đàn ấy đã ghi lại tiếng lòng của một tâm hồn đa sầu đa cảm Đặc biệt, tài làm thơ của Kiều nhanh đến khó mà tưởng tượng nổi Mỗi lần nàng đặt bút là một lần thi hứng dâng
đầy Nguyễn Du đã dành cho nàng nhiều lời ngợi ca trân trọng Khi thì: “Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm” Lúc lại: “Tay tiên gió táp mưa sa” Kiều làm thơ đã
nhanh lại hay Thơ của nàng có thể cảm thông được quỷ thần, khiến hồn ma Đạm Tiên phải hiện lên, khiến viên quan phủ “mặt sắt đen sì” phải rủ lòng thương, không những chỉ tha cho Kiều mà còn đứng ra làm lễ tác hợp cho nàng được lấy Thúc Sinh, và cho Hoạn Thư, một con người tai quái cũng phải thốt lên: “Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương” Như thế, Vũ Nương, Thúy Kiều - hai hình tượng phụ
nữ thuộc hai tầng lớp khác nhau, nhưng “mỗi người một vẻ”, góp phần làm nên chữ
“công” vẹn toàn của người phụ nữ trong xã hội xưa
Những lời ca ngợi tột bậc của Nguyễn Du dành cho tài năng, nhan sắc của Thúy Vân, Thúy Kiều cũng chính là sự khẳng định ý thức của cá nhân của con người
Nếu học thuyết của Nho gia coi trọng tinh thần “vị đạo tuẫn thân, sát thân thành nhân, xả thân thủ nghĩa”, sẵn sàng hi sinh bản thân mình vì đạo lý, vì nghĩa lớn thì
các tác giả văn học của thế kỉ XVIII còn nhìn ra một khía cạnh khác quan trọng không kém Đó là con người không chỉ dám hi sinh bản thân mình mà còn phải biết quý trọng bản thân mình Bởi con người là những giá trị vô giá, duy nhất, không lặp lại Hơn thế, sự coi trọng con người không chỉ được thể hiện ở những giá trị tinh thần cao quý mà còn ở các giá trị thể chất, tài năng Đây thực sự là tư tưởng nhân văn cao đẹp, tiến bộ, rất gần với tư tưởng nhân văn hiện đại mà các nhà văn gửi gắm
Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương cũng tự hào về vẻ đẹp của mình
Trang 40Hồ Xuân Hương ngạo nghễ tự ca ngợi vẻ đẹp “vừa trắng lại vừa tròn”, ngạo nghễ tự
đặt mình sánh ngang với trời đất, nước non: “Bảy nổi ba chìm với nước non”
[61;94] Người phụ nữ xưa nay vốn tự coi mình như con cá rô thia, như hạt mưa rào, hạt mưa sa hay như trái bần trôi… nhỏ bé, tội nghiệp Hồ Xuân Hương cũng chỉ ví người phụ nữ như chiếc bánh trôi, không phải là thứ cao sang, đài các gì, nhưng trong sự nhỏ bé khiêm nhường ấy, vẫn ẩn chứa “cái ngông” riêng của nữ sỹ khi đặt chiếc bánh bé nhỏ, bình thường ấy “với nước non” hùng vĩ, tráng lệ Đó là cách tôn vinh, khẳng định giá trị người phụ nữ rất riêng của Hồ Xuân Hương Với người phụ nữ dám “lé mắt trông ngang” đền thờ viên quan thái thú, dám “giơ tay với thử trời cao thấp” ấy, dù trong tủi nhục đau đớn vẫn cứ cao ngạo, vẫn cứ hơn đời, hơn người một bậc
Nàng Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” là một người có
lòng tự trọng, luôn có ý thức về giá trị nhân phẩm của bản thân Khi mang tiếng oan, Vũ Nương đã giãi bày, thanh minh, giải thích chứ không cam chịu mang tiếng xấu Đến khi không thể giải thích, thanh minh được nữa, nàng chấp nhận tự vẫn để chứng tỏ mình trong sạch Vũ Nương thà chịu chết chứ không chịu mang tiếng nhơ
nhuốc, xấu xa Những lời trăng trối của nàng thật xót xa mà cũng đầy dũng khí:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sống có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu
mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ” [63;45] Lời
khấn của nàng dành cho thần linh chứng giám, tấm lòng trinh bạch của nàng cuối cùng đã động thấu cả thủy cung Vũ Nương không chết mà trở nên bất tử Tấm lòng son sắt của nàng mãi rạng ngời, đáng trân trọng Hành động của Vũ Nương vô cùng quyết liệt, mạnh mẽ, thể hiện lòng tự trọng của một con người ý thức được nhân phẩm của mình, dám đấu tranh phản kháng để bảo vệ nhân cách
Giống như Vũ Nương, Kiều Nguyệt Nga cũng là người coi trọng nhân phẩm của mình Được Lục Vân Tiên cứu giúp, nàng vô cùng cảm tạ Bởi lẽ Lục Vân Tiên không chỉ cứu mạng sống của nàng, mà quan trọng hơn là cứu được tiết hạnh đáng giá ngàn vàng của nàng Thế nên: