1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội trò trám, xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ

97 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Bảo Tồn Lễ Hội Trò Trám, Xã Tứ Xã, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ
Tác giả Hoàng Thị Thu Hường
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Hoa
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm nhân tố hạn chế sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám .... Những câu chuyện xung quanh việc bảo tồn và tổ chức hội Trám như thế nào; cộng đồng g

Trang 1

HOÀNG THỊ THU HƯỜNG

VAI TRÕ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO TỒN

LỄ HỘI TRÕ TRÁM XÃ TỨ XÃ, HUYỆN LÂM THAO,

TỈNH PHÖ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

Phú Thọ, năm 2021

Trang 2

HOÀNG THỊ THU HƯỜNG

VAI TRÕ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO TỒN

LỄ HỘI TRÕ TRÁM XÃ TỨ XÃ, HUYỆN LÂM THAO,

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo trường Đại học Hùng Vương, ban Lãnh đạo khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa du lịch, thầy, cô giáo trong khoa, các cô giáo trong Bộ môn Văn hóa - Du lịch đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo - ThS Bùi Thị Hoa đã quan tâm, tận tình dẫn dắt từng bước trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên đã cổ vũ, động viên nhiệt tình, giúp đỡ, đồng thời có những ý kiến đóng góp hữ ích cho em

Em xin chân thành cảm ơn!

Phú Thọ, ngày 24 tháng 5 năm 2021

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Thu Hường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu chung về lễ hội 3

2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về lễ hội Trò Trám 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của khóa luận 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO TỒN LỄ HỘI 9

1.1 Khái niệm lễ hội và bảo tồn lễ hội 9

1.1.1 Khái niệm lễ hội, lễ hội truyền thống 9

1.1.2 Khái niệm bảo tồn, bảo tồn lễ hội truyền thống 13

1.2 Khái niệm cộng đồng và vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội 19

1.2.1 Khái niệm cộng đồng 19

1.2.2 Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội 22

1.2.3 Mô hình đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn lễ hội Trò Trám 24

Tiểu kết chương 1 27

CHƯƠNG 2 CỘNG ĐỒNG VỚI QUÁ TRÌNH BẢO TỒN LỄ HỘI TRÒ TRÁM XÃ TỨ XÃ, HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ……… …28

2.1 Tổng quan về lễ hội Trò trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 28

2.1.1 Không gian tổ chức lễ hội Trò Trám 28

2.1.2 Nhân vật tưởng niệm trong lễ hội Trò Trám 29

2.1.3 Nghi lễ và diễn trình lễ hội Trò Trám 31

Trang 6

2.1.4 Một số trò chơi dân gian trong lễ hội Trò Trám 41

2.2 Phân tích vai trò của cộng đồng địa phương trong quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám 42

2.2.1 Cộng đồng và các hoạt động để bảo tồn lễ hội 42

2.2.2 Cộng đồng và quá trình cung cấp nguồn nhân lực địa phương trong quá trình bảo tồn lễ hội 43

2.2.3 Cộng đồng và công tác xúc tiến quảng bá lễ hội 44

2.2.4 Cộng đồng và công tác bảo vệ môi trường cảnh quan văn hóa của lễ hội 45

2.2.5 Đánh giá vai trò, mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn lễ hội 47

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò, mức độ tham gia của cộng đồng trong quá trình bảo tồn lễ hội 50

2.3.1 Nhóm nhân tố thúc đẩy cộng đồng địa phương tham gia vào quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám 50

2.3.2 Nhóm nhân tố hạn chế sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám 50

Tiểu kết chương 2 53

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH BẢO TỒN LỄ HỘI TRÒ TRÁM XÃ TỨ XÃ, HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ……… 54

3.1 Các chủ trương liên quan đến vấn đề bảo tồn lễ hội 54

3.1.1 Nội dung về bảo tồn lễ hội truyền thống của nhà nước 54

3.1.2 Các văn bản của Nhà nước về bảo tồn lễ hội 55

3.1.3 Các văn bản của tỉnh Phú Thọ về bảo tồn lễ hội 56

3.1.4 Nguyên tắc và định hướng phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội 58

3.2 Giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương trong bảo tồn lễ hội Trò Trám 62

3.2.1 Tăng cường công tác quản lý và tổ chức giữa CĐĐP và chính quyền địa phương trong bảo tồn lễ hội Trò Trám 62

3.2.2 Nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương trong công tác tuyên truyền về giá trị của lễ hội Trò Trám 64

Trang 7

3.2.3 Nâng cao vai trò chủ động, chức năng của cộng đồng trong quản lý và bảo tồn lễ

hội Trò Trám 65

3.2.4 Nâng cao chức năng chủ thể của cộng đồng trong tổ chức, thực hành lễ hội Trò Trám 66

3.2.5 Nâng cao vai trò của người dân địa phương trong đóng góp, thụ hưởng lễ hội 67

3.2.6 Phát huy nguồn lực cộng đồng trong xây dựng và quảng bá hình ảnh cho lễ hội Trò Trám 68

3.2.7 Mở rộng kết nối giữa lễ hội với du lịch và các hoạt động văn hóa khác 69

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 78

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

BVHTTDL Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

VHTT & DL Văn hóa thể thao và Du lịch

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần

và vật chất được hình thành trong quá khứ Lễ hội truyền thống thể hiện quan niệm về thế giới nhân sinh gắn liền với tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian, văn hoá nghệ thuật, linh thiêng và đời thường có sức cuốn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội Lễ hội biểu thị giá trị văn hóa gắn với cộng đồng,trải qua nhiều thế hệ giá trị đó đã trở thành sợi dây nối quá khứ với hiện tại và tương lai, giữa cõi tâm linh và đời sống tinh thần của con người thực tại

Lễ hội góp phần giúp cho con người dễ hoà hợp hơn và tự coi lại chính mình nhằm chấn chỉnh những lệch lạc của bản thân cũng là dịp để họ được chia

sẻ và cùng nhau hướng tới những giá trị cao đẹp mà thường ngày họ ít nghĩ tới

do áp lực từ công việc Lễ hội truyền thống mang nhiều giá trị văn hoá có ý nghĩa giáo dục con người về ý thức cộng đồng, cội nguồn dân tộc, về truyền thống yêu nước cũng như những quá khứ hào hùng của dân tộc và các nhân vật lịch sử cùng nhiều giá trị nhân văn khác Chính vì thế lễ hội có vai trò quan trọng trong việc bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hoá truyền thống, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Lễ hội truyền thống là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá dân tộc, bởi lễ hội chính là hiện thân của bản sắc văn hoá và tinh thần đoàn kết dân tộc

Lâm Thao - dải đất ven sông Hồng, là một huyện tiếp giáp về phía tây thành phố Việt Trì của tỉnh Phú Thọ Xã Tứ Xã trước kia là làng Tứ Xã nằm ở phía nam của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Tứ Xã có tên là Cổ Lãm, tên tục

là Kẻ Gáp, là nơi giao lưu gặp gỡ giữa miền núi và đồng bằng Nói đến Tứ Xã chúng ta không thể không nhắc tới một số lễ hội tiêu biểu, điển hình như lễ hội Trò Trám, lễ hội đánh quân Mường - Giáp, hội đánh cá Láng Thờ những nghi thức liên quan đến tín ngưỡng thờ tổ nghề

Lễ hội Trò Trám là một di sản văn hoá được Nhà nước công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mang bản sắc riêng biệt của một làng quê vùng Đất

Trang 10

Tổ Hội Trò Trám của xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao có từ rất lâu đời với mục đích cầu mong mùa màng tốt tươi, cây cối, vạn vật sinh sôi nảy nở, đời sống con người ấm no hạnh phúc Mang lại niềm vui tiếng cười cho người dân Tứ Xã trong những dịp đầu xuân năm mới, để họ hăng say hơn trong lao động, bình yên trong cuộc sống

Lễ hội Trò Trám ra đời thoả mãn được những mong muốn khát vọng theo quy luật vạn vật sinh sôi nảy nở của tự nhiên Lễ hội Trò Trám hay còn gọi là lễ hội Linh tinh tình phộc ở làng Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

từ khi hình thành cũng không ít những lời bàn tán về tính dung tục của nó, vượt

qua những nguyên tắc Nho giáo nghiêm khắc hàng ngàn năm ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam Một phần do chiến tranh xảy ra làm cho lễ hội chìm vào quên lãng và mai một

Nghiên cứu về cộng đồng và vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội không phải là một đề tài mới trong các ngành khoa học xã hội hiện nay Tuy nhiên, mỗi lễ hội lại có nhiều phương pháp và mục đích tiếp cận nghiên cứu khác nhau Từ khi lễ hội Trò Trám được phục hồi đến nay đã có không ít các công trình, bài viết đăng trên tạp chí, các báo cáo khoa học, luận văn, sách…về

lễ hội Trò Trám ở nhiều khía cạnh, với nhiều chuyên ngành khác nhau Có rất nhiều câu hỏi giả thiết đưa ra: vì sao lễ hội Trò Trám được bảo tồn? Chính quyền cũng như người dân đã bảo tồn nó ra sao? Sự đồng thuận hay phản đối của người dân trong quá trình bảo tồn và tổ chức lễ hội? Những câu chuyện xung quanh việc bảo tồn và tổ chức hội Trám như thế nào; cộng đồng giữ vai trò thế nào trong quá trình gìn giữ và lưu truyền lễ hội thì cho đến nay vẫn chưa có một tác giả nào nghiên cứu một cách cụ thể

Để giải quyết những câu hỏi nêu trên, bên cạnh nghiên cứu về quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám, tác giả còn muốn chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của cộng đồng địa phương trong quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị lễ hội Trong mối tương quan giữa vai trò của cộng đồng địa phương và các cơ quan ban ngành quản lí lễ hội Trò Trám, nhận thức của chủ thể văn hóa đồng thuận hay phản đối với chính quyền địa phương và cả những câu chuyện xung quanh vấn đề phục

Trang 11

hồi, tổ chức lễ hội Trò Trám hiện nay Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn

đề tài “Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội Trò Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ lâu, đề tài “lễ hội” đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và những quan điểm khác nhau Tín ngưỡng phồn thực với những ý nghĩa và giá trị văn hoá nhất định đã được phổ biến và tồn tại rất lâu trong đời sống dân cư đồng bằng Bắc Bộ không còn là vấn đề mới và đã được đề cập đến trong các nghiên cứu từ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trên cả nước:

2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu chung về lễ hội

Các cuốn chuyên luận và chuyên khảo về lễ hội như: Nếp cũ - Hội hè đình đám (1991, 2 tập) của Toan Ánh, Lễ hội truyền thống và hiện đại (1984) của Thu Linh và Đặng Văn Lung, Hội hè Việt Nam (1990) của Trương Thìn, Lễ hội một nét đẹp sinh hoạt văn hoá cộng đồng (1998) của Hồ Hoàng Hoa, Lễ hội truyền thống trong đời sống hiện đại (1994) của Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng chủ biên, Kho tàng lễ hội cổ truyền (2000) của nhiều tác giả, Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ

(2001) do Nguyễn Quang Lê chủ biên, trong đó có khái quát chung về văn hóa

lễ hội truyền thống trong lịch sử dân tộc Việt Nam [35, tr.15], khảo sát thực trạng một số lễ hội tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ [35, tr.147]

Các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí văn hoá dân gian như Nghiên cứu về hội làng cổ truyền của người Việt (1984) của Lê Thị Nhâm Tuyết, Lễ hội một cách nhìn tổng thể (1986) của Trần Quốc Vượng, Hội làng - Hội lễ (1984) của Lê Trung Vũ, Vài nét về hội làng trên đất tổ và những yếu tố văn hoá Hùng Vương (1984) của Nguyễn Khắc Xương, Di tích và danh thắng vùng Đất Tổ (1998) của Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao Phú Thọ, Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ của Đoàn Hải Hưng, Trần Văn Thục, Nguyễn Phi Nga, Một số vấn đề về lễ hội cổ truyền trong cuộc sống hôm nay (2001) của Nguyễn Chí Bền; Quản lý nhà nước về lễ hội, đăng trên Báo điện tử

Trang 12

Phú Thọ (ngày 08/02/2017) của tác giả Tiến Dũng; Sắc mầu lễ hội đất cội nguồn, đăng trên Báo điện tử Phú Thọ (ngày 11/02/2017) của tác giả Trịnh Hà

Nhóm các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng và tín ngưỡng phồn thực

bao gồm: Các cuốn như Thờ Thần ở Việt Nam (1996, 2 tập) của Lê Xuân Quang, Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam (2001) của Ngô Đức Thịnh chủ biên, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam (1994) của Nguyễn Minh San, Từ điển lễ tục (1996) của nhiều tác giả, Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam (1992, 2 tập) của Toan Ánh, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (2001) của

Nguyễn Đăng Duy, v.v…

2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về lễ hội Trò Trám

Địa chí văn hóa dân gian Lâm Thao (2008) của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Lâm Thao miêu tả về nghề mộc ở xã Tứ Xã [31, tr.277]; Lễ hội Trò Trám và tục rước lúa thần [31, tr.225 - 238] Đặc biệt lễ hội Trò Trám và

tục rước lúa thần đã được ghi chép trong cuốn sách này, ngoài phần nghi lễ đặc sắc “linh tinh tình phộc” tư liệu còn viết về tục rước lúa thần - một biểu hiện của văn hóa cư dân trồng lúa và các trò diễn đặc biệt là trò “tứ dân chi nghiệp” theo các ngành nghề tồn tại trong xã hội như sĩ, nông, công, thương

Địa chí Vĩnh Phú - Văn hóa dân gian vùng đất Tổ (1986) của Sở Văn hóa

và Thông tin Vĩnh Phú, Địa chí Vĩnh Phú, miêu tả trò diễn hội làng, trong đó có trò diễn của Lễ hội Trò Trám Với nội dung chọn lọc, phân tích, giới thiệu các

loại hình văn hóa dân gian vốn rất phong phú và đa dạng [42, tr.265]

Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ (2009),

của Hội văn học dân gian Việt Nam do Đoàn Hải Hưng chủ biên Trong công trình nghiên cứu đã có những tư liệu viết về di sản tín ngưỡng phồn thực, trong

lễ hội Trò Trám những yếu tố về phồn thực đã thể hiện khá rõ qua các nghi lễ và trò diễn [tr.224 - 226]

Từ điển hội lễ Việt Nam (2000) của Bùi Thiết, NXB VHTT, Hà Nội Tư

liệu trong cuối sách cho biết: Trò Trám tổ chức tại miếu Trám Miếu thờ Nữ Thổ Thần, tên húy là Thanh tục truyền là người có công lập ra xóm Trám Sau khi bà qua đời dân làng lập miếu thờ Hàng năm tế lễ vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch

Trang 13

cùng với diễn Trò Trám Ngày 11 tháng Giêng có tổ chức lễ kín gọi là “Linh tinh tình phộc” và tục thờ sinh thực khí Sáng ngày 12 tháng Giêng dân làng tổ chức “Rước lúa Thần” Có phường Trám trình trò cùng với những màn trò có các lời ví, những bài hát về các ngành nghề và lời chúc tụng [46, tr.494 - 495]

Thống kê lễ hội Việt Nam, tập II (2008) của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

lịch, Cục văn hóa cơ sở Trong phần thống kê lễ hội ở tỉnh Phú Thọ [23, tr.131 - 156] Lễ hội trong huyện Lâm Thao [23, tr.141] có giới thiệu về lễ hội Trò Trám là lễ hội dân gian được tổ chức từ ngày 11, 12 tháng Giêng là lễ hội do cấp

xã tổ chức và cấp huyện quản lý Lễ hội Trò Trám là lễ hội dân gian được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng tại xóm Trám, xã Tứ Xã Lễ hội do xã quản lý, cộng đồng dân cư tổ chức Lễ hội tưởng niệm Bản thổ nữ thần Húy Thanh là con gái người lập ra xóm Trám Trong lễ hội có “rước lúa thần”, có “lễ mật” vào nửa đêm, trò diễn trình nghề nổi tiếng ở tỉnh Phú Thọ Lễ hội này được khôi phục theo chương trình dự án phi vật thể năm 2000

Một tấn Trò Trám trước cách mạng tháng Tám năm 1945 của cụ Dương

Văn Thâm, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Sưu tầm và ghi chép

năm 1975 về lễ hội Trò Trám năm Mậu Thìn - 1928 [45]; Giới thiệu về lễ hội Trò Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ của Cụ Chử Ba Thơ, sưu tầm và biên soạn năm 2015 [50]; Các vai diễn theo kịch bản Trò Trám của Ông Chử Đức Bách, Đội trưởng đội Trò tại lễ hội năm 2017 [2]; Rước lúa thần trong

lễ hội Trò Trám, đăng trên Báo điện tử Phú Thọ (ngày 13/02/2017) của tác giả

Nguyễn An

Tóm lại, các tài liệu viết về lễ hội Trò Trám chủ yếu dừng lại ở miêu thuật

lễ hội Trò Trám Tuy nhiên lễ hội Trò Trám là một lễ hội truyền thống đã tồn tại lâu đời chứa đựng những giá trị văn hoá dân gian đặc sắc đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu từ góc độ đánh giá vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tài liệu của các nhà nghiên cứu, các học giả đi trước, tác giả tập trung nghiên cứu, làm rõ và nhấn mạnh vào vai trò của cộng đồng Có thể thấy, nhờ cộng đồng dân cư gìn giữ và bảo vệ qua bao thế

Trang 14

hệ mà cho đến nay, có rất nhiều di sản được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Trong số đó điển hình là lễ hội Trò Trám của làng quê Tứ xã Người dân với tinh thần tích cực và chủ động tham gia các hoạt động của lễ hội, mỗi người dân đều mang trong mình trọng trách bảo tồn lễ hội Bởi vậy, ý nghĩa của lễ hội tự

nó có sức sống, sức lan tỏa và chính cộng đồng đã gìn giữ, trao truyền lễ hội qua hằng thế kỷ Hơn nữa muốn cộng đồng làm chủ di sản một cách lành mạnh, đúng hướng thì họ phải dựa trên nền tảng được cung cấp đầy đủ thông tin về kinh nghiệm bảo vệ di sản

Hiện nay, ở các cộng đồng, trừ một số không nhiều các cụ cao niên hiểu biết về văn hóa dân gian thì hầu hết những người đại diện của cộng đồng cơ sở đều không nắm được các hoạt động nhằm thực hành và truyền dạy về di sản và

lễ hội Do đó, để cộng đồng chủ động trong việc tổ chức lễ hội thì bắt buộc phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức, hiểu biết về văn hóa của địa phương gắn với

lễ hội ấy trong đông đảo cộng đồng Chỉ khi nào có sự kết hợp tốt giữa chính quyền và người dân trong cộng đồng thì việc tổ chức lễ hội mới đạt được thuận lợi và hiệu quả cao nhất

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài khóa luận có 2 mục đích chính:

Một là, cung cấp một cách có hệ thống các tư liệu thứ cấp liên quan đến lễ

hội Trò Trám xưa và nay; Đặc biệt từ năm 1993 trở lại đây

Hai là, tìm hiểu, đánh giá vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn lễ hội

Trò Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn là vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội Trò Trám; những vấn đề xung quanh việc bảo tồn và phục hồi lễ hội Trò Trám từ năm 1993 đến nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cộng đồng và vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội Trò Trám

Trang 15

Phạm vi không gian nghiên cứu của luận văn là lễ hội làng Trám xã Tứ

Xã huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ

Phạm vi nghiên cứu về thời gian bảo tồn lễ hội từ năm 1992 để năm 1993

lễ hội Trò Trám chính thức được bảo tồn sau gần 50 năm bị gián đoạn

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành đề tài nghiên cứu: “Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám” tác giả tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu

Đối với các nghiên cứu trong nước và quốc tế thu thập tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã được công bố tự đó phân loại, hệ thống và hình thành hệ thống thư mục các tài liệu quan trọng nhất trên cơ sở áp dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được các đặc điểm chung cũng như các đặc trưng riêng hiện trạng di tích, của cộng đồng xã hội dẫn đến nghiên cứu vai trò của cộng đồng đối với quá trình bảo tồn lễ hội

5.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp thu thập thông tin thực địa cơ bản của đề tài Phiếu trưng cầu ý kiến xây dựng dựa trên cơ sở của nội dung nghiên cứu để thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu Tôi đã tiến hành phát 250 bảng hỏi tại địa bàn làng Tứ Xã, một số trường học và một số phường xã trong tỉnh, du khách đến tham quan tại di tích và lễ hội

5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp này được sử dụng nhằm bổ sung thêm thông tin định tính cho điều tra định lượng Các vấn đề không trực tiếp thu nhận được trong phiếu trưng cầu ý kiến được chúng tôi đưa vào nội dung của các cuộc phỏng vấn sâu tới các đối tượng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cơ cấu đối tượng được lựa chọn dựa trên cơ sở giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn, nơi ở sao cho sự phản ánh của thông tin thu được có thể mang tính đại diện cho tổng thể trong nghiên cứu

5.4 Phương pháp quan sát

Quan sát kết hợp với phỏng vấn nhanh để tìm hiểu thực trạng của di tích,

Trang 16

nhận thức và nguyện vọng của cộng đồng về các vấn đề nghiên cứu Để có thêm

cơ sở phục vụ cho những phân tích đánh giá cho nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp quan sát trong quá trình đi phỏng vấn bảng hỏi

5.5 Phương pháp liên ngành

Nghiên cứu vai trò của cộng đồng với quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám là

sự kết hợp của những kiến thức hiểu biết của nhóm nghiên cứu về nhiều ngành khoa học khác nhau như văn hóa, kinh tế, xã hội, lịch sử, địa lý, để giải thích một số vấn đề liên quan đến nghiên cứu

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội

Chương 2 Vai trò của cộng đồng với quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám

xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn lễ hội Trò Trám xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÕ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO TỒN LỄ HỘI 1.1 Khái niệm lễ hội và bảo tồn lễ hội

1.1.1 Khái niệm lễ hội, lễ hội truyền thống

1.1.1.1 Khái niệm lễ hội

Mỗi vùng miền, mỗi quốc gia đều có những hình thức tổ chức lễ hội khác nhau Chính vì vậy mỗi vùng miền, mỗi quốc gia lại có những khái luận khác nhau về hình thức tổ chức văn hóa này Tác giả xin đưa ra một số khái niệm điển hình về lễ hội để xem xét

Khi xem xét nghiên cứu về tính chất và ý nghĩa lễ hội Nhật Bản, Kurayashi viết: “Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn; xét

về tính chất lễ hội, lễ hội là cái nôi sinh sản và nuôi dưỡng nghệ thuật như mỹ thuật, nghệ thuật, giải trí, kịch văn hóa và với ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết tới sự phát triển văn hóa”

Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga, M.Bachie cho rằng: “Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở

đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả”

Theo từ điển Robert của Pháp, lễ hội được hiểu là sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thương mại, được tổ chức nhằm thu hút số đông công chúng, chẳng hạn,

lễ hội văn hóa dân gian, lễ kỷ niệm quốc khánh, lễ hội âm nhạc

Ở Việt Nam, khái niệm lễ hội xuất hiện cách đây chưa lâu, cũng chưa có một khái niệm nào cụ thể thống nhất Trước hết chỉ có những khái niệm về phần

lễ và phần hội Theo từ điển Tiếng việt, lễ hội là từ ghép của hai từ đơn “lễ” và

Trang 18

“hội” và được hiểu là hệ thống các hoạt động, bao gồm những nghi thức phải tiến hành, nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa và những cuộc vui cho mọi người tham dự

Trong “Từ điển tiếng Việt” lại có định nghĩa về “Lễ hội” như sau: Lễ là

hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc

sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hoá, tôn

giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh"

Trong phạm vi những kiến thức về tổ chức sự kiện cũng như am hiểu thế nào là lễ hội, khái niệm lễ hội được hiểu là sự kiện văn hóa tổng hợp, được tổ chức để hình thành đạo đức nhân sinh, tình cảm thẩm mỹ và quy tắc ứng xử Qua đó tạo nên không khí đặc biệt - khác với các hoạt động thông thường, đó là tinh thần và sự độc đáo của ngày hội

Cụm từ “Lễ hội” theo Từ điển tiếng việt năm 2002 thì đó là: “cuộc vui tổ

chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hoá truyền thống của dân tộc Lễ hội gồm 2 phần: phần Lễ và phần Hội Phần Lễ mang tính thiêng liêng, tương đối ổn định, là những nghi thức thờ thần thánh, thông thường thực hiện phần Lễ chỉ có một số người có vai vế, vị trí nhất định trong làng, xã Phần Hội mang tính cộng đồng, bao gồm các trò diễn, các cuộc đua tài, các trò chơi, văn nghệ giải trí” Phần hội do mọi người cùng thực hiện, cùng vui, cùng hưởng và

có thể thêm bớt, thay đổi, tuỳ theo cấu trúc lễ hội Tuy nhiên sự phân chia giữa

Lễ và Hội chỉ là tương đối Bởi trong thực tế nhiều khi trong Lễ lại bao hàm cả tính chất Hội Ví dụ như trò diễn trong lễ hội chẳng hạn ta không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng trò diễn là Lễ hay Hội mà chỉ có thể có những trò diễn mang tính nghi lễ

Trang 19

Khái niệm lễ hội được coi như một cấu trúc bao gồm hai phần Lễ và phần Hội Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau

cuốn “Hội hè Việt Nam” các tác giả cho rằng: “Hội và lễ là một sinh hoạt văn

hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cũng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ”

Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền”, PGS TS Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ

hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc

Lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” và “Lễ hội còn là nơi bảo tàng sống về mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt Chúng đã sống, đang sống và dưới đặc trưng của mình chứng tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất”

Trang 20

Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đồng

Nhìn chung các thuật ngữ về lễ hội đều có ý nghĩa chung khá giống nhau: Đều là sản phẩm của quá khứ được lưu truyền đến nay, là một phần nhu cầu văn hóa không thể thiếu của con người, mang tính cộng đồng cao, có thời gian và không gian diễn ra cụ thể

1.1.1.2 Khái niệm lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là những lễ hội có trước năm 1945, do làng xã đứng

ra tổ chức, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định, năm này sang năm khác, đời này qua đời khác Chính vì vậy, lễ hội truyền thống còn được gọi tên là lễ hội cổ truyền hay lễ hội dân gian

Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử

Theo Điều 4 của Luật Di sản văn hoá, lễ hội truyền thống là bộ phận cấu thành di sản văn hoá quốc gia, là di sản văn hoá phi vật thể

Trong các loại hình di sản văn hoá phi vật thể, lễ hội truyền thống được xem là một loại hình di sản tiêu biểu, là một hiện tượng văn hoá gắn liền với điều kiện, trình độ phát triển kinh tế và sinh hoạt của con người Sự tồn tại và phát triển của lễ hội là một quá trình lịch sử mà trong đó có biến đổi, tích luỹ và lựa chọn các giá trị văn hoá qua thời gian Chính vì vậy, chúng ta có thể thấy những truyền thống văn hoá của người Việt được lưu giữ trong các lễ hội truyền thống còn tồn tại đến ngày nay

Và trong mỗi lễ hội truyền thống, đều có những đặc trưng cơ bản như sau:

- Lễ hội là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh;

- Lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương;

- Lễ hội là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng;

Trang 21

- Lễ hội là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác;

- Là dịp tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi giải trí, thể thao;

- Lễ hội là địa điểm hành hương của khách du lịch

Từ những đặc trưng trên cho thấy “Lễ hội truyền thống” được hiểu là bộ

phận những giá trị tốt đẹp, tích cực Trong lễ hội đã được các thế hệ nối tiếp tái tạo và khẳng định xứng đáng được bảo tồn và phát huy trong đời sống văn hóa cộng đồng Lễ hội truyền thống còn được hiểu là một thành tố quan trọng cấu thành hình thái văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình xã hội tổ chức khác nhau, hay hiểu một cách đơn giản nhất: Lễ hội truyền thống là lễ hội của các xã hội truyền thống Trong loại hình lễ hội này được biểu hiện: Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ, biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay một nhóm xã hội, thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống

1.1.2 Khái niệm bảo tồn, bảo tồn lễ hội truyền thống

1.1.2.1 Khái niệm bảo tồn

Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên: “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng

để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai”

Theo Từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “Bảo tồn” được hiểu là sự giữ lại không để cho mất đi, là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo đúng dạng thức vốn có của nó, để nó không bị mai một thay đổi, biến hóa hay biến thái

Còn theo quan niệm của UNESCO trong phần giải thích thuật ngữ đã đưa

ra giải thích về bảo tồn: Bảo tồn ở đây được hiểu là bao gồm các biện pháp nhằm đảm bảo tính trường tồn của các di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm cả các biện pháp nhận dạng, lưu trữ, nghiên cứu bảo tồn, bảo vệ, thúc đẩy, củng cố, chuyển hóa, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức và không chính thức, cũng như là việc làm sống lại các giá trị khác nhau của di sản đó

Trang 22

Với quan điểm này của UNESCO ta thấy khái niệm bảo tồn là một khái niệm rất rộng, nó bao gồm nhiều các phương diện khác nhau, các biện pháp khác nhau để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của di sản văn hóa Bảo tồn không chỉ đơn thuần theo cách hiểu đơn giản là bảo vệ cho nó tồn tại, bởi nếu chỉ bảo vệ thôi thì với di sản văn hóa nó sẽ là một di sản chết, một di sản không

có sức sống, không có giá trị ảnh hưởng thì không thể gọi là di sản Cũng như một hiện vật bảo tàng, dù có giá trị lịch sử khoa học của nó thì chỉ là một hiện vật chết Di sản văn hóa cũng như văn hóa, nó có không gian sống riêng biệt, nó

có thể chuyển hóa nhưng bản chất, nội dung của nó không thay đổi, nếu có chỉ là

sự tích lũy bổ sung, chọn lọc để làm tăng giá trị của di sản văn hóa Mối quan tâm lớn nhất của việc bảo tồn đó là bảo vệ các yếu tố văn hóa gốc, bảo vệ văn hóa phát hiện được chống lại sự thoái hóa hay cả sự xâm hại khác Cũng như các hiện vật bảo tàng, di sản văn hóa một khi đã biến mất hay bị phá hủy thì nó không thể tìm lại được, do đó cần phải có những phương án bảo tồn một cách cụ thể làm sao để lưu giữ được các thuộc tính gốc của nó

Theo quan niệm của GS.TS Trần Ngọc Thêm bảo tồn chính là hoạt động giữu gìn một cách an toàn khỏi sự tồn tại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm xuống cấp qua kết cấu đó

Đề cập đến vấn đề này, GS.TS Ngô Đức Thịnh quan niệm bảo tồn là những nỗ lực nhằm gìn giữu các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có của mỗi quốc gia

Khi con người hiểu được những tác động trong cuộc sống sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tồn tại của các giá trị văn hóa thì họ đã nghĩ đến việc bảo tồn Do đó, trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa xuất hiện ngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hóa trong đời sống, đồng thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con người gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm các biện pháp bảo tồn

Trang 23

Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cổ, tái định vị, phục hồi, quy hoạch bảo tồn Tuy nhiên, cần phải hiểu bảo tồn di sản văn hóa là việc bảo vệ, giữ gìn những giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho di sản văn hóa giàu có hơn và tất yếu, cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại để nó có thể tiếp tục song hành cùng xu hướng đi lên của cuộc sống Bảo tồn chính là những

nỗ lực nhằm đảm bảo sự an toàn, phát triển qua việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục, tôn tạo, quảng bá và phát triển nhằm phục vụ các hoạt động tiến bộ của con người trong xã hội

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn có ưu điểm là giữ các giá trị văn hóa cần bảo vệ trong một môi trường an toàn, không bị những yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm bảo tồn này là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa, rất khó xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh

vì bản chất của văn hóa là luôn biến đổi theo những thay đổi của cuộc sống

Quan điểm bảo tồn kế thừa có mặt ưu việt hơn là những sản phẩm văn hóa

có giá trị, được sàng lọc qua dòng thời gian sẽ có cơ hội tự khẳng định mình Những sản phẩm văn hóa truyền thống khi đặt trong bối cảnh mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có thể tồn tại lâu dài và khó khăn trong việc xác định đâu là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào cần loại bỏ Nó tiềm ẩn sự nguy hiểm khi việc loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hóa mà chúng ta chưa thật sự hiểu biết về nó Hai quan điểm trên có một nhược điểm chung là cứng nhắc, thiếu cái nhìn khoa học dưới góc nhìn của bảo tồn Cần đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với phát huy, tức là bảo tồn di sản văn hóa phải đồng hành với việc sử dụng, phát huy giá trị của nó trong đời sống Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới thực sự có ý nghĩa và không đi ngược lại quá trình phát triển của xã hội

Như vậy, ta có thể hiểu bảo tồn chính là sự gìn giữ những giá trị văn hóa

do con người sáng tạo ra để làm cho nó không những không bị mai một mà còn phát triển nó và lưu truyền lại cho thế hệ sau

Trang 24

1.1.2.2 Khái niệm bảo tồn lễ hội truyền thống

Lễ hội chính là biểu hiện thuộc phạm trù giá trị văn hóa phi vật thể, việc bảo tồn nó sẽ khó khăn và phức tạp hơn so với văn hóa vật thể vì rất khó để chúng ta thấy được những giá trị trầm tích của nó, nếu chỉ đơn thuần quan sát ngoại quan và chưa nắm được giá trị bản chất của nó Thực tế cho thấy, có giá trị văn hóa phi vật thể nếu trước đây không được quần chúng hóa một cách sâu rộng thì nguy cơ biến mất hoặc bị mai một là hoàn toàn có thể xảy ra Trong xã hội đương đại, khi đứng trước hai xu hướng ngược chiều nhau: Giữ lại những gì của mình hay tập trung vào tiếp thu những tinh hoa nhân loại, việc lưu giữ và bảo tồn lễ hội càng tăng thêm muôn phần gian nan Vì vậy, các nhà quản lý văn hóa cần quan tâm và đặc biệt là phải có sự thống nhất trong nhận định và đề xuất các giải pháp kết hợp song song việc bảo tồn và khai thác, nhằm góp phần vào

sự phát triển bền vững xã hội của đất nước

Như đã đề cập, sự hình thành của lễ hội có bao gồm phần nghi lễ, mà nghi

lễ lại có mối quan hệ mật thiết với tín ngưỡng dân gian (hoặc xa hơn nữa là sự tiếp nhận các yếu tố của tôn giáo) Việc bảo tồn các giá trị của lễ hội do vậy cũng đồng thời là một phương thức bảo tồn các giá trị liên quan đến văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng Tuy vậy, trong bối cảnh hội nhập đương đại, việc biến tướng các giá trị văn hóa đang là một xu hướng phổ biến Nguyễn Minh Khải khi đề cập đến đặc điểm của đời sống tôn giáo và tín ngưỡng của người Việt hiện nay

cũng đã có chỉ ra đặc điểm “tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam có những biến thái mới theo hướng thế tục hóa, thương mại hóa” [3, tr.121] Do vậy, muốn

cho lễ hội trở thành một hình thái hoạt động văn hóa mang nhiều ý nghĩa lịch sử

và lợi ích xã hội, những người quản lý văn hóa phải biết gạn đục khơi trong, nhìn nhận cái hay cái đẹp, cũng như phải nhận diện những tiêu cực, lạc hậu trong lễ hội

Trong sự nghiệp bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu Xin được lựa chọn 4 thành tựu tiêu biểu nhất bởi giá trị về tầm nhìn, ý nghĩa xã hội và quốc tế

Trang 25

Một là, Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo tồn cổ tích

Cũng ngày này cách đây 73 năm, ngày 23/11/1945, chỉ hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, còn bộn bề biết bao nhiêu công việc cấp bách cần giải quyết, nhưng với tầm nhìn minh triết của một vĩ nhân - danh nhân văn hoá kiệt suất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SLvề bảo tồn cổ tích trong

toàn cõi Việt Nam, trong đó xác định: Bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam Tại Điều 4 của Sắc lệnh nêu rõ: Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử

Với ý nghĩa lịch sử to lớn của Sắc lệnh này, ngày 24/02/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23 tháng 11 hàng năm

là Ngày Di sản văn hoá Việt Nam nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách

nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hoá, động viên và thu hút mọi tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc

Hai là, Luật Di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 điều chỉnh cả di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể

Xét thấy di sản văn hoá và thiên nhiên ngày càng bị đe dọa hủy hoại, sự xuống cấp hoặc biến mất của di sản cũng làm nghèo đi di sản của mọi dân tộc, đồng thời việc bảo vệ di sản ở cấp quốc gia còn những bất cập do hạn chế về tiềm năng kinh tế, khoa học và công nghệ, nên tại Kỳ họp lần thứ 17 năm 1972, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới (di sản vật thể) 31 năm sau, năm 2003, xét thấy tầm quan trọng của di sản văn hoá phi vật thể như là động lực chính của đa dạng văn hoá

và là một đảm bảo cho phát triển bền vững, đồng thời nhận thấy chưa có một văn kiện ràng buộc đa phương nào cho công tác bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, tại Phiên họp ngày 17/10/2003, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể

Trang 26

Trên thực tế, các di tích lịch sử - văn hoá (di sản vật thể) ở nước ta đều hàm chứa những giá trị tinh thần (di sản phi vật thể) to lớn và sâu sắc, gắn kết với nhau Việc phân định giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chỉ là tương đối Đồng thời, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998, khi đề

ra nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhấn mạnh cả văn hóa vật thể và phi vật thể Bởi vậy, việc đưa di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và di sản văn hoá phi vật thể vào Luật Di sản văn hoá được nhiều chuyên gia quốc tế cho là hợp lý mà không phải nước nào cũng có được một bộ luật chung như vậy

Ba là, Nghi định của Chính phủ số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm

2014 Quy định về xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân", "Nghệ nhân ưu tú" trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và Nghi định số 109/2017/NĐ-CP ngày

21 tháng 9 năm 2017 Quy định về bảo vệ và quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới có ý nghĩa đối với cộng đồng xã hội và quốc tế

Việc xét tặng danh hiệu nghệ nhân thể hiện sự quan tâm và ghi nhận của Đảng và Nhà nước ta đối với những nghệ nhân có đóng góp xuất sắc, nắm giữ

và có công truyền dạy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc

Nghị định về Bảo vệ và quản lý di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam nhằm bảo vệ Giá trị Nổi bật Toàn cầu, tính xác thực và toàn vẹn của

di sản thế giới, thực hiện những cam kết của Việt Nam đối với UNESCO Văn bản pháp lý này được sự quan tâm của quốc tế, bởi vì nhiều nước chưa có một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao riêng cho việc quản lý di sản thế giới ở nước mình

Bốn là, Di sản văn hóa không chỉ có giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và khoa

học, mà còn là một nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Trong nhiều năm qua, với kết quả nổi bật trong công tác quản lý, bảo tồn

và phát huy giá trị di sản, bằng việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và tăng cường hoạt động quảng bá, di sản văn hóa ở nước ta trở thành điểm đến hấp dẫn

Trang 27

đối với du khách trong và ngoài nước, số lượt khách và nguồn thu từ phí tham quan năm sau đều cao hơn năm trước Chỉ riêng 8 Di sản Thế giới, năm 2017 đã thu hút gần 16 triệu lượt khách trong nước và quốc tế, thu từ phí tham quan được hơn 2.500 tỷ đồng Tuyệt đại đa số các khu di sản này đều tăng khoảng 13% - 22% số lượt khách và tăng khoảng 14%-27% tiền thu phí tham quan, trong đó có 2 di sản tăng 53% - 61% so với năm 2016 (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Vịnh Hạ Long) Có những di tích phạm vi không lớn ở Hà Nội như Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, năm 2017 thu từ phí tham quan cũng đạt 46 tỷ, Di tích Đền Ngọc Sơn hơn 27 tỷ, Di tích Nhà tù Hỏa Lò 9,8 tỷ đồng Nếu tính cả nguồn thu từ vé tham quan của hơn 13.500 di tích đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh - thành phố, cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt, cùng với hơn 160 bảo tàng công lập và ngoài công lập thì nguồn thu từ kết quả hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

và các bảo tàng cả nước không hề nhỏ, góp phần có ý nghĩa vào sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội

1.2 Khái niệm cộng đồng và vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội

Ở góc độ cộng đồng, nhiều nhà khoa học cho rằng: cộng đồng địa phương

(CĐĐP) là người giữ gìn di sản và sở hữu tri thức bản địa về di sản ấy Cộng đồng (community) là một thuật ngữ được Liên hiệp quốc công nhận vào năm

1950 và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện trong các chương trình viện trợ Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này Chúng ta có thể tham khảo một số khái niệm của Keith và Arycho [8,

Trang 28

tr.7] 8 Popple K (1988), Community Development: Theory and Practice, Michigan Journal of Community Service Learning, 11(2), 5-24 Những thứ đó

có ích đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của địa phương Tiêu chí R4 của UNESCO để công nhận di sản vào danh sách đại diện di sản phi vật thể của nhân loại theo Công ước năm 2003 cũng nhấn mạnh di sản được đề cử phải nhận được được sự đồng thuận tự nguyện với sự hiểu biết đầy đủ, dựa trên sự tham gia rộng rãi nhất của cộng đồng, nhóm người hoặc trong một số trường hợp là các cá nhân có liên quan Đây chính là sự nhấn mạnh của UNESCO đối với

quan niệm di sản là của cộng đồng và cho cộng đồng Như vậy, cộng đồng được

xem như một bên liên quan quan trọng để giữ gìn và phát huy giá trị di sản theo

hướng bền vững trong đó có các lễ hội độc đáo, đặc trưng cho từng vùng miền

Như vậy, có thể phân thành hai dạng cộng đồng dựa trên cấu trúc xã hội

và tính chất liên kết xã hội:

- Dạng cộng đồng thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó có những đặc trưng được xác định như: tình cảm, ý thức và chuẩn mực xã hội Dạng cộng đồng này được gọi là cộng đồng tính

- Dạng cộng đồng mà được xác định là nhóm người cụ thể, những nhóm

xã hội có liên kết với nhau ở nhiều quy mô khác nhau, kể từ đơn vị nhỏ nhất như gia đình cho đén các quốc gia và toàn thế giới Dạng cộng đồng này gọi là cộng đồng thể

Cộng đồng thể hiện một số đặc tính là: sự đoàn kết xã hội, sự tương quan

xã hội và cơ cấu xã hội

Trang 29

Thứ nhất, đoàn kết xã hội, theo quan niệm Mác-xít, cộng đồng là mối

quan hệ qua lại qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hoá lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó Quan niệm bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa các cá nhân về

tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động Đoàn kết xã hội luôn được các nhà nghiên cứu cộng đồng coi là đặc tính hàng đầu của mỗi cộng đồng Đây là ý chí và tình cảm của những người cùng sống trong một địa vực có những mối liên hệ về mặt huyết thống hay quan hệ láng giềng Quá trình tổ chức đời sống

xã hội bởi các thiết chế xã hội lại càng thống nhất ý chí, tình cảm của cộng đồng qua một số giá trị, chuẩn mực và biểu tượng riêng Đây cũng là mục tiêu mà các cộng đồng đều mong muốn tập hợp và duy trì

Các lệch chuẩn xã hội xuất hiện trong cộng đồng là do mất ý thức đoàn kết xã hội, đi kèm theo đó là sự mất ý thức và nhân cách cá nhân Ngược lại, khi các cá nhân đồng nhất với cộng đồng, hoà mình trong cộng đồng đã làm tăng tính đoàn kết xã hội đồng thời cũng làm tăng ý thức và nhân cách của cá nhân

Cộng đồng tồn tại được là do từng thành viên trong các nhóm thành viên của cộng đồng có tiếng nói thống nhất trong các hành động tập thể, khi không còn tâm thức chung tì cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn

Thứ hai, sự liên kết xã hội, đây là sự tương quan giữa người với người, có

tính kết hợp hay những phản ứng tương hỗ, theo đó con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn Sự tương quan và kết hợp giữa các thành viên trong cộng đồng được biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn hàng ngày và củng

cố thêm sự đoàn kết trong cộng đồng Các cộng đồng ở nông thôn, do sự phân tán về nghề nghiệp không cao nên các thành viên trong cộng đồng thường xuyên quan hệ với nhau trong công việc hơn ở các cộng đồng đô thị, nơi có sự phân tán nghề nghiệp khá cao Chính vì thế, sự đoàn kết trong cộng đồng ở nông thôn thường cao hơn cộng đồng ở đô thị Kiểu liên kết cao nhất trong cộng đồng

Trang 30

chính là các quan hệ mang tính hội nhập, ở đó có mức độ hợp tác tích cực giữa các cá nhân trong các đoàn thể hay hội mà các cá nhân đó tham gia Như vậy, ở góc độ cá nhân, khi một người tham gia nhiều các hội, đoàn thể thì người đó có mối quan hệ rộng

Thứ ba, các cơ cấu xã hội khi không có giá trị chung, không có sự định

hướng để quy tụ nhau hay không có những quy tắc ứng xử của các thành viên trong cộng đồng thì không có cơ sở xã hội để tạo thành cộng đồng Những định hướng, những qui tắc này được nằm trong tổ chức đoàn thể của cộng đồng, chẳng hạn các hương ước, nội qui, qui chế là do làng, xã đặt ra Quá trình thể chế hoá các giá trị chuẩn mực trong các tổ chức xã hội tương đương là bước quan trọng để các liên kết xã hội trong cộng đồng được bền vững và có giá trị đối với tất cả mọi người, tạo nên sức mạnh của cộng đồng

1.2.2 Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội

Cái gốc của lễ hội là một sản phẩm của văn hóa dân tộc và khởi đầu của nó

là sự kết tinh những giá trị nhân văn của cộng đồng lấy ứng xử với tự nhiên và con người làm trọng Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, việc ứng xử với

lễ hội truyền thống đang đặt ra những thách thức và cả cơ hội mới Lễ hội là tấm gương phản chiếu những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc, và còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hóa dân tộc ấy Lễ hội chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong việc bảo tồn văn hóa Quá trình tiếp nối lễ hội trong đời sống luôn có sự vận động và đặt ra thách thức mới trong đời sống và quản lý Cái gốc của lễ hội là một sản phẩm của văn hóa dân tộc và khởi đầu của nó

là sự kết tinh những giá trị nhân văn của cộng đồng lấy ứng xử với tự nhiên và con người làm trọng Khẳng định từ xa xưa cộng đồng luôn giữ vai trò là chủ thể của xã hội Bảo tồn và phát huy di sản của lễ hội là trách nhiệm trước hết của cộng đồng Các công ước về di sản vật thể và phi vật thể đều khẳng định vị trí và trò của cộng đồng Vai trò của cộng đồng là quan trọng, là quyết định, nhưng ở mỗi nơi, đối tượng cộng đồng, trình độ, năng lực của cộng đồng là rất khác nhau, cơ chế vận hành cộng đồng cũng không giống nhau Vì vậy, cần tiếp tục

Trang 31

xây dựng cho được cơ chế và chính sách đảm bảo cho cộng đồng thực sự làm chủ di sản của mình

Bên cạnh đó, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là một lĩnh vực chuyên biệt với phương thức bảo tồn rất nhạy cảm và có nhiều quan niệm cũng như phương pháp tiếp cận mới Chính vì thế, muốn cộng đồng là chủ di sản lành mạnh, đúng hướng thì họ phải dựa trên nền tảng được cung cấp đầy đủ thông tin

về kinh nghiệm trong việc bảo vệ di sản và được tiếp cận với những quan niệm mới về bảo tồn di sản, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn về bảo tồn

Có một nguyên tắc trong bảo tồn cần tuân thủ, là lễ hội của cộng đồng, thì phải để cộng đồng làm chủ, chính quyền không được đứng ra làm thay Muốn phát huy được lễ hội, cần bảo tồn những tinh hoa cũ của lễ hội, trong đó, bảo tồn những giá trị lễ hội, đó là giá trị đoàn kết, giá trị uống nước nhớ nguồn, giá trị bảo vệ cộng đồng, giá trị bản sắc văn hóa lễ hội nhưng đồng thời, xu hướng phát triển lễ hội đang ngày càng mạnh, xu hướng trở thành ngành dịch vụ, du lịch Vì thế cần phải tổ chức hoạt động mang tính dịch vụ du lịch, để đáp ứng nhu cầu của lễ hội, đó là nhu cầu thiết thân

Tuy nhiên, trong điều kiện lễ hội mở rộng, vai trò của chính quyền là rất quan trọng Lễ hội thì để người dân làm, còn chính quyền có trách nhiệm định hướng cho lễ hội, quản lý các vấn đề về an ninh, an toàn thực phẩm…

Thêm vào đó, với việc thu hút khách du lịch đến tham gia lễ hội, rất dễ dẫn đến sự quá tải của lễ hội Vì vậy, khi lễ hội phát triển quy mô lớn, một đình làng không thể có sức chứa hàng vạn người, nên việc người đông, chen lấn hoặc lộn xộn là điều khó tránh khỏi Lúc này, không nên vội vàng phê phán do chính quyền địa phương yếu kém trong việc tổ chức quản lý lễ hội, mà nên tập trung tìm cách ứng xử sao cho phù hợp, và nên nghiên cứu mở rộng không gian lễ hội,

mở rộng chức năng lễ hội, mở rộng cả những dịch vụ hoạt động lễ hội để lễ hội đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, của du khách

Thuận lợi nhất trong bảo tồn lễ hội của đồng bào hiện nay, là ý thức của người dân đang dần được nâng cao, người dân có khả năng bảo tồn, tái sáng tạo

Trang 32

lễ hội, thực hành các nghi lễ Tuy nhiên, khó nhất không phải do dân, mà ở nhận

Ứng với mỗi mức độ có các hình thức biểu hiện như sau:

Bảng phân bố các mức độ tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch

theo thang đo Pretty và Hine (1999)

Mức độ

tham gia Tính chất Hình thức biểu hiện

1 Tham gia

thụ động

- Cộng đồng tham gia bị giới hạn cho biết những điều sẽ

xảy ra với địa phương họ

- Ý kiến của người dân không được đưa vào

- Thông tin chỉ thuộc về các chuyên gia bên ngoài

2

Tham gia cung cấp thông tin

- Cộng đồng tham gia cung cấp thông tin bằng cách trả lời bảng hỏi và khảo sát… được thiết kế bởi tác nhân bên ngoài

- Kết quả của nghiên cứu không được chia sẻ với mọi người

- Cộng đồng tham gia với tư cách là các nguồn lực (ví dụ như nguồn lao động) để đổi lấy các khuyến khích vật chất (thực phẩm, tiền mặt)

- Cộng đồng tham gia theo kiểu hình thức, họ không có

Trang 33

Mức độ

tham gia Tính chất Hình thức biểu hiện

cổ phần, cũng như không góp mặt trong các quá trình diễn ra dự án

5

Tham gia chức năng

- Cộng đồng tham gia bằng cách hình thành các nhóm để đáp ứng mục tiêu từng phần liên quan đến dự án

- Tổ chức Cộng đồng được thành lập có xu hướng phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài

7 Tham gia

chủ động

- Cộng đồng đưa ra các sáng kiến độc lập và có quyền tự quyết

- Cộng đồng liên hệ với các tổ chức bên ngoài

để nhận được tư vấn, giữ quyền kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực

- Tự phân phối của cải và quyền lực đảm bảo sự công bằng

[Nguồn: 7, tr.17]

Theo đề xuất của tác giả, Số lượng các mẫu điều tra được tính toán dựa

vào công thức của Nancy J.Helen F Clair E (2004):

Trong đó: n là số lượng mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra

N là số hộ gia đình trong cộng đồng

Se là độ sai số được tính bằng phần trăm sai số của số gốc (e = 10%)

Dựa vào mẫu khảo sát dự kiến trên, số mẫu điều tra thực tế của mỗi thôn

là 100 phiếu Để đạt kết quả tốt, cần tiến hành điều tra thử mỗi đối tượng khảo sát 15 phiếu, từ đó có những điều chỉnh lại bảng hỏi cho phù hợp

Đề xuất nội dung khảo sát

Trang 34

Trong phạm vi bài viết, tác giả đề xuất khảo sát, đánh giá mức độ tham

gia của CĐĐP ở 2 nội dung cơ bản ứng với các câu hỏi khảo sát ở 7 cấp độ theo

thang đo Pretty và Hine (1999) sau:

A Mức độ tham gia của CĐĐP vào các hoạt động bảo tồn lễ hội

1) CĐĐP có được thông báo về kế hoạch bảo tồn lễ hội tại địa phương không?

2) CĐĐP có sẵn lòng cung cấp thông tin hoặc trả lời các câu hỏi về các vấn đề liên quan đến các hoạt động kế hoạch bảo tồn lễ hội địa phương không?

3) CĐĐP có được tham gia các cuộc họp cộng đồng, được đóng góp ý kiến về các vấn đề liên quan đến hoạt động kế hoạch bảo tồn lễ hội địa phương không?

4) CĐĐP có đang làm việc trong các cơ sở kinh doanh du lịch, cung cấp dịch vụ lễ hội… để kiếm thu nhập không?

5) CĐĐP có tham gia vào tổ chức quản lý lễ hội tại địa phương không? 6) CĐĐP có được tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch, ra quyết định liên quan đến bảo tồn lễ hội địa phương không?

7) CĐĐP có được quyền tự đưa ra sáng kiến; tự liên hệ với các tổ chức bên ngoài cộng đồng để nhận sự tư vấn; tự đầu tư, đẩy mạnh và mở rộng các hoạt động kinh doanh du lịch liên quan đến lễ hội địa phương không?

B Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động quảng bá giá trị độc đáo của lễ hội

1) CĐĐP có được thông báo các hoạt động quảng bá lễ hội của địa phương không?

2) CĐĐP có sẵn lòng cung cấp thông tin hoặc trả lời các câu hỏi của các công ty quảng cáo, bộ phận xúc tiến du lịch… liên quan đến hoạt động quảng bá

lễ hội của địa phương không?

3) CĐĐP có được tham gia các buổi họp lấy ý kiến liên quan đến hoạt động quảng bá lễ hội địa phương không?

4) CĐĐP Có phải chỉ tham gia vào hoạt động quảng bá lễ hội địa phương

Trang 35

khi nhận được quyền lợi hoặc sự hỗ trợ?

5) CĐĐP có tham gia vào các tổ/nhóm tuyên truyền, quảng bá hình ảnh lễ hội địa phương không?

6) CĐĐP có được quyền người tham gia bàn bạc, đưa ý kiến, ý tưởng về các hoạt động quảng bá lễ hội địa phương không?

7) CĐĐP có được quyền chủ động lựa chọn, thay đổi, tham gia điều hành kênh quảng cáo và giữ quyền quyết định độc lập về các hình thức quảng bá lễ hội của địa phương không?

Các nội dung nghiên cứu, các câu hỏi đề xuất dựa vào thang đo như đã trình bày có thể là gợi ý, cơ sở cho quá trình thiết kế phiếu điều tra cho người nghiên cứu khi điền dã Ngoài việc tiến hành điều tra dựa trên việc áp dụng thang đo, khi tiến hành nghiên cứu, cần kết hợp với các phương pháp và hình thức nghiên cứu khác như kết hợp với điều tra xã hội học, phỏng vấn chuyên gia

và người dân địa phương, phương pháp phân tích, đánh giá, nhập liệu qua các phần mềm chuyên dụng, biểu đồ hóa kết quả khảo sát… Người nghiên cứu kết hợp hiệu quả, linh hoạt các phương pháp nghiên cứu sẽ đạt kết quả chính xác, khách quan và thuyết phục

Tiểu kết chương 1

Chương một này, tác giả tổng kết các cơ sở lí luận, các khái niệm về lễ hội,

lễ hội truyền thống, các quan điểm bảo tồn lễ hội (quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, quan điểm bảo tồn kế thừa) Đồng thời, tác giả đưa ra các khái niệm về cộng đồng cũng và vai trò của cộng đồng cũng như mức độ tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình bảo tồn Từ hệ thống cơ sở lí luận, các khái niệm và các quan điểm đó đã tạo tiền đề cho tác giả nghiên cứu, khảo sát các vấn đề liên quan đến bảo tồn lễ hội, lễ hội Trò Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao

Trang 36

CHƯƠNG 2 CỘNG ĐỒNG VỚI QUÁ TRÌNH BẢO TỒN LỄ HỘI TRÕ TRÁM XÃ TỨ XÃ, HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÖ THỌ 2.1 Tổng quan về lễ hội Trò Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Không gian tổ chức lễ hội Trò Trám

Tứ Xã là một làng cổ thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Xưa kia, làng có tên là Kẻ Gáp - là nơi gặp gỡ, giao lưu giữa miền núi và đồng bằng, là nơi hình thành và bảo lưu nhiều lễ hội mang đậm tính dân gian cổ truyền tiêu biểu của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước thời kỳ Hùng Vương dựng nước Một trong những lễ hội mang đậm tính chất phồn thực ở Tứ Xã đó là Lễ hội Trò Trám

Cứ mỗi độ xuân về, vào ngày 11 và 12 tháng Giêng hàng năm du khách thập phương nô nức đổ về phường Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia lễ hội Trò Trám hay còn gọi là lễ hội “Linh tinh tình phộc” Lễ hội Trò Trám là biểu hiện tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước cầu mong cho mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở Lễ hội “Linh tinh tình phộc” kéo dài một ngày và một đêm, bắt đầu từ tối 11 và kết thúc vào chiều ngày 12 tháng Giêng hàng năm

Ngôi Miếu cổ, nơi diễn ra lễ hội Trò Trám là miếu Trò, ngôi miếu nhỏ chừng 10m2, nhìn bề ngoài miếu Trò không khác là mấy so với những ngôi miếu ở vùng nông thôn Việt Nam, nhưng Miếu Trò đóng cửa quanh năm, chỉ

mở cửa đúng vào đêm 11, rạng sáng ngày 12 tháng Giêng Trong miếu thờ linh vật (dân gian gọi là Nõ - Nường, sinh thực khí nam nữ) của tín ngưỡng phồn thực - tín ngưỡng khởi nguyên và sơ khai của các tộc người trên trái đất, trong

đó có dân tộc Việt Linh vật được thờ tại ngôi miếu Trò cất giữ cẩn thận trên khám thờ và chỉ lấy ra một lần duy nhất vào đêm 11 tháng Giêng hàng năm và chỉ cụ từ và đôi nam nữ được chọn mới được phép sờ tay vào linh vật

Miếu Trò được xây dựng theo lối kiến trúc phương đình (một gian hai trái), với một bức tường hậu, còn ba mặt (hai bên trái, phải và trước) để trống

Trang 37

Bên trong miếu có gác lửng nhỏ gọi là hậu cung làm nơi cất giữ “vật linh” và đặt

lễ vật dâng cúng Các cấu kiện gỗ được làm đơn giản theo kiểu bào trơn đánh bóng chứ không chạm trổ trang trí cầu kì như các ngôi đình, đền khác trong vùng Hệ thống chịu lực chính là hai hàng cột chạy dọc hai bên

Trước đây miếu Trò nằm trên một gò đất cao nhất của làng Xung quanh

có nhiều cây Trò nên đặt là điếm Trò Bao quanh điếm Trò là rừng Trám nên đặt tên cho làng theo loài cây ấy Các cụ xưa, cứ lấy tên đình và làng ghép lại thành Trò Trám Gia phả làng có lúc lại ghi là miếu Đụ Đị Lễ hội này có từ thời Hồng Bàng Dã sử gọi thời này là thượng cổ Kinh Dương Vương với quốc hiệu Xích Quỷ Nhiều chuyên gia khảo cổ cho rằng, lễ hội phồn thực của điếm Trò là cổ xưa nhất mang tính phi vật thể còn sót lại Những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, lễ hội phồn thực tại điếm Trò đi vào quên lãng Ngôi đình cổ theo năm tháng mục nát, hai linh khí biểu trưng cho sinh thực khí nam nữ bằng gỗ quý cũng thất lạc mất Mãi đến năm 1993, lễ hội mới được khôi phục

2.1.2 Nhân vật tưởng niệm trong lễ hội Trò Trám

Tương truyền miếu Trò là nơi thờ nữ thần bà Ngô Thị Thanh, còn có tên

là Đụ Đị Bà Thanh là con gái ông Ngô Quang Điện người đã có công lập ấp Người dân Tứ Xã vẫn truyền nhau rằng thời xa xưa khi dân làng còn sống rải rác khắp các mặt gò như Mả Giang, Gò Gai, Gò Mun, Gò Gạch, thời đó tất cả là rừng rậm, không có đê ngăn nước sông Hồng thấp, vào mùa mưa nước sông tự

do ra vào các thung lũng nên vùng Tứ Xã thường xuyên bị ngập lụt trắng đồng Thời Á Hồng Bàng, ông Ngô Quang Điện thấy khu đất thuộc Kẻ Gáp, làng Tứ

Xã hiện nay là đất “Ngưu miên” tức là con trâu ngủ, có địa hình, địa lý đẹp, thuận lợi cho vạn vật sinh trưởng, cây cối tốt tươi, người dân sẽ được no ấm nên ông đã dụ dân ở rải rác các khu gò về định cư, lập ấp tại khu vực phường Trám, khu đất này có nhiều cây Trám to nên được gọi là phường Trám từ Hán gọi là

Cổ Lãm Phiên Còn về bà Ngô Thị Thanh vì thương dân nghèo khó nên không

đi lấy chồng mà ở lại khai hoang, dạy dân cấy lúa, quay tơ, dệt vải Hàng năm,

bà cùng cha mình tổ chức hội Trò mua vui trong ngày đầu xuân, khuyến khích

Trang 38

người dân lao động và thu hút thêm người về xóm Sau khi ông Ngô Quang Điện mất nhân dân lập miếu thờ cúng, hiện ông đang được thờ trong chùa Phúc Chung Con gái ông là bà Ngô Thị Thanh được thờ tại miếu Trám Bà Ngô Thị Thanh là người có công lao to lớn trong việc dạy dân làm ăn và ổn định cuộc sống Và để tưởng nhớ công ơn đó, người dân xóm Trám mở hội hàng năm vào dịp đầu xuân Lễ hội Trò Trám không chỉ tưởng nhớ công lao của người đã có công khai dân, lập ấp, mà còn tiếp nối hội Trò vốn đã được sáng tạo, thực hành trong quá khứ của người dân xóm Trám Ông Nguyễn Thành Ngữ - thủ từ miếu

Đụ Đị cho biết: “Miếu Đụ Đị thờ bà Ngô Thị Thanh Bà được người dân ở đây phong làm thành hoàng làng vì đã có công dạy nhân dân 4 nghề “Tứ dân chi nghiệp – Sĩ nông công thương” Tức là dạy học, làm ruộng, lao động thủ công như (quay tơ, dệt lụa, nghề mộc, ) và thương mại (buôn bán, chợ búa)”

Người đời tưởng nhớ công ơn khai dân lập ấp của ông nên đã có đôi câu đối thờ ông, ngày nay tượng và câu đối vẫn còn

“Thời Á Hồng Bàng thiên dân, hoá dân thành thịnh ấp

Công thuỳ Tứ Xã, Đông thổ, Tây thổ, lẫm anh thanh”

Tạm dịch nghĩa là: “Thời Á Hồng Bàng (thời vua Hùng), Ông đã dụ dân lập ấp khai hoang cho dân trở thành khu đất thịnh vượng Công ơn của Ông lẫy lừng, trùm khắp từ Đông sang Tây ở đất Tứ Xã”

Điếm Trám là nơi tập trung già trẻ, nơi sinh hoạt chung của cả xóm Sân Miếu Trám có ban thờ, có nồi hương, gặp ngày cầu, ngày tết dân phường đem lễ vật ra cúng bái cầu may Sân Miếu Trám là sân khấu chính của Trò Trám Trò Trám là trò trình nghề dân gian tứ dân: Sĩ - Nông - Công - Thương Các nhân vật trong trò trình nghề này chủ yếu là những nhân vật ở nông thôn trong đó nổi bật các vai thợ cầy, thợ cấy, thợ mộc…Trò Trám vừa có nghi lễ phồn thực vừa mang tính hài, có diễn xuất thô sơ, gần với hình thức đào diễn dân gian

Qua tìm hiểu về thần tích về miếu Trò thì thấy rằng tư liệu ở đây chủ yếu

là qua truyền khẩu, sự tồn tại của nhân vật mang tính chất huyền thoại, được hư cấu thành một truyền thuyết, khi tìm hiểu xem có một chút vết tích hay một hiện

Trang 39

vật nào còn tồn tại liên quan trực tiếp đến sự hiện diện của thổ thần Ngô Thị Thanh nhưng rất tiếc là không còn Chỉ có tên tuổi của bà lưu truyền hậu thế, vẫn gắn liền với tín ngưỡng lễ hội ở đây, tạo nên nét đặc sắc, nhưng cũng không kém phần huyền bí (theo lý lịch DSVH phi vật thể đề nghị đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia của Sở VH,TT&DL tỉnh Phú Thọ năm 2016)

2.1.3 Nghi lễ và diễn trình lễ hội Trò Trám

Lễ hội Trò Trám là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp với ước mong vạn vật sinh sôi nảy nở Thực ra, xưa kia, ở nhiều vùng khác của Việt Nam như Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Giang… hay như ở Tam Nông, Cẩm Khê… của Phú Thọ cũng có những lễ hội này, nhưng đã bị lãng quên từ lâu Sở dĩ Tứ Xã gìn giữ được đến ngày nay là bởi nơi đây vốn là một trong những bộ tộc thời Hùng Vương, họ hùng mạnh và có bản sắc văn hóa lâu đời Hiện nay, người làng Tứ Xã vẫn dùng những từ ngữ lạ so với ngày nay, đó chính

là từ cổ của hệ ngôn ngữ Việt - Mường xa xưa

Thường thì lễ hội Trò Trám gồm 2 nội dung: phần lễ cầu và ra trò tứ dân

2.1.3.1 Lễ mật

Theo một số lời kể lại của các cụ xóm Trám, lễ lấy giờ diễn ra vào nửa đêm ngày 11 tháng Giêng Dân xóm trước đó đã cử 1 cụ cao tuổi, gia đình sạch

sẽ thuộc người xóm Trám hoặc ông từ của miếu Trò làm chủ lễ

Cũng theo lời kể của một số cụ và những tư liệu đã nghiên cứu, lễ lấy giờ này có liên quan đến tín ngưỡng thờ phồn thực nông nghiệp, còn gọi là “lễ mật” Đây là hoạt động tâm linh của người dân ở đây đã có từ thời Việt cổ, cầu cho nòi giống sinh sôi, cây cối tươi tốt, cầu đinh được tiến hành vào lúc nửa đêm Đó cũng là dụng ý phồn thực, vì vào lúc nửa đêm là lúc âm dương giao hòa phù hợp với tâm linh “Lễ mật”

Sau lễ tế (thường bắt đầu vào lúc 23 giờ kém, ngày 11 tháng giêng) kéo dài 1 giờ 30 phút do 13 cụ bô lão trong làng thực hiện và ông thủ từ là người cầu khấn, cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa, con người khỏe mạnh, nòi giống thịnh cường, làng xóm đông vui sầm uất, gia đình hạnh phúc, con đàn

Trang 40

cháu đống Buổi lễ diễn ra trước sự chứng kiến của hàng trăm người dân già có, trẻ có trong niềm hân hoan chờ đợi

Tiếp theo cụ Từ của miếu Trò thắp hương và rước Nõ - Nường xuống, là hai vật biểu thị cho hai giới tính nam và nữ được thờ bên ban Thượng của miếu Trò, Nõ - Nường được trao cho một đôi nam nữ đã được chọn từ trước Đôi nam

nữ này là người trinh tiết, tức là vẫn chưa có vợ chồng, khỏe mạnh, gia đình gia giáo Để chọn được đôi nam nữ này, hội đồng các bô lão trong làng phải họp từ trong năm, bàn đi tính lại nhiều lần Gia đình nào có con cái được chọn để bước vào miếu trong dịp này sẽ rất hãnh diện Vì yêu cầu đồng trinh nên mỗi năm lại

có một đôi nam nữ khác nhau được bước vào miếu, vì đôi nam nữa năm trước hầu hết không đủ tiêu cầu Tuy nhiên, vì là hành động có phần nhạy cảm nên nghi lễ này thường do một cặp vợ chồng thực hiện

Hai vật Nõ - Nường được thờ trong miếu, đặt trong hòm nhỏ, hòm nhỏ lại đặt trong hòm to, tất cả các hòm và cửa ra vào đều khóa Tuy chỉ là khúc gỗ được tạo thô sơ nhưng việc cất giữ Nõ - Nường rất kỹ càng, lại được đặt ở nơi trang trọng nhất là ban Thượng của miếu đã chứng tỏ sự coi trọng Nõ - Nường như vậy là vật báu của người dân nơi đây Không một ai, kể cả ông Từ được phép mang nó ra khỏi kham thờ nếu đó không phải là ngày 11 tháng giêng Từ trước đến nay, chỉ ông Từ và đôi nam nữ được chọn là nhìn thấy được sờ tận tay

nó Còn lại tất cả những gì mọi người biết chỉ là qua những lời kể

Trước linh vị thần miếu - thần Nõ Nường, “ đôi trò’’ nam thanh, nữ tú đứng sau chủ tế, hướng mặt vào nhau, sẵn sàng đợi lệnh diễn trò Chủ tế, sau khi khấn xong lời thần chú - cầu xin “Xin bà cho mở vật linh ra làm lễ, gieo quẻ âm dương và lạy xong ba lạy thì bước lên cạnh bàn thờ, mở hòm lấy vật “hèm’’ Ngày trước vật hèm là cái mo nang và dùi gỗ vông, xong việc thì thả xuống hồ ngâm lấy nước tưới ruộng, để diệt trừ sâu rầy cho mùa màng cây trái xum xuê (thời chưa có thuốc trừ sâu) Đến nay, vật hèm được làm bằng gỗ, sơn đỏ, xong việc là cất vào hòm đặt trong tủ, để trên gác xép sau bàn thờ, còn gọi là bàn thờ thượng, có cầu thang Đến giờ chủ tế lên bê xuống lấy Nõ trao cho nam, lấy

Ngày đăng: 07/07/2022, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua hội hè đình đám, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
[3]. Nguyễn Chí Bền (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 2000
[4]. Nguyễn Chí Bền (2002), Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
[5]. Nguyễn Chí Bền (2013), Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố, NXB KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB KHXH Hà Nội
Năm: 2013
[6]. Nguyễn Thị Minh Chính (2016), Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm - Hội An, Quảng Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm - Hội An, Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Chính
Năm: 2016
[7]. Community Development: Theory and Practice, Michigan Journal of Community Service Learning, 11(2), 5-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community Development: Theory and Practice, Michigan Journal of Community Service Learning
[8]. Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 xu hướng và giải pháp
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
[9]. Cao Đức Hải (2000), Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện
Tác giả: Cao Đức Hải
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
[10]. Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1998
[11]. Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, NXB Khoa học Xã hội.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội.Hà Nội
Năm: 1993
[12]. Phan Khanh (1992), Bảo tàng di tích lễ hội, NXB Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bảo tàng di tích lễ hội
Tác giả: Phan Khanh
Nhà XB: NXB Thông tin
Năm: 1992
[13]. UBND huyện Lâm Thao (2008), Địa chí văn hóa dân gian Lâm Thao, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Lâm Thao
Tác giả: UBND huyện Lâm Thao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
[15]. Lê Hồng Lý (1992), Lễ hội ở đồng bằng Bắc Bộ về những nhân vật lịch sử, trong "Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại", NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại
Tác giả: Lê Hồng Lý
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1992
[16]. Nguyễn Thu Linh, Phan Văn Tú (2004), Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền, thực trạng và giải pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền
Tác giả: Nguyễn Thu Linh, Phan Văn Tú
Năm: 2004
[17]. Nguyễn Thu Linh, Đặng Văn Lung (1984), Lễ hội truyền thống và hiện đại, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống và hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thu Linh, Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1984
[18]. Hoàng Lương (2011, Lễ hội truyền thống dân tộc Việt Nam các tỉnh phía Bắc, Nxb Thông tin Truyền thông phát hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống dân tộc Việt Nam các tỉnh phía Bắc
Nhà XB: Nxb Thông tin Truyền thông phát hành
[19]. Nhiều tác giả (1986), Lễ hội truyền thống vùng đất tổ, Nxb Sở Văn hóa Thông tin và Hội văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống vùng đất tổ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa Thông tin và Hội văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ
Năm: 1986
[20]. Nguyễn Văn Mạnh (2002), “Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại”, Tạp chí Văn hóa Dân gian, (2), tr.3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại”, Tạp chí Văn hóa Dân gian
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 2002
[21]. Phạm Quang Nghị (2005), Bảo tồn phát huy di sản văn hoá phi vật thể ở Việt Nam, Viện Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn phát huy di sản văn hoá phi vật thể ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Nghị
Năm: 2005
[24]. Ngô Đức Thịnh (1999), “Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (11), tr.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền”
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.3. Mô hình đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn lễ hội Trò Trám - Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội trò trám, xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
1.2.3. Mô hình đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn lễ hội Trò Trám (Trang 32)
tham gia Tính chất Hình thức biểu hiện - Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn lễ hội trò trám, xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
tham gia Tính chất Hình thức biểu hiện (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w