Hoàng Ngọc Hiến trong bài Dị ứng với cái rởm – một phương diện của trào phúng Vũ Trọng Phụng đã khẳng định: “Số đỏ là một tác phẩm trào phúng hài hước”, bởi ông đã thể hiện được “Tình c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn thạc sĩ với đề tài “Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao’’ là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất
cứ ai
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Tâm
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Phạm Tuấn Anh, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ văn – Trường Đại học Hùng Vương đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn trường THPT Chuyên Hùng Vương – cơ quan nơi tôi công tác, cảm ơn các đồng nghiệp và bạn bè đã luôn bên cạnh giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành nhiệm vụ công tác, học tập và nghiên cứu
Xin gửi lời tri ân đến gia đình, người thân đã luôn là điểm tựa vững chắc để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ CỦA CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO10 1.1 Quan niệm về “cái hài” 10
1.2 Cái hài trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX 11
1.3 Cái hài trong hệ thống giá trị thẩm mĩ của truyện ngắn Nam Cao 21
1.3.1.Cái hài và cái bi 21
1.3.2.Cái hài và cái cảm thương 26
1.3.3 Sắc thái thẩm mĩ của cái hài trong hệ thống giá trị thẩm mĩ của Nam Cao 28
CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM HÀI HƯỚC TRONGTRUYỆN NGẮN NAM CAO 35
2.1 Quan niệm về cái hài hước (humor) 35
2.2 Quan niệm về hài hước nghịch dị\ 37
2.2.1 Cái nghịch dị (Grotesque) 37
2.2.2 Hài hước nghịch dị 41
2.3 Các kiểu xung đột – tình huống hài hước 41
2.3.1 Xung đột mục đích – kết quả 42
2.3.2 Xung đột thực chất – biểu hiện 45
Trang 42.3.3 Bi hài 47
CHƯƠNG 3 NHÂN VẬT HÀI HƯỚC NGHỊCH DỊ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 53
3.1.Nhân vật xấu xí, dị biệt về nhân dạng 53
3.2 Nhân vật méo mó, lệch lạc về nhân cách, tâm hồn 63
3.3 Hài hước nghịch dị – “tính dục” 73
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Giai đoạn 1930 – 1945 có thể xem là một trong những thời kỳ phát triển mạnh
mẽ và đa dạng nhất của văn học dân tộc với sự ra đời của nhiều trào lưu gắn liền với những tên tuổi lớn Nếu trong văn xuôi lãng mạn có Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân; Thơ mới có Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên thì dòng văn học hiện thực phê phán chúng ta có Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao Đây là những cây bút mà sự nghiệp văn chương của họ là lời mời gọi không ngừng sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại
Nam Cao(1917 – 1951) là một trong số những nhà văn tiêu biểu nhất của văn
xuôi Việt Nam hiện đại Ông xuất hiện trên văn đàn văn học khi mà trào lưu hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Mặc dù là người đến muộn nhưng ông đã tìm được cho mình một lối đi riêng Nếu như các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố đều tập trung phản ánh những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác của Nam Cao lại đi sâu thể hiện xung đột trong thế giới nội tâm của nhân vật Mặc dù cuộc đời cầm bút không dài nhưng nhà văn Nam Cao đã dành tặng cho đời một sự nghiệp sáng tác phong phú vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian để tỏa sáng Trong sự nghiệp của mình, Nam Cao thành công nhất ở thể loại truyện ngắn Truyện ngắn của ông giàu về tư tưởng, xuất sắc về nghệ thuật nên luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu và công chúng yêu văn học Vì vậy, nó là một di sản vô cùng quý báu cần được giới thiệu, tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo
1.2 Cái hài là một đặc tính vốn có của đời sống và là một phạm trù mĩ học thu hút
sự lí giải của nhiều độc giả Cái hài xuất hiện trong văn học Việt nam ngay từ buổi
sơ khai, được thể hiện qua nhiều dạng thức phong phú và thăng trầm theo những biến thiên của các hình thái xã hội khác nhau Giai đoạn trước 1945, cái hài từng là phạm trù thẩm mĩ quan trọng làm nên sự đa dạng của văn học dân tộc Văn xuôi trào phúng đầu thế kỉ XX xuất hiện hai cây bút tiêu biểu là Nguyễn Công Hoan và
Trang 6Vũ Trọng Phụng Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy trong sáng tác của họ, cái hài như nhu cầu tự nhiên của đời sống, mang tính chất nhiều chiều, lưỡng hợp Cái hài trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thường được nhấn mạnh ở sắc thái châm biếm, đả kích “Ông thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương Tiếng cười đả kích của Nguyễn Công Hoan, vì thế, thường là những đòn đơn giản và ác liệt”[29;130] Nguyễn Công Hoan tiếp nối dòng trào phúng của Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, ông nhìn đời như một tấn tuồng, nhân vật diễn trò là những gì thuộc về
con đẻ thời Tây Trần Văn Hiếu trong bài Chất trí tuệ của tiếng cười và óc châm chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan khẳng định: “Tác phẩm của ông được xem
như một mảng màu không thể thay thế trên bức tranh trào phúng của văn học thời
kỳ 1930 – 1945”[18;459] Còn Vũ Trọng Phụng, có một thời, cái hài trong văn
chương của ông không được đánh giá cao Bởi theo Phong Lê trong bài Tìm hiểu lịch sử cái gọi là vấn đề Vũ Trọng Phụng giải thích rằng: “nó chạm vào chỗ thiêng
nhất, nhạy cảm nhất trong quan niệm nghệ thuật, vốn gắn rất chặt với quan niệm
chính trị và quan niệm đạo đức ở xứ ta”[24;4] Hoàng Ngọc Hiến trong bài Dị ứng với cái rởm – một phương diện của trào phúng Vũ Trọng Phụng đã khẳng định: “Số
đỏ là một tác phẩm trào phúng hài hước”, bởi ông đã thể hiện được “Tình cảm hài hước chế giễu những gì đáng khinh ghét, đồng thời làm dịu đi những tình cảm khinh ghét ”[24;11] Dưới con mắt của Vũ Trọng Phụng, đời là tấn đại hài kịch mà
kẻ đạo diễn chính là số mệnh Số mệnh đạo diễn tất cả cho nên bất kì ai cũng đều có
thể trở thành diễn viên hề, dù họ ở địa vị xã hội nào Trong Số đỏ, “đời là toàn bộ xã
hội tư sản thành thị láo nháo buổi Âu hóa Ở đó, không chỉ một cá nhân làm trò, diễn trò mà dường như tất cả đều trở thành con rối múa may quay cuồng những trò
vô nghĩa lý do sự giật dây của định mệnh”[18;12] So với Nguyễn Công Hoan, cách nhìn đời của Vũ Trọng Phụng sâu hơn, triết lý hơn, khái quát hơn
Bên cạnh Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng , tiếng cười trong sáng tác của nhà văn Nam Cao cũng đem lại cho người đọc một cái nhìn mới về sự vận động của thẩm mĩ hiện đại trong văn học Việt Nam đặc biệt trong giai đoạn trước 1945
Trong bài viết Những biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao, tác
Trang 7giả Vương Trí Nhàn cho rằng: “Sự nhạy cảm với những cái kỳ quặc, thích gọi tên chúng ra, đưa bằng được chúng vào truyện, đấy là một cảm hứng nghệ thuật không thể che giấu ở ngòi bút tác giả Chí Phèo”[25;455] Dù Nam Cao viết về đề tài người nông dân hay đề tài người trí thức tiểu tư sản nghèo, ở giai đoạn sáng tác trước hay sau Cách mạng tháng Tám thì mỗi tác phẩm của ông đều “chứa đựng một sự cắt nghĩa hài hước về cuộc đời”, bởi cuộc đời thật “buồn cười”, con người thật “đáng cười, đáng thương, đáng trọng” Tiếng cười của Nam Cao là tiếng cười ra nước mắt gắn với trạng huống bi kịch về phần xác của con người, đó là “cái đói và miếng ăn”
Có thể nói, hài hước nghịch dị là sở trường của Nam Cao Những hình tượng quái đản trong Chí Phèo, Nửa đêm, Lang Rận đều gắn với bi kịch của thân phận con
người Cái hài trong truyện ngắn Nam Cao có ý nghĩa “khai tử và tái sinh”, đã góp phần khẳng định vị trí, tầm vóc của một nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam
1.3 Trong sáng tác văn học, truyện ngắn của Nam Cao được đánh giá cao và được
Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào giảng dạy trong chương trình Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông khá nhiều Vì vậy, việc tìm hiểu về tác phẩm của nhà văn là một việc làm cần thiết Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhiều luận văn, luậnán tìm hiểu về Nam Cao nhưng có lẽ chưa có một bài nghiên cứu nào
đi sâu tìm hiểu hài hước nghịch dị trong truyện ngắn của ông Với đề tài “Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao”, tôi xin góp thêm một góc nhìn về truyện
ngắn của nhà văn hiện thực xuất sắc này
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Vấn đề nghiên cứu tác giả - tác phẩm
Trọn đời Nam Cao sống trong chế độ cũ, cho đến khi qua đời năm 1951, nhà văn chưa kịp được hưởng một sự đánh giá xứng đáng Phải đến khi ông mất mới có
bài viết về ông Rồi cũng lại phải trên 10 năm, sau khi tiểu thuyết Sống mòn và hai
tập truyện ngắn được in ra thì giá trị Nam Cao mới được khẳng định Từ chuyên
luận Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc của Hà Minh Đức năm 1961, rồi qua hai lần làm tuyển tập Nam Cao, năm 1975 và năm 1987 giá trị Nam Cao đã dần được
định vị vững chãi
Trang 8Cho đến nay các công trình nghiên cứu về tác giả – tác phẩm của Nam Cao rất
phong phú và đa dạng, đồ sộ về số lượng và kết tinh về chất lượng Theo Trần Đăng
Suyền, tác giả cuốn sách Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao cho biết, gần nửa thế kỷ
qua đã có hơn hai trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ về Nam Cao Trong đó có những bài viết của tác giả cùng thời với Nam Cao và của các học giả nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Hà Minh Đức, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh Bằng niềm đam mê nghiên cứu, các tác giả đã không ngừng phát hiện ra những nét độc đáo, tài hoa trong nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao như thi pháp truyện ngắn, nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật khắc họa tâm lí, bút pháp tự sự, lối kể chuyện
Năm 1952, Nguyễn Đình Thi có bài viết về Nam Cao in trong cuốn Mấy vấn đề văn học (1956) đã nhận định: “Anh thù ghét những sách phù phiếm, nói những
chuyện rắc rối của những kẻ ăn no ngồi rồi, không biết làm gì cả Anh nhìn rõ cái
chế độ đầy đọa và làm trụy lạc con người ”[7;44] Trong lời giới thiệu Nam Cao tác phẩm, tập 1 (Nhà xuất bản văn học Hà Nội, 1976), Hà Minh Đức đã đánh giá
sâu sắc vị trí, vai trò của nhà văn Nam Cao trong nền văn học Việt Nam Từ một nhà văn đang tìm đường, nhận đường, tâm hồn Nam Cao đã dần thay đổi để có một cái nhìn đúng đắn về cuộc sống Ông khẳng định: “Ngòi bút Nam Cao như một con dao trích lạnh lùng lách sâu vào cơ thể bệnh tật của xã hội, phơi bày ra không tiếc thương trên trang giấy những ung nhọt tấy đau đang hủy hoại hoặc thầm lặng, hoặc gấp rút cuộc sống con người Ngòi bút Nam Cao tỉ mỉ đi vào mọi ngõ ngách của cuộc đời ghi lấy từng chi tiết, từng hơi thở của cuộc sống, bắt sự sống hiện hình như
nó đang bị hủy hoại, giẫy giũa quằn quại ngoài kia[ ] nhưng rồi tác giả không kìm nén được tiếng nấc đau thương, nghẹn ngào khi thấy những con người lương thiện
bị xô đẩy vào vòng tội lỗi[ ] Nam Cao có một tâm hồn biết lắng nghe, một tiếng nói tha thiết biết an ủi và vỗ về từ bên trong để chia sẻ lòng mình đến mọi cuộc đời nghèo khổ”[5;7,8] Cũng theo Hà Minh Đức, Nam Cao là nhà văn xuất sắc nhất của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt nam thời kì 1930 – 1945
Trang 9Trong sáng tác của mình, Nam Cao viết một cách say sưa, cay đắng về miếng
ăn, “miếng ăn” là “miếng nhục” vì nó đã hủy diệt nhân tính của những người nông
dân nghèo như bà cái đĩ trong Một bữa no hay Chí Phèo trong Chí Phèo ; nó kéo
cuộc sống của người tri thức ghì sát đất, nó biến những ước mơ lí tưởng, triết lí của
người tri thức thành huênh hoang, giả dối và khôi hài (Đời thừa, Trăng sáng ) Trong cuốn Nhà văn hiện đại Việt Nam chân dung và phong cách, Nguyễn Đăng
Mạnh đánh giá: “Nếu như tác phẩm của Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói, thì ở tác phẩm của Nam Cao lại là tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm, nhân tính của
con người”[29;283] Năm 1992, cuốn Nghĩ tiếp về Nam Cao của nhà xuất bản
Hội nhà văn đã giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời, con người, tài năng và phong cách Nam Cao qua các công trình nghiên cứu có giá trị sâu sắc
Trần Đăng Suyền trong bài viết Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn thì cho rằng: “Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực
tâm lý” mà “cái gốc, nền tảng vững chắc của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo Ông là nhà văn đồng tình với khát vọng sống lương thiện và khát vọng được phát huy đến tận độ tài năng của con người ”[27;36,42] Trong cuốn
Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao của Trần Đăng Suyền, tái bản lần thứ 3, năm 2008
đã khẳng định mạnh mẽ hơn nữa tài năng, phong cách Nam Cao: “Thời gian càng lùi xa, những tác phẩm của ông càng bộc lộ những tư tưởng nhân văn cao cả, ý nghĩa hiện thực sâu sắc và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo.”[41;7] Đã hơn 60 năm trôi qua nhưng sự nghiệp của nhà văn Nam Cao vẫn được tìm hiểu và ngày càng tỏa sáng
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học với các đề tài xung quanh cuộc đời, con người, sự nghiệp của Nam Cao của nhiều thế hệ khác nhau, điều đó cho thấy sức hút kì lạ của nhà văn tài năng và tâm huyết này Càng đọc Nam Cao, ta càng tiếp cận một chân lý: “Nam Cao là một đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”[41;9]
Trang 102.2 Vấn đề nghiên cứu hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao
Phong Lê trong bài Nam Cao nhìn từ cuối thế kỉ cho rằng: “Ở văn Nam Cao gần
như có đủ các chất liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô nhám và chất thơ ”[27;22] Tuy nhiên, phần lớn các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về Nam Cao và sáng tác của ông đều ở khía cạnh hiện thực và nhân đạo, cái đói và miếng ăn, cái bi kịchtrong cuộc sống con người ; mà chưa có công trình nghiên cứu nào trọn vẹn về hài hước nghịch dị trong truyện ngắn
Nói đến chất hài trong sáng tác văn học giai đoạn 1930 – 1945 người ta nghĩ ngay đến hai nhà văn trào phúng Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng Nguyễn Công Hoan với gần 200 truyện ngắn đặc sắc đã đưa ông đến đài vinh quang của bậc
thầy truyện ngắn nước nhà Vũ Trọng Phụng chỉ cần nhắc đến Số đỏ cũng đủ “làm
vinh dự cho mọi nền văn học” (Nguyễn Khải) Còn Nam Cao, từ trước tới nay chưa
ai coi ông là nhà văn trào phúng, mặc dù người ta vẫn nhận ra chất hài hước độc đáo
của ông Theo bài viết Vài suy ngẫm về tiếng cười trong sáng tác của Nam cao trước Cách mạng tháng Tám của Lê Nam Linh thì tiếng cười “thường đến đột ngột
và lai rai trong mạch truyện, thường làm hé ra những nụ cười không thành tiếng của độc giả” Và tác giả bài viết đi vào lí giải hai thủ pháp chính tạo tiếng cười trong sáng tác Nam Cao: Một là; Để “nội tâm nhân vật lý sự” Thủ pháp này, Nam Cao thường dành cho người nông dân, đó là những người nông dân bần cùng đang dần tha hóa, biến dạng đến thảm hại mất dần nhân cách Viết về họ, tiếng cười bật ra ở cách biện bạch, lí sự cùn trong cái lí sự của nội tâm nhân vật Hai là “Phanh phui tâm lý nhỏ nhen” Thủ pháp này dành cho nhân vật tiểu tư sản, những con người luôn bị dày vò vì nghèo túng nhưng lại cố làm ra vẻ trang nghiêm đạo mạo Tiếng cười thốt ra day dứt, ngậm ngùi, “Tiếng cười ấy tạo cho Nam Cao có màu sắc hơn, giọng văn triết lý của Nam Cao trở nên bớt khô khan hơn, nặng nề hơn: Triết lý mà hài hước, hài hước mà triết lý thâm trầm”[9]
Bài viết Chất hài trong truyện ngắn Nam Cao của Lê Thị Đức Hạnh nhận xét:
“Tuy không phải là đặc điểm phổ biến nổi đậm như chất triết lý, nhưng chất hài ở
Trang 11ngòi bút Nam Cao được biểu hiện kín đáo, có khi thấy ở từng truyện, từng ý hoặc qua những hình ảnh, câu chữ với một sắc thái riêng, là một trong những nét góp phần tạo nên sự độc đáo của truyện ngắn Nam Cao”[27;103] Tác giả cũng cho rằng, đọc truyện ngắn Nam Cao dễ dàng bắt gặp ở chỗ này, chỗ khác các cung bậc khác nhau của cái hài và “Nếu như tiếng cười của Nguyễn Công Hoan giòn giã, phũ phàng, khoái trá, tiếng cười của Ngô Tất Tố dí dỏm, sâu sắc, thâm trầm, tiếng cười của Vũ Trọng Phụng hài hước, giễu cợt sâu cay thì tiếng cười của Nam Cao thấm lẩn, đượm vẻ bi thương, nhiều khi pha chất triết lý”[27;110] Và chính vì điều đó nên truyện ngắn Nam Cao dễ trầm lắng và nặng nề suy tư
Tác giả Trần Thị Việt Trung trong bài Về các nhân vật dị dạng trong sáng tác Nam Cao đã khẳng định: “Việc xuất hiện một loạt các nhân vật xấu xí, kỳ dị, ở
trong tác phẩm của Nam Cao là một việc làm đầy dụng ý của tác[ ] Sự bế tắc đến mức dồn nén đã xô đẩy con người vào ngõ cụt của cuộc đời”[27;127] Những con người méo mó, dị dạng về tâm hồn và nhân cách ấy là những người dân lao động hiền lành Họ là sản phẩm của xã hội đen tối Chính xã hội thực dân nửa phong kiến
đã biến họ từ những con người lương thiện, đẹp đẽ, cao quý thành những kẻ đần độn, ngu ngơ bị loại bỏ ra khỏi xã hội loài người
Vương Trí Nhàn trong bài viết Những biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao cho rằng nghịch dị là trái ngược với cái thông thường “một dạng
tồn tại của sự vật, dạng méo mó xệch xạc” Ở truyện ngắn Nam Cao, các nhân vật không có tính kỳ quái, hoang tưởng, biến hình Sáng tác của ông, “các nhân vật thường khi vẫn là con người với những mong muốn tầm thường của họ, cái kỳ quái
có được miêu tả thì cũng là một thứ kỳ quái có nhiều dây dưa với những hình hài những kích thước con người hàng ngày chẳng qua bị lỡ tay xô đẩy nên méo mó xẹo xọ đi một chút mà thôi”[27;93] Theo ông, cái kỳ dị không phải chỉ hiện ra ở dạng dương tính mà còn có dạng âm tính “Và đấy cũng là một khía cạnh làm cho chất nghịch dị này mang sắc thái riêng của con người Việt nam, xã hội Việt
Nam”[27;93] Tác giả Bích Thu trong bài Sức sống của một sự nghiệp văn chương
thì lại cho rằng: “Với cái nhìn nghệ thuật của mình, cuộc đời hiện ra trong tác phẩm
Trang 12Nam Cao như tự nó vốn như thế Cái bình thường và cái không bình thường, chất hiện thực và chất quái dị tồn tại bên nhau Nhưng tính chất trái chiều ấy không phải không có sức hút trong phong tục và trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam.”[7;35]
Nhìn chung, các tác giả đã ít nhiều đề cập tới cái hài hước, cái nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao song chưa phải là những bài viết, bài nghiên cứu có hệ thống
và toàn diện Chúng tôi sẽ tiếp thu và kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến
đề tài để làm rõ hơn “Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao”
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu của đề tài
Cho đến thời điểm hiện tại khi chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn của Nam Cao” thì dường như chưa có một công trình
khoa học nào thực sự chuyên sâu về đề tài này Luận văn nhằm làm rõ hơn một phương diện thẩm mĩ trong thi pháp truyện ngắn Nam Cao đồng thời thấy được tài năng của nhà văn trong nghệ thuật viết truyện
Hài hước nghịch dị là một phạm trù khó và phức tạp Hiện nay còn rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau và ngày càng được mở rộng phong phú hơn Nắm bắt và lí giải hài hước nghịch dị không phải là vấn đề dễ dàng, tuy nhiên, chúng tôi mong muốn với đề tài này cố gắng đi tìm hiểu nét độc đáo riêng trong truyện ngắn của nhà văn hiện thực xuất sắc Nam Cao
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, lí giải để làm rõ hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao
trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945
- Xác định một số khái niệm: Cái hài, hài hước, nghịch dị, hài hước nghịch dị
- Trình bày các luận điểm về hài hước nghịch dị trong truyện Nam cao
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu nhất của Nam Cao trước và sau cách mạng tháng Tám 1945 ở cả hai đề tài người nông dân và người trí thức nghèo
và một số tác phẩm, công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài
Luận văn của chúng tôi nghiên cứu hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao qua các phương diện: Cái hài trong truyện ngắn Nam Cao, các kiểu xung đột
hài hước, nhân vật hài hước nghịch dị Với đề tài “Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao”, chúng tôi xác định hướng nghiên cứu của đề tài dựa trên lý
thuyết hài hước, nghịch dị của văn học hiện đại và hậu hiện đại vốn đã được công nhận và thống nhất trong giới nghiên cứu phê bình lâu nay Luận văn này tập trung phân tích, đánh giá những biểu hiện phong phú và hiệu quả thẩm mĩ của hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao để thấy được những nét riêng độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao”, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp so sánh: So sánh vấn đề được đề cập tới trong luận văn với những tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam và văn học thế giới để thấy được những khám phá riêng về cái hài hước nghịch dị trong truyện ngắn của Nam Cao
Phương pháp phân tích – tổng hợp: đưa ra những dữ kiện để phân tích, đánh giá Phương pháp vận dụng cách tiếp cận của thi pháp học
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương 1: Vị trí của cái hài trong truyện ngắn Nam Cao
Chương 2 : Quan niệm hài hước trong truyện ngắn Nam Cao
Chương 3 : Nhân vật hài hước nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao
Trang 14CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ CỦA CÁI HÀI TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO 1.1 Quan niệm về “cái hài”
Cái hài là phạm trù mỹ học cơ bản Cái hài được xem là một trong những phương tiện biểu hiện của tình cảm thẩm mĩ trong sự đối xứng với cái bi Biểu hiện của cái hài rất phong phú, đa dạng Nó vừa là phương thức của cái khôi hài vừa được bắt nguồn từ chính cơ sở khách quan của cái khôi hài Cái hài được chuyển tải đến đời sống bằng công cụ sắc bén là tiếng cười Các nhà mĩ học Hi Lạp cổ đại như Platon, Arixtote đã đưa ra những kiến giải sâu sắc về cái hài Platon cho rằng
“Thiếu hài hước không nhận thức được cái nghiêm túc” Arixtote quan niệm: Cái hài trước hết phải là cái xấu, nhưng chỉ là một bộ phận của cái xấu , những cái xấu thuộc phạm vi đạo đức nó vô hại, hài kịch chân chính bởi vậy không bao gồm hình thức chế giễu mà chỉ là một hình thức trào lộng đem lại cái cười với mục đích mua vui Quan điểm mĩ học của Arixtote đã chỉ ra được bản chất của cái hài đó là cái xấu nhưng ông mới chỉ nhấn mạnh giá trị giải trí mua vui mà chưa quan tâm đến ý nghĩa phê phán, khả năng phủ định của nó về mặt xã hội Các nhà triết học cổ điển Đức như Kant, Hegel cũng quan tâm đến việc lí giải cái hài Theo Kant, cái hài là
sự mâu thuẫn giữa cái thấp hèn và cái cao cả Hegel quan niệm hài là mâu thuẫn giữa cái giả dối, cái có cơ sở hư ảo với cái có ý nghĩa, cái bền vững và chân lí Từ những phát hiện trên, ta có thể thấy cái hài được sinh ra từ mâu thuẫn, tương phản hay không tương xứng Nói cách khác: Tiếng cười cùng tác động và ý nghĩa thẩm
mĩ của nó bao giờ cũng được phát hiện và biểu hiện dưới ánh sáng của một lí tưởng thẩm mĩ tiến bộ
Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đã khái quát: Cái hài là “phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận về phương diện xã hội – thẩm mĩ”[13;36] Như vậy, cái hài gắn với tiếng cười, chứa đựng tiếng cười, cái hài là một hiện tượng gây cười Cái hài thuộc về khách
Trang 15thể thẩm mĩ còn cái cười lại thuộc về chủ thể thẩm mĩ Tuy nhiên, không phải mọi cái cười đều có quan hệ với cái hài Cái hài còn bao hàm một ý nghĩa xã hội sâu sắc gắn liền với sự khẳng định lí tưởng thẩm mĩ cao cả Giáo trình Mỹ học đại cương (PGS -TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên) cũng kết luận: Cái hài “là cái xấu đội lốt cái đẹp, bị phát hiện bất ngờ và gây ra tiếng cười tích cực ” Có thể nói, cái hài là một trong những phẩm chất thẩm mĩ chủ đạo tạo nên đặc trưng thẩm mĩ đa dạng của văn học Có ba yếu tố tạo nên cái hài: Một là, bản chất mang “tính hài” của đối tượng; hai là, sự cường điệu của “đường nét, kích thước”; Ba là, sự “sắc bén, hóm hỉnh” của người thể hiện Có thể nói, cái hài là một trong những phẩm chất thẩm mĩ chủ đạo tạo nên đặc trưng thẩm mĩ đa dạng của văn học
Trước hết, cái hài là cái xấu thuộc về đạo đức, về đời sống, về lí tưởng xã hội thể hiện ở quan hệ thẩm mĩ Ví dụ: như tính hay xu nịnh, gia trưởng, tham ăn, lươn lẹo trong từng con người và cả trong các mối quan hệ xã hội Arixtote cho rằng: Cái xấu đã đến mức đê tiện mà ai cũng biết, không giấu nổi thì nó không còn của tiếng cười hài hước Cái hài còn gắn với tiếng cười tích cực Đó là tiếng cười dí dỏm, mỉa mai, châm biếm một cái nhẹ nhàng nhưng lại có sức mạnh chống lại cái xấu Trong
mĩ học hiện đại, liên quan tới yếu tố cười của cái hài, ít hay nhiều đều gắn với yếu
tố tục, cái tục Trong rất nhiều dạng của cái hài đều có sự đan xen một cách tinh tế tính bất ngờ pha trộn yếu tố dung tục Người ta thường gắn cái hài với cái bộ phận sinh dục của con người để tìm ra tiếng cười Chẳng hạn như câu: “Trời cho cái mẽ bên ngoài – Để che đậy cái sơ sài bên trong”(Tú Mỡ)
Trong đời sống, cái hài có nhiều loại và sự đa dạng của nó phụ thuộc vào tính chất nhiều màu vẻ của đối tượng có thể gây cười lẫn chủ thể cười Có hai dạng tồn
tại khách quan của nó, đó là hài hước và châm biếm
1.2 Cái hài trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX
Cái hài trong văn học Việt Nam truyền thống mang bản chất mỹ học Chúng ta
đã biết đến tiếng cười trong trẻo của người bình dân; tiếng cười lạc quan, vui mà tếu của Hồ Xuân Hương; tiếng cười nhẹ nhàng, thâm thúy, hóm hỉnh của Nguyễn Khuyến; tiếng cười dữ dội, quyết liệt, sâu cay như “mảnh vỡ thủy tinh” của Tú
Trang 16Xương và tiếng cười thâm trầm đầy chất trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Rồi đến tiếng cười trong văn xuôi hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố và nằm sâu trong hệ hình văn học Việt Nam truyền thống là tiếng cười “đau đớn và u ám” của Nam Cao Đó là một chuỗi cười dài trong truyền thống văn học, văn hóa Việt Nam
Rabơle, nhà nhân văn chủ nghĩa Pháp thời Phục Hưng nhận xét rằng: cười là một đặc tính của con người Tiếng cười thể hiện phong phú đời sống tâm hồn trí tuệ, tình cảm của loài người Văn học dân gian gắn với văn hóa dân gian Forklore, tiếng cười cất lên với nhiều cung bậc Trong mảng ca dao hài hước, các nhân vật xấu xí chính là đối tượng của tiếng cười Chân dung những người phụ nữ lôi thôi, nhếch nhác, bẩn thỉu; những người đàn ông xấu xí, thô kệch được miêu tả một cách hài hước nghịch dị Đây là chân dung của người phụ nữ có tất cả những nét khiếm khuyết: “Lỗ mũi mười tám gánh lông / Đêm nằm thì gáy o o / Đi chợ thì hay ăn quà /Trên đầu những rác cùng rơm ” Hiện lên trong bài ca là chân dung biếm họa của người vợ ở hình dáng và tính cách Người phụ nữ ấy không chỉ xấu xí, bẩn thỉu mà còn lười nhác, hay ăn quà vặt Nhưng cái xấu xí đó lại trở thành cái hay, cái đẹp trong tình cảm yêu quý, chiều chuộng của người chồng Thế mới biết khi yêu cái gì cũng đẹp cũng đáng yêu Ông cha ta còn có những câu nói về hình tượng dị biệt của người chồng trong gia đình “Chồng gì chồng bé – Bé tẻo tèo teo – Chân đi cà kheo” Người chồng trong bài ca dao được vẽ bằng tiếng cười hài hước
về sự vô giá trị Và còn nhiều câu ca dao như: “Chồng hen lấy vợ cũng hen – Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi”; “chuột chù chê khỉ rằng hôi – Khỉ mới trả lời: cả họ mày thơm!” Tiếng cười trong ca dao Việt Nam mang thật nhiều ý nghĩa
Đến văn học trung đại, tiếng cười trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương
có đầy đủ các cung bậc của tiếng cười nhân loại Tiếng cười trong thơ bà có sự giao thoa, hòa quyện giữa tiếng cười dân gian và văn hóa bác học Bằng tiếng cười độc đáo, “Bà chúa thơ Nôm” đã tạo ra một mô thức nghệ thuật về con người lệch chuẩn Hình ảnh các vua chúa, quân tử, văn nhân, sư sãi đã chút bỏ y phục vàng son trở về làm con người phàm tục qua tiếng cười suồng sã Đọc “Sư hổ mang” của Hồ Xuân
Trang 17Hương, tiếng cười nghịch dị đã được hồi sinh: “Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta – Đầu thì trọc lốc, áo không tà – Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm – vãi núp sau lưng sáu bảy bà – Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe – Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha ”[20;35,36] Sự hài hước ở đây thật nghịch dị bởi những người tu hành nhưng làm những việc trái với luân thường đạo lí chưa rũ bỏ được dục vọng bản năng: hoang dâm vô độ Vì vậy, sự xuất hiện của “hài hước Xuân Hương đã tạo ra những sang chấn, khiến ý thức thẩm mĩ thời trung đại thêm một nhân tố phá vỡ sự cân bằng đã tới hạn”[1;147] Tác giả Mai Trương Huy thì cho rằng: Tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương chứa đựng tiếng cười toàn dân và cảm hứng hiện thực phồn thực, bình dị
Và đến văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, “cái hài thực sự đã gia nhập chính thức vào hệ thống thẩm mĩ đồng thời với sự thay đổi lớn lao của cái nhìn, quan niệm nghệ thuật về thế giới, về sự sống trong tính phổ quát nhân loại”[1;148] Ở thời kì này, thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ Xã hội Âu hóa với những đặc trưng của nó đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới Những giá trị truyền thống tốt đẹp bị lấn át Điều này làm cho cái hài trỗi dậy mạnh mẽ, tiêu biểu là ở các nhà văn hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng Nam Cao đã tìm cho mình một lối đi riêng trong việc khám phá, phát hiện cái hài để tạo ra những chân dung kì lạ trong văn học và trở thành những hình tượng nhân vật bất hủ một đi không trở lại
Nguyễn Công Hoan là “cây” trào phúng xuất sắc Ông có sở trường viết truyện trào phúng theo khuynh hướng hiện thực phê phán Từ năm 1930 – 1932 nhà văn đã cho ra đời hơn hai mươi truyện ngắn và nhanh chóng trở thành một nhà văn sáng giá Nối tiếp tiếng cười hóm hỉnh trong văn học dân gian và trong thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Hoan viết truyện ngắn hiện thực đậm chất hài, hóm hỉnh và sâu sắc Đối tượng của cái hài trong truyện ngắn của ông
đa dạng, sắc độ của tiếng cười nhiều cung bậc với nghệ thuật trào phúng linh hoạt, giàu cá tính Văn Nguyễn Công Hoan được ví “như mũi tên nhằm vào một loại đối tượng của xã hội” là “loại văn tiễn đưa tất cả những gì lỗi thời đi vào vương quốc
Trang 18của bóng tối”[24;8] Xuất phát từ cái nhìn cuộc đời là sân khấu hài kịch và con người chỉ là những kẻ diễn trò, tác giả đã phơi bày được bộ mặt thật của xã hội đương thời Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thường xoay quanh sự đối chọi giữa
kẻ giàu và người nghèo Kẻ giàu thì “ăn ngập mày ngập mặt”, người nghèo thì “suốt đời đói rách” Từ đó, nhà văn đã khám phá những cái vô lý bất công trong xã hội cũ bằng vũ khí muôn màu muôn vẻ của cái hài Nguyễn Công Hoan không có khả năng
tổ chức những “chuỗi cười dài” như trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng mà tiếng cười của ông được gói gọn trong những truyện rất ngắn Bằng óc quan sát, trí tưởng tượng và tư duy nghệ thuật của mình, nhà văn đã phát hiện ra những mẫu thuẫn trào
phúng, tình thế có tính chất hài hước Chẳng hạn như Tinh thần thể dục là mẫu
thuẫn giữa cái vẻ mĩ miều bên ngoài giả tạo rất vui, rất thoải mái: xem bóng đá, với thực chất bên trong của kẻ bị trị: là tai họa đối với người dân cày đầu tắt mặt tối Đó
là mâu thuẫn hài kịch, là sự vênh váo giữa hình thức và nội dung tạo ra tiếng cười vừa giễu cợt vừa châm biếm đả kích Từ đó tác giả phê phán tính chất bịp bợm của
“phong trào thể dục thể thao” mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ để đánh lạc hướng
thanh niên Truyện ngắn “Người ngựa, ngựa người” là tình thế oái oăm của hai nạn
nhân trong xã hội thành thị xưa: anh phu xe (ngựa người) muốn kiếm thêm vài đồng mua lon gạo cho vợ con trong đêm ba mươi thì lại phải chở không công cho gái giang hồ ế khách (người ngựa) Câu chuyện đã tạo ra xung đột bi hài kịch, chuyện thật như bịa tạo sự đột ngột, bất ngờ Tiếng cười bật ra đau xót cho kiếp “ngựa người và người ngựa” Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “nhiều tác phẩm chỉ xây dựng chung quanh mâu thuẫn giữa cái vỏ và cái ruột của một nhân vật: vỏ thì
chí hiếu, ruột đại bất hiếu (Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu: trả nghĩa mẹ’), vỏ tiết hạnh, ruột dâm ô (Một tấm gương sáng ), vỏ oai vệ, ruột lưu manh (Đồng hào
có ma ), vỏ lịch sự, sang trọng, ruột xỏ xiên, bần tiện (cái ví ấy của ai? Mất cái ví, thằng điên )”[29;138]
Cách kể chuyện của nhà văn Nguyễn Công Hoan rất vui và có duyên Cái hài của ông khiến kẻ thù cũng phải bật cười Ông ưa sử dụng thủ pháp cường điệu, phóng đại và những liên tưởng bất ngờ để tô đậm những bức chân dung biếm họa
Trang 19nhưng ấn tượng nhất vẫn là các nhân vật phản diện Nhà văn từng khẳng định: “Tôi
vẽ người xấu nhạy hơn người tốt” Các nhân vật phản diện trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan tuy khác nhau về tên gọi, địa vị nhưng chúng đều có một ngoại hình béo tốt, phì nộn, đều có tính cách độc ác, xấu xa, đê tiện Đây là chân dung
quan huyện Hinh trong Đồng hào có ma: “có lẽ vì ông béo quá, nên lỗ chân lông
căng ra, căng thẳng quá, đến nỗi râu không có chỗ nào lách ra ngoài được”[37;61],
hay nhà tư sản trong Báo hiếu: trả nghĩa cha: “Cái bụng phưỡn ra, nấp trong bộ
quần áo xếp nếp cứng thẳng như cái hộp”[37;61] Ngoại hình béo tốt của một “bà”
trong truyện Phành phạch cũng được Nguyễn Công Hoan miêu tả mang đầy tính
châm biếm: “cái mặt phị, cái cổ rụt, cái thân nung núc, và “bốn chân tay ngắn chùn chùn” Bà nằm đó nhưng không ai biết đó là người mà tưởng “một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại với nhau, sắp đem cất đi ” Trong truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan, nhân vật được xây dựng không có độ vênh giữa ngoại hình và tính cách Ngoại hình nào thì tính cách ấy Đó là kiểu nhân vật loại hình Nghệ thuật phóng đại của Nguyễn Công Hoan đã “tạo nên được biết bao trận cười đậm đà khoái chá”[29;143].Và tiếng cười như thế chính là vũ khí của cái thiện, giúp phê phán đẩy lùi, xóa bỏ những mặt tiêu cực trong cuộc sống
Bên cạnh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng cũng là nhà văn trào phúng bậc thầy trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Nói đến tiếng cười trong sáng tác của
nhà văn này, tác giả Văn Tâm trong bài Vũ Trọng Phụng trong rừng cười nhiệt đới
đã cho rằng: “Một vạt “rừng cười nhiệt đới” vụt xuất hiện với những cây cười thuộc loại gỗ tứ thiết: Nguyễn Công Hoan, người kể chuyện tiếu lâm thời Tây cười rộ thống khoái, Tô Hoài cười nửa miệng ngán ngẩm, Ngô Tất Tố cười nụ thâm nho, Tam Lang cười khẩy nhọn hoắt, Nam Cao cười nhếch mép lạnh lùng, Tú Mỡ cười nhấm nháy hóm hỉnh Đồ Phồn cười nửa miệng cay độc Và vươn cao ngọn trên rừng cười tứ thiết ấy là cây cười loại chò cổ thụ Vũ Trọng Phụng với các giai điệu cười có thanh điệu, tiết tấu, âm sắc, trường độ và cường độ đa dạng ”[31;93] Sáng tác của “ông vua phóng sự đất Bắc” có một vị trí đặc biệt Phần lớn các tác phẩm của ông đều có tính hài và thành công rực rỡ nhất của nghệ thuật trào phúng là tiểu
Trang 20thuyết Số Đỏ – một tác phẩm mà “không ai bắt chước được, không ai theo kịp được”(Vũ Bằng – Những cây cười tiền chiến – Sài Gòn – 1971) Với tác phẩm Số
đỏ, Vũ Trọng Phụng xứng đáng là “bậc thầy trào phúng” Ở tác phẩm này, mỗi
chương là một màn hài kịch, mỗi nhân vật là một chân dung hài hước Nhà văn có biệt tài khai thác những cái nghịch dị (grotesque), cái ngẫu nhiên trong cuộc sống
Hài hước nghịch dị trong tác phẩm Số đỏ chủ yếu là sự kết hợp những cái không thể
kết hợp như bi – hài, giả – thật, đạo đức – vô đạo đức; ở kiểu hình tượng vật chất xác thịt như hình tượng em Chã, bà phó Đoan, Xuân Tóc Đỏ; ở những nhân vật đeo mặt nạ dù không có lễ hội hóa trang nào: Cô Tuyết lẳng lơ luôn đeo mặt nạ đoan trang, bà phó Đoan dâm đãng lại đeo mặt nạ tiết hạnh khả phong Cái hài trong tác phẩm thể hiện ngay ở cách đặt tên nhân vật: Bà phó Đoan nhưng không đoan chính;
bà Văn Minh nhưng không văn minh, ông Typn tân tiến nửa vời; Minđơ, Mintoa cảnh binh hạng năm hay nhiễu sách Ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện trong
Số đỏ là thứ ngôn ngữ “đầu đường xó chợ”, thứ ngôn ngữ bị đuổi ra khỏi “salon,
sách vở”
Trong tiểu thuyết Số đỏ, tiếng cười Vũ Trọng Phụng bật ra ở những đối tượng
cụ thể Đối với người dân bình thường thì tiếng cười gắn với cảm quan trào lộng, hài hước, bông lơn nhẹ nhàng Nhà văn hài hước với sự thật thà của thầy tướng số, bông lơn với hành động của chị hàng mía, đùa vui với sự ngớ ngẩn của vú già Nhưng đối với những đối tượng có tính chất tiêu điểm thì tiếng cười gầm thét, phẫn
nộ, sâu cay Nhà văn “hạ huyệt” đối tượng bằng những ngón đòn nghệ thuật “hạ yết” điêu luyện Vũ Trọng Phụng có thói quen tô đậm chất hài hước nghịch dị ở ngoại hình nhân vật, đó là những chân dung văn học với dáng vẻ tự nhiên, lệch
chuẩn Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Vũ Trọng Phụng – nhà văn lớn, một hiện tượng văn học phức tạp cho rằng: “Người ta bật cười trước một vẻ mặt dị hình, ở đó
có một tật xấu đã trở thành cố định, một tật xấu bị ngưng kết lại, cứng nhắc, máy móc, đồ vật hóa trên bộ mặt vốn linh hoạt của con người Tất cả tài nghệ của nhà kí họa là nắm được cái tật xấu ấy mà phóng đại lên, tạo thành dị hình, dị tướng”[28;44] Chân dung bà Phó Đoan được miêu tả với những nét hài hước
Trang 21nghịch dị Bà đã “trạc ngoại tứ tuần” mà ăn mặc “trai lơ” hơn các thiếu nữ, mặt “bự son và phấn”, tóc “đen mà quăn quăn”, người to béo “nặng ít ra cũng bảy mươi cân” nhưng lại mang cái khăn “nhỏ xíu và ngắn ngủi có một mẩu” Bà Phó Đoan là một kiểu nhân vật xác thịt, bà được phóng đại ở tính cách dâm đãng, một thứ ngứa ngáy xác thịt no nê và vô công rồi nghề mà rửng mỡ: “Bà chính chuyên đến nỗi chồng bà kiệt sức, cạn sức, phải trốn xuống suối vàng”[31;17] Mặc dù đã “thủ tiết với hai đời chồng” nhưng bà vẫn giở những trò õng ẹo, nhõng nhẽo dơ dáng, lố bịch nhất Nghe
ai nói có chuyện hiếp dâm ở đâu thì vội vàng “– đâu, đâu?” Tiếng cười hài hước vang lên trước những suy nghĩ và hành động đầy dục tính của nhân vật
Xuân Tóc Đỏ là một nhân vật hài hước, một nhân vật lố bịch mang tính chất xảo quyệt, thủ đoạn Xây dựng nhân vật này, Vũ Trọng Phụng đã dựa trên những nét khác nhau của nhiều kiểu người trong xã hội cũ Xuân là một đứa không cha, không
mẹ, ở với người bác họ nhưng vì thói xấu vô đạo đức mà bị đánh và đuổi đi Từ đó Xuân trở thành trẻ lang thang bụi đời Nó làm nhiều nghề để kiếm sống “bán phá
xa, bán nhật trình và chạy hiệu rạp hát ”, lấy “đầu đường xó chợ làm nhà”, suốt ngày rong ruổi ngoài đường nên tóc nó đỏ như tóc Tây Xuân Tóc Đỏ là một đứa vô học nhưng được xã hội thực dân phong kiến bấy giờ nhào nặn đã tạo được chỗ đứng trong gia đình ông Văn Minh và từ đó bằng thủ đoạn của mình đã leo lên đỉnh cao danh vọng Hắn trở thành “sinh viên trường thuốc”, “giáo sư quần vợt”, giám đốc hiệu Âu hóa phụ nữ tân tiến và tự xưng là “anh hùng cứu quốc” Tài nghệ của
Vũ Trọng Phụng còn ở chỗ ông có khả năng tạo ra được những con rối, một thế giới
“bị rối hóa”, một cuộc đời “bị trò chơi hóa”, thứ trò chơi vừa tầm phào vừa nhếch nhác vừa đầy bịp bợm Người đọc bật cười bởi những cử chỉ, câu nói lố bịch của các nhân vật Cụ cố Hồng thì lúc nào cũng ôm ngực cố rặn ra vừa ho khạc vừa gắt
“Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!”, cậu Phước thì ngúng nguẩy “em chã!” Thật nực cười! Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Tính hài hước chỉ có thể ở thế giới con người Nếu có một đồ vật nào đấy làm người ta buồn cười thì chẳng qua chỉ là
vì đồ vật đó gợi lên cái vẻ hài hước nào đấy của con người Nhưng tính hài hước của con người lại nảy sinh từ chỗ con người, vì lý do nào đấy, bỗng mất vẻ linh hoạt
Trang 22của một sinh thể có trí tuệ, có tâm hồn, trở thành có tính đồ vật, nghĩa là máy móc, hoạt động, ăn nói không thích hợp với những tình thế đã thay đổi, như những con rối bị giật dây”[28;46] Có thể nói, trong thế giới nhân vật độc đáo của Vũ Trọng Phụng, ông đã xây dựng được một thế giới đông đúc với đầy đủ các kiểu người, chen chúc, ồn ào, náo loạn trong một bối cảnh xã hội đầy thăng trầm, điên đảo
Trong tiểu thuyết Số đỏ, ngoài bút pháp phóng đại kiểu tranh biếm họa để khắc
họa chân dung nhân vật, phát hiện mâu thuẫn giữa danh và thực, giữa hiện tượng với bản chất để “vạch ra cái xấu bằng tiếng cười”(Lỗ Tấn), Vũ Trọng Phụng còn xây dựng được những tình huống mang tính “hề chèo” Chẳng hạn như đoạn miêu
tả ngày lễ khánh thành sân quần vợt của bà Phó Đoan Sân quần là để chơi quần vợt thế mà người ta thấy một dãy quần đủ loại của bà Phó Đoan trên “rặng lưới của cái sân quần còn mới nguyên như một cô gái còn tân”, Điên người, bà Phó Đoan gọi vú già ra mắng cho một trận, thì vú già cổ hủ cãi: “- Ai biết đâu đấy! Gọi là sân quần thì ai chả tưởng là phơi quần”[31;129]
Bản chất mỹ học của cái cười trong Số đỏ đã vươn tới tầm của “tiếng cười toàn dân” bởi tiếng cười của Vũ Trọng Phụng vừa mang tầm triết lý nhân sinh vừa mang
ý nghĩa thời sự.Tiếng cười trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng có nhiều cung bậc, sắc thái Đó là tiếng cười hài hước (Humor) mua vui với mức độ phê phán nhẹ nhàng, tiếng cười châm biếm (Satire) vạch trần bản chất xấu xa của đối tượng phê phán, tiếng cười mỉa mai ác độc (Sarcasiue) Tiếng cười vừa mang màu sắc dân gian tiếp thu và sáng tạo tiếng cười dân gian chủ yếu từ truyện Trạng Lợn và hề chèo vừa mang màu sắc phương Tây thể hiện ở cấu trúc trí tuệ của tiếng cười phức tạp, có tính đa nghĩa Có thể nói, Vũ Trọng Phụng là nhà văn đầu tiên ở Việt Nam chỉ ra thực trạng vô nghĩa và vô lí của cái xã hội thời đô thị hóa bằng giọng văn đậm chất giễu nhại, châm biếm với những hình tượng mang tính nghịch dị
Nhắc đến cái hài trong văn xuôi Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta không thể quên nhà văn Ngô Tất Tố Ông cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của văn học hiện thực phê phán Vốn là con người mực thước chốn cửa Khổng sân Trình nhưng những sáng tác của ông vẫn thấp
Trang 23thoáng nụ cười hóm hỉnh Ta nhận ra cảnh “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ / Ậm ọe quan
trường miệng thét loa” trong Lều chõng, bức tranh về nạn xôi thịt ở nông thôn trong Việc làng, qua đó tác giả phơi bày những hủ tục phong kiến bắt rễ vào đời sống và
trở nên đáng cười và đáng buồn trong xã hội nông thôn ngày trước
Chúng ta chỉ cần đi tìm hiểu đoạn trích miêu tả nghệ thuật băm thịt gà của thằng Mới trong phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố đã thấy được nghệ thuật của cái hài
trong sáng tác của nhà văn Chuyện tác giả được chứng kiến là cảnh tượng buổi
“chứa hàng xóm” diễn ra ở nhà một người tên là Lăng Vân, một người bạn của tác giả Nhà văn đã khéo léo tạo nên những tình huống kịch tính làm nổi bật sân khấu hài Cảnh “chứa hàng xóm” diễn ra trong hai thời điểm “gà bắt đầu gáy” và “trời đã sáng rõ” Trong một không gian “Trời tối đen như mực và mưa sùi sụt”, bỗng nổi lên “tiếng người khậm khặc”, tiếng gà đập cánh “phành phạch” và kêu “quang quác” giữa đêm khuya Trời sáng, cảnh người kéo đến ăn cỗ mỗi lúc một đông “già
có, trẻ có, đứng bóng có”, thậm chí có cả mấy ông “tí nhau”, cùng những bàn chân lấm bê bết chùi chân vào cái ổ rơm rồi bước xàm xạp lên chiếu” Cảnh tượng có tính chất nhốn nháo xô bồ Sân khấu hài được tác giả vén dần lên Thằng Mới – mõ làng – nghệ sĩ băm thịt gà xuất hiện Hắn đội mâm cỗ đi trong mưa đến trong “tiếng thét” của một ông già Mâm cỗ có xôi “độ bốn đấu gạo”, có gà “ước chừng một người ăn cố mới hết”, có rượu “hai chai rượu đầy ăm ắp hạng chai ba phần tư lít” Chỉ có bấy nhiêu thôi mà theo lệnh của một “ông đàn anh” sẽ được đem ra làm cỗ cho cả xóm hưởng, gồm “hai mươi ba cỗ, tám cỗ kiến tại, một cỗ chứa, một cỗ cho mày, còn mười ba cỗ làm phần” Những chi tiết đó đã đẩy tình huống hài lên đỉnh điểm Đặc biệt, cảnh thằng Mới trổ tài băm thịt gà được nhà văn kể một cách hóm hỉnh và sân khấu hài hé mở Đầu tiên thắng Mới chia xôi, hắn “tính lẩm bẩm giây lát” rồi đặt con dao lên mâm cỗ xôi “xắn một chiều làm sáu, một chiều làm bốn” Thật công bằng, hắn lấy “một miếng xôi véo ra từng tí để phụ vào các miếng kia” Khi chia thịt gà, hắn đúng là một nghệ sĩ kì tài, chỉ một bộ lòng gà mà thằng Mới chia thành mười đĩa, mỗi đĩa một dúm “nhưng trong mười đĩa không đĩa nào thiếu một thứ nào”; pha mỏ gà thành năm “miếng nào cũng dính một tí mỏ”; pha phao gà
Trang 24thành bốn “miếng nào cũng có bầu, đầu nhọn, chẳng khác cái chũm cau chẻ tư” Cảnh thằng Mới băm thịt gà thành thạo đến mức điêu luyện như làm xiếc Hắn cắt riêng hai cái tỏi gà, hắn chỉ chém hai nhát, tức thì con gà bị tách làm hai mảnh đều nhau, mảnh nào cũng có một nửa xương sống Tay cầm con dao phay, hắn băm lia lịa, không nhát nào cao không nát nào thấp, mười nhát như một và thành quả là “cái mình con gà, hắn đã băm được 92 miếng” Ngô Tất Tố tả miếng thịt gà do thằng Mới băm ra gây sửng sốt cho người mới đến: “Không dập nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bướm bướm Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay xa được mười thước”[43;171], đến nỗi có người đem cái chức “nghệ sĩ” đặt cho “ông Mới”
Có thể coi đây là chi tiết lạ lùng, khôi hài nhất Nhà văn đã tận dụng thế mạnh của văn miêu tả, kết hợp tự sự và biểu cảm trong một giọng điệu khôi hài để tạo dựng một bức tranh đặc tả việc làm cỗ độc đáo có một không hai Qua đó cho ta thấy việc
ăn uống thành nghệ thuật đã hiện hữu lâu dài và kì cục trong nếp sinh hoạt cổ hủ nơi làng quê cần xóa bỏ
Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng nghệ thuật châm biếm của Ngô Tất Tố rất sắc sảo Nụ cười của ông “không phải là sự chế giễu lạnh lẽo, vô tình[ ], mà đây là một sự phê phán xã hội đứng trên lập trường của một trí thức yêu nước Chính lập trường đó đã tạo nên tiếng cười của Ngô Tất Tố, có một nội dung xã hội sâu sắc, lành mạnh, lạc quan”[14;75] Ông sẵn sàng sử dụng mạnh mẽ những ngón đòn
“đánh thẳng vào mặt đối phương” không e dè, kiêng nể Có thể thấy rằng, Ngô Tất Tố cũng là nhà văn xuất sắc trong việc tạo nên tiếng cười hài hước đầy nghịch dị trong sáng tác của mình
Cái hài trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX đã đạt được những thành tựu chưa từng có với đỉnh cao của các cây bút tài năng: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố và Nam Cao (Nam Cao sẽ trình bày ở phần sau) Tiếp thu và kế thừa truyền thống tiếng cười từ văn học dân gian vừa mang bản sắc hiện đại với nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, các nhà văn giai đoạn này đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm mang tiếng cười độc đáo thể hiện khuynh hướng tư tưởng tiến bộ góp phần khẳng định một nền văn học trào phúng đa phong cách Mỗi nhà văn tạo cho
Trang 25mình một giọng cười không thể lẫn Nguyễn Công Hoan thiên về đả kích bốp chát tinh quái với một loại người cụ thể vì nhà văn luôn nhìn đời như sân khấu hài với những tấn kịch hề Tiếng cười Vũ Trọng Phụng thiên về khôi hài, châm biếm một cách sắc sảo, tiếng cười bao trùm cả xã hội có giá trị phổ quát cao Còn tiếng cười Ngô Tất Tố thông minh, hóm hỉnh trong từng câu từng chữ Có thể nói, các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 đã để lại một di sản văn xuôi trào phúng lớn cần được thế hệ sau nghiên cứu đánh giá một cách đúng đắn và sâu sắc
1.3 Cái hài trong hệ thống giá trị thẩm mĩ của truyện ngắn Nam Cao
1.3.1.Cái hài và cái bi
Nổi bật lên ở truyện ngắn Nam Cao trong hệ thống thẩm mĩ là cái bi và cái cảm
thương Từ trước đến nay, khi nghiên cứu về Nam Cao người ta nói nhiều đến cái
bi Hiểu theo nghĩa thông thường: Bi kịch là nỗi đau khổ dai dẳng về tinh thần
không có cách gì giải thoát được Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học thì bi kịch chỉ
xảy ra khi có “mối xung đột không thể điều hòa được giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn diễn ra trong một tình huống cực kỳ căng thẳng”[13;20] Nói đến cái bi là nói đến “nỗi đau và cái chết”, nhưng nó chỉ trở thành cái bi “khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người”[13;32]
Là “người thư kí trung thành của thời đại”, Nam Cao đã đặt ra trong sáng tác của mình những vấn đề sâu sắc của xã hội như những cảnh đời éo le, chua chát, những bi kịch đau đớn của con người Ta đã từng biết đến bi kịch đói khát cùng
đường của người nông dân trong Một bữa no, Trẻ con không biết ăn thịt chó, Đòn chồng đến bi kịch không được làm người, mất đi nhân hình nhân tính trong Chí Phèo hay bi kịch vỡ mộng của người trí thức nghèo đầy hoài bão và khát vọng, giàu tài năng nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất trong Đời thừa, Giăng sáng Đọc truyện
ngắn Nam Cao, người đọc luôn day dứt khôn nguôi về bi kịch của những con người
bị đẩy xuống tận sâu thẳm đáy cùng của xã hội Từ những trang viết của Nam Cao vang lên tiếng kêu cứu âm thầm ở thể xác và tinh thần của con người Cái đói, chết đói và miếng ăn đã trở thành đề tài quan trọng của nhiều cây bút lớn giai đoạn 1930 – 1945: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao… Nhưng ở mỗi nhà văn, đề tài ấy lại
Trang 26được xử lí theo một khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật rất khác nhau đem đến cho tác phẩm của họ những phát hiện khác nhau về giá trị hiện thực và nhân đạo Nam Cao viết về miếng ăn một cách sâu sắc, cay đắng, day dứt Miếng ăn là một thử
thách ghê gớm đã hủy diệt nhân tính của những người nông dân nghèo: Một bữa no,
Tư cách mõ, Trẻ con không được ăn thịt chó, đặc biệt là tác phẩm Chí Phèo… Để
tồn tại họ phải tìm kiếm, phải ăn những cái ăn không phải giành cho người Hai đứa
trẻ gia đình chị Đĩ Chuột ở truyện ngắn Nghèo phải ăn chè cám, miếng chè cám
không xoa dịu được cơn đói mà làm cho cái đói của lũ trẻ dữ dội hơn “Nó đã ọe ra
và khóc òa lên” Trong truyện Trẻ con không biết đói, cái ăn của chúng chỉ là chuối
luộc thế mà chúng háo hức tranh phần “y như những con gà trông thấy một đoạn giun trên mỏ mẹ Chúng cùng kêu chí chóe” Để tồn tại, nhiều khi con người phải liều thân làm những công việc đáng xấu hổ nhục nhã Ngòi bút nhà văn Nam Cao
tưởng như lạnh lùng đến tàn nhẫn khi miêu tả cách ăn của bà cái đĩ trong Một bữa
no khi ở nhà mụ phó Thụ ngay trước mặt đứa cháu: Bà ăn nhanh ăn vội vì sợ người
ta ăn mất hết Bà lập cập quá làm rớt cả mắm ra ngoài bát Khi mọi người đã dừng bát thì bà vẫn “cạo cái nồi sồn sột” trước sự lườm nguýt, gắt gỏng của bà phó Thụ
và sự xấu hổ của đứa cháu gái vốn yêu thương quý trọng bà Vì miếng ăn bà cái đĩ
đã trải qua hai cái chết: cái chết về tinh thần và cái chết sinh vật vì ăn quá no Bà cụ
đã từng than thở: “Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết
bao”[6;128] Trong Tư cách mõ, miếng ăn cũng hủy diệt đi tư cách người của anh
cu Lộ Lộ vốn là con một ông quan viên, một người “hiền như đất” và giàu lòng tự trọng thế mà từ ngày làm mõ, Lộ trở nên đê tiện, lầy là, tham ăn Còn Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên cũng vì miếng ăn mà bán mình cho quỷ dữ tất cả đều
“chết khi đang sống”
Tiêu biểu cho bi kịch của con người bị mất đi nhân hình nhân tính, bị hủy hoại
từ ngoại hình đến nhân cách là nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao Cuộc đời Chí gồm hai bi kịch nối tiếp: bi kịch bị tha hóa nhân phẩm và bi kịch
bị từ chối quyền làm người Ở bi kịch tha hóa, ta thấy Chí Phèo bị tước đoạt quyền làm người, một sự tước đoạt cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần Đời Chí là
Trang 27một con số không khổng lồ: không nguồn gốc, không tài sản, không nhân hình nhân tính Chí được sinh ra trong cái lò gạch cũ bỏ hoang, được bọc trong một cái váy đụp Chí được nuôi dưỡng bởi bàn tay của những người lao động nghèo: anh đi thả ống lươn, bà góa mù, bác phó cối không con Như vậy, ngay từ khi sinh ra, Chí đã
là một đứa trẻ vô thừa nhận: không cha, không mẹ, không họ hàng thân thích, Chí
cô đơn ngay từ nguồn gốc xuất thân – đó là sự cô đơn tuyệt đối Chí không nhà không cửa, không tấc đất cắm dùi trở thành kẻ cùng đinh mạt hạng nhất của làng Vũ Đại Năm sào vườn ở bãi sông thực chất không phải là tài sản của Chí mà chỉ là miếng mồi Bá Kiến quăng ra để biến Chí thành phương tiện đâm thuê chém mướn Chí trở thành nô lệ cho tài sản đó Cuộc cướp đoạt nhân hình đã đẩy Chí từ người nông dân lương thiện thành quái nhân, nhà tù đã cướp đi bộ mặt người của anh canh điền, nặn ra chân dung gớm ghiếc: đầu thì “trọc lốc”, răng cạo “trắng hớn”, mặt
“đen và rất cơng cơng”, hai mắt “gườm gườm trông gớm chết!” Ở bi kịch thứ hai,
bi kịch bị từ chối quyền làm người thì cuộc phá đoạt nhân tính đẩy Chí từ quái nhân thành quái vật Lúc này, Chí Phèo đã đánh mất bản tính người bị đẩy ra khỏi xã hội loài người Và cuối cùng Chí cũng phải chọn cái chết đau đớn để kết thúc cuộc đời nhiều đau khổ của mình
Cái bi kịch của nhiều nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao là ở chỗ, họ đều kết thúc số phận mình bằng cái chết thảm thương Mở đầu là cái chết của anh đĩ Chuột
trong truyện ngắn Nghèo Mặc dù chị vợ và bày con đã phải ăn “chè” cám nhưng
vẫn hết lòng chăm sóc thuốc thang cho người chồng đau ốm Anh đĩ Chuột không muốn kéo dài sự sống của mình nên đã tìm đến cái chết bằng một sợi dây thừng để giải thoát nỗi vất vả, khổ cực cho vợ con Cái chết của anh cũng “đau đớn như cái chết vật vã của lão Hạc, cái chết ai oán của bà cái đĩ, cái chết rất xót xa của dì Hảo, của anh Phúc Họ từ biệt cõi đời nhưng không ai chìm ngập trong tội lỗi hoặc chán nản đến tuyệt vọng ”[5;16] Cái chết của các nhân vật là lời tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo vô nhân đạo
Trang 28Không chỉ người nông dân, cái ăn và sự tồn tại cũng là vấn đề hàng đầu của tầng lớp trí thức trong xã hội Nam Cao thường lấy chính mình làm nguyên mẫu để viết những truyện ngắn về đề tài người trí thức nghèo Ở đề tài này, Nam Cao khắc họa làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của những giáo khổ trường tư, những nhà văn
nghèo luôn bị miếng cơm ghì sát đất Hộ (Đời thừa) muốn viết một tác phẩm ca
ngợi “sự công bình”, “tình bác ái” Tác phẩm đó được trao giải Nôben văn chương,
“phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn chung cho cả loài người” Nhà giáo
Điền (Giăng sáng) mang hoài bão đã ấp ủ từ lâu – “văn chương” Điền muốn sáng
tạo nên cái đẹp và hăm hở với dự định của mình Nhưng chính cái xã hội xấu xa, thối nát đã bóp nghẹt mọi ước vọng của con người, khiến cho khả năng sáng tạo của
con người bị thui chột đi Trong Những truyện không muốn viết, nhân vật tôi phải tự
“thú nhận” rằng: “trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói Như thế bảo còn nghĩ đến cái to tát làm sao được?”[6;276] Cuộc sống đói nghèo đã biến những “ước mơ, triết lý” của họ thành “huênh hoang, vớ vẩn, giả dối và khôi hài ”, tất cả bị đẩy vào tình trạng “sống mòn” không lối thoát
Người trí thức thừa hiểu, không ai có thể sống được mà không ăn Nhưng để tồn tại, họ không thể thấy hèn thấy nhục với “lối sống quá ư loài vật” vì không thể nghĩ
điều gì khác ngoài miếng ăn Anh giáo Hài trong Quên điều độ cũng vì miếng ăn
mà mất đi nhân cách Hộ trong Đời thừa thì “điên người lên vì phải xoay tiền” Từ
một người coi khinh những “lo lắng tủn mủn về vật chất”, anh phải viết vội để kiếm tiền Điều đó khiến anh dằn vặt, trăn trở, mặc cảm, nuối tiếc, xót xa Hộ ý thức rất
rõ điều đó nên càng đau khổ hơn Mỗi lần đọc những trang văn viết cẩu thả Hộ tức giận tự mắng mình là bất lương, là đê tiện Hộ rơi vào bi kịch “vỡ mộng” Hộ là một nhà văn luôn coi tình thương là nguyên tắc sống cao đẹp của mình, nhưng lại
cứ sống tàn nhẫn thô bạo, chà đạp lên nguyên tắc tình thương đó Vì tình thương Hộ sống dằn vặt vì vỡ mộng Muốn giải thoát, Hộ chỉ còn có một cách là thoát li vợ con
để rảnh rang theo đuổi sự nghiệp Hộ có cả một triết lí cao siêu “phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”, nhưng vai trò của người chồng, trách nhiệm của người cha khiến Hộ không chấp nhận sự tàn nhẫn, “Hắn có thể hi sinh tình yêu, thứ
Trang 29tình yêu rất vị kỷ đi, nhưng hắn không thể bỏ lòng thương”[6;255] Với Hộ, tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người, không có tình thương, con người chỉ là con vật Phải lựa chọn giữa lí tưởng nghệ thuật cao cả với gia đình tình yêu thương vợ con, Hộ đã hi sinh nghệ thuật Nhưng trong Hộ luôn chất chứa tâm sự u uất, anh tìm tới rượu Rượu chẳng làm vơi trăn trở day dứt trong lòng mà ngược lại càng nung nấu, chất chứa thêm sầu muộn Trong cơn say, Hộ càng thấm thía nỗi khổ sở đắng cay, và Hộ đã trút cả vào vợ con Anh đã vi phạm vào lẽ sống tình thương mà mình đề ra Đó chính là mâu thuẫn giữa một bên là khát vọng sống cho thật ý nghĩa và một bên là việc chăm lo chu đáo cho cuộc sống gia đình Giữa cái đẹp và tình thương, lí tưởng và hiện thực, Hộ không biết nên chọn cái nào Bi kịch của Hộ ở chỗ không thể bỏ cái này, chọn cái kia, không thể tiến hành đồng thời mà cũng không thể chọn cái nào làm trước, cái nào làm sau Hộ không thể giải quyết mâu thuẫn này vì trong xã hội xưa, nhà văn nghèo không có cơ hội thực hiện lí tưởng, hoài bão của mình vì phải vật lộn với sự nghèo túng Nỗi đau tinh thần của
Hộ nói gọn lại là nỗi đau không được sống cho ra sống, nghĩa là sống cho xứng đáng một nhà văn, xứng đáng một con người Hộ luôn phải dằn vặt đau đớn vì sống thừa, sống vô nghĩa, chết mòn, chết mỏi Nam Cao đã miêu tả, thể hiện một cách sâu sắc thấm thía cả nỗi đau và sự tự ý thức nỗi đau ấy, cả tâm trạng tha hoá và ý
thức của nhân vật về sự tha hoá ấy Trong truyện ngắn Cười, Nam Cao viết: “Ta nên
sợ cái chết trong lúc sống Cái chết đáng buồn của những người sống sờ sờ ra đấy, nhưng chẳng dùng sự sống của mình vào công việc gì ”[6;288] Trong thế giới ấy, người nông dân bị tha hóa, người trí thức thì trở nên nhỏ nhen, ti tiện Biết bao ước
mơ, khát vọng không thể cát cánh lên được vì nạn áo cơm “ghì sát đất”
Viết về người trí thức tư sản nghèo, Nam Cao đã mạnh dạn phân tích và mổ xẻ tất cả Ông không né tránh, phiến diện, cực đoan như các nhà văn đi trước mà ông luôn “tỉnh táo, đúng mực” Ông “đã đi đến tận cùng những ngóc ngách trong tâm hồn và suy nghĩ của một lớp người, và qua lớp người đó thể hiện sự bế tắc, cùng quẫn của một xã hội”[12;41]
Trang 30Bi – hài vốn là hai dạng phẩm chất thẩm mĩ tương phản nhau, nhưng ở truyện ngắn Nam Cao có sự tương tác: trong cái bi có cái hài Những hành động, suy nghĩ của nhân vật làm ta bật cười nhưng đằng sau đó là nỗi đau đớn, xót xa của thân phận con người Như vậy, ở đây cái bi được thể hiện trong sự chuyển hóa với cái hài
1.3.2.Cái hài và cái cảm thương
Trong truyện ngắn Nam Cao bên cạnh cái bi là cái cảm thương Khi “bi kịch về
thân phận con người nổi lên như một cảm hứng chủ đạo thì đồng thời tình cảm cảm thương cũng đã xuất hiện”[12;12] Cái cảm thương biểu hiện ở những xúc cảm, chiêm nghiệm của chủ thể nghệ sĩ và thấm nhuần giá trị nhân đạo Có thể nói, cái bi
và cái cảm thương thường đan quyện, hô ứng với nhau Trong truyện ngắn Nam Cao “nước mắt – tình thương” được thể hiện một cách sâu sắc Những sáng tác về người nông dân của Nam Cao, có những trang viết “cực kì đau xót” và “một niềm cảm thương không bờ bến” Đó là những người nông dân hiền chất phác, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh nhưng lại là nạn nhân đáng thương trong một xã
hội bất công: như lão Hạc (Lão Hạc), dì Hảo (Dì Hảo), bà cái đĩ (Một bữa no), gia đình Dần (Một đám cưới) Số phận của các nhân vật này cứ “dội lên như những
tiếng nấc, những tiếng thở dài não nuột”[12;578] Cảm thương cho số phận của người nông dân nhưng giọng điệu và cánh thể hiện của Nam Cao có phần hài hước nên trong cái cảm thương có cái hài
Nam Cao sinh ra ở làng quê và sống gắn bó sâu nặng với người nông dân nên
ông có tấm lòng cảm thương sâu sắc đối với nhân vật của mình Truyện ngắn Lão Hạc viết về người láng giềng già của nhà văn Vợ chết, con trai bỏ đi đồn điền cao
su, lão Hạc sống thui thủi cùng với “cậu vàng” – người bạn duy nhất của lão Nhưng rồi cuộc sống đói kém, lão cũng phải bán nốt “cậu vàng” và hi vọng mong manh đứa con sẽ trở về Cũng như bao người nông dân Việt Nam, lão Hạc luôn yêu thương, hi sinh vì con cái và dành dụm mọi thứ cho con Ở lão toát lên lòng tự trọng
và nhân hậu đáng kính: lão khóc khi lừa bán “cậu vàng”, lão nhịn ăn để tiền lại làm
ma vì không muốn làm phiền đến hàng xóm Câu nói của lão Hạc nghe thật chua xót nhưng cũng làm ta bật cười: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó
Trang 31làm kiếp người kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn! ”[6;158] Hình ảnh lão Hạc gợi lên trong lòng người đọc bao nỗi xót thương cho một kiếp người Nếu truyện
ngắn Lão Hạc gợi nỗi xót thương, căm giận thì bà cái đĩ trong truyện ngắn Một bữa
no gợi nỗi chua xót, mỉa mai Bà cái đĩ là người phụ nữ suốt đời khổ cực, bà đã già
yếu, không nơi nương tựa nên đã bị đói nhiều ngày Nhưng vì bản năng sinh tồn, bà
đã nghĩ ra cách kiếm “một bữa no” để rồi bội thực mà chết
Sống gắn bó với người nông dân, Nam Cao dành tình cảm yêu thương và quan tâm đến số phận đau khổ của người phụ nữ và em nhỏ Trong sáng tác của mình, hình ảnh người phụ nữ nông thôn cần cù chịu khó, giàu đức hi sinh hiện lên rõ nét Nhưng chính họ lại trở thành nạn nhân đáng thương của chính những người đàn ông
hung dữ thân thuộc của mình Từ cuộc đời nhiều lo toan của chị đĩ Chuột (Nghèo), cái Dần (Một đám cưới), dì Hảo (Dì Hảo) cho đến những người phụ nữ xấu số phải
làm vợ Trương Rự, của những “hắn, y” tàn ác Đối với những con người như thế nhà văn luôn yêu thương, trân trọng Hình ảnh những đứa trẻ nhỏ ngoan ngoãn, ngây thơ biết yêu thương nhường nhịn nhau nhưng cũng thật đáng thương trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm truyện ngắn của Nam Cao Chúng cũng phải chịu những bi kịch của cuộc đời vì gia đình nghèo đói, vì nạn cờ bạc, vì mồ côi, vì cảnh gia đình
chia lìa như những đứa trẻ đáng thương của gia đình anh cu Phúc (Điếu văn) khi
người bố nhắm mắt và thở hắt ra Những đứa con anh, chúng không gào, không lăn lộn mà “chúng ngây ngây, giương đôi mắt ngẩn ngơ”[6;311] Anh chết, chúng chỉ
còn cách là đi ăn mày Hay đến cái đám cưới của Dần (Một đám cưới) cũng không
có quần áo đẹp, không cỗ bàn, không đón đưa Đám cưới ra đi trong một đêm tối
“Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái và nhà trai ” Cô dâu mặc bộ quần áo vá, “xụt xịt khóc, đi bên cạnh mẹ chồng ” Một đám cưới mà lạnh lùng buồn tủi Nhà văn còn cảm nhận được “Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình nhà xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ ”[6;111] Đám cưới Dần diễn
ra trong không khí âm thầm lặng lẽ như mỉa mai, giễu cợt cuộc đời vốn lạnh lùng, tàn nhẫn Thật ít có những trang sách nói đến cảnh nghèo với nỗi xót xa thương cảm
Trang 32chân thực như những truyện ngắn của Nam Cao khi viết về cuộc sống của người nông dân
Có thể nói, cảm thương cũng là thứ tình cảm cao đẹp giàu tính nhân văn Với tấm lòng yêu thương trân trọng và đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của con người, tình cảm cảm thương đã trở thành nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác của nhà văn luôn viết về người nông dân – Nam Cao
1.3.3 Sắc thái thẩm mĩ của cái hài trong hệ thống giá trị thẩm mĩ của Nam Cao
Khi nghiên cứu sáng tác của nhà văn Nam Cao, mọi người thường ít chú ý đến
cái hài, bởi vì theo họ cái hài không phải là âm điệu chủ đạo trong sáng tác của nhà
văn Nhưng đọc truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta không thể phủ nhận một yếu tố không kém phần quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao là cái hài Khảo sát hơn bốn mươi truyện ngắn của ông có thể nhận thấy, tần số xuất
hiện yếu tố hài không phải là ít Trừ một số truyện như Lão Hạc, Điếu văn, Nghèo
thì các truyện ngắn khác đều mang chất hài Nếu Nguyễn Công Hoan dùng tiếng cười để đả kích, châm biếm sâu cay những thói hư tật xấu của đủ hạng người trong
xã hội thì tiếng cười trong văn Nam Cao tồn tại tự nhiên bên cạnh tiếng khóc và nước mắt Vì vậy trong truyện ngắn Nam Cao có sự tương tác giữa các phẩm chất
thẩm mĩ: bi – hài, cảm thương – hài Trong bài viết, Vài suy ngẫm về tiếng cười trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, tác giả Lê Nam Linh
cho rằng: “Không phải là nhà văn trào phúng, nhưng một trong những con đường đi vào hiện thực của Nam Cao là con đường hài hước Dùng tiếng cười, lấy tiếng cười để phơi trần những gì mọi người chưa nhìn thấy, chưa nhận thấy là một kiểu viết văn kiệm lời, sắc sảo và tài tình của Nam Cao”[22] Nói như nhà văn Kim Lân
trong Hội thảo 40 năm ngày mất Nam Cao thì: “Nói đến Nam Cao mà không nói
đến chất hài thì không còn là Nam Cao”[45;7] Nhất là trong xã hội thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám, không thiếu gì những cái xấu xa, giả dối, kệch cỡm, đáng khôi hài Đọc truyện ngắn Nam Cao “dễ dàng bắt gặp chỗ này chỗ khác những dáng dấp, cung bậc khác nhau của cái hài”[27;104] Tác giả Bùi Công
Thuấn trong bài Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng cho rằng:
Trang 33“Chất hài có nhiều trong hình ảnh méo mó của nhân vật Chất hài còn toát ra từ bản thân câu chuyện mà tác giả kể Có những cái cười gượng, nói toạc những cái xấu ra
để cười (Nhỏ nhen), có cái cười hết sức khôi hài, tuy Nam Cao tỏ ra rất trang nghiêm khi kể (Cái mặt không chơi được), có cái cười để lại bài học thú vị (Truyện tình), có cái cười châm biếm sâu cay, có cái cười đểu (Điếu văn), cười tàn nhẫn (Đón khách), có cái cười sảng khoái vỡ ra như khi đọc truyện tiếu lâm (Đôi mòng giò) và có cả cái cười “chữa bệnh” nữa”[7;370] Trong sáng tác của mình, ít nhất một lần Nam Cao đã nêu lên tuyên ngôn về cái hài Trong truyện ngắn Nụ cười nhà
văn đã để Hoạt phát biểu: “Lặng lẽ mà đau đớn khi nỗi đau không tránh được, lấy
nụ cười mà che đậy cái buồn riêng của mình để người chung quanh khỏi buồn lây thì cũng là can đảm, mà là thứ can đảm ít người có được” Có thể thấy, nhà văn Nam Cao đã ý thức rất rõ vai trò, ý nghĩa của tiếng cười trong cuộc sống, biết cười trước nỗi đau khổ của mình để vượt lên Cái hài đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc mở ra một thế giới hiện thực độc đáo
Ở Nam Cao, có tiếng cười hài hước hóm hỉnh thoải mái Như truyện Con mèo,
nhà văn kể câu chuyện hai vợ chồng nông dân nào đó giận nhau chiều tối, nửa đêm
đã làm lành Chỉ tại con mèo trèo lên mâm cơm chiều mà “họa hoằm mới có” mà hai vợ chồng cãi nhau Anh tức nhưng “càng tức càng ăn khỏe” “không ăn lấy sức đâu mà tức được” Hành động và cách suy nghĩ của anh thật hồn nhiên và ngộ
nghĩnh làm sao Hay trong truyện Rình trộm nhà văn kể câu chuyện nực cười của
anh Tẻ vác gậy đi rình trộm ở ngoài đường cái vì thằng trộm xẻo của anh ba buồng chuối tiên Nhưng vì có uống chút rượu nên anh ngủ quên mất đến nỗi kẻ trộm đào ngạch chui vào buồng khuân hết đồ đạc mà không biết Cảnh anh Tẻ “nghẹn lời”,
“đỏ bừng mặt mũi Mồ hôi trán toát ra” nhìn “lỗ ngạch to đến một con bò chui lọt” làm ta buồn cười “Anh chui qua lỗ ngạch vào buồng”, “rồi anh lại chui ra”, “Mặt mũi mình mẩy lấm lem, anh lại đứng ngoẹo đầu nhìn Rồi anh lại chui vào Rồi anh lại chui ra Rồi anh lại chui vào Chị vợ đang điếng người đi cũng phải bật cười”[6;419] Tiếng cười trong những trường hợp này có tính chất cảnh tỉnh nhưng hồn hậu, thoải mái Giọng điệu hài hước cho ta cái cười nhẹ nhàng qua suy nghĩ của
Trang 34nhân vật “hắn” về đứa con trong truyện Cười: “Quả như lời hắn đoán, thằng bé
khóc chán rồi lặng thật Có lẽ bây giờ thì nó nhọc quá, đã ngủ say như chết Thằng này khá lắm đấy! Nó mới sinh ra đã có cốt cách của một dân nhà báo: thích kêu gào lắm Hắn nghĩ về đứa con như vậy Bởi vì hắn vốn là một người vui tính Hắn ưa hài hước.”[6;283] Nhân vật “hắn” tìm ra một biện pháp ngộ nghĩnh để giải khuây trước cuộc sống đói nghèo và vợ chồng suốt ngày cãi cọ: đó là tiếng cười Nụ cười chính là “Tiên dược Chỉ cần nhếch môi một cái Dễ dàng hết sức Vậy thì tội gì
mà không cười Cứ cười đi, cười nhiều đi ”[6;283]
Cái hài có thể được khai thác từ sự vô lý, nhỏ nhen của con người Người ta
buồn cười vì căn bệnh kỳ quái của bà lão trong truyện Nhìn người ta sung sướng
Sự nhỏ nhen của bà lão khi ghen tị với sự sung sướng của con, của cháu làm ta bật cười Có lẽ cuộc đời bà khổ quá “khổ từ trong trứng khổ ra” nên khi nhìn thấy cảnh đứa con gái ngoài bốn mươi tuổi rồi chiều chồng: “Nó mua rượu cho chồng uống, chồng uống rượu vào rồi vuốt má vợ Chúng nó nhăn nhở cười với nhau y như là con trẻ”[6;365] bà thấy gai mắt không thể chấp nhận được Cười đấy nhưng cũng xót xa, đồng cảm cho sự nhỏ nhen, tàn nhẫn đến vô lí của bà cụ Ta còn cười vào sự
nhỏ nhen của bốn anh tri thức:Tá, Giang, Du, Hồ trong truyện ngắn Nhỏ nhen Họ
là những kẻ “đợi thời” nên nhàn hạ Cả bốn đều “mặc chểnh mảng như những kẻ không quan tâm đến cái đời vật chất Họ khinh cái số đông loài người”[6;64] Họ còn là các chàng trai trẻ thích làm ngang Cả ngày chủ nhật họ nằm ở nhà, đến thứ hai mới rủ nhau đi phè phỡn Điều đó thật ngược đời nhưng với họ thì thích lắm Mỗi người đều có thể kể câu chuyện khôi hài về sự nhỏ nhen nhưng trong lòng họ luôn có những toan tính nhỏ nhen Họ luôn cười vào sự nhỏ nhen của người khác nhưng chính họ lại nhỏ nhen hơn Vì nghèo họ chấp nhận ăn ở một quán ăn không lấy gì là sang trọng nhưng họ vẫn tự lừa dối mình Họ lí luận với nhau một cách hài hước rằng: “Không phải chỉ những món ăn đắt tiền mới có thể ngon Thật thế Ngon hay không là tại miệng Mà cái miệng người đói thì ăn cái gì cũng ngon À, thế thì cần gì phải ăn sang Này chỉ dăm ba hào chỉ, cùng lắm là đồng bạc, họ cũng có thể đãi nhau một bữa ăn ngon bằng một bữa đáng hàng chục bạc trong một hàng cơm
Trang 35tây Đã ăn, chỉ cốt ngon là được có cần gì sang”[6;64] Và tiếng cười còn bật ra khi sau bữa ăn: “– Thượng đế ôi! Thượng đế ôi! Sao ngài sinh ra lắm kẻ nhỏ nhen đến thế? – Nhỏ nhen lắm, nhỏ nhen đến nỗi nói ra không ai tin là có Nhưng có rành rành ra đấy, vẫn tự phụ là những kẻ khinh đồng tiền, thế mà có những lúc này Tôi
có thể đoán, mà không sợ là sai lắm, bây giờ đây, trong bụng anh nào chẳng hơi lo rằng mình sẽ phải bỏ tiền ra mà trả bữa ăn, và thầm mong cho người khác đứng lên trả trước Để mình có thể hỏi vờ vịt: “Đã trả tiền rồi đấy à? Vội thế? Ừ, thế thì trả đi!”[6;71,72] Chúng ta cười vào sự nhỏ nhen của những tri thức tiểu tư sản Nhưng đằng sau tiếng cười ấy là dư vị xót xa, chua xót
Có cái cười vào sự mê tín dị đoan Nhân vật “hắn” trong truyện Xem bói nhịn ăn
để lấy tiền đi xem bói Mặc dù, hắn nhịn ăn từ tối hôm trước, sáng nay chỉ ăn một dánh khoai lang bằng ngón chân cái, thế mà khi nhìn thấy biển xem bói “hắn quyết nhịn đói để xem một quẻ” liệu đời hắn có mở mày mở mặt được không hay cứ long đong mãi thế Hắn nghĩ đến “nỗi khổ của hắn từ ngày ốm một trận, nghỉ lâu quá mất việc để bây giờ thất nghiệp Những đồ đạc bán đi những ngày ăn cháo loãng cầm hơi”[6;160] Hắn móc túi đặt một quẻ năm hào xem cả đời người Hắn hỏi về hậu vận Lão thầy bói quả quyết “đến năm bốn mươi mốt thì hắn giàu bạc vạn” Hắn sung sướng quá! Hắn không thấy mệt, không thấy đói nữa Mặt hắn “sáng ngời”, đôi mắt “long lanh”, chân “thoăn thoắt” trước tương lai tươi sáng Nhưng bỗng,
“hắn giật nảy mình, há hốc mồm ra, rồi hắn thấy mình vừa lăn từ trên một đỉnh núi xuống tung lên, vật xuống”[6;165] Hắn bị ô tô cán chết Cười đấy mà xót xa!
Ta còn bật cười trước những lí sự cùn của người nông dân Đây là lí sự của một
“thằng người” trong Trẻ con không được ăn thịt chó mà trước mắt lập loè hai sắc:
“sắc vàng bóng” của một cái mông chó nhầy nhẫy mỡ và “sắc xanh nhạt” của một chai Văn Điển đầy ăm ắp trong khi vợ đói, con đói, túi không có tiền, thằng người vẫn nghĩ: “Việc gì mà do dự nữa? Thịt chó của mụ Tam để bán, chứ không phải để cho ôi thối Còn hắn muốn ăn thì phải mua Không có tiền thì mua chịu”[6;184] Hay cách lí sự của tự Lãng trong tác phẩm Chí Phèo khi lão đã rất say: “Nhịn uống
để làm gì? Có giàu có sang, có làm nên ông cả bà lớn nữa, chết cũng không ai gọi là
Trang 36“cụ lớn mả”! Chỉ có cái mả, cái mả đất”[6;30] Thật là hài hước trước lí sự của tự Lãng
Tiếng cười mỉa mai, hài hước của Nam Cao thể hiện ở sự phủ nhận tính giả dối
của văn học lãng mạn đương thời Trong tác phẩm Một chuyện xuvơnia, khi chứng
kiến cảnh Tơ bán đi vật kỉ niệm của mình để mua bánh đúc, tình yêu lãng mạn trong Hàn sụp đổ Trước cảnh tượng ấy, Hàn nghĩ: “trước khi nghĩ đến việc đặt những cái hôn lên cái miệng hoa của người yêu, cũng nên nghĩ đến việc đổ cơm vào đấy đã”[6;396] Ý nghĩ hài hước của Hàn chính là cách nhà văn phê phán cái nhìn thoát
ly hiện thực của các nhà văn lãng mạn đương thời
Cái hài của nhà văn Nam Cao còn được thể hiện khi miêu tả ngoại hình xấu xí,
dị dạng của nhân vật: Thị Nở, mụ Lợi, Nhi, Trương Rự, lang Rận ; ở sự xệch xạc, méo mó của nhân cách, tâm hồn: Chí Phèo, Trương Rự, Đức Và một số nhân vật
trong đề tài viết về người trí thức Theo tác giả Lê Thị Đức Hạnh trong bài Chất hài trong truyện ngắn Nam Cao thì: “Cách miêu tả một số nhân vật xấu xí đến trở nên
quái dị, bất thành nhân dạng, tuy có gây cười, nhưng tạo nên ấn tượng không được thú vị”[27;110] Từ đó, giúp ta liên tưởng tới ý kiến của Gôgôn “Nghệ thuật chân chính không dạy người ta cười cái mũi bị vẹo mà dạy người ta cười một tâm hồn lệch lạc”?
Tự trào là một hình thức châm biếm, hài hước thú vị Hà Minh Đức trong cuốn
Nam Cao – tác phẩm, tập 1 đã nhận định: “Nam Cao luôn tỉnh táo để có thể phân
biệt một cách mẫn cảm rõ rệt ranh giới giữa cái nghiêm túc và khôi hài, hay và dở, đúng và sai trong bản thân mình ở tác phẩm nào cũng thấm sâu vị hài hước”[5;37] Hầu hết các nhân vật trong sáng tác viết về người trí thức của Nam Cao ít nhiều mang bóng dáng của nhà văn Nam Cao tự trào về cái bên ngoài của mình, một khuôn mặt lạnh lùng nhưng luôn ẩn kín ý nghĩ bên trong Một khuôn mặt
“lạnh như nước đá và ngượng nghịu và vô duyên, và lố bịch”[6;74] Nhà văn đã dũng cảm phanh phui những toan tính tầm thường trong tư tưởng và đời sống của tầng lớp ông để bắt người ta “cười cái đáng ra phải khóc”(A Muystse) Ta cười cái
lí lẽ của Điền trong Nước mắt khi vợ nheo nhéo giục đi mua thuốc cho con trong
Trang 37khi anh không có tiền: “nếu thuốc quả có công hiệu như người ta khoe khoang thì những người giàu là sống mãi thôi còn những người nghèo khổ sẽ chết hết không
còn một mống” Hay cái lập luận hài hước của Hài trong Quên điều độ khi viên y sĩ
nói không thể chứng nhận anh còn khỏe và khuyên anh đừng dạy học: “Nếu tôi
không dạy học thì chết ngay, bởi không ai có thể sống mà không ăn” Trong Những chuyện không muốn viết, tiếng cười hài hước của Nam Cao vừa mỉa mai xen lẫn với
buồn tủi, hờn dỗi với đời Người trí thức nghèo trong tác phẩm có chút mộng văn chương và “cái mộng ấy cũng hơi khỉ khỉ” Lúc đầu, anh cũng muốn viết một số truyện, nhưng với cách kể hài hước ta hiểu đời viết văn cũng thật khó khăn và bạc bẽo Đầu tiên, anh viết về người đàn ông đã có vợ nhưng bạn anh vơ chằng ngay lấy: “Ông hục hặc với tôi Ông khuyên tôi chớ in Đem in thì vỡ mặt” Sau anh viết
về con chó mực, chuyện vừa in ra thì bị một thằng say chửi cho một mẻ “vuốt mặt không kịp” vì hắn nghĩ, anh bảo hắn là con chó Anh viết chuyện về thằng say thì những người tỉnh “kêu bù lu bù loa lên rằng: tôi mượn rượu để chửi cả làng nhà họ” Và cuối cùng anh không dám viết cái gì nữa bởi viết chuyện gì cũng bị đụng chạm, kể cả chuyện buồng cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn hay con lợn Và Nam Cao cho rằng cái tôi của mình thật “bỉ ổi” “đổ đốn” vì vừa muốn phụng sự nghệ thuật vừa muốn có tiền nuôi vợ con Tiếng cười ở đây bật ra rồi tắc lại bởi chua chát , bất lực
Viết về đề tài người trí thức nghèo, giọng điệu của Nam Cao có khi mỉa mai, giễu cợt, có khi cay đắng, uất ức tủi nhục Và nếu giọng điệu ấy tạo ra tiếng cười thì
đó là tiếng cười đầy chua chát, cười ra nước mắt Tiếng cười của nhà văn Nam Cao
“không nhằm triệt tiêu đối tượng, không giết chết người trí thức tiểu tư sản mà giết chết cái phần nhỏ nhen, tầm thường trong con người anh ta Đó là “tiếng cười nước đôi”(M.Bakhtin), vừa phủ định lại vừa tái sinh Trong tiếng cười Nam Cao, thấy lẫn vào ít nhiều mặn chát, đắng cay của nước mắt, những giọt nước mắt của xấu hổ như
là sự phản khích hướng vào nội tâm, cảm thấy hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hoặc
kém cỏi, tầm thường.”[44;262] Trong cuốn Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần
Đăng Suyền đã so sánh tiếng cười trong sáng tác Nam Cao có phần giống với tiếng
Trang 38cười của văn hào Nga Tsêkhốp: “Tsêkhốp cười không to tiếng mấy khi, khi cười đôi mắt rất đẹp rất dịu hiền Gorki bảo rằng chưa thấy người thứ hai nào mà lại có thể cười như thế, cười một cách “cũng đầy tuệ giác” như thế Đấy là tiếng cười đúng như Bernard Shaw định nghĩa về khoa hoạt kê “u- mua”: là tất cả những cái gì làm bật lên được tiếng cười Nhưng bên cạnh tiếng cười tạo nên do môn hoạt kê khá nhất, vẫn chen lẫn vào một giọt nước mắt nữa”[44;262,263] Tiếng cười trong tác phẩm của Nam Cao không phải là tiếng cười sảng khoái hả hê mà là tiếng cười cay đắng, xót xa tủi nhục khi nhà văn phanh phui bản thân mình và mổ xẻ cái méo mó
của người khác Bởi theo Lê Nam Linh trong bài Vài suy ngẫm về tiếng cười trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám thì tiếng cười Nam Cao “phát
ra từ những suy nghĩ, từ những nghiền ngẫm của một nhà văn luôn trăn trở tìm cho mình và cho nhân loại hướng tới một cái gì đó cao hơn, đẹp hơn trong cuộc sống và quả thực ông đã “cười cái đời trông thấy và khóc cái đời không trông thấy”(Gô gôn) Đó là tiếng cười trong nước mắt trong một tâm hồn phẫn uất, yêu thương nhưng bế tắc
Có thể nói, Nam Cao nổi bật ở nhiều mặt nhưng ông cũng có những đóng góp đặc sắc ở cái hài Và cái hài đã trở thành một quan niệm thẩm mĩ mới trong sáng tác của Nam Cao bên cạnh cái bi và cái cảm thương Nhà văn thường đi vào những chủ
đề mang tính suy ngẫm, đúc rút ra một triết lý cho cuộc sống có pha chất hài Nếu giọng điệu suồng sã bông lơn châm biếm sâu cay của Nguyễn Công Hoan tạo ra tiếng cười cay đắng, phẫn uất nhằm lật tẩy bộ mặt bịp bợm của xã hội thực dân phong kiến; giọng điệu hài hước mỉa mai cay độc của Vũ Trọng Phụng tạo nên chuỗi cười đa cung bậc hướng vào xã hội nhố nhăng, kệch cỡm thì “giọng điệu hài hước mà chua chát, giễu cợt mà xót thương, mỉa mai mà độ lượng của Nam Cao chủ yếu tạo ra tiếng cười hướng nội – tiếng cười thấm đượm vẻ bi thương, chua chát, cười ra nước mắt, có tính chất cảnh tỉnh và mang sắc thái tự phê phán”[44;256,257] Qua cái hài, nhà văn Nam Cao đã thể hiện một cách sâu sắc và thấm thía tình trạng con người đã chết trong một cơ thể đang sống
Trang 39CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM HÀI HƯỚC TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO 2.1 Quan niệm về cái hài hước (humor)
Hài hước xuất phát từ “thuốc miễn dịch thể” của Hy Lạp cổ đại được gọi là humours (dịch cơ thể) Hài hước là “xu hướng của nhận thức” để “kích thích tiếng cười và cung cấp giải trí” Nếu ta hiểu, cái hài bên trong là “sự trống rỗng, hèn kém” được che đậy bằng một vẻ bên ngoài “tham vọng làm thành cái có nội dung”
thì hài hước là cái xấu “cố tình tỏ ra là đẹp” Từ điển thuật ngữ văn học đã định
nghĩa: hài hước là “Một dạng của cái hài có mức độ phê phán nhẹ nhàng, chủ yếu gây cười, mua vui Trên cơ sở vạch ra sự mất hài hòa, cân đối giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, đặc biệt là lí tưởng và thực tế”[13;113] Và “Trong umua, phép biện chứng của trí tưởng tượng phóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái cao quý, sau điên rồ là cái anh minh, sau cái buồn cười là
nỗi đau”[13;37]
M.Bakhtin đã lí giải tiếng cười khi nói đến sự hình thành thể loại tiểu thuyết Theo ông “tiếng cười có một sức mạnh tuyệt vời kéo đối tượng lại gần, tiếng cười lôi cuốn đối tượng vào khu vực tiếp xúc thân mật đến thô bạo, ở đó có thể suồng sã
sờ mó”[1;140] Tiếng cười mà Bakhtin nói đến gắn với hài hước (trào tiếu) dân gian
và không hoàn toàn trùng khít với khái niệm cái hài Khi bình luận ý kiến của Octavio Paz thì M Kundera cho rằng: “Hài hước không phải là cái cười, sự chế giễu, châm biếm, mà là một loại đặc biệt của cái hài( ) nó khiến “bất cứ cái gì nó chạm đến đều trở thành nhập nhằng nước đôi”[1;141] Tiếng cười bao giờ cũng có tính trí tuệ bởi không có trí tuệ không thể nhận ra những mâu thuẫn trong cuộc
sống, vì thể không thể cười Khi viết Bàn về trí tuệ sắc sảo và hài hước, Hazlill
(1778-1830) cho rằng: “Hài hước là sự miêu tả cái gì đó tự nó đã buồn cười; trí tuệ sắc sảo là sự trình bày cái gì đó, so sánh, đối chiếu nó với cái gì khác Hài hước là những gì sinh trưởng trong tự nhiên với những sự rủi ro, tình cờ, còn trí tuệ sắc sảo
là sản phẩm của nghệ thuật và trí tưởng tượng sáng tạo”[18] Và “Hài hước thường hướng về đối tượng bị cười, nhằm vào những khuyết điểm, nhược điểm của đối
Trang 40tượng đó Nếu như tác giả hài hước có tinh thần khoan hòa với con người của đối tượng thì nụ cười hài hước đậm đà hương vị nhân văn”[18]
Theo Pospelov, chỉ đến thời đại chủ nghĩa lãng mạn, các nhà phê bình văn học
và các đại diện của tư tưởng mĩ học và triết học mới phân biệt hài hước và châm biếm Nếu cái cười châm biếm (Satire) là “cái cười rất sâu sắc và nghiêm túc” mang bản chất xã hội thì cái cười hài hước (humor) là tiếng cười bông đùa, bông lơn Cái mà tiếng cười châm biếm hướng đến là những đặc điểm chung , tiêu biểu của đời sống xã hội Đối tượng của tiếng cười châm biếm là thói hư tật xấu, nên giọng điệu nổi bật là đả kích, phủ định tố cáo Cái cười hài hước xuất phát từ mâu thuẫn bên ngoài và mang tính chất nhẹ nhàng, thoải mái, nhằm loại bỏ những điểm yếu để xây dựng đối tượng ngày một hoàn thiện hơn
Theo Phạm Tuấn Anh trong luận án Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt nam sau 1975 cho rằng: “Thực chất, tiếng cười hài hước chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở
một hệ giá trị đã thay đổi căn bản Hệ giá trị chuyển từ cao cả, đơn trị sang đời thường, đa trị Không có cơ sở này không thể có quan niệm, cái nhìn mới về thế giới Cái châm biếm (Satire) hoàn toàn có thể sinh sôi trên cơ sở một quan niệm đơn trị về thế giới Nhưng “cái hài hước (humor) thì chỉ có thể được phát hiện và biểu hiện trong quan niệm về thế giới với tính “nhập nhằng” có hữu của nó”[1;158] Nếu như ở châm biếm, chủ thể cười nhân danh cái tiến bộ, tích cực tự tách mình ra khỏi đối tượng, thì ở hài hước, “cười người cũng chính là cười mình” Pospelov cho rằng, hài hước xuất phát từ “Những tham vọng vu vơ muốn mình có giá trị trong đời sống riêng tư chứ không phải trong đời sống công dân – không đụng chạm đến lợi ích của toàn xã hội hoặc của cả một tập thể”[1;160] Tìm hiểu tính cách Việt, mấy chục năm qua, giới nghiên cứu phê bình văn học đều cho rằng: “Người Việt nam hay bài bác chế nhạo” (Đào Duy Anh – Việt Nam văn hóa sử cương, 1938),
có “tính hài hước”, “hài hước là một đặc điểm của người Việt” (Trường Chinh – Tiếng cười dân gian Việt nam, 1978), “Hóm hỉnh, hay cười, thích cười và thậm chí
dễ cười là một đặc điểm của người Việt nam (Nguyễn Đức Dân – Tiếng cười thế giới, 1988) Vì thế, tiếng cười trong văn học Việt nam với đầy đủ cung bậc