Những điểm tương đồng và khác biệt ở biểu tượng con người trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Con voi biến mất của Haruki Murakami ..... Tuy mang những nét riêng của mỗi nền vă
Trang 1HÀ KHÁNH LINH
BIỂU TƯỢNG TRONG
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ CON VOI BIẾN MẤT CỦA HARUKI MURAKAMI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÀ KHÁNH LINH
BIỂU TƯỢNG TRONG
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ CON VOI BIẾN MẤT CỦA HARUKI MURAKAMI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Biểu tượng trong “Cánh đồng bất tận” của
Nguyễn Ngọc Tư và “Con voi biến mất” của Haruki Murakami là kết quả nghiên
cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Phú Thọ, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Hà Khánh Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Ngọc Thúy và GS.TS
Lê Huy Bắc, những người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Khoa học xã hội và Văn hóa Du lịch trường Đại học Hùng Vương, các thầy cô và cán bộ phòng Tư liệu Thư viện trường Đại học Hùng Vương đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn dành cho gia đình đã luôn đồng hành, động viên và là điểm tựa cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Hà Khánh Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 12
4 Đối tượng nghiên cứu 12
5 Phạm vi nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 Cấu trúc của luận văn 13
Chương 1: BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN 14
1.1 Cánh đồng 14
1.2 Khu rừng 25
1.3 Những điểm tương đồng và khác biệt ở biểu tượng thiên nhiên trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Con voi biến mất của Haruki Murakami 32
Chương 2: BIỂU TƯỢNG CON NGƯỜI 36
2.1 Nhân vật Vũ, Nương, Điền 36
2.1.1 Nhân vật Vũ 36
2.1.2 Nhân vật Nương 43
2.2 Nhân vật tôi và người quản voi 53
2.2.1 Nhân vật tôi 53
2.2.2 Nhân vật người quản voi 59
2.3 Những điểm tương đồng và khác biệt ở biểu tượng con người trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Con voi biến mất của Haruki Murakami 63
Chương 3: BIỂU TƯỢNG LOÀI VẬT 67
3.1 Đàn vịt 67
3.2 Con voi 77
Trang 63.3 Những điểm tương đồng và khác biệt ở biểu tượng loài vật trong Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư và Con voi biến mất của Haruki Murakami 88
KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1.1 Biểu tượng là một trong những yếu tố làm nên sắc diện văn hóa của một dân tộc Tồn tại cùng lịch sử phát triển văn hóa của con người, biểu tượng làm phong phú các hiểu biết thẩm mĩ của con người và cao hơn nữa là “khắc sâu trong hoạt động tiến hóa toàn vẹn của con người” L.A.White định nghĩa văn hóa như là truyền thống ngoại thân xác, trong đó các biểu tượng đóng vai trò chủ đạo White coi hành vi biểu tượng là một trong những đặc điểm chủ yếu của văn hóa Ông cũng
là người chỉ ra những đặc trưng của văn hóa bằng liên tưởng dòng chảy văn hóa với
sự thay đổi, lớn lên, phát triển, tương hợp với các quy luật vốn có Nghiên cứu mỗi nền văn hóa cần coi trọng việc nghiên cứu biểu tượng bởi biểu tượng là “đơn vị cơ bản” của văn hóa và văn hóa là một tập hợp hệ thống các biểu tượng Nói đến văn hóa của một dân tộc ta không thể không quan tâm đến các sáng tác văn học của dân tộc đó Và khi tìm hiểu một tác phẩm văn học thì việc khám phá ý nghĩa của các biểu tượng là một việc quan trọng Vì hành trình tìm kiếm và nghiên cứu biểu tượng trong tác phẩm văn học cũng là hành trình khám phá con đường đến với bản sắc văn hóa dân tộc và cũng là hành trình tìm kiếm những giá trị Chân, Thiện, Mỹ Nó giúp
ta cảm nhận rõ hơn những thông điệp nhà văn gửi gắm, giúp thâm nhập vào cái thế giới tinh thần ngầm ẩn bên trong cùng những lớp trầm tích văn hóa của cộng đồng 1.2 Văn học đương đại được xem là văn học của những biểu tượng Trong hệ phát triển đa dạng của văn xuôi đương đại ở Việt Nam và Nhật Bản, Nguyễn Ngọc
Tư và Murakami Haruki nổi lên như những hiện tượng văn học độc đáo
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ chỉ mới xuất hiện trên văn đàn khoảng hai thập niên nhưng đã trở thành một vì sao lạ của văn học đương đại Việt Nam Nhà văn Chu Lai đã nhiệt thành khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tư là một cây viết đặc biệt của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của Việt Nam” Với một sức sáng tạo thiên phú, dồi dào và bền bỉ, Nguyễn Ngọc Tư đã cho ra mắt một khối lượng tác phẩm lớn, giành được nhiều giải thưởng văn học có uy tín cả ở Việt Nam và nước ngoài, tạo được sức lôi cuốn, hấp dẫn cùng sự yêu mến, kì vọng của
Trang 8độc giả Chính vì vậy mà Nguyễn Ngọc Tư và các sáng tác của chị đã trở thành tâm điểm thu hút rất nhiều cây bút nghiên cứu, phê bình tìm hiểu, khám phá Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu phong cách nghệ thuật, các đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Một vài công trình trong
số đó đã bắt đầu chú ý đến thế giới biểu tượng trong văn xuôi của nhà văn này nhưng hoặc quá bao quát hoặc còn rải rác, tản mạn Chính vì vậy tác giả đã để tâm nghiên cứu sâu hơn biểu tượng trong một truyện ngắn đặc sắc nhất (tính đến thời
điểm hiện tại) của Nguyễn Ngọc Tư, đó là Cánh đồng bất tận
Có thể xem Haruki Murakami là nhà văn trung tâm của văn học đương đại Nhật Bản, là ứng cử viên sáng giá cho giải thưởng Nobel văn học trong nhiều năm
Là tiểu thuyết gia xuất sắc, người kể chuyện bậc thầy của văn học thế giới, Murakami đã tạo ra một thứ văn chương có tính chất tổng hợp, xóa nhòa mọi ranh giới Sáng tác của Murakami là sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây, văn hóa đại chúng và bác học, văn chương thuần túy và văn chương giải trí… Sự đa dạng, phong phú của nghệ thuật tự sự đương đại đã giúp Murakami chinh phục hàng triệu độc giả ở những nền văn hóa khác nhau Chính vì vậy, sáng tác của Murakami đã trở thành tâm điểm thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nói đến sức hấp dẫn đặc biệt từ các sáng tác của Murakami ta không thể không nhắc tới nghệ thuật sử dụng biểu tượng Phương tiện nghệ thuật hiệu quả này đã giúp nhà văn chuyển tải những thông điệp giàu ý nghĩa đến độc giả Khám phá hệ thống biểu tượng trong sáng tác của Murakami là giải mã thế giới đa nghĩa, siêu thực, giàu tính ẩn dụ của nhân loại và góp phần hiểu thêm về nghệ thuật
tự sự bậc thầy của Murakami – tác giả đương đại nổi tiếng của Nhật Bản và thế giới Đã có một số công trình nghiên cứu quan tâm tìm hiểu khám phá về biểu tượng trong sáng tác của Murakami nhưng chủ yếu là trong tiểu thuyết – mảng sáng tác nổi bật nhất của ông Có lẽ đến nay, trong phạm vi tài liệu chúng tôi thu thập được, chưa có công trình riêng lẻ nào nghiên cứu về biểu tượng trong truyện ngắn của Murakami Thiết nghĩ đó là một khoảng trống mà nếu ta không tìm cách lấp đầy thì thực sự là một thiếu sót Chính vì vậy, tác giả bước đầu mạnh dạn nghiên cứu về
biểu tượng trong một truyện ngắn đặc sắc của Murakami: Con voi biến mất
Trang 9Có thể nói sáng tác văn học là một địa hạt vô tận cho ta tìm hiểu, khai phá
Và dù đã có rất nhiều bài viết hay công trình nghiên cứu trước đó ta vẫn tìm thấy
những khoảng trống đầy mời gọi Trường hợp biểu tượng trong truyện ngắn Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn Con voi biến mất của
Murakami là một ví dụ
1.3.Tiếp cận và khám phá truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc
Tư và Con voi biến mất của Haruki Murakami, bản thân người viết cảm thấy thật sự
bị cuốn hút Tuy mang những nét riêng của mỗi nền văn học và rất nhiều khác biệt nhưng cả Nguyễn Ngọc Tư và Haruki Murakami đều gặp gỡ nhau ở việc dụng công xây dựng những biểu tượng như một thủ pháp và hơn thế như một kiểu tư duy nghệ thuật trong sáng tác của mình
1.4 Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài: Biểu tượng trong
“Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư và “Con voi biến mất” của Haruki Murakami Việc tìm hiểu, nghiên cứu biểu tượng trong truyện ngắn Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami
giúp khám phá những tầng nghĩa hàm ẩn sau biểu tượng và mối liên hệ giữa chúng,
từ đó nhận được những thông điệp nhà văn gửi gắm và làm sâu sắc thêm giá trị của tác phẩm Đồng thời việc nghiên cứu biểu tượng trong hai tác phẩm của hai tác giả thuộc hai nền văn học khác nhau để cho thấy cách xây dựng biểu tượng, cách mã hóa và khả năng giải mã thông qua việc đọc của độc giả Đó là một công việc cần thiết và có ý nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự giao lưu và giao thoa văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, để từ đó luận văn bước đầu hướng tới chỉ ra sự tương đồng
và khác biệt của hai nền văn học và rộng hơn là hai nền văn hóa
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Khái lược về khái niệm biểu tượng
2.1.1 Biểu tượng
Từ xa xưa biểu tượng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân loại Biểu tượng cũng cổ xưa như ý thức của con người Nó là kết quả của quá trình con người muốn “đồng nhất hóa thế giới”, sử dụng các yếu tố
tự nhiên để thể hiện những quan niệm trí óc Nhưng việc nhận thức về biểu tượng
Trang 10lại được thực hiện muộn hơn rất nhiều, đây là kết quả của sự phát triển văn hóa Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tượng
Theo nghĩa gốc từ thời cổ Hi Lạp, biểu tượng (Symbolum) để chỉ dấu hiệu, sự vật dùng để nhận biết Khi chia tay, người ta đập vỡ một vật thành hai mảnh, mỗi người cầm một mảnh để sau này làm dấu hiệu nhận ra nhau Trong biểu tượng do
đó có dấu vết của việc lắp ghép lại các phần đối lập đúng như J Chevalier đã nói:
“Tự bản chất của biểu tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và nó tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm” Theo nghĩa này, biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một quy ước, kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được
Biểu tượng trong tiếng Hán: “biểu” là biểu hiện, phô bày ra một điều gì đó cho mọi người biết; “tượng” là hình ảnh, hình tượng phô bày một ý tưởng, nội dung nào
đó, “dùng hình này để chỉ nghĩa nọ” “Nghĩa nọ” đôi khi khác rất xa với nghĩa trực tiếp ban đầu (nghĩa đen)
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier) thì “Biểu tượng cơ
bản khác với dấu hiệu ở chỗ: dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt
và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức”
Một biểu tượng luôn ẩn chứa trong nó nhiều lớp nghĩa, hay nói như Tzvetan Todorov “chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc đơn giản hơn… cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt… sự ứ tràn của nội dung
ra ngoài hình thức biểu đạt của nó” [8; 27]
Cũng nhấn mạnh đến khả năng biểu đạt phong phú, sâu sắc của biểu tượng, Từ
điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức
chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng, một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời” [1;24] Chúng tôi rất đồng tình với cách hiểu này
2.1.2 Biểu tượng nghệ thuật
Nghệ thuật phản ánh thế giới thông qua các hình tượng Hình tượng nghệ thuật
Trang 11không chỉ là vật mang ý nghĩa mà còn có tính thẩm mĩ cao với khả năng tác động vào tư tưởng, tình cảm (tinh thần) con người Biểu tượng là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt, hay có thể nói là một biến thể của hình tượng nghệ thuật Hình tượng là sự “chụp ảnh”, “tái tạo” hiện thực, biểu tượng là sự ngưng đọng của hiện thực Các biểu tượng là hạt nhân tinh thần khiến cho các tác phẩm ưu tú có chiều sâu và độ ngân vang Về phương diện mĩ học, biểu tượng nghệ thuật là một trong các phạm trù quan trọng mà mỗi hệ thống lí thuyết mĩ học cần lí giải Mục tiêu của biểu tượng là đưa dẫn người đọc đến một hiện thực khác không hiện diện trực tiếp trong văn bản Hiện thực khác này phần nhiều lại là những quan niệm tổng quát, những quy luật “vĩnh cửu”, những ẩn ức sâu kín của cộng đồng Biểu tượng là thành phần ngôn ngữ nghệ thuật quan trọng của tất cả các loại hình nghệ thuật: văn học, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh…
2.1.3 Biểu tượng trong tác phẩm văn học
Ở mọi thời đại và khuynh hướng văn học đều có các biểu tượng và chính điều
đó đã làm cho tác phẩm có chiều sâu, tăng dung tích hàm nghĩa cho hệ thống hình tượng, gắn kết các bình diện khác nhau của văn bản Như một hình tượng nghệ thuật có chiều sâu, biểu tượng cho thấy sự giàu có thẩm mĩ của tác phẩm và tài nghệ cao cường của nhà văn
Trong số các biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng trong tác phẩm văn học là một trường hợp đặc biệt Nó cũng là hình ảnh, hình tượng nghệ thuật như biểu tượng trong các nghệ thuật khác nhưng nó được tạo nên không phải bằng các vật liệu tự nhiên mà bởi ngôn ngữ của con người mà ngôn ngữ thì luôn đa nghĩa và dễ vận dụng uyển chuyển Điều đó khiến cho biểu tượng văn học có cấu trúc phức tạp hơn, nội dung phong phú hơn và vì thế trường diễn giải rộng hơn Biểu tượng tồn tại trong tác phẩm văn học như một công cụ kiến tạo văn bản nghệ thuật Điều quan trọng nhất ở biểu tượng là sự đa nghĩa và có “cái gì đó cổ xưa”, làm cho tác phẩm văn học liên kết chặt chẽ với văn hóa của một cộng đồng xã hội, một dân tộc mà
“văn hóa là tổng thể của những biểu tượng được cộng đồng chấp nhận” (C Strauss)
Lesvi-2.2 Các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Trang 122.2.1 Những nghiên cứu chung
Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng nổi bật của văn học đương đại Việt Nam Các sáng tác của chị với những giá trị phong phú và sâu sắc đã trở thành tâm điểm thu hút rất nhiều cây bút nghiên cứu, phê bình tìm hiểu, khám phá Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Nhà phê bình Trần Hữu Dũng có bài viết: Nguyễn Ngọc Tư – đặc sản miền
Nam Bài viết đã chỉ ra cái độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư chính là nồng độ phương
ngữ miền Nam và đặc biệt là việc sử dụng đắc địa kho phương ngữ ấy trong những câu chuyện thật miền Nam Chính điều đó đã tạo cho Nguyễn Ngọc Tư một chỗ
đứng riêng, khu biệt – đặc sản miền Nam!
Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn xóm rẫy, tác giả Nguyễn Thanh đã
khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có chân tài trong nền văn chương hiện đại Việt Nam Tác phẩm của nhà văn mang tính hiện thực sâu sắc vì đã phản ánh được chân dung đích thực với tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của lớp người lao động nghèo khó ở đồng bằng sông Cửu Long, bằng một phong cách nghệ thuật tiểu biểu cho lối viết chân chất mà cô đọng của những người cầm bút ở phương Nam” [65;4]
Nhà phê bình Huỳnh Công Tín trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ
Nam Bộ đã chỉ ra nét đặc sắc riêng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là chất Nam
Bộ, từ không gian nghệ thuật, kiểu nhân vật đến ngôn ngữ: “Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó
là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [69;6]
Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chỉ sau một thời gian ngắn xuất bản đã nhận được nhiều giải thưởng văn học có uy tín và được nhiều nhà văn lớp trước đánh giá
cao Trong lời tựa tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, nhà văn Nguyễn Quang Sáng
đã nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời thường, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc – mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông ta đã dày công khai phá” [74;5]
Tác giả Bùi Công Thuấn trong bài viết: Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi
Trang 13đã mang đến một cái nhìn tổng quan về hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ
những sáng tác buổi đầu đến những tập truyện: Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy và nhận
thấy cái tình người sâu thẳm với những biểu hiện thật phong phú qua cảm nhận của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Trọng Bình là một trong số những nhà phê bình dành sự quan tâm đặc biệt cho Nguyễn Ngọc Tư Tác giả đã có rất nhiều bài viết bàn về truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư như: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương
diện quan niệm nghệ thuật về con người; Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Những dạng tình huống thường găp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình trở về… Các bài viết này
đã cho thấy cái nhìn toàn diện về phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư với những nét riêng, độc đáo
Nhà phê bình Phạm Thái Lê trong bài viết: Hình tượng con người cô đơn
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã nhận thấy: “Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi
kịch lớn nhất của con người Nhưng đọc Nguyễn Ngọc Tư chúng ta cảm nhận rất rõ nỗi cô đơn mà không thấy sự bi quan, tuyệt vọng Nhân vật của chị tự ý thức về sự
cô đơn Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và từ trong nỗi đau ấy họ vươn lên làm người Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái Đẹp, cái Thiện” [47;4]
Tác giả Lê Huy Bắc trong cuốn Văn học hậu hiện đại đã tiếp cận và khám phá truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư với góc nhìn của chủ nghĩa hậu hiện đại Bài viết: Tính dục (sexuality) trong “Cánh đồng bất tận” đã chỉ ra
“tính dục chính là “nhân vật” quan trọng bậc nhất của Cánh đồng bất tận, là nền
tảng tư duy nghệ thuật của Ngọc Tư” [6;296]
Bên cạnh đó còn rất nhiều bài viết bàn về các phương diện nội dung và nghệ
thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư như: Cánh đồng bất tận – nhìn từ mô
hình tự sự và ngôn ngữ nghệ thuật của Đoàn Ánh Dương; Dấu ấn hậu hiện đại trong “Cánh đồng bất tận” của Hoàng Đăng Khoa; Một thế giới nghệ thuật riêng
Trang 14của Nguyễn Khắc Phê; Nỗi nhớ qua “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Quang Sáng;
Nỗi đau trong “Cánh đồng bất tận” của Thảo Vy; Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư của Trần Thị Thu Hảo…
Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu như:
Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Kiều Oanh (luận văn
thạc sĩ, năm 2006); Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện Nguyễn Ngọc
Tư của Phạm Thị Thái Lê (luận văn thạc sĩ, năm 2007); Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Bùi Thị Nga (luận văn thạc sĩ, năm 2008); Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Phương (luận văn thạc sĩ, năm
2012); Tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa (luận văn thạc sĩ, năm
2017)…
Rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
là minh chứng cho thấy sự thật Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại Vì vậy muốn tìm hiểu, nắm bắt về văn học Việt Nam đương đại ta không thể bỏ qua Nguyễn Ngọc Tư
2.2.2 Những nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc độ biểu tượng
Đã có một số công trình nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, khám phá sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc độ biểu tượng
Tác giả Lê Thị Thùy Vinh có bài viết: Biểu tượng cánh đồng trong “Cánh
đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư Bài viết đã tập trung khai thác biểu tượng cánh
đồng trong Cánh đồng bất tận nhằm giải mã những thông điệp thẩm mĩ, những ý tứ
sâu xa mà Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm, từ đó thấy được vai trò của nhà văn trong việc điều chỉnh, tái tạo, bổ sung những ý nghĩa mới cho hình tượng nghệ thuật
Luận văn thạc sĩ: Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, năm
2013 của Nguyễn Thị Ngọc Lan đã tiếp cận, nghiên cứu văn xuôi của Nguyễn Ngọc
Tư từ góc độ biểu tượng để tìm ra những giá trị tiềm ẩn, khuất lấp sau từng biểu tượng cũng như mối quan hệ giữa chúng, quan niệm của nhà văn và những thông điệp nhà văn gửi gắm
Trang 15Trong bài viết: Tư duy biểu tượng trong văn xuôi nữ, tác giả Lê Thị Hường đã
đề cập đến tính chất “nhị nguyên của biểu tượng lửa” trong Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư
Trong bài viết: Môi trường và nhân tính: tự sự của Nguyễn Ngọc Tư trong
“Cánh đồng bất tận” tác giả Đoàn Ánh Dương đã nhận thấy Cánh đồng bất tận là
một câu chuyện biểu tượng Bài viết đã chỉ ra biểu tượng cánh đồng và nhân vật Điền giữ vai trò là thành tố chủ đạo
Trong bài viết: Tính dục (sexuality) trong “Cánh đồng bất tận”, tác giả Lê Huy Bắc đã nhận định: “Cánh đồng bất tận hấp dẫn người đọc bởi cách sử dụng các
chi tiết biểu tượng dày đặc” [6;299]
Các bài viết, các công trình nghiên cứu trên ít, nhiều có liên quan đến đề tài Chúng tôi coi những công trình nghiên cứu đi trước là những gợi dẫn quý báu trong quá trình thực hiện luận văn này Theo hiểu biết giới hạn của chúng tôi cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về biểu tượng trong truyện
ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Đó là lí do thứ nhất chúng tôi lựa
chọn thực hiện đề tài này
2.3 Các công trình nghiên cứu về sáng tác của Haruki Murakami
2.3.1 Những nghiên cứu về truyện ngắn Haruki Murakami
Haruki Murakami là một hiện tượng độc đáo của văn học Nhật Bản và là một nhà văn tầm cỡ quốc tế Tác phẩm của Murakami đã được dịch và phát hành ở rất nhiều quốc gia trên thế giới với số lượng xuất bản đạt mức kỉ lục Tuy nhiên vì nhiều lí do mà sáng tác của ông mới xuất hiện ở Việt Nam được khoảng hơn chục năm Mặc dù vậy cái tên Murakami đã nhanh chóng trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của độc giả Đa số độc giả Việt Nam biết đến Murakami là một tiểu thuyết gia
xuất sắc của văn học đương đại Nhật Bản với những tác phẩm nổi tiếng như: Rừng
Nauy, Biên niên kí chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, Kafka bên bờ biển… Đã
có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Murakami như: Con
người Nhật Bản cô đơn trong một số tiểu thuyết của Murakami Haruki của Hoàng
Thị Hiền Lê; Kiểu nhân vật chấn thương trong tiểu thuyết của Murakami Haruki của Đặng Phương Thảo; Yếu tố tình dục trong tiểu thuyết của Murakami (luận văn
Trang 16thạc sĩ, năm 2010); Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Murakami của Tống Thị Thu Thảo (luận văn thạc sĩ, năm 2011); Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của
Murakami của Nguyễn Bích Nhã Trúc (luận văn thạc sĩ, năm 2012); Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Murakami của Lê Thị Thanh (luận văn thạc sĩ, năm 2012); Kiểu nhân vật đi tìm bản ngã trong tiểu thuyết của Murakami của Nguyễn Thị Huê
Vân (luận văn thạc sĩ, năm 2012); Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu
thuyết của Murakami của Châu Hồng Thảo (khóa luận tốt nghiệp, năm 2016)…
Song bên cạnh gia tài tiểu thuyết đáng ngưỡng mộ, Murakami còn có một số lượng đáng kể truyện ngắn Tuy nhiên truyện ngắn của Murakami mới được dịch và xuất bản ở Việt Nam trong thời gian gần đây và số lượng xuất bản không nhiều nên
ít có điều kiện đến với công chúng độc giả Truyện ngắn của Murakami được các nhà nghiên cứu phê bình trên thế giới đánh giá rất cao nhưng ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thể loại này
Công trình nghiên cứu bao quát và toàn diện nhất về cuộc đời và sự nghiệp
của Haruki Murakami là của tác giả Đào Thị Thu Hằng trong cuốn Nhà văn Nhật
Bản thế kỉ XX Ở phần viết về Haruki Murakami, tác giả đã khái lược về hành trình
sáng tác của Murakami và chỉ rõ sức hấp dẫn từ những sáng tác của Murakami chính là “một văn phong kể chuyện bậc thầy, một bản sắc văn hóa toàn cầu hóa, một cốt truyện hấp dẫn cả về sự kiện tình tiết lẫn dụng ý nghệ thuật” [33;213]
Tác giả Hoàng Long trong cuốn: Nghiên cứu và phê bình truyện ngắn
Murakami Haruki đã có bài viết về trường văn hóa Nhật Bản trong tác phẩm của
Murakami và giới thiệu 20 truyện ngắn của Murakami
Báo cáo: Thực và ảo trong truyện ngắn của Murakami Haruki trong Hội nghị
sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 6 tại Đại Học Đà Nẵng của Trần Thị Yến Minh đã đề cập đến một đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn của Murakami là sự kết hợp giữa hai yếu tố: hiện thực và huyền ảo
Tác giả Hà Văn Lưỡng trong bài viết: Hình tượng người trần thuật trong
truyện ngắn của Murakami Haruki – nhìn từ lí thuyết tự sự học và bài viết: Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của Murakami Haruki – từ góc nhìn tự sự học đã khảo sát và tìm hiểu hình tượng người trần thuật, điểm nhìn và
Trang 17giọng điệu trần thuật trong các truyện ngắn của Murakami, từ đó khẳng định tài năng nghệ thuật đặc sắc của nhà văn
Nhìn chung các bài viết và công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Murakami Haruki chưa có nhiều và chỉ chủ yếu dừng lại ở những khai mở, gợi dẫn bao quát, gần như chưa có một bài viết nào tập trung nghiên cứu cụ thể một truyện ngắn của Murakami Đây là một lí do thứ hai chúng tôi lựa chọn đề tài này
2.3.2 Nghiên cứu biểu tượng trong sáng tác Haruki Murakami
Tác giả cuốn Nhà văn Nhật Bản thế kỉ XX – Đào Thị Thu Hằng đã chỉ ra một
đặc điểm quan trọng làm nên sức hấp dẫn kì lạ từ tác phẩm của Haruki Murakami là
“chất trinh thám, ẩn dụ, biểu tượng” Tuy nhiên cho đến nay các bài viết, công trình nghiên cứu về biểu tượng trong sáng tác của Murakami khá hiếm hoi và chủ yếu hướng vào tiểu thuyết – thể loại nổi bật nhất trong văn nghiệp của Murakami
Tác giả Nguyễn Anh Dân trong công trình nghiên cứu: Hệ thống biểu tượng
trong “Biên niên ký chim vặn dây cót” (luận văn thạc sĩ, năm 2008) đã tìm hiểu,
khám phá các hình ảnh, nhân vật mang tính biểu tượng của tác phẩm và chỉ ra rằng:
“Hệ thống biểu tượng của Biên niên ký chim vặn dây cót đa dạng và phức tạp, nó
trải dài trên các bình diện không gian, thời gian, nhân vật đến cấu trúc, kết cấu… Chúng đã tạo nên một thế giới biểu tượng nhiều màu sắc kết hợp trong những cấu trúc truyện kể độc đáo đã góp phần chuyển tải những thông điệp sâu sắc của Murakami Haruki đến với người đọc” [12;67]
Tác giả Trần Lam Vy cũng hướng sự quan tâm đặc biệt đến tính biểu tượng
trong tác phẩm của Murakami trong công trình nghiên cứu: Biểu tượng trong tác
phẩm “Kafka bên bờ biển” của Murakami (luận văn thạc sĩ, năm 2013) Tác giả đã
tập trung tìm hiểu, khám phá biểu tượng “chiếc bóng”, biểu tượng “giấc mơ” và biểu tượng “ngầm” trong tác phẩm và khẳng định: “Murakami là một nhà văn đặc
biệt thích sử dụng các biểu tượng và ẩn dụ, người đọc không thể hiểu sâu những tác phẩm của Murakami nếu không mang một tâm thế sẵn sàng giải mã biểu tượng bởi những ẩn dụ siêu hình được ông sử dụng dày đặc” [77;51]
Tác giả Phan Thị Huyền Trang trong công trình nghiên cứu: Biểu tượng trong
tiểu thuyết của Murakami đã khảo sát, thống kê và khám phá ba biểu tượng: cái giếng
Trang 18cạn, cái bóng và nước trong tiểu thuyết của Murakami Gần đây nhất là bài viết: Biểu
tượng cái chết trong tiểu thuyết của Murakami Haruki của Lê Thị Diễm Hằng
Nhìn chung các bài viết, công trình nghiên cứu về biểu tượng trong sáng tác của Murakami là khá ít ỏi và theo hiểu biết giới hạn của chúng tôi thì đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về biểu tượng trong truyện ngắn của Murakami
Như vậy nhìn lại các bài viết, các công trình nghiên cứu về biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn của Murakami ta nhận thấy cho đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu, khám phá hệ thống biểu tượng trong một truyện ngắn cụ thể của hai tác giả này và trong tương
quan đối sánh thì càng không có Đó chính là lí do chúng tôi lựa chọn đề tài: Biểu
tượng trong “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư và “Con voi biến mất” của Haruki Murakami
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu, nghiên cứu biểu tượng trong truyện ngắn Cánh đồng Bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami để thấy
được ý nghĩa của các biểu tượng; cách xây dựng biểu tượng, cách mã hóa để gửi gắm thông điệp; cũng như sự tương đồng và khác biệt trong thế giới biểu tượng của hai nhà văn, từ đó có thêm một cách tiếp cận tác phẩm văn học dựa vào mã văn hóa
4 Đối tượng nghiên cứu
Biểu tượng trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami
5 Phạm vi nghiên cứu
Truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, in trong tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2019 và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami, in trong tập truyện ngắn Đom đóm, NXB Đà Nẵng, 2006
6 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp tiếp cận là Kí hiệu học
Về phương pháp kí hiệu học: Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của luận văn
là hệ thống các biểu tượng trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami Biểu tượng nghệ thuật là một dạng kí
Trang 19hiệu đặc biệt trong các tác phẩm văn học để chuyển tải tư tưởng, quan niệm, thông điệp của nhà văn Phương pháp kí hiệu học giúp người viết nhận ra được “cái biểu đạt” (biểu tượng) và “cái được biểu đạt” (ý nghĩa biểu tượng) Bởi vậy, đây là một phương pháp chủ đạo, xuyên suốt trong việc nghiên cứu đề tài này
6.1 Phương pháp thống kê - phân loại
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê – phân loại để khảo sát, thống kê,
phân loại các dạng thức biểu tượng trong hai truyện ngắn: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Con voi biến mất của Haruki Murakami
6 2 Phương pháp loại hình
Mỗi tác phẩm văn học đều thuộc một loại hình nhất định Loại hình quy định, chi phối cách nhà văn tổ chức tác phẩm Vì thế, phương pháp loại hình là một phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu một tác phẩm văn học Khi nghiên cứu
đề tài này, người viết sử dụng phương pháp loại hình để thấy được sự tương đồng trong cách sử dụng và ý nghĩa của các biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và Haruki Murakami
6.3 Phương pháp so sánh
Mục đích cuối cùng của luận văn là chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về hệ
thống biểu tượng trong hai truyện ngắn: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và
Con voi biến mất của Haruki Murakami để từ đó bước đầu so sánh hai nền văn học,
hai nền văn hóa Việt Nam và Nhật Bản Vì vậy luận văn rất cần phải sử dụng phương pháp so sánh
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu bổ trợ: Phương pháp tiểu sử và các thao tác khoa học phân tích – tổng hợp trong quá trình thực hiện đề tài này
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Biểu tượng thiên nhiên
- Chương 2: Biểu tượng con người
- Chương 3: Biểu tượng loài vật
Trang 20Chương 1: BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN
Thiên nhiên xuất hiện trong văn học không chỉ là một sự vật mà nhiều khi được gửi gắm, kí thác vào đó một ý nghĩa, một giá trị hay nâng lên thành một biểu tượng Thiên nhiên trong văn học cũng được coi là một biểu tượng Đó là một gương mặt không có tên, không xuất hiện cụ thể hay tập trung nhưng không mấy khi vắng bóng trong tác phẩm Ta từng biết đến “gương mặt” thiên nhiên trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du Đó là một dạng nhân vật đặc biệt để nhà văn kí thác
những tâm tư, tình cảm, những nỗi niềm của mình Bởi “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Thiên nhiên xuất hiện trong văn học trung đại do gắn với đặc trưng tính phi ngã, tính ước lệ, tượng trưng nên có thể phần nào người đọc hiểu được: thiên nhiên là nơi con người gửi gắm tâm trạng Còn với các tác phẩm văn học hiện đại thì sao? Thiên nhiên cũng là chốn để con người nhìn sâu vào đó để cởi tỏa những chướng ngại về tâm lí, kí thác tâm trạng, bộc lộ những
ẩn ức Những khi ấy, thiên nhiên đã trở thành một biểu tượng chứ không chỉ còn là một sự vật tĩnh tại, giản đơn, thuần khiết
1.1 Cánh đồng
Cánh đồng là một sự vật, một cảnh thiên nhiên mà khi nhắc tới, người ta liên tưởng ngay tới một không gian rộng lớn, rợn ngợp, mênh mông Không gian càng mênh mông thì con người lại càng cảm thấy nhỏ bé, cô liêu Trong văn học phương
Tây cánh đồng cũng từng xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học như Đồi gió hú,
Cuốn theo chiều gió,… Trong tâm thức và văn hóa của người phương Đông, cánh
đồng cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa biểu tượng Bởi phương Đông là cái nôi sản sinh
ra nền văn minh lúa nước nên cánh đồng từ lâu vốn đã trở thành không gian mang đầy giá trị biểu tượng Trong ca dao dân ca, người đọc bắt gặp không ít hình ảnh cánh đồng Cánh đồng là không gian sinh hoạt văn hóa làng quê, là nơi người lao động bình dân cất lên câu hát, là nơi cô gái nhớ thương người yêu, là nơi đôi lứa hò hẹn, là nơi người nông dân đổ mồ hôi, sôi nước mắt để làm ra lúa gạo Trong văn học hiện đại, cánh đồng vẫn tiếp nối mạch nguồn của những ý nghĩa ấy Cánh đồng vẫn là không gian gắn với làng quê, với nền văn minh lúa nước Khi cuộc sống chưa
Trang 21bị đô thị hóa thì cánh đồng vẫn còn xuất hiện nhiều và đa dạng, đi vào trong văn học và dễ chắp cánh hơn trong quá trình đồng sáng tạo nơi người đọc Nhưng đến
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư thì hình ảnh cánh đồng lại được mở ra
nhiều trường nghĩa mới Cánh đồng xuất hiện với nhiều tên gọi, gắn với nhiều danh xưng độc, lạ, chứa chất đầy ẩn ức của nhân vật
Tiếp cận với truyện ngắn Cánh đồng bất tận, dễ nhận thấy cánh đồng là biểu
tượng trong truyện Cánh đồng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư không xuất hiện tập trung mà nằm rải rác từ đầu tới cuối tác phẩm Mỗi lần xuất hiện, cánh đồng đều gắn với một nhận thức của nhân vật tôi Hình ảnh đầu tiên về cánh đồng xuất hiện đầy ấn tượng trong cảm nhận của nhân vật cô bé Nương: “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi nầy Những cây lúa chết non trên đồng, thân lúa đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn” [73;163] Vừa xuất hiện cánh đồng đã mang theo dự cảm về sự khô cằn, dữ dội và khắc nghiệt Cánh đồng là nơi mà gia đình đứa trẻ chăn vịt tên Nương và Điền quyết định neo đậu lại Sau khi người mẹ bỏ nhà đi theo người đàn ông buôn vải, người cha của những đứa trẻ quyết định tự tay đốt toàn bộ cơ nghiệp, từ bỏ căn nhà
và sống đời du mục Một phần vì nơi ấy lưu giữ dấu vết của kí ức về người vợ Một phần vì việc rời đi sẽ không còn để lại lời đàm tiếu nào từ những người hàng xóm nhiều chuyện Để rồi, khi người cha đặt chân tới đâu, khi được hỏi câu: “Mẹ của đứa trẻ đâu?” Thì người cha đều không do dự mà trả lời “Chết rồi!” và nhận được
sự cảm thông: “Tội hôn?” Mảnh vườn, ngôi nhà, con trâu, bến nước vốn gắn với thuộc tính tĩnh, cố định, là nơi neo đậu và đem đến sự an toàn an yên cho tâm hồn Nhưng ngược lại trong tác phẩm này, đó là điểm khởi đầu khiến con người hoài nghi về khái niệm hạnh phúc, sự gắn bó, thủy chung hay bền chặt ở đời Vì thế, việc lưu lạc hết từ cánh đồng này đến cánh đồng khác trở thành một cuộc chạy trốn, một lựa chọn của cha con người chăn vịt Không cố định, bất ổn, xơ xác, tiêu điều Tha hương nay đây mai đó như chính sự mông lung vô định trong lòng người Trở lại với hình ảnh cánh đồng xuất hiện trong cảm nhận của cô bé Nương, người đọc có thể nhận thức được ngay một cái gì đó tàn khốc, tàn lụi mà không cần hiểu được bối
Trang 22cảnh vì sao cha con họ lại lưu lạc hết từ cánh đồng này sang cánh đồng khác
Cánh đồng trong cánh đồng bất tận trước hết mang đặc trưng của miền sông nước, mênh mông, khô cằn, nghèo khó “Mùa đến sớm Vì vậy mà nắng rất dài Mới rồi, chúng tôi dừng chân ở một xóm nhỏ bên bờ sông lớn mênh mang Mỉa mai, người ở đây lại không có nước để dùng Người họ đầy ghẻ chốc, những đứa trẻ gãi đến bật máu Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nước khỏi sánh
ra ngoài vì đường xa, nước mắc Buổi chiều, đi làm mướn về, họ tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu Nước vo cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong dành rửa cá Con nít ba tuổi đã biết quý nước, mắc lắm cũng ráng chạy ra vườn đái vô chậu ớt chậu hành” [73;169] Nước khan hiếm và đắt giá như một thứ mặt hàng sa sỉ Đây là đặc trưng riêng của người dân quanh năm bôn ba lênh đênh miền sông nước Nét đặc trưng này được đưa vào văn bản vừa cho thấy
sự am hiểu của Nguyễn Ngọc Tư vừa cho thấy điểm độc đáo của hình tượng nghệ thuật cánh đồng cũng như toàn văn bản Và đặc biệt hơn: “Ở đó, có người con trai bảo, “Ước làm sao trước lúc má tui chết, bà được tắm một bữa đã đời” Câu nói nầy làm tôi thương anh ta quá chừng Hôm tôi đi, anh tần ngần đứng bên bè, hồi nhỏ
“Không biết em có muốn ở lại với… má tui” [73;170] Nếu như cái nghèo cái đói là
ám ảnh cả đời của người dân miền sông nước Nam Bộ thì thiếu nước ngọt là niềm
ám ảnh mỗi ngày, mỗi mùa của người Và những thiếu thốn ấy cũng phần nào hình thành nên tính cách của con người nơi đây: tiết kiệm, biết trân quý mọi thứ và chịu thương chịu khó Nhưng cũng chính sự thiếu thốn nước ngọt ấy, tuy gây ảnh hưởng đến mùa màng, sản xuất nông nghiệp nhưng lại trở thành chốn vui chơi lí tưởng cho những đứa trẻ: “Những cánh đồng chúng tôi đi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông Người ta không thể trồng đậu, trồng dưa vì thiếu nước Bầy con nít giỡn nhoi trên những con kinh khô trơ lòng” [73;171]
Thuộc tính nước đầy vơi trên cánh đồng tự yếu tính cũng hàm chứa một giá trị
biểu tượng Nước vốn tượng trưng cho sự tràn đầy Mặt nước váng phèn, con kinh
khô trơ trọi thay cho thuộc tính đầy ắp nước trên một cánh đồng cho thấy sự khuyết
thiếu, giống như những đứa trẻ kia, lớn lên trên miền sông nước, thiếu thốn đủ bề, đặc biệt là khuyết đi vai trò của người mẹ trong khái niệm mang tên gia đình Như
Trang 23thế, cánh đồng và những dòng kinh khô cạn cũng đem đến một giá trị biểu tượng,
đó là sự khuyết thiếu
Từ sự khuyết thiếu của sự vật thiên nhiên qua hình tượng cánh đồng, người đọc còn thấy được sự khuyết thiếu đủ đường trong đời sống con người và trong tuổi thơ của những đứa trẻ: “Cha đẩy chúng tôi trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên Mỗi lần rời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt, chúng tôi bỏ đi hay đang chạy trốn Chúng tôi đánh mất cái quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, được nhận vài món quà quê như buồng chuối già hương hay bó rau ngót cắt trong vườn, cùng lời dặn dò quyến luyến, “Đi mạnh giỏi nghen” [73;197] Thì ra những đứa trẻ như Nương, Điền vì sớm va đập với hiện thực chát chúa của đời sống
du mục mà trở nên nhạy cảm Chúng cũng có tâm hồn trẻ thơ, ngây thơ nghĩ rằng mình sẽ chết vì bị rắn cắn Chúng ngây thơ chơi đùa với nhau mà không bận lòng vì
sự nghèo đói bủa vây Chúng ngây thơ quan sát những người thợ gặt dùng toàn bộ
số tiền xóa đói để đi thỏa mãn nhu cầu tình dục Chúng quan sát nhưng không phán xét Đó là đặc trưng của cái nhìn trẻ thơ trong văn học Cũng nhờ cái nhìn trẻ thơ ấy
mà hiện thực cuộc sống được phơi bày trần trụi và có sức ám ảnh cao Nương về cơ bản không phải là không biết buồn mà em chấp nhận và sống chung với nỗi buồn với tâm thế bình thản nhất Cũng như cô Mị của Tô Hoài: Sống lâu trong cái khổ,
Mị đã quen khổ rồi, không còn kêu ca hay ca thán gì nữa Ở đây người đọc có thể thấy có một sự hô ứng giữa biểu tượng cánh đồng và biểu tượng người mẹ Người
mẹ là nguồn sống, nuôi dưỡng, ôm ấp những đứa trẻ Đứa trẻ có lớn lên thông minh, khỏe mạnh, sống hạnh phúc là nhờ dòng sữa và sự chăm bẵm của người mẹ Còn cánh đồng có nguồn sống là đất mẹ Đất đai khô cằn, cái đồng dù mênh mông vẫn hoang hoải, khô héo, thậm chí còn thao thiết thay đổi vị nước Cũng như những đứa trẻ dân du mục kia, mẹ chúng bỏ đi, chúng tự lớn lên như cây cỏ trên cánh đồng Cánh đồng với chúng là bạn Chúng cũng có tâm hồn giống như cánh đồng kia: héo úa, tổn thương, rỉ máu Hay nói cách khác, cánh đồng có tâm hồn đồng điệu với tâm hồn những đứa trẻ
Hơn nữa, cánh đồng còn là không gian riêng của gia đình Nương, hoang hoải, lưu lạc, cô liêu Nó đã vạch nên một bức tường ranh giới giữa thế giới trong này và
Trang 24ngoài kia, giữa không và có, giữa giàu và nghèo, giữa chúng tôi và bọn họ, giữa bình thường và khác thường, giữa buồn và vui Cánh đồng khi ấy không xuất hiện
và không hẳn là nguyên nhân chính khiến Nương có so sánh như vậy nhưng thực chất cũng là không gian suy tư cho cô bé đa sầu đa cảm này: “Họ có nhà để về, chúng tôi thì không Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao Điều nầy làm tôi
và Điền buồn biết bao nhiêu, vì cách duy nhất để được nhìn lại hình bóng má cũng tan rồi Mà, nếu như những cơn chiêm bao quay trở lại, chúng tôi không biết chắc là hình ảnh ấy của má có xuất hiện hay không” [73;185] Những đứa trẻ thèm được sống giữa chòm xóm đông người, thèm được gia nhập xã hội loài người chứ không phải là thu lu một xó với những con vịt Trẻ con, có đứa nào mà không thích được
nô đùa với chúng bạn, không thích được đến trường để học con chữ Vậy mà Nương
và Điền lại không có tuổi thơ bình thường như vậy Hai đứa trẻ lớn lên trong sự cô đơn, trơ trọi, mênh mông Mẹ bỏ đi, cha vì hận người mẹ mà trở thành người trầm lặng, cục súc Những đứa trẻ không dám mơ và thực chất là không có nổi giấc mơ bởi giấc ngủ trên xuồng khác với giấc ngủ êm ái trên đất liền Những đứa trẻ ấy thật tội nghiệp Không những thế, chúng còn quên luôn cả gương mặt mẹ, kí ức và nhân dạng về mẹ chỉ còn là cái bóng mờ nhòe giống như được nhìn qua lăng kính lòa nhòa của đôi mắt ngấn lệ Và không đâu khác, chính cánh đồng cô đơn hoang hoải
đã giúp những đứa trẻ nhận ra điều ấy Cánh đồng ôm ấp chúng vào lòng, vỗ về, dạy cho những đứa trẻ kĩ năng sống; đồng thời cũng nghiêm khắc dạy dỗ, khiến chúng nhìn đời và trải đời với những sự thực trần trụi nhói đau Thế rồi, những đứa trẻ cũng tìm cách phản kháng nhưng càng phản kháng càng chứng tỏ sự bất lực và
vô phương hướng: “Chị em tôi hết sức cố gắng để giận dữ, chán chường của mình không bùng cháy Chúng tôi cho vịt ăn thật xa trên đồng, vạ vật ở đó từ sáng tới chiều Gió hoang liêu không làm lòng hai đứa nguội lại May ra gió chỉ thổi khô nước mắt lúc nào cũng ri rỉ trên mặt em tôi” [73;197] Điền chảy nước mắt không ngừng được từ ngày chứng kiến cảnh mẹ nó qua kẽ hở của bồ thóc Nó không khóc, nỗi buồn ấy đã không còn đau nữa mà trở thành vết chai, nhưng nước mắt thì cứ thế
Trang 25rỉ ra Cánh đồng khi ấy lại thổi những cơn gió để làm khô đi những giọt nước mắt không cảm xúc của Điền cũng như Nương Gió đồng nội cũng là một biến thể khác của biểu tượng cánh đồng, thể hiện sự vỗ về, an ủi của thiên nhiên cho những đứa trẻ đáng thương
Và cánh đồng không chỉ có một mà là thật nhiều những cánh đồng Mỗi nơi
mà cha con người chăn vịt đi qua, đặt chân tới đều lưu giữ lại những mảnh kí ức Mỗi cánh đồng lại chất chứa một câu chuyện mà qua lăng kính của cô bé Nương ta thấy được rất rõ nét, ấn tượng: “Cánh đồng không có tên Nhưng với tôi và Điền, chẳng có nơi nào là vô danh, chúng tôi nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỉ niệm
mà chúng tôi có trên mỗi cánh đồng Chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn, chỗ tôi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Và mai nầy, khi tôi dạt đến một nơi nào khác, nhắc đến cánh đồng nầy với cái tên của chị, chắc chúng tôi sẽ xốn xang” [73;167]; thế rồi: “Chúng tôi ở trên cánh đồng vắng ngắt” [73;168] Và “Những cánh đồng chúng tôi đi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông Người ta không thể trồng đậu, trồng dưa vì thiếu nước Bầy con nít giỡn nhoi trên những con kinh khô trơ lòng” [73;171] Cánh đồng trở thành một mảnh ghép của tuổi thơ những đứa trẻ Là trẻ con, đứa bé nào mà chẳng từng trồng cây, nghịch ngợm, chơi đùa Nhưng nếu như những đứa trẻ thị thành nghịch ngợm trong không gian thành phố, được sự kèm cặp dạy dỗ thì chúng chắc hẳn sẽ không có được trải nghiệm đầy hoang dã và vấp ngã thì tự đứng dậy như những đứa trẻ miền sông nước này Nếu nói chúng bị bỏ bê, bị thất học làm cho láo lếu hay lêu lổng thì không đúng Đứa trẻ nào cũng ẩn chứa một tâm hồn thơ ngây, non dại và ngoan ngoãn Hai chị em Nương và Điền cũng vậy, chúng là những đứa trẻ cảm tưởng như những cây cỏ mọc hoang trên cánh đồng Tự nương níu bấu víu lấy nhau mà lớn lên Điều gì chúng không biết, chúng sẽ thử Vấp ngã, chúng sẽ tự đứng dậy Điều gì không lí giải được, chúng sẽ gửi một dấu hỏi lớn vào những cánh đồng – nơi chúng từng đặt chân tới, và thường thì sẽ chẳng bao giờ có câu trả lời Nhưng có thể khẳng định, cánh đồng đã dạy cho Nương và Điền nhiều điều Cánh đồng không còn là một không gian lành mà đã trở thành một môi trường rèn luyện để những đứa trẻ học được những vấp ngã và đứng dậy từ vấp ngã Cánh đồng không chỉ là cuộc sống mưu sinh mà còn là tấm gương soi cho
Trang 26những đứa trẻ sinh ra từ khốn khó và bất hạnh này
Cánh đồng mênh mông chính là “người mẹ” dạy cho những đứa trẻ cách sinh tồn: “Tôi và Điền buộc phải tự học lấy cách sống Nhiều khi dễ đến không ngờ Nhờ Điền bị rắn hổ đất cắn mà chúng tôi biết được cách phân biệt vết răng của rắn độc
Nó để lại trên cổ chân Điền một cặp vết răng như hai cái lỗ nhỏ, sâu hoắm Tất nhiên, phải nhờ người thợ gặt tốt bụng vác thằng Điền chạy một đỗi đồng để tới ông thầy lấy nọc rắn, nó mới giữ được cái mạng để… rút kinh nghiệm Sau nầy, một lần băng qua một đám cỏ dày, đến lượt tôi bị rắn cắn, tôi kêu, Điền ơi, chắc Hai chết trước à Thằng Điền nhìn vết thương, nó cười, nói không sao, số Hai sống lâu lắm, hai hàng răng tướm máu giống hệt nhau như vầy, chắc cú là rắn bông súng cắn chơi thôi” [73;181] Hai đứa trẻ cứ tha thẩn tự chơi đùa và tự lớn lên với nhau Những kinh nghiệm vốn sống mà chúng có được cũng là sự tự tích lũy cho nhau Không phải là sự truyền dạy thế hệ mà là đứa này dạy đứa kia Đứa bé có khi còn rành về vốn sống hơn cô chị… Vừa dạy cho hai đứa trẻ kĩ năng sinh tồn, cánh đồng còn cho phép chúng vui chơi, công kênh nhau lên nô nghịch và vẽ vào kí ức tuổi thơ của nhau những kỉ niệm đẹp, những phán đoán từ trẻ thơ tới già dặn như người lớn: “Và nhìn bướm bay, nhìn mây trôi, tôi biết ngày nào nắng ngày nào mưa Nghe bìm bịp kêu chúng tôi biết nước lên Dừng ghe ở một tuyến kinh nào, thằng Điền trèo lên ngọn cây cao, ngó bao quát cánh đồng và tính toán xem có thể cầm vịt ở đấy bao lâu thì hết thức ăn, đúng chóc Hay chúng tôi tự phán đoán ở đâu mùa vụ đến sớm, vùng nào lại trễ tràng để rời cánh đồng nầy, chúng tôi đến ngay một cánh đồng khác, ngay khi lúa vừa chín tới” [73;181] Những kinh nghiệm tích lũy được mỗi ngày từ cánh đồng ấy đã giúp những đứa trẻ nghèo khó trưởng thành từng ngày Nhưng cánh đồng không cố định, cuộc đời du mục của cha con nhà chăn vịt khiến những đứa trẻ nhớ da diết khắc khoải Và mỗi lần rời đi khỏi một cánh đồng nào đó thì chị em Nương và Điền đều như khắc như chạm vào kí ức một kỉ niệm về miền đất mà mình đã đặt chân qua Nghe trong giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư thì tâm hồn đứa trẻ có gì đó đượm buồn Không buồn sao được khi những đứa trẻ nhạy cảm phải học cách sống không quá sâu đậm để không phải buồn khi rời đi khỏi một nơi nào đó Cuộc đời cứ mãi lênh đênh, mông lung, vô định như số phận chìm nổi của
Trang 27con thuyền trên mặt nước
Cánh đồng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cũng có điểm giao thoa với ca dao dân ca của người bình dân xưa Cánh đồng trở thành không gian hò hẹn của đôi lứa Nhưng không phải là tình cảm yêu đương trong sáng, của sự nhớ nhung e ấp của đôi lứa như trong ca dao dân ca mà là sự trần trụi, thô bạo của cuộc sống đời thực không thể thực hơn: “Đêm đến, sau các đụn lúa, họ thả tiếng cười chút chít, tiếng thở mơn man… lên trời, làm nhiều người đàn bà đang cắm cúi nấu cơm, cho con bú trong lều thắt lòng lại Tối nào đi mua rượu cho cha, chúng tôi cũng đi ngang qua những đôi người Chúng tôi nhận ra họ ngay, khi không còn mảnh vải nào trên người, họ vẫn điềm nhiên cười khúc khích và uốn éo thân mình chứ không trơ ra ngượng nghịu, cam chịu như những người phụ nữ quê” [73;168] Đây là những câu văn chứa đầy nhục tính Đặc biệt lại được nhìn qua cảm quan của một đứa trẻ chưa trưởng thành, mới ở độ tuổi ngấp nghé tuổi vị thành niên như Nương Hơn nữa, cô
bé Nương lại sống xa mẹ từ nhỏ (mẹ cô bỏ hai anh em mà đi) nên hẳn những điều mắt thấy, tai nghe trong cảm quan của Nương với những thanh âm phát ra từ phía đụn lúa rất ám ảnh đứa trẻ Đọc những câu văn này, người đọc hẳn rất thương, rất xót cho những đứa trẻ Chúng mới chỉ là những đứa trẻ nhưng đã sớm bị chứng kiến cảnh thật đau lòng Trước hết là nhìn thấy cảnh mẹ chúng với người tình khi mới chỉ là những đứa trẻ tám tuổi, mười tuổi Nương và Điền lớn lên trên những cánh đồng và thực sự lớn lên như những cây cỏ dại, như những bông hoa dại, không được uốn nắn và trang bị những kiến thức cần thiết Cánh đồng không chỉ là không gian của sự sống, nơi mưu sinh mà còn là nơi dạy cho những đứa trẻ nhiều điều Và những sự thật phũ phàng trên cánh đồng vẫn diễn ra theo cái cách trần trụi nhất cũng khiến những đứa trẻ nhận thức được ít nhiều mặt sự thực của cuộc đời Chúng thấy, chúng nghe, chúng quan sát và chúng hiểu Cuộc đời vốn vẫn vậy, không hề khác đi nếu chúng hét lên hay lao vào để phá đi “hơi thở mơn man” hay “tiếng cười chút chít” kia Đó là sự thật nhức nhối, chua xót Cánh đồng như một thế giới thu nhỏ cắt cứa vào tuổi thơ của những đứa trẻ Nếu là một đứa trẻ vô tư, vô minh thì chắc chúng sẽ lớn lên mà không phán xét, nhưng Nương và Điền lại là những cô bé cậu bé nhạy cảm, vì vậy, dù chúng vẫn đang tiếp nhận thế giới mà cánh đồng mang
Trang 28lại với tâm thế bình thản nhất nhưng dường như có một cái gì đó rạn nứt, tổn thương trong tâm hồn của những đứa trẻ này
Biểu tượng cánh đồng không chỉ là hiện thực trần trụi, là người bạn, người thầy, người mẹ Cánh đồng không chỉ biểu tượng cho sự khiếm khuyết, chưa hoàn thiện của con người mà còn là sự trừng phạt Cánh đồng theo cảm quan của Nương chính là đang tạo ra và đưa con người vào một chuỗi rất dài của sự trừng phạt Sự trừng phạt này cứ nối tiếp sự trừng phạt kia, khắc nghiệt và dữ dội: “Bằng những sấm chớp, gầm gừ, dường như trời đất đã nín nhịn nhiều, cuồng nộ bắt đầu rồi đây
Có lần, tôi lấy cao su gói lại mớ mùng chiếu, nhìn mưa thè cái lưỡi ướt nhão nhớt vào lều, khoái trá nếm từng tấc đất, tôi tự hỏi, không biết chỗ khác có mưa nhiều như vầy không Ý nghĩ đó xuất hiện triền miên trong đầu tôi, rằng trời chỉ trút mưa, trút nắng ở nơi chúng tôi dừng chân lại Nỗi bẽ bàng của những người đàn bà bị cha tôi bỏ rơi đã thấu qua những tầng mây” [73;200] Sự trừng phạt xuất hiện khi con người đã chạm đáy của lương tâm Người mẹ bỏ đi, người cha hận đời mà “trừng phạt” những người phụ nữ khác Cha khiến những người phụ nữ si mê, để họ vừa kịp ly hôn, gửi con, bán ruộng vườn hay vừa chia xong tài sản thì cha sẽ lập tức bỏ
họ Lương tâm con người còn tụt đáy thảm hại khi họ làm tình với nhau ngang nhiên, mặc nhiên sống buông thả như lẽ ngẫu nhiên và để con trẻ chứng kiến khiến tâm hồn chúng bị hoen ố Lương tâm con người còn được đặt trong phép so sánh với sự giao phối theo mùa của loài vịt Sự so sánh này đã làm nổi bật sự tha hóa, chai sạn của con người Và khi ấy, Nương nhận ra, cánh đồng đang nổi giận và đang trừng phạt lại tất cả những kẻ mang tội Cánh đồng trái tính trái nết và biến thiên: khô hạn cạn kiệt nước rồi lại mưa bão triền miên, trút nước như tát Thiên nhiên nổi giận như chính lòng người đang liêu xiêu trước cán cân công lí, công bằng và lương tri, lương tâm “Nhưng sự trừng phạt tính toán cũng vừa vặn, vừa đủ vui, vừa đủ thương, quấn quýt, nó lại đứng sau lưng và cười nhạo chúng tôi” [73;202] Thiên nhiên không nổi giận, không trừng phạt nữa nhưng khi ấy, con người lại giẫm đạp lên nhau mà sống Bối cảnh diễn ra dòng suy nghĩ này là lúc: Nương, Điền và người cha đang phải hứng chịu ảnh hưởng chung của đại dịch cúm gia cầm Cũng như muôn vàn gia đình du mục chăn vịt khác trên cánh đồng này, ba
Trang 29cha con sống trong cảnh điêu đứng khi mà đàn vịt nghìn con nay chỉ còn lại vài con
và cuối cùng là mất tích hẳn Những kẻ kiểm dịch đã đốt hết đàn vịt với khẩu hiệu
“thà giết nhầm còn hơn bỏ sót Chúng sẵn sàng đốt hết cơ nghiệp cả đời của người dân nghèo mà không một chút bận tâm hay sẻ chia Tới đây người đọc hẳn sẽ thấy lợm giọng và bất bình trước hành động của mấy tên kiểm dịch - những kẻ báng bổ lương tri Thân ăn lương nhà nước và nói những điều đạo lí, ăn lương nhà nước để thực thi công lí mà lại đi làm những trò hèn hạ như bắt lấy những con vịt ngon về
ăn, thậm chí “xơi tái” Sương mặc dù nghĩ cô là vợ của Vũ
Cánh đồng từ đầu tới cuối ẩn chứa thật nhiều giá trị biểu tượng Và càng về sau, cánh đồng càng được thổi vào đó những nỗi buồn, sự trăn trở, suy tư Điền – đứa trẻ sinh ra từ đồng ruộng, lớn lên trên cánh đồng đã bỏ nhà ra đi vì không thể dung hòa, hòa hợp được với cuộc sống trên cánh đồng Đứa trẻ này vừa muốn lớn
để theo đuổi Sương nhưng cũng từ chối trở thành một người đàn ông, đặc biệt là như cha nó Chính vì thế mà Điền đã bỏ đi Điền đi, cánh đồng cũng trở nên trống vắng, cô liêu “Điền, không trở lại Tôi đã chờ nó đến mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt một trời sao Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về” [73;210] Và
“Bây giờ, gió chướng non xập xòe trên khắp cánh đồng Bất Tận Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những đường viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa Rất thính nhạy, (như kên kên ngửi được mùi xác chết), đám thợ gặt đánh hơi kéo đến, những người nuôi vịt lục tục ở đằng sau” [73;213] Những cánh đồng mang tên
bất tận, chia cắt, hận thù ấy chính là những cánh đồng chứa đầy giá trị biểu tượng
Cánh đồng chứa đầy sự mênh mông vô định như kiếp người nhân sinh Cánh đồng vừa chứa đấy sự khuyết thiếu và những khoảng tối trong tâm hồn mỗi người Cánh đồng đứng chấp chới giữa ranh giới của Thiện và Ác Cánh đồng cân bằng, cứu vớt
và cũng nhấn chìm tất cả: tội ác, tình yêu, dục vọng, sự thèm khát, ẩn ức,… trong mênh mông kiếp người
Không chỉ dừng lại ở những cái tên mà cánh đồng còn trở thành những thuộc tính của con người và trực tiếp thay đổi thuộc tính của chính nó: “Những cánh đồng trở thành đô thị, những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị trí của nước, từ ngọt sang mặn chát, những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ
Trang 30đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt)” [73;214] Cánh đồng chứa dấu tích mà con người tác động lên đó Quả thực, trong cuộc hành trình đi đến hiện đại hóa, tiến bộ, có nhiều cánh đồng đã oằn mình để bị san phẳng trở thành nhà cao tầng, trở thành khu đô thị Những cánh đồng còn được gán cho tính cách của con người “ngoa ngoắt thay đổi vị nước”, thay đổi diện mạo và tiễn biệt nhiều con người chân lấm tay bùn lên phố thị - lên với ánh sáng của sự tự do Thế rồi Nương còn nhận ra khi ở trên cánh đồng ấy: “Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần Nhưng ngay từ đầu chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ) Tôi đã từng trở ngược về những nơi
đó, theo cách của tôi, bằng mường tượng Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi Và hình ảnh đó thật đến nỗi tôi bất giác lùi lại vì một đứa đang nhìn trân trối vào mình, ngạo nghễ “Tao không thích học, chừng nào lớn, tao đi chăn vịt Má tao (hoặc ba tao) dặn, phải đánh chết tụi chăn vịt kia” [73;214] Những đứa trẻ tên Hận tên Thù chính là sản phẩm, là con đẻ của những khuyết thiếu, đổ vỡ, đứt gãy trong đời sống con người Con người đang bị va đập giữa cái cũ và cái mới, giữa cuộc sống hiện đại và truyền thống, giữa nghèo khó và giàu có Vì vậy, khi không chịu đựng được hoặc quá bị thu hút bởi những thứ hào nhoáng, lấp lánh kia, con người dễ bị sa ngã và như con thiêu thân, chết vì sự lấp lánh không đáng hi sinh Cánh đồng lúc này lại trong vai của người phán xử: chứng kiến, chỉ tội, vạch mặt và trừng phạt những tội lỗi của con người
Thế nhưng, sau khi chứng kiến, vạch mặt và trừng phạt rồi, cánh đồng lại trong vai của một vị thiên sứ, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh con người để không vấp phải những sai lầm đó nữa: “Ngay trên cánh đồng nầy, cũng đang lảng vảng những thằng Hận, chúng lớn hơn, cũng thất học, hung hãn Bọn người nầy cướp vịt
ở các bầy khác (trong đó có của chúng tôi) bằng cách lén phết sơn đen lên trên đầu những con vịt và phơ phởn đến nhận chúng là của mình, hiển nhiên mang đi Bắt đầu xảy ra vài cuộc xô xát trên đồng, người ta đem hết những bản năng hoang dã
Trang 31của mình ra để giành lại miếng ăn” [73;216] Những đứa trẻ tên Hận, tên Thù đầy hung bạo ấy chính là kết quả tất yếu của thế hệ sau nếu thế hệ trước không có những biện pháp, giải pháp để kết nối những đứt gãy thế hệ Nương sau khi bị những tên chăn vịt hãm hiếp ngay trước mắt bố mình rất có thể sẽ có mang Người cha bất lực Đứa con sau một hồi chống cự, buông xuôi thì giờ đã đối diện và chấp nhận sự thật Việc nêu ra những viễn cảnh tương lai của những đứa trẻ tên Hận tên Thù ấy cũng như cách cư xử của Nương: Đặt tên con là Thương đã tạo nên một kết
thúc đầy tính nhân văn Cách kết thúc truyện đã chỉ ra rất rõ giải pháp: Là trẻ con,
đôi khi chúng ta hãy biết tha thứ cho lỗi lầm của người lớn Tha thứ chính là mấu
chốt, là giải pháp tốt nhất để thay đổi thực trạng hận, thù, tha hóa chồng chất này
1.2 Khu rừng
Theo cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, thì rừng trong tâm thức của
người vùng Celte thực sự là một điện thờ Với người Ấn Độ, rừng là không gian để các nhà tu trải qua quá trình tu tập, khổ hạnh, ngộ đạo Phật giáo: “Những cánh rừng rất êm dịu, trong khi mọi người không bước vào rừng, vị thánh tìm chỗ nghỉ ở đó” Trong tâm thức của người Nhật Bản, rừng cũng có những ý nghĩa nhất định “Cổng ngôi đền Thần đạo (Torri) nổi bật với lối vào thực sự thiên nhiên, phổ biến nhất là rừng thông Còn ở Trung Quốc, ngọn núi có phủ rừng hầu như đều luôn luôn là quang cảnh của một ngôi đền” [8;786] Hơn thế, “Rừng thực sự là mái tóc của núi, làm cho núi có sức mạnh, làm cho nó có thể tạo ra mưa […] Muốn tấn công lên núi, Đại Vũ đã chặt hết cây; và Tần Thủy Hoàng khi cảm thấy bị xúc phạm khi lên núi Kiang gặp phải trận mưa, đã ra lệnh chặt hết cây để trả thù Trong trường hợp này cũng như một số trường hợp khác, vị hoàng đế đã không hiểu được biểu tượng của
sự đón tiếp đó” [8;787] Rừng trong quan niệm của người thời cổ được coi là “cái nôi của sự sống, là một thứ trung gian giữa trời và đất hoặc nơi nó cắm rễ với vòm trời, nơi ngọn núi nối liền hoặc chạm tới” [8;787] Rừng trong tâm thức của người Trung Hoa thì giống như một không gian linh thiêng Trong đó, ngọn núi cao nhất (núi Côn Luân, Linh Sơn) hay cây cổ thụ lớn nhất trong rừng ấy được xem như chiếc cầu nối nối giữa trời và đất, trở thành nơi đi về giữa người và thần, giữa linh thiêng và trần tục Rừng là không gian bao chứa và cũng là điểm hội tụ của những
Trang 32linh thiêng kì bí mà con người chưa giải mã hết được Như thế, trong văn hóa của người phương Đông hay phương Tây, rừng đều là một không gian hàm chứa sự linh thiêng, biểu trưng cho sự sống hoặc là cầu nối giữa trời và đất
Còn trong quan niệm của các nhà phân tâm học hiện đại, họ coi “rừng là tượng trưng cho sự vô thức” [8;787] Quan niệm về rừng gắn với cõi vô thức có lẽ khá hợp với cách suy nghĩ và lối viết của tác giả Haruki Murakami Bởi tác giả này đã cố gắng đưa vào tác phẩm của mình khá nhiều những không gian như vậy Không chỉ
trong Con voi biến mất mà còn trong hệ thống các tác phẩm đồ sộ của ông
Trong sáng tác của Haruki Murakami ta thấy tồn tại nhiều giá trị biểu tượng gắn với không gian rừng Ít nhất một lần, người đọc từng bắt gặp hình ảnh của rừng
khi mà nhân vật Kafka trong Kafka bên bờ biển trên hành trình chạy trốn và tìm
kiếm bản ngã Nhân vật Kafka đã đi vào rừng, đối diện với chính mình, gặp những điều siêu thực, không tưởng và thậm chí là sống với những mảnh kí ức khác nhau
để giải mã chính bản thân mình Cậu gặp lại người mẹ; cậu gặp người giống mình; cậu gặp người anh trai của kẻ trông thư viện đồng tính; cậu gặp những người không quen biết và mất đi ngôn ngữ; cậu gặp những người lính không giao tiếp nhưng hiểu cậu đến lạ Đặc biệt, hành trình vào rừng ấy của đứa trẻ mười lăm tuổi luôn được dẫn dụ bởi con quạ Mà quạ trong tiếng Đức có nghĩa là Kafka Đặc biệt, không gian rừng trong tác phẩm này còn gắn với những giấc mơ của nhân vật và cuộc chạy
trốn lời nguyền mang nặng mặc cảm Oedipus: Một ngày kia cậu bé sẽ giết cha, ngủ
với mẹ Lời nguyền ấy đeo đẳng cậu bé Kafka khiến cậu phải bỏ nhà đi, náu mình
trong thư viện và rồi là một khu rừng biệt lập Cậu vào rừng như một sự chạy trốn, một sự giải thoát và cũng như một sự đối diện với chính bản thể của mình Rừng có khi là hình ảnh thực nhưng cũng có khi là rừng trong giấc mơ, nơi linh thiêng, cõi u minh nơi cậu được nói chuyện với mẹ và biến “lời nguyền thành sự thực” Như thế, hành trình vào rừng là hành trình nhân vật tôi đi vào cõi vô ngã, khám phá và tìm kiếm bản thể
Còn trong tác phẩm Rừng Nauy của Haruki Murakami thì biểu tượng rừng tỏa
ra ngay từ tên tác phẩm Lấy cảm hứng và trọng tâm là một bài hát Norwegian
Wood – có nghĩa là Hành trình xanh Thực vậy, trong tác phẩm được vẽ nên bởi
Trang 33những cuộc hành trình ngược xuôi của nhân vật Ở đó có một Kizuki vì không thể làm chuyện ấy với bạn gái mà xả ga và kết liễu cuộc đời mình trong chiếc ô tô, mãi mãi nằm trong kí ức của mọi người ở tuổi 17 Ở đó có một Naoko vì ám ảnh trước cái chết của bạn trai mà trở nên loạn trí, không cách nào tìm được cách hòa nhập với thế giới và trở lại cuộc sống bình thường Ở đó có một Wanatabe Toru, người bình thường nhất trong những người được xem là điên của truyện nhưng thực chất cũng đang sống trong sự khác thường Anh ta hoàn toàn có thể lựa chọn Midori làm bạn gái và rời xa Naoko nhưng không sao dứt được nàng ra Hoặc vì thương hại hoặc vì một ý nghĩ nào khác nữa… nhưng tất cả đều tìm đến rừng như một sự giải thoát và cởi tỏa cho những ẩn ức của cõi vô thức Cảnh Naoko treo cổ trong cánh rừng mùa đông phủ tuyết trắng khi tình yêu giữa Naoko và Toru vừa chớm nở khiến người đọc không khỏi ám ảnh, thảng thốt Bởi có vẻ như cô sắp khỏi bệnh và sắp hòa nhập lại được với cuộc sống đời thường Nhưng thực chất, sâu thẳm trong tâm hồn cô là cái gì đó đứt gãy không thể hàn gắn Bởi vậy, sau những buổi sáng đi bộ dưới mưa, nhanh, điên cuồng đến nỗi Toru cũng không thể đuổi kịp, thì cô quyết định treo cổ Khu rừng ấy là biểu tượng cho cánh cửa khép mở giữa hai thế giới: bình thường và bất thường, tình yêu và những thương tổn đứt gãy Rừng cây thao thiết, xơ xác, xanh tươi, ẩm ướt Đặc biệt, qua thước phim của đạo diễn Trần Anh Hùng thì bộ phim chuyển thể này sẽ giúp người đọc hình dung rõ hơn và hiểu hơn
về biểu tượng khu rừng này Nhưng dù truyện hay phim thì rừng thực sự đã trở thành biểu tượng cho cõi vô thức không dễ gì lí giải được
Trở lại với truyện ngắn Con voi biến mất, ý niệm về rừng ban đầu rất mờ nhạt
Rừng chỉ là nơi mà nhân vật tôi thường xuyên lui tới Nhưng rừng không xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm và không phải là một biểu tượng đồng hành với nhân vật như
biểu tượng cánh đồng trong Cánh đồng bất tận Mà rừng chỉ xuất hiện và trở thành
điểm nhìn của nhân vật tôi khi quan sát con voi lúc nó được người quản voi chăm sóc trong chuồng và nghĩ về con voi khi nó đã biến mất Cũng có thể biểu tượng rừng trong tác phẩm này được biến thể thành những không gian khác như qua lời kể của nhân vật tôi, qua tưởng tượng của nhân vật hay qua các bài báo truy tìm con voi biến mất Tuy nhiên, dù là hình ảnh rừng xuất hiện trực tiếp hay những biến thể của
Trang 34nó thì cũng xuất hiện với tần suất thấp Bởi thế rất khó để có thể hiểu rõ được ý
nghĩa của rừng trong Con voi biến mất Chúng tôi chỉ có thể khảo sát và góp nhặt
những chi tiết nhỏ có liên quan đến rừng cây xuất hiện trong tác phẩm
Trước hết, ta cần thấy được phong cách viết của Haruki Murakami thường hướng tới thế giới siêu thực Ngay từ những ngày đầu cầm bút, ngoại trừ tác phẩm
Rừng Nauy, còn lại các tiểu thuyết, và kể cả các sáng tác truyện ngắn của ông phần
nhiều viết theo phong cách siêu thực Vậy nên điều dễ hiểu là các hình ảnh trong văn chương ông là thế giới siêu thực chứa đầy những biểu tượng Các hình ảnh này đều ít nhiều hàm chứa một giá trị biểu tượng, mang một mã kí hiệu nào đó Truyện
Con voi biến mất có cốt truyện rất đơn giản Kể về sự kiện một con voi già được
thành phố nhận nuôi nhưng bỗng một ngày nó biến mất không tăm tích Mọi cuộc tìm kiếm đều đã diễn ra nhưng không có kết quả Cuối cùng, sự việc ấy rơi vào quên lãng, chỉ có nhân vật tôi – người có mối quan tâm đặc biệt với con voi thì vẫn tiếp tục suy nghĩ không ngừng về sự việc này nhưng cũng chẳng có một kết quả nào Trong chuỗi các sự kiện ấy, hình ảnh rừng xuất hiện với vị trí thứ yếu, là không gian bao chứa con voi, không gian tìm kiếm và cũng là không gian vô định… Rừng vừa là không gian linh thiêng như ý nghĩa của biểu tượng cổ mẫu nhưng rừng đồng thời cũng được xem là cõi vô thức theo quan niệm của Freud
Một tác phẩm hay không phải là tác phẩm có nghĩa rõ hiểu, đọc một lần là
thấy được hết giá trị của nó Con voi biến mất của Haruki Murakami cũng là một
trong những tác phẩm như thế Tác phẩm không dễ đọc Tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn, có dung lượng không quá lớn nhưng cũng có sức nặng để người đọc nâng lên đặt xuống nhiều lần, nếu muốn đi sâu vào khám phá thế giới nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm Mở đầu tác phẩm, tác giả đã đưa ra ngay thông tin về
sự kiện con voi biến mất Đặc biệt, tác giả còn cố gắng đưa ra những khung thời gian để tăng độ chính xác, tin cậy của sự việc Sự kiện con voi biến mất vì thế mà trở nên chân thực, người đọc vô tình quên đi rằng đang đọc một câu chuyện với các chi tiết hư cấu, dễ dàng có thể lầm tưởng là đang đọc một bài báo hay nghe một bản tin trên báo đài về sự kiện con voi biến mất Men theo thông báo về sự kiện ấy, Murakami mới hé mở dần những dòng tin liên quan đến câu chuyện này Không
Trang 35gian rừng cũng vô tình bám víu và hiển lộ trong quá trình mà nhân vật tôi kể lại và ngẫm lại về những sự việc xoay quanh câu chuyện con voi biến mất
Rừng trước hết là không gian để nuôi con voi già: “Chính tôi cũng đã tán thành chuyện thành phố nhận nuôi con voi Phải chịu nhận một khu chung cư cao tầng thì chán thật, nhưng thành phố mình ở mà có một con voi thì cũng hay
“Thế là một khoảnh rừng được dọn sạch, và khung nhà thể dục đã cũ của trường tiểu học được dời vào đấy làm chuồng voi Người nuôi voi từ bao lâu nay ở vườn động vật cũng đã dời vào ở đấy Thức ăn thừa của học sinh trường tiểu học được dùng để nuôi voi” [27;191]
Ngược trở lại sự kiện này, nhân vật tôi kể về những lí do mà thành phố nhận nuôi con voi già Con voi vì quá già và không đem lại tí kinh tế nào nên được thành phố và những cơ quan có thẩm quyền cân nhắc rất kĩ lưỡng trước khi nhận nó về nuôi Và thành phố còn bỏ tiền ra xây dựng một chuồng để nhốt voi và đầu tư kinh phí để thuê một người quản voi chăm sóc con voi già ấy Người ta đã rất trăn trở việc nên xây dựng một tòa chung cư để giải quyết vấn đề nhà ở cho cư dân đông đúc ở ngoại vi thành phố hay nên nuôi một con voi già chẳng có tí giá trị kinh tế nào Nhưng cuối cùng quyết định lại là nhận nuôi con voi Một khoảnh rừng ở vùng ngoại ô thành phố vì thế mà được dọn sạch để xây dựng một chuồng voi, lấy chỗ ở cho con voi già Tuy không nằm trong trung tâm, chuồng voi cũng là được tận dụng
từ khung nhà bỏ hoang của một trường tiểu học gần đấy, thức ăn cũng là những đồ
ăn thừa của đám trẻ con trường tiểu học và người quản voi cũng đã già nua, chẳng tốn mấy đồng để thuê nhưng cũng thể hiện một sự đổi mới và quyết định khác lạ của thành phố Bởi nếu chọn xây nhà chung cư thì sẽ đem lại được nhiều lợi nhuận hơn cho đám lãnh đạo của thành phố Rừng trong phần mở đầu và xuất hiện trong chi tiết trên có ý nghĩa đơn giản và dễ nhận thấy đó là không gian để nuôi dưỡng con voi già Nhưng có một chi tiết đáng chú ý như thế này: “Và voi được cho lên xe tải, đưa
từ vườn động vật đã phế bỏ ấy đến chỗ ở mới, để sống nốt quãng đời còn lại” [27;192] Một con voi già được đưa tới sống ở một khoảng rừng đã dọn sạch để sống nốt quãng đời con lại Theo quan niệm của người phương Đông thì rừng là cõi linh thiêng, là chốn hội tụ của thần linh thiên đàng,… vì thế mà có câu “Cáo chết ba năm
Trang 36quay đầu về núi” để chỉ sự quy tụ, cuộc hành hương về nguồn Vậy, việc nuôi dưỡng một con voi già sắp chết ở khoảnh rừng ấy liệu có chăng cũng hàm chứa một ý nghĩa như vậy? Đây phải chăng cũng là cuộc hành hương về nguồn của một con vật linh thiêng, một thứ vốn đã gần đi đến sự tận cùng trong quy luật vũ trụ: sinh – tử
Không chỉ vậy, rừng còn là không gian mà mọi người tìm kiếm con voi vì nghĩ rằng có thể nó đã đi lạc hoặc bị cất giấu ở đó: “Và cảnh sát đã yêu cầu các hội săn bắn quanh vùng cùng bộ đội xạ kích trong Tự Vệ Đội giúp sức, định khám xét khắp các vùng rừng núi quanh đây” [27;197]
“Buổi tối, chương trình tin tức lúc 7 giờ của đài truyền hình quốc gia NHK cho thấy cảnh người ta lùng kiếm trên rừng Đám thợ săn lăm lăm những khẩu súng săn to lớn nạp sẵn đạn thuốc mê, cùng với lính Tự Vệ Đội, cảnh sát và lính chữa lửa, vạch từng bụi cỏ vòng cây, lùng quét khắp vùng rừng gần thành phố; trên trời
có vài chiếc trực thăng quần thảo liên hồi Tiếng là rừng núi, chứ gần ngay bên khu vực nhà - ở ngoại vi Tokyo, nên chẳng rộng lớn gì bao nhiêu Đến chừng đó, người
tụ tập lại thì chỉ có càn quét một ngày là kiểm hết, vả lại, kẻ bị lùng kiếm đâu phải
là kẻ sát nhân tí hon gì, mà là một con voi Phi châu to tướng Những chỗ con voi ấy
có thể ẩn núp được tất nhiên là chẳng có mấy Thế mà họ lùng kiếm đến chiều tối cũng chẳng thấy gì” [27;199]
Hình ảnh khu rừng không còn là không gian bao chứa con voi khi nó vừa tới thành phố này nữa mà còn là không gian biến mất, không gian của những cuộc tìm kiếm vô phương Con voi xuất hiện ở khu rừng với con voi biến mất cũng ở khu rừng này cho thấy sự vô thường, cõi hư vô Bởi theo logic của những người đang trong cuộc truy tìm thì: thành phố này nhỏ hẹp, làm gì có thể có nơi nào khác chứa nổi con voi to cồng kềnh ấy Hơn nữa, con voi cũng không thể dễ dàng bị giết, bị xẻ thịt và thủ tiêu ngay trước hàng loạt các camera của thành phố Đâm ra, việc tìm kiếm con voi trong khu rừng ven ngoại vi thành phố là niềm hi vọng lớn nhất của những người cầm quyền Và những người truy tìm dấu vết của con voi hoặc những
kẻ bắt trộm con voi chẳng làm được gì nhiều Những cuộc lùng kiếm từng mét trong khu rừng như là một sự nỗ lực cuối cùng để có thể tìm thấy tung tích con voi nhưng vô ích Điều đáng ngạc nhiên hơn là, mọi bài báo và những kẻ săn tin tức
Trang 37cen-ti-đều cố lái sự kiện con voi biến mất và đánh tráo khái niệm Mọi bài viết tin tức xung quanh sự việc này đều cho là: con voi bị trộm mất, không lẽ nào con voi tự ra
đi, chắc chắn là nó bị trộm mất Rồi họ truy tìm luôn cả hung thủ, có người con nghi ngờ cả người quản voi vì ông ta cũng biến mất ngay trong cái đêm mà con voi biến mất, gần như đồng thời với sự kiện này Điều này làm dấy lên lo ngại về nền báo chí và giới truyền thông bởi không thể tin tức một đằng mà đăng tin một nẻo, sai sự thật như vậy được Và khi con voi biến mất, ngay lập tức con người tìm cách đổ lỗi cho nhau chứ không chỉ đi tìm tung tích con voi Con voi có thực sự biến mất sâu trong khu rừng kia không hay không gian rừng thực chất chỉ là một không gian bí
ẩn nuốt trọn cái tin tức ấy Để những kẻ đổ lỗi, săn tin, cầm quyền hay phân quyền kia vấy vá cho qua chuyện rồi biền biệt mà quên đi sự kiện này Không gian rừng cây ở đây vừa hàm chứa sự linh thiêng và cho thấy sự hư vô, cõi vô định vô thức của con người Khi con người không thể lí giải hay giải thích điều gì thì y như rằng
họ sẽ tìm cách đổ lỗi, hợp lí hóa nguyên nhân hay cho câu hỏi/ băn khoăn/ trăn trở
ấy bị hút vào cõi hư vô
Rừng không chỉ là không gian nuôi nấng con voi trong những ngày đầu nó chuyển về sống trong thành phố hay biểu trưng cho những gì hư vô, khó lí giải, khó đoán định mà rừng còn là điểm nhìn quan sát của nhân vật tôi Nhân vật tôi ở đây là một người khá thú vị Chuyên viên tư vấn về những nội thất nhà bếp Nhưng anh không bán mới những mặt hàng tiêu dùng, nội thất của nhà bếp mà thực chất là làm trung gian, cầu nối giữa người mua và người bán Công việc chẳng có khó khăn hay đòi hỏi sự chuyên môn cao gì Và lương cũng không cao Nhưng nhân vật tôi vẫn làm, vẫn gắn bó được trong một khoảng thời gian, mặc dù chẳng có thành tựu gì nổi bật hay được thăng chức nâng lương Nhân vật tôi có một người bạn gái hơn tuổi
mà anh gặp trong một lần bán hàng Anh trò chuyện và cả hai đều khá hứng thú với
sự kiện con voi biến mất Nhưng khác với mọi người, đều đổ xô đi truy tìm tung tích, dấu vết và rồi lãng quên sự kiện con voi biến mất, nhân vật chàng và nàng dường như là những người duy nhất quan tâm về sự kiện con voi Tại sao lại như vậy? Việc anh quan tâm đến con voi cũng giống như việc anh chọn và gắn bó với công việc hiện tại, nó mang tính võ đoán, không thể lí giải Nhân vật tôi quan sát và
Trang 38miêu tả về con voi rất kĩ lưỡng Mặc dù anh không đồng tình với quan điểm mà các bài báo đã đưa ra nhưng anh cũng chẳng có ý kiến gì, suy nghĩ và hành động rất chung chung Nhân vật tôi có thú vui là đi bộ trong rừng để cho ý nghĩ được thông suốt Từ căn nhà gỗ trên núi, nhân vật tôi có dịp lặng lẽ quan sát con voi và biết được nội tại cảnh tượng trong chuồng voi khi sở thú đã đóng cửa Nhưng dù biết vậy thì nhân vật tôi mãi vẫn chẳng thể nào lí giải được vì sao con voi lại biến mất:
“Vòng xích sắt khóa cửa chuồng voi trông giống như con rắn lớn cuồn cuộn giữ cửa một vương cung đã hoang phế điêu tàn trong rừng thẳm Voi chỉ vắng đi có vài tháng mà nơi này đã hoang tàn đến mức tưởng như là một định mệnh, phảng phất không khí ngột ngạt như mây đen tích tụ sắp nổ thành giông bão” [27;201]
Con voi biến mất không chỉ làm dấy lên hồ nghi cho mọi người dân thành phố, đặc biệt là cho đám phóng viên, mà sự kiện này còn ám ảnh tới tâm trí của nhân vật tôi mãi mãi về sau Bởi nếu con voi chết đi hay xổng chuồng, người ta đã có thể dửng dưng nghe tin tức mà không có một chút xót thương Nhưng ở đây, con voi biến mất không tăm tích, không thể lí giải Cõi hư vô, vô định và bao chứa không gian bí ẩn là rừng ấy trở thành điểm hợp lí Và khi con voi biến mất thì không gian
mà con voi từng sinh sống trở thành cảnh hoang phế, điêu tàn Con voi cũng là một biểu tượng nghệ thuật mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở chương sau Nhưng ở đây khi tập trung vào tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh rừng, ta còn thấy được dường như rừng còn là biểu tượng về thuyết định mệnh Cũng giống như mặc cảm
Oedipus trong Kafka bên bờ biển hay nỗi ám ảnh về những khuyết thiếu của bản thân trong Rừng Nauy, rừng cây là biểu tượng cho những gì vốn thuộc về tự nhiên,
không thể lí giải và không thể thay đổi Bởi thế cho nên rừng trở thành không gian
của một định mệnh, phảng phất không khí ngột ngạt như mây đen tích tụ sắp nổ
thành giông bão Rừng mang nghĩa biểu tượng và cũng mang tính võ đoán là vì thế
1.3 Những điểm tương đồng và khác biệt ở biểu tượng thiên nhiên trong
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Con voi biến mất của Haruki
Murakami
Tìm hiểu những biểu tượng thiên nhiên trong hai tác phẩm Cánh đồng bất tận
và Con voi biến mất người đọc thấy được điểm tương đồng là cả hai tác giả đều dựa
Trang 39trên những mã văn hóa đã có sẵn, là những ý nghĩa biểu tượng trong tâm thức văn
hóa thế giới để xây dựng nên thế giới biểu tượng trong sáng tác của mình Cả cánh
đồng và khu rừng đều là một bộ phận của tự nhiên, là không gian sống của con
người và vạn vật Nếu cánh đồng trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là không gian phiêu bạt và cưu mang gia đình Nương cùng đàn vịt, thì khu rừng trong truyện ngắn của Murakami là nơi nuôi dưỡng con voi già và người quản voi
Đồng thời cả cánh đồng và khu rừng trong hai truyện ngắn đều trở thành không gian riêng để con người suy tư, trăn trở về cuộc sống, về những điều mình đã trải qua và được chứng kiến Cánh đồng gắn liền với thế giới tâm trạng của Nương
cả khi vui lẫn khi buồn trong kiếp sống vô định, còn khu rừng là không gian để nhân vật tôi sống thật với chính mình với bao băn khoăn, thắc mắc, ám ảnh về sự việc con voi biến mất khỏi thành phố
Và thêm nữa, cả cánh đồng và khu rừng đều có ý nghĩa biểu tượng cho phần
vô thức, vô minh của con người Những gì không thể lí giảỉ nhưng là sự thật hiện hữu con người đều hướng về tự nhiên để tìm kiếm câu trả lời Sự khắc nghiệt trên cánh đồng theo Nương chính là sự trừng phạt cho những tội lỗi mà con người đã gây ra, còn khi không thể tìm ra tung tích con voi và người nuôi nó thì tất cả những người cầm quyền, cảnh sát, kẻ săn tin… đều đổ vào khu rừng, để rồi sau đó thì nhanh chóng lãng quên
Tuy nhiên, nếu như hình tượng cánh đồng trong Cánh đồng bất tận trở đi trở
lại và cũng được coi như một nhân vật chính, yếu tố chính giàu giá trị biểu tượng,
thì hình tượng khu rừng trong Con voi biến mất lại chỉ xuất hiện với tần suất mỏng
và thưa hơn Cánh đồng là không gian gắn bó đặc biệt với gia đình Út Vũ, với hai chị em Nương và Điền, trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm Cánh đồng là nơi chứng kiến từng bước trưởng thành, nơi lưu giữ kí ức buồn đau của chị em Nương, cũng là nơi phơi bày những sự thật trần trụi với những khuyết thiếu và sự tha hóa của con người Còn khu rừng chỉ xuất hiên thoáng qua, là không gian nuôi dưỡng con voi, là nơi người ta tìm kiếm khi con voi mất tích và là điểm nhìn, quan sát của nhân vật tôi
Sự khác biệt ấy có lẽ là dụng ý nghệ thuật riêng của mỗi tác giả Nếu Nguyễn
Trang 40Ngọc Tư chủ ý xây dựng cánh đồng trở thành một biểu tượng đầy ám ảnh, thì Murakami không xác định khu rừng là yếu tố chính cần tập trung khắc họa Và cũng xuất phát từ quy luật của sự sáng tạo – nhà văn không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình, nên mỗi tác giả sẽ hướng tới một đích đến và theo đuổi một phong cách sáng tác khác nhau nên hàm lượng biểu tượng trong mỗi hình ảnh nghệ thuật sẽ khác nhau
Tiểu kết
Tìm hiểu biểu tượng thiên nhiên trong hai tác phẩm Cánh đồng bất tận và Con
voi biến mất chúng tôi thấy được điểm tương đồng và khác biệt về ý nghĩa và cách
xây dựng biểu tượng của hai tác giả
Nguyễn Ngọc Tư bằng khả năng quan sát tinh tế, một tâm hồn thính nhạy và
sự am hiểu, gắn bó máu thịt với miền sông nước đã khắc họa thành công hình tượng cánh đồng Nhà văn đã đưa cánh đồng không còn chỉ là một hình ảnh thiên nhiên thuần nhất, đơn phiến mà đã trở thành một biểu tượng đa diện, giàu ý nghĩa Cánh đồng vừa là một không gian thiên nhiên rộng lớn làm hiện lên đặc trưng văn hóa miền sông nước của cực Nam tổ quốc, vừa là người bạn, người mẹ, người thầy vừa trong vai của người phán xử: soi xét, vạch mặt, chỉ tội và trừng phạt Đồng thời, cánh đồng cũng là không gian riêng của gia đình Nương, hoang hoải, lưu lạc, cô lieu, chất chứa những ẩn ức, bộc lộ sự khuyết thiếu của con người để từ đó thức tỉnh con người hãy biết nghĩ khác, sống khác, yêu thương nhiều hơn Cánh đồng đã trở thành biểu tượng thiên nhiên đầy ám ảnh và trở thành một trong những hình tượng
có sức lay động tận tâm can người đọc Vì thế, khi nhắc tới “cánh đồng” trong văn học, đặc biệt là văn học Việt Nam, người ta nghĩ hay và biết ngay tới tác phẩm
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Cánh đồng đã nằm ở vị trí trung tâm, trở
thành biểu tượng đa nghĩa của tác phẩm
Còn Murakami dù không dụng công trong việc truyền tải vào khu rừng nhiều
ý nghĩa hàm ẩn nhưng qua hình ảnh khu rừng này ta cũng đủ nhận ra những ý nghĩa biểu tượng Rừng cây trong tác phẩm vừa gắn với sự linh thiêng, bí ẩn, vừa gắn với cõi mênh mông trong vô thức của con người đồng thời là tượng trưng cho những gì sinh ra tự bản thể, không thể thay đổi, không thể sửa chữa và không né tránh được