1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2 lớp 6 nhà nước văn lang âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ

128 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Tư Liệu Hiện Vật Tại Bảo Tàng Hùng Vương Trong Dạy Học Lịch Sử Việt Nam (Chương 2 Lớp 6, Nhà Nước Văn Lang - Âu Lạc) Cho Học Sinh THCS Thành Phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ
Tác giả Phạm Thị Kim Oanh
Người hướng dẫn TS. Hà Thị Lịch
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử (Sử - GDCD)
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư liệu, hiện vật có trong bảo tàng lịch sử cách mạng, nhà truyền thống là những dấu tích còn lại của quá khứ, nó là nguồn kiến thức phản ánh chân thực nhất, khách quan nhất sự tồn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH

PHẠM THỊ KIM OANH

SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (CHƯƠNG 2 LỚP 6, NHÀ NƯỚC VĂN LANG - ÂU LẠC) CHO HỌC SINH THCS

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Sư phạm Lịch sử (Sử - GDCD)

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH

PHẠM THỊ KIM OANH

SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (CHƯƠNG 2 LỚP 6, NHÀ NƯỚC VĂN LANG - ÂU LẠC) CHO HỌC SINH THCS

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm đạo đức trong học thuật Tôi

cam kết nghiên cứu này là do tôi thực hiện đảm bảo trung thực, không vi

phạm yêu cầu về đạo đức trong học thuật

Tác giả

Nhận xét của GVHD

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vương, Ban lãnh đạo khoa Khoa học xã hội và Văn hóa du lịch, các Thầy giáo,Cô giáo trong khoa đã định hướng, hướng dẫn,

chỉnh sửa và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô giáo T.S Hà Thị Lịch đã luôn tận tình, hướng dẫn, chỉnh sửa những thiếu sót của em trong quá trình làm bài, để bài khóa luận có giá trị và khoa học nhất

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, đặc biệt là cô giáo Lưu Thúy Hằng cùng các em học sinh trường Phổ Thông CLC Hùng Vương đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình

Lời cuối cùng em xin gửi lời biết ơn đến những người thân, gia đình, bạn

bè đã luôn luôn ủng hộ, khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận

Tuy nhiên trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, em đã rất cố gắng để hoàn thành một cách tốt nhất song vẫn không thể tránh khỏi những thiếu xót, khuyết điểm Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô cũng như bạn bè để đề tài của em được hoàn thiện hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn!

Việt Trì, tháng… năm 2020 Sinh viên

Phạm Thị Kim Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM KẾT i

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 5

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 8

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5.1 Đối tượng nghiên cứu 9

5.2 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 10

6.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 10

6.3 Phương pháp quan sát 10

6.4 Phương pháp thống kê toán học 11

7 Cấu trúc của đề tài 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU, HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM ( CHƯƠNG 2 LỚP 6, THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC VĂN LANG – ÂU LẠC ) CHO HỌC SINH THCS THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

Trang 6

1.1.1 Khái quát về Bảo tàng và tư liệu, hiện vật bảo tàng nói chung 12 1.1.2 Khái quát về tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương 19 1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang - Âu lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 22 1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 28 1.2 Cơ sở thực tiễn 33 1.2.1 Thực tiễn dạy học lịch sử nói chung 33 1.2.2 Thực tiễn sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử

ở trường phổ thông hiện nay 34 1.2.3 Điều tra, khảo sát thực trạng việc dạy học sử dụng tư liệu, hiện vật bảo tàng tại các trường THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 35 1.2.4 Kết quả điều tra khảo sát về thực trạng việc dạy học sử dụng tư liệu, hiện vật bảo tàng tại các trường THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 36 1.2.5 Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử 51 Tiểu kết chương 1 52 CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU, HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM( CHƯƠNG 2 LỚP 6, THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC VĂN LANG – ÂU LẠC) CHO HỌC SINH THCS THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ , TỈNH PHÚ THỌ 53 2.1 Vị trí, nội dung và mục tiêu của lịch sử Việt Nam chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc 53 2.1.1 Về vị trí, nội dung 53

Trang 7

2.1.2 Mục tiêu 55

2.2 Những kiến thức có thể khai thác được khi dạy ở bảo tàng Hùng Vương 56

2.3 Một số yêu cầu khi sử dụng tư liệu, hiện vật tại trong dạy học lịch sử 59 2.3.1 Công tác chuẩn bị của giáo viên phải chu đáo, cụ thể 59

2.3.2 Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh THCS 60

2.3.3 Phát huy được năng lực nhận thức độc lập sáng tạo của học sinh dù đó là bài học ngoại khóa 61

2.4 Hình thức, biện pháp sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam(chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 62

2.4.1 Sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học nội khóa 62

2.4.2 Sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học ngoại khóa 69

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75

3.1 Mục đích của thực nghiệm 75

3.2 Nội dung của thực nghiệm 75

3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 92

3.3.1 Yêu cầu chung khi tiến hành thực nghiệm 92

3.3.2 Phương pháp tiến hành 92

3.4 Tổ chức tiến hành thực nghiệm: 92

3.5 Kết quả 93

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển cho học sinh 26

Bảng 1.2 Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát giáo viên: 36

Bảng 1.2.1 Đánh giá vị trí,chất lượng dạy học bộ môn lịch sử 42

Bảng 1.2.2 Mức độ cần thiết của sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử 43

Bảng 1.3 Kết quả điều tra học sinh 44

Bảng 1.3.1 Điều tra hứng thú học tập môn lịch sử của HS 47

Bảng 3.1.Kết quả thực nghiệm sư phạm 94

Bảng 3.2 Kết quả tính phần trăm 94 Bảng 3.3 So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp thực nghiệmvà lớp đối chứng 95

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trên con đường hội nhập quốc tế, Đảng và nhà nước ta đặc biệt coi trọng yếu tố con người Con người vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội” Trọng tâm là

“đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phấn đấu trong những năm tới tạo ra chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo làm cho giáo dục đào tạo thật sự là quốc sách hàng đầu, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân, là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội, yêu cầu của hội nhập

quốc tế trong kỉ nguyên toàn cầu hóa”

Điều 2: Mục tiêu giáo dục, luật giáo dục sửa đổi năm 2018 ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cuộc cách mạng khoa học công nghệ như một luồng gió mới thổi vào làm lay động nhiều lĩnh vực trong cuộc sống Hơn bao giờ hết con người đang đứng trước những diễn biến thay đổi to lớn, phức tạp về lịch sử xã hội và khoa học- kĩ thuật Nhiều mối quan hệ mâu thuẫn của thời đại cần được giải quyết trong đó có mâu thuẫn của ngành giáo dục- đào tạo nói chung và giáo viên nói riêng phải giải quyết đó chính là

Trang 11

mâu thuẫn giữa quan hệ sức ép của khối lượng tri thức ngày càng tăng và sự tiếp nhận của con người có giới hạn, bởi vì sự nhận thức của con người nói chung là tuyệt đối và không có giới hạn song sự thu nhận, hiểu biết của con người đều hữu hạn và tương đối

Từ những nhiệm vụ, mục tiêu và yêu cầu trên đặt ra cho ngành giáo dục nói chung và người giáo viên nói riêng bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn phải cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục cho phù hợp với tình hình và điều kiện lịch sử đó là đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh, dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông cũng không nằm ngoài mục tiêu đó

Như chúng ta đã biết, môn lịch sử có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên và từ đó xác định nhiệm vụ trong hiện tại, có thái độ đúng đắn với sự phát triển hợp quy

luật của tương lai Trong cuốn sách ”Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông, tập 1” của Phan Ngọc Liên, tác giả đã chỉ rõ mục tiêu của bộ môn

lịch sử ở trường phổ thông là: “Cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về sự phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người, rèn luyện kĩ năng tư duy, thực hành qua học tập bộ môn Trên cơ sở đó, giáo dục thái độ, tình cảm đúng với các sự kiện, nhân vật lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Thực hiện một cách hoàn chinh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, góp phần nâng cao sự hiểu biết của học sinh trong nhận thức lịch sử và năng lực tư duy, thực hành, đạt yêu cầu, mức độ chương trình cấp học”

Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử nói riêng là một yêu cầu cấp thiết Thực tế cho thấy trong những năm qua ở trường phổ thông chưa được thực hiện đồng bộ ở từng vùng miền, từng địa phương, từng trường học, chủ yếu là dựa vào sách giáo khoa, ít

Trang 12

tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan còn thiếu, phụ huynh và học sinh chưa thực sự quan tâm tới bộ môn lịch sử chính vì vậy chất lượng bộ môn lịch sử còn thấp

Có thể khẳng định, con đường nhận thức ngắn nhất là con đường “Đi từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng” Hiện nay các nhà giáo dục lịch sử qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rất nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, trong đó đặc biệt chú ý đến việc khai thác yếu tố bảo tàng trong dạy hoc lịch sử ở trường phổ thông Những tư liệu, hiện vật có trong bảo tàng lịch sử cách mạng, nhà truyền thống là những dấu tích còn lại của quá khứ,

nó là nguồn kiến thức phản ánh chân thực nhất, khách quan nhất sự tồn tại của lịch sử dân tộc, đồng thời có tác dụng to lớn trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh, củng cố niềm tin và bồi đắp tình yêu quê hương đất nước Đặc biệt trong hướng dạy học mới hiện nay “Hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”, yêu cầu người giáo viên phải biết tạo điều kiện cho học sinh

tự tìm tòi, khai thác kiến thức Chính vì vậy mà các “tư liệu, hiện vật ở bảo tàng” trở thành một nhân tố khá quan trọng trong hoạt động dạy học, vì nó vừa

là phương tiện giúp học sinh khai thác kiến thức, vừa là nguồn tri thức đa dạng phong phú mà học sinh rất dễ tìm hiểu và nắm bắt

Chúng ta cũng biết, Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 2 khoá VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư tưởng sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy- học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh…”

Qua nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tôi nhận thấy rằng đây là một vấn đề bổ ích về lý luận và thực tiễn Nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng bộ môn bởi vì đối tượng là học sinh THCS thì về mặt thể chất cũng như tinh thần, sự nhận thức, năng lực tư duy… của các em

đã phát triển ở mức độ cao hơn các em ở bậc tiểu học Nếu được khơi dậy đúng mức tính tích cực, sự chủ động trong học tập cũng như các hoạt động khác sẽ

Trang 13

giúp các em thu nhận được một lượng tri thức tốt nhất cho bản thân, là cơ sở

để các em có những kiến thức để giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống

Nếu thầy giáo chỉ làm chức năng truyền thụ kiến thức thì sẽ thực hiện phương châm “Thầy giáo làm trung tâm” học sinh sẽ thụ động tiếp nhận kiến thức, sẽ học thuộc lòng những gì thầy giáo giảng và cho ghi cũng như trong sách đã viết Đó chính là cách giảng dạy giáo điều biến giáo viên thành người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ động tiếp nhận những điều đã nghe, đã đọc mà có nhà giáo dục đã gọi đó là cách “Nhai kiến thức rồi mớm cho cho học sinh”

Việc cho các em tìm hiểu, quan sát những tư liệu, hiện vật có trong bảo tàng từ đó các em rút ra những nhận xét, tiếp thu tri thức, bồi dưỡng, rèn luyện

và học tập là con đường phát triển tối ưu trong dạy học lịch sử, đó chính là con đường lấy học sinh làm trung tâm, chủ thể của nhận thức với sự hướng dẫn, giáo dục tích cực, hiệu quả của giáo viên, được thực hiện trên cơ sở hoạt động tích cực tự giác của học sinh, nâng cao tính tích cực chủ động và tăng hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh

Nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và chương trình giáo dục đổi mới hiện nay, người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với hướng dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” Một trong những phương pháp đặc trưng của bộ môn lịch sử là phương pháp “Sử dụng tư liệu,hiện vật tại bảo tàng” trong giảng dạy môn lịch sử Hiện nay, hệ thống bảo tàng và nhà truyền thống được xây dựng, tu bổ nhiều và khá hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương với 113 bảo tàng cấp trung ương, 58 bảo tàng cấp thành phố và rất nhiều nhà truyền thống cấp quận huyện Trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có 2 bảo tàng Tuy nhiên việc sử dụng tư liệu hiện vật trong dạy học lịch sử ở các cấp học nói chung và trường THCS Việt Trì nói riêng vẫn chưa được sử dụng rộng dãi, phần lớn giáo viên đều dạy chay, các thiết bị đồ dùng trong dạy học lịch sử hầu như không có, phần lớn học sinh rất ngại học và ghi

Trang 14

nhớ các sự kiện lịch sử, thời gian của các em chủ yếu là giành để học những môn quan trọng như toán, văn, anh,… mà xem nhẹ việc học môn lịch sử, coi lịch sử là môn phụ Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả học tập môn Lịch

sử, làm cho các em HS có hứng thú với học tập Lịch sử nhất là lịch sử dân tộc,

qua tìm hiểu và đọc các nguồn tư liệu, tôi chọn đề tài “Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp

6, nhà nước Văn Lang- Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Bài học lịch sử không chỉ tiến hành ở trên lớp mà còn được tiến hành tại nhà bảo tàng, di tích lịch sử, nhà truyền thống địa phương, nơi xảy ra sự kiện

Vì vậy việc khai thác các nguồn tư liệu, hiện vật tại bảo tàng có ý nghĩa đặc biệt đối với việc giảng dạy của giáo viên và việc tiếp nhận kiến thức của học sinh Vấn đề sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là một vấn đề được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến, với những công trình sau:

* Tài liệu nước ngoài:

UNESCO đã tổ chức một số hội thảo và công bố nhiều tài liệu về việc

sử dụng tài liệu về bảo tàng trong dạy học lịch sử và giáo dục thế hệ trẻ Đặc biệt và ở Liên Xô trước đây, việc nghiên cứu vấn đề sử dụng bảo tàng để dạy

học lịch sử và giáo dục học sinh đạt được nhiều thành tựu

T A Cudrinoi viết tác phẩm “Bảo tàng và trường Phổ thông”

(Matxcova – NXB Giáo dục – 1985) đã nêu rõ lịch sử phát triển của ngành bảo tàng nói chung, chức năng của bảo tàng Xô Viết nói riêng và tính giai cấp của chúng Đặc biệt tác giả nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của bảo tàng đối với học

sinh và nêu rõ một số phương pháp sử dụng bảo tàng trong dạy học

Tymothy Abrose và Crispi Paine, trong Cơ sở Bảo tàng, tác giả đã khẳng

định ý nghĩa giáo dục của Bảo tàng đối với học sinh, đề xuất một số hình thức

Trang 15

giáo dục tại bảo tàng, đưa ra một số giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa bảo tàng với nhà trường để khai thác và sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung

Tiến sĩ N.G Đai-ri, nhà giáo dục lịch sử Xô Viết với công trình “Chuẩn

bị giờ học lịch sử như thế nào?” Đai-ri đã đề cấp đến tính cụ thể, tính hình ảnh

của sự kiện trong việc giúp học sinh hình dung lại quá khứ Theo Đai-ri, việc

tổ chức công tác nghiên cứu thực tế, nghiên cứu tại những nơi xảy ra sự kiện lịch sử, bảo tàng, di tích là “một trong những điều kiện có của hoạt động dạy

và học để hình thành tư duy độc lập và tính tự lập của học sinh”

A.E.Xaynhenki trong cuốn “Bảo tàng giáo dục thế hệ trẻ” (Matxcova-

NXB Giáo dục – 1988) đã nhấn mạnh đến phương pháp sử dụng tư liệu của bảo tàng trong giờ học nội khóa, ngoại khóa và vai trò của giáo viên đối với việc sử dụng bảo tàng

* Tài liệu trong nước:

Ở trong nước việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử cũng đã được

đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu

Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của GS Phan Ngọc Liên,

Trần Văn Trị đã đề cập đến loại bài học thực địa và trong nhà bảo tàng, nêu lên yêu cầu, phương pháp tiến hành các loại bài học này

Công trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do nhóm tác giả Phan Ngọc

Liên (Chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng (xuất bản năm 2002) đã đề cập đến vấn đề tổ chức tham quan học tập ở bảo tàng, di tích lịch sử: “Tổ chức tham quan học tập ở bảo tàng, di tích lịch sử phải tổ chức chặt chẽ, theo đúng chương trình quy định, tránh việc làm tùy tiện, không có kế hoạch Đối với hình thức này, nội dung chủ yếu của buổi tham quan là nhằm củng cố kiến thức đã học hoặc chuẩn bị việc học bài mới”

Trong cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” PGS.TS Nguyễn Thị Côi đã đề cập khá toàn diện mối quan hệ giữa

bảo tàng lịch sử, cách mạng đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Vị trí và vai trò của bảo tàng trong dạy học lịch sử, cũng như giới thiệu khá đầy

Trang 16

đủ về nội dung trưng bày của một số bảo tàng và cách khai thác hiện vật như thế nào để đạt được hiệu quả

Tác giả Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) trong “Bài học lịch sử ở trường THPT” – (Đại học Huế, 1996) cho rằng: “Bài học nội khóa không chỉ tiến hành

ở trên lớp mà còn được tiến hành tại nơi xảy ra sự kiện, hay nhà bảo tàng, bài học đó có mối liên hệ mật thiết với toàn bộ các bài lịch sử khác” Nó là một mắt xích liên hệ chặt chẽ với các bài nội khóa khác”

Vấn đề sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng lịch sử trong dạy học lịch

sử ở trường phổ thông còn được đề cập nhiều trong các tạp chí nghiên cứu giáo

dục như tạp chí nghiên cứu giáo dục tháng 12/1996, “bảo tàng với việc dạy học

ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Văn Phong

Vấn đề này cũng được một số đề tài luận văn Thạc sĩ, Luận văn của sinh viên khoa lịch sử nói đến Năm học 1996- 1997, sinh viên Nguyễn Thị Châm thực hiện đề tài “Khai thác, sử dụng bảo tàng Quân đội để dạy, học chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946 – 1975 trong sách giáo khoa lớp 12 THPT( Không chuyên ban)” Khóa luận này đã đề cập đễn những vấn đề lý luận cơ bản của việc sử dụng tư liệu, hiện vật ở bảo tàng nói chung, bảo tàng Quân đội nói riêng trong dạy học lịch sử

Năm 1996, Nguyễn Văn Phong trong luận văn sau đại học chuyên ngành

phương pháp dạy học Lịch sử với đề tài: “Bảo tàng lịch sử, cách mạng đối với việc dạy học lịch sử (dân tộc và địa phương) ở trường THPT” đã có những

đóng góp bước đầu về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bảo tàng lịch

sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Luận văn đã đưa ra một số hình thức và yêu cầu khi sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu và đề cập có hệ thống về mối quan hệ giữa bảo tàng và bộ môn lịch sử ở trường phổ thông

Năm 1997, Trần Thị Nhị - cán bộ của bảo tàng Cách mạng Việt Nam

trong luận văn sau đại học chuyên ngành Văn hóa học với đề tài “Bảo tàng cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịch sử ở trường THPT”, tác giả cũng

Trang 17

đưa ra một số yêu cầu và một số hình thức sử dụng bảo tàng cách mạng Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa bảo tàng với bộ môn lịch sử ở trường phổ thông

Năm 2019, Trần Thị Thanh Huyền, sinh viên khoa lịch sử trường Đại

học Sư phạm Hà Nội với đề tài: “Sử dụng bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1945 – 1975) cho học sinh THPT ở trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội” cũng đã nêu lên vai trò của bảo tàng lịch sử trong

dạy học Lịch sử Việt Nam, bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số yêu cầu, hình thức dạy học sử dụng bảo tàng để phát huy năng lực nhận thức độc lập sáng tạo cho học sinh dù đó là bài học nội hay ngoại khóa

Trên đây là một số công trình nghiên cứu, luận văn đã nghiên cứu về vấn

đề sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung Dù các đề tài trên đề cập ở mức độ khác nhau nhưng nhìn chung các công trình giáo dục trong và ngoài nước là những gợi mở quý báu để tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam( Chương 2 lớp 6, nhà nước Văn Lang- Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài nghiên cứu về việc sử dụng các phương pháp dạy học sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực, tư duy độc lập nhận thức ở học sinh Chủ yếu nghiên cứu, xây dựng các

bài học trong chương trình SGK Lịch sử lớp 6

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Giá trị thực tiễn của đề tài trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập Xây dựng một số bài học trong chương trình Lịch sử lớp 6 ở trường THCS Các bài học có áp dụng các phương pháp sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng sẽ giúp học sinh có hứng thú hơn trong quá trình dạy học, đồng thời giúp các em ghi nhớ lâu hơn và hiểu sâu hơn kiến thức một cách dễ dàng

Trang 18

hơn Từ đó nâng cao hiệu quả bài học lịch sử và hình thành ở các em tình yêu đối với bộ môn lịch sử

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của việc khai thác tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử nói chung và việc đi sâu khai thác tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử cho học sinh lớp 6 các trường THCS thành phố Việt Trì

Vận dụng vào dạy học lớp 6 chương 2: Thời đại dựng nước Văn Lang –

Âu Lạc cụ thể là các bài 10, 13, 14 SGK Lịch sử 6

Góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú, giúp các

em ghi nhớ sâu hơn kiến thức được học

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm đọc để hiểu được tầm quan trọng, vị trí, ý nghĩa, các phương pháp

và yêu cầu khi khai thác các tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch

sử

Tìm hiểu nội dung trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học nội khóa trên lớp và dạy học ngoại khóa ( chương 2: Thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc)

Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học nội khóa trên lớp và ngoại khóa tại bảo tàng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm nội dung chương trình dạy học Lịch sử lớp 6 và thực trạng đổi

mới phương pháp dạy học

Những hình thức, phương pháp sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử Việt Nam theo hướng phát triển tính tích cực trong độc lập nhận thức của học sinh nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

Trang 19

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này giới hạn ở việc trình bày về những khả năng, điều kiện sử dụng những tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương (Khu di tích Lịch sử đền Hùng) trong dạy học lịch sử Việt Nam ở các trường THCS thành phố Việt Trì Cụ thể là đi sâu tìm hiểu các hình thức, biện pháp sử dụng các tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 6

chương 2: Thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc

Phạm vi không gian: Các trường THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Các bài báo cáo, các đề tài khoa học, các bài viết trên tạp chí, các sách

có liên quan đến đề tài để hiểu rõ những vấn đề nghiên cứu

Những nguồn tài liệu gồm sách báo, các bài báo cáo khoa học, một số đề tài nghiên cứu, các trang web cung cấp thông tin Để đề tài đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm trong quá trình thu thập tài liệu phải đặc biệt chú ý đến nội dung chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 6

6.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Tìm hiểu thực trạng sử dụng tư liệu, hiện vật trong dạy học lịch sử của

GV và HS ở các trường THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay bằng cách tiến hành khảo sát, điều tra thực tế ở một số trường THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Thông qua việc điều tra, trao đổi ý kiến với giáo viên, học sinh, thông qua dự giờ nhằm hiểu rõ được thực trạng dạy và học ứng dụng các hình thức, phương pháp sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy – học môn lịch sử lớp 6 để thu thập tài liệu và thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài

6.3 Phương pháp quan sát

Dự giờ một số tiết học lich sử lớp 6 có áp dụng một số phương pháp sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng trong dạy học, quan sát thái độ của học sinh

Trang 20

trước và sau giờ, tiến hành quan sát một cách đầy đặn và ghi chép rõ ràng, chính

xác những thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Nhằm thu được thông tin, những tài liệu cho quá trình nghiên cứu xây dựng một số phương pháp sử dụng tư liệu, hiện vật trong dạy học lịch sử Việt Nam nhằm phát huy năng lực tư duy độc lập cho học sinh lớp 6 bậc THCS

6.4 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý, thống kê, phân tích số liệu thu được trong quá trình điều tra, thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp mà

đề tài đưa ra

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu, hiên vật

tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học Lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt

Trì, tỉnh Phú Thọ

Chương 2: Hình thức, biện pháp sử dụng tư liệu, hiên vật tại bảo tàng

Hùng Vương trong dạy học Lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6, thời đại dựng

nước Văn Lang – Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phốViệt Trì, tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tư liệu,

hiên vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học Lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6,thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phốViệt Trì, tỉnh Phú Thọ

Trang 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

TƯ LIỆU, HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM ( CHƯƠNG 2 LỚP 6, THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC VĂN LANG – ÂU LẠC ) CHO HỌC SINH THCS THÀNH PHỐ

VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái quát về Bảo tàng và tư liệu, hiện vật bảo tàng nói chung

1.1.1.1 Khái niệm “Bảo tàng”

Thuật ngữ “Bảo tàng” xuất hiện từ rất sớm, theo ngôn ngữ Hi Lạp thì bảo tàng là “Museion” có nghĩa là bộ sưu tập, theo Trung Quốc và Nhật Bản thì gọi là “Bảo vật quán” thay cho “Bảo tàng” Dưới thời Alechxangdri của đế quốc Roma cổ đại, trong quá trình tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược và các hoạt động tôn giáo, họ đã cướp bóc, thu thập những bảo vật quý hiếm, các tác phẩm nghệ thuật có giá trị đem về trưng bày ở nước mình, coi đó là nơi lưu giữ lại những chiến tich, những công trình mà họ đã làm được mà gọi đó là

“Bảo tàng”

Xung quanh thuật ngữ về Bảo tàng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:

Theo Wikipedia.org: “Bảo tàng” ( Viện bảo tàng, nhà bảo tàng) là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ

Tổ chức ICOM( Hội đồng bảo tàng quốc tế) vào năm 1996 đưa khái nệm:

“Bảo tàng là thiết chế tồn tại lâu dài, không vụ lợi nhằm phục vụ cho xã hội,

mở cửa phục vụ công chúng tiến hành nghiên cứu liên quan đến di sản của con người và môi trường xung quanh”

Ở các nước Đông Âu: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tiến hành nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày những tài liệu hiện vật gốc tiêu biểu của, lịch sử, tự nhiên và xã hội, phù hợp với nội dung và loại hình

Trang 22

bảo tàng Bảo tàng dành phục vụ công chúng vì mục đích nghiên cứu và sưu tầm

Trong Di sản văn hóa ở nước ta, ban hành năm 2002 ghi rõ: “Bảo tàng

là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử, tự nhiên, xã hội nhằm phục

vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân” [22,42]

Trong Bách khoa toàn thư: “Bảo tàng là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó Mục đích của bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ” [30,151]

Theo nghĩa rộng: “Bảo tàng là cơ quan sưu tầm, giám định trưng bày các tài liệu hiện vật, có tính chất nguyên gốc, đầu tiên của tri thức về sự phát triển của xã hội và tự nhiên, về lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng” [9,8]

Hiện nay bảo tàng được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, nó phản ánh chặng đường phát triển của dân tộc hay truyền thống của một địa phương, một ngành nào đó Bảo tàng thể hiện bức tranh sinh động, chân thực về cuộc sống lao động, sự hi sinh chiến đấu của các thế hệ cha ông trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục của Nhà nước Nó

có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày nhằm phát huy tác dụng của những di tích lịch sử

Theo các nhà Bảo tàng học, Bảo tàng thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng nghiên cứu khoa học và chức năng giáo dục Hai chức năng này có mối quan hệ biện chứng, thực hiện tốt hai chức năng này thì bảo tàng mới đáp ứng được nhiệm vụ do xã hội đặt ra

Trước hết là chức năng nghiên cứu khoa học Mọi hoạt động trong nghiên cứu khoa học của bảng tàng đều xoay quanh việc tìm hiểu các hiện tượng gốc phù hợp với loại hình trưng bày của bảo tàng Đó là trọng tâm, là cơ sở của mọi công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng

Trang 23

Thứ hai là chức năng giáo dục của bảo tàng: Những tài liệu hiện vật có thật bao giờ cũng là nguồn tài liệu chính xác nhất phản ánh chân thực nhất bức tranh của quá khứ, tạo niềm tin đánh thức khả năng của học sinh và nó có tính giáo dục cao

* Phân loại bảo tàng: Tùy theo nội dung, chức năng mà bảo tàng được

phân chia thành sáu loại theo GS.TS Nguyễn Thị Côi trong “Bảo tàng Lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”:

Một là, các bảo tàng lịch sử trưng bày những hiện vật phản ánh đời sống

vật chất tinh thần của con người Việt Nam từ khi hình thành đến nay

Hai là, các bảo tàng nghệ thuật nhằm sưu tầm, bảo quản,nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật của những triều đại khác nhau vào mục đích khoa học và giáo dục thẩm mĩ cho quần chúng

Ba là, các bảo tàng chuyên ngành nhằm sưu tầm, bảo quản nghiên cứu

các hiện vật gốc của một số ngành khoa học nhất định để nói ln sự phát triển phục vụ cho công tác khoa học của chính bản thân ngành đó và nhân dân

Bốn là, các bảo tàng lịch sử tự nhiên như bảo tàng động vật học, thực vật

học, hải dương học,…

Năm là, các Bảo tàng lưu niệm nhằm lưu giữ trong quần chúng nhân dân

những sự kiện những nhân vật lịch sử lớn, quan trọng trên mọi mặt đời sống xã hội chính trị, quân sự,văn học,nghệ thuật, …

Sáu là, các bảo tàng địa phương cũng là cơ quan thực hiện các chức năng

nghiên cứu khoa học và giáo dục ở mức độ nhất định, chủ yếu là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất tinh thần cũng như tự nhiên ở địa phương đó

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đến tháng 12-2016,

cả nước có 154 bảo tàng, gồm: 123 bảo tàng công lập (4 bảo tàng quốc gia; 10 bảo tàng chuyên ngành trực thuộc bộ, ngành và tương đương; 26 bảo tàng chuyên ngành thuộc đợn vị trực thuộc bộ, ngành và tương đương; 83 bảo tàng cấp tỉnh) và 31 bảo tàng ngoài công lập Các bảo tàng nước ta bảo quản gần

Trang 24

3.000.000 hiện vật Ở đây chưa bàn đến số lượng hiện vật như đã nêu là nhiều hay ít, nhưng có một điều chắc chắn rằng có không ít hiện vật trong số đó, tuy được gọi là hiện vật bảo tàng, được bảo quản trong kho, nhưng còn thiếu rất nhiều tiêu chí, nhất là đối với hiện vật thuộc các bảo tàng ngoài công lập

Hiện trạng này có thể được giải thích bởi nhiều nguyên nhân: Lịch sử bảo tàng Việt Nam còn khá non trẻ, có một thời kỳ dài, nhiều hiện vật được đưa ồ ạt về bảo tàng từ các cuộc triển lãm nhất thời, rất ít thông tin hoặc không

có thông tin kèm theo hiện vật Các hiện vật do bảo tàng trực tiếp tổ chức sưu tầm hoặc tiếp nhận từ việc hiến, tặng của các tổ chức, cá nhân, cũng chưa tuân thủ đày đủ các quy trình trong nghiên cứu, xác minh hiện vật, dẫn tới việc thiếu thông tin về hiện vật, không thể sử dụng được trong nghiên cứu và phát huy giá trị, hoặc là số lượng hiện vật tuy là nhiều, nhưng khi cần để trưng bày thì rất khó khăn vì thiếu sự hiểu biết cần thiết về hiện vật…

1.1.1.2 Khái niệm “Hiện vật bảo tàng”

Khái niệm về hiện vật bảo tàng tuy không phải là mới, nhưng vẫn đang

là vấn đề thời sự trong hoạt động của các bảo tàng nước ta và là một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bảo tàng Trên thực tế, tuy có khá nhiều định nghĩa về hiện vật bảo tàng nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng, hiện vật bảo tàng là bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, có giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, được bảo tàng sưu tầm, nghiên cứu, xác minh, hoàn thiện hồ sơ khoa học và hồ sơ pháp lý cho hiện vật

Hiện vật bảo tàng là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều loại hình, chất liệu và hình thức: hiện vật thể khối, tài liệu chữ viết, tác phẩm nghệ thuật, phim ảnh và băng ghi âm…

Hiện vật là ngôn ngữ của bảo tàng, là cơ sở cho mọi hoạt động của bảo tàng, không có hiện vật thì không có bảo tàng, không có trưng bày bảo tàng và các hoạt động khác của bảo tàng Hiện vật vừa là trung tâm, vừa là điểm xuất phát của bảo tàng Vì vậy, để có hiện vật phù hợp với loại hình và yêu cầu cụ

Trang 25

thể thì bảo tàng phải tiến hành công tác sưu tầm, tức là phải sử dụng tổng hợp tất cả các biện pháp để có được hiện vật, thông qua nhiều phương thức: khảo sát; điền dã; tổ chức các chuyến đi công tác; khai quật khảo cổ; tiếp nhận hiện vật hiến tặng từ các tổ chức, cá nhân; mua, trao đổi hiện vật…

Công tác sưu tầm là hoạt động thường xuyên, liên tục, không bao giờ ngừng cùng với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của bảo tàng, là công việc khoa học cực kỳ quan trọng, nhằm xây dựng và làm giàu kho hiện vật bảo tàng Trong giai đoạn đầu chuẩn bị xây dựng trưng bày, nhiệm vụ trọng tâm của công tác sưu tầm là đáp ứng yêu cầu hiện vật cho trưng bày bảo tàng Sau khi trưng bày mở cửa, nhiệm vụ trọng tâm của công tác sưu tầm là xây dựng vốn hiện vật cho kho bảo quản

Hiện vật bảo tàng càng phong phú, càng phù hợp với loại hình bảo tàng, càng được nghiên cứu, xác định khoa học một cách toàn diện, đầy đủ, cụ thể,

kỹ lưỡng, chính xác bao nhiêu thì càng có điều kiện để rộng đường lựa chọn hiện vật phục vụ cho xây dựng trưng bày, đổi mới trưng bày, tổ chức triển lãm chuyên đề, triển lãm lưu động, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tuyên truyền-giáo dục, xuất bản… ở trong và ngoài bảo tàng Trong thời đại của chúng ta, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, có thể cho phép sử dụng nhiều thành tựu hiện đại trong trưng bày bảo tàng; nhưng dù thế nào đi chăng nữa, điều đó vẫn không thể thay thế cho hiện vật Ở các bảo tàng

có trình độ khoa học cao, có truyền thống lâu năm, hiện vật đưa ra trưng bày, thông thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số hiện vật có trong kho

Trong nhiều trường hợp, khi đánh giá về một bảo tàng, người ta dựa trên

cơ sở đánh giá số lượng và chất lượng kho hiện vật làm một trong những tiêu chí quan trọng

Hiện vật bảo tàng là tài sản quốc gia Kho hiện vật của mỗi bảo tàng là một bộ phận hợp thành kho tàng di sản văn hóa quốc gia

Từ nhận thức về hiện vật bảo tàng như đã nêu trên, chúng ta có thể nhận diện một số nội dung chính như sau:

Trang 26

Một là, hiện vật bảo tàng, trước hết phải là hiện vật gốc, được lấy ra từ

cuộc sống của tự nhiên và xã hội, là bằng chứng xác thực, khách quan về một hiện tượng, một sự kiện nhất định của tự nhiên và xã hội, sống trong một không gian và thời gian nhất định, không thể làm lại, không thể tự sáng tạo ra theo ý chí chủ quan của con người Mỗi hiện vật là một nhân chứng, một câu chuyện

về một sự kiện, một hiện tượng của tự nhiên hoặc xã hội

Hai là, hiện vật bảo tàng phải là hiện vật gốc, nhưng không phải bất cứ

hiện vật gốc nào được lấy ra từ tự nhiên hoặc xã hội, được đưa về bảo tàng cũng đều trở thành hiện vật bảo tàng, mà chỉ có các hiện vật được chọn lọc kỹ lưỡng,

có giá trị về nhiều mặt, hay một mặt về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ - thuộc tính vốn có của hiện vật, tồn tại một cách khách quan và được làm sáng

tỏ từng bước trong quá trình nghiên cứu, xác minh hiện vật

Khi nói đến hiện vật bảo tàng, thì điều đó có nghĩa là phải nói tới cả 3 yếu tố hợp thành, có quan hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất: Bản thân hiện vật - bằng chứng vật chất về sự kiện, hiện tượng nhất định của tự nhiên hoặc xã hội; các thông tin cần thiết liên quan tới hiện vật - hình thành hồ

sơ khoa học về hiện vật, theo những yêu cầu, nguyên tắc, tiêu chí, phương pháp của bảo tàng học, quy định chung của luật pháp Việt Nam về di sản văn hóa, tính chất, đặc điểm loại hình của từng bảo tàng cụ thể và hồ sơ pháp lý về hiện vật - sự khẳng định và đảm bảo về mặt luật pháp đối với hiện vật bảo tàng trong việc quản lý, nghiên cứu, bảo vệ, bảo quản, khai thác, sử dụng, phát huy giá trị, theo những quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế

Không có các thông tin về hiện vật được xác minh một cách khoa học, theo những tiêu chí và phương pháp nhất định, hình thành hồ sơ khoa học về hiện vật, thì nhiều khi hiện vật sẽ trở nên vô nghĩa, không thể sử dụng, phát huy giá trị trong công tác nghiên cứu khoa học, tuyên truyền - giáo dục khoa học,

có thể dẫn đến những những nhận định, kết luận không chính xác về mặt khoa học và nhận thức không đúng của khách tham quan bảo tàng, làm giảm lòng tin của công chúng đối với bảo tàng Thực tế trong hoạt động của bảo tàng Việt

Trang 27

Nam những năm qua đã có không ít dẫn chứng về vấn đề này Cùng từ một tài liệu, hiện vật được nhân sao, làm lại để trưng bày ở các bảo tàng khác nhau, nhưng việc thuyết minh, giải thích lại không thống nhất, mỗi nơi nói một cách, làm cho người thăm thắc mắc, nghi ngờ, hoặc là khi khách tham quan muốn tìm hiểu sâu về hiện vật thì không trả lời được Điều đó chứng tỏ rằng thiếu sự nghiên cứu, xác minh, hiểu sâu các thông tin về hiện vật

Hiện trạng này có thể được giải thích bởi nhiều nguyên nhân: Lịch sử bảo tàng Việt Nam còn khá non trẻ, có một thời kỳ dài, nhiều hiện vật được đưa ồ ạt về bảo tàng từ các cuộc triển lãm nhất thời, rất ít thông tin hoặc không

có thông tin kèm theo hiện vật Các hiện vật do bảo tàng trực tiếp tổ chức sưu tầm hoặc tiếp nhận từ việc hiến, tặng của các tổ chức, cá nhân, cũng chưa tuân thủ đày đủ các quy trình trong nghiên cứu, xác minh hiện vật, dẫn tới việc thiếu thông tin về hiện vật, không thể sử dụng được trong nghiên cứu và phát huy giá trị, hoặc là số lượng hiện vật tuy là nhiều, nhưng khi cần để trưng bày thì rất khó khăn vì thiếu sự hiểu biết cần thiết về hiện vật…

Ba là, sưu tầm; kiểm kê; nghiên cứu xác định khoa học hiện vật và bảo

quản là các khâu công tác quan trọng, có quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động bảo tàng, khâu trước là tiền đề của khâu sau; khâu sau là kệ quả của khâu trước Vì lẽ đó mà ở một số bảo tàng, trong cơ cấu tổ chức, người ta lập ra bộ phận gọi chung là “Bộ phận kho”, thực hiện liên hoàn, hệ thống các nhiệm vụ sưu tầm; kiểm kê, nghiên cứu, xác định khoa học hiện vật và bảo quản hiện vật

Công tác nghiên cứu, xác minh, hình thành hồ sơ khoa học và hồ sơ pháp

lý cho hiện vật phải là công việc mang tính khoa học, đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, là công việc hàng ngày của cán bộ bảo tàng

Cùng với việc kiểm kê, nghiên cứu, xác định khoa học hiện vật, cần hết sức coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xác lập hệ thống dữ liệu, tra cứu, bảo quản hiện vật nhắm đáp ứng yêu cầu phục vụ các hoạt động của bảo tàng

Trang 28

Bốn là, hiện vật bảo tàng bao giờ cũng gắn với một bảo tàng cụ thể, phù

hợp với loại hình, chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng đó Có những hiện vật rất quý với bảo tàng này nhưng lại không phù hợp với bảo tàng khác Điều đó chỉ

ra rằng, việc sưu tầm hiện vật, xây dựng kho cơ sở của bảo tàng phải căn cứ vào loại hình bảo tàng, chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng

Năm là, khi hiện vật đã trở thành hiện vật bảo tàng thì hiện vật được bảo

quản trong kho của bảo tàng, trở thành di sản văn hóa, là tài sản quốc gia, được

sử dụng vì lợi ích của toàn xã hội, góp phần phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế

1.1.2 Khái quát về tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương

1.1.2.1 Vị trí của bảo tàng Hùng Vương

Bảo tàng Hùng Vương thuộc hệ thống bảo tàng quốc gia được xây dựng

từ năm 1986 tại khu di tích đền Hùng với kinh phí đầu tư trên 1 tỷ đồng, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28-3-1993 (hiện cùng với khu di tích lịch sử Đền Hùng được chuyển về Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ quản lý), chứ không phải Bảo tàng Hùng Vương nằm trên đường Trần Phú thuộc phường Gia Cầm mà tiền thân là Bảo tàng tỉnh Phú Thọ, một đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Phú Thọ, được khởi công xây dựng ngày 1-1-2008 với tổng mức đầu tư trên 165 tỷ đồng và đưa vào sử dụng từ ngày 14-4-2010, đến ngày 6-12-2010 đã được đổi tên thành Bảo tàng Hùng Vương theo Quyết định số 4053/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ

Tọa lạc trên một quả đồi thuộc xã Hy Cương - thành phố Việt Trì, cách cổng đền Hùng chừng 100m, Bảo tàng “quốc gia” Hùng Vương là một kiến trúc có thiết kế 2 tầng với gần 1.000m² diện tích xây dựng, tuy hiện đại nhưng vẫn không thiếu tính dân tộc, vừa đường bệ lại vừa trang nhã, thanh thoát… Đây là công trình được thiết kế bởi Hội Kiến trúc sư Việt Nam dựa trên thế giới quan của người Việt cổ với quan niệm trời tròn - đất vuông Đứng từ đỉnh núi

Trang 29

Nghĩa Lĩnh nhìn xuống, Bảo tàng như một chiếc hộp vuông khổng lồ gợi liên tưởng đến sự tích bánh Chưng, bánh Dầy trong huyền sử dân tộc Việt

Năm 1993 Bảo tàng mở của đón khách thăm quan Vận dụng thủ pháp bảo tàng hiện đại kết hợp giải pháp kỹ - mỹ thuật trong nội dung trưng bày, Bảo tàng đã giới thiệu cách sinh động gần 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật sưu tập, 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác, tất cả được trưng bày tại 5 phòng chuyên đề chính, khắc họa và làm nổi bật chủ đề “Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”:

1.1.2.2 Nội dung trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương

Trong nỗ lực hướng người xem vào chiều sâu tư tưởng, giúp nhận định

rõ dung mạo con người Việt Nam qua quá khứ, hiện tại và tương lai, đồng thời phản ảnh mối tương quan hữu cơ giữa văn hóa Hùng Vương với nền văn minh sông Hồng, Bảo tàng Hùng Vương đã giới thiệu cả quá trình lịch sử dựng nước

và phát triển qua các giai đoạn, từ văn hóa Sơn Vi, Phùng Nguyên, Đồng Đậu,

Gò Mun, Đông Sơn với các mẫu động, thực vật, khoáng sản, đá Sơn Vi và chứng tích về hang Ngựa (Thu Cúc - Thanh Sơn) đến các hiện vật rìu có vai, rìu mài tứ diện, cuốc đá, đồ trang sức đá, bình gốm, bát gốm, những nha chương bằng đá, lao, tên, lưỡi câu… của con người thời nguyên thủy, các hiện vật thời dựng nước Văn Lang trong đó có 10 trống đồng tìm được trên đất Phong Châu,

có chiếc chỉ cách núi đền khoảng 500m…

Bảo tàng đã giới thiệu khái quát sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các vua Hùng thông qua các nội dung trung bầy với các chủ đề chính:

Một là đất nước con người thời nguyên thủy:

Từ Ba Vì đến Tam Đảo, từ vài vạn năm về trước trên nền tảng của những cao nguyên, bình nguyên vùng hồ đứt gãy thành những dòng sông cổ với những thềm phù xa cổ, đã có 3 miền núi non, đồi gò, đồng bãi với 3 dòng sông lớn, tụ hội quanh miền núi Hùng Những quần thể động vật, thực vật cổ, sống phủ khắp nơi này tạo môi trường sinh tụ cho người cổ Hươu, nai, lợn rừng… còn xương,

Trang 30

răng hóa thạch cổ ở Hang Ngựa (Thanh Sơn) có tuổi 4 vạn năm Văn hóa Sơn

Vi gồm hơn 100 địa điểm khảo cổ chứa đựng những công cụ đá cuội ghè giống những di vật tìm được đầu tiên ở đồi Sơn Vi (Lâm Thao) có tuổi 2 vạn năm, là chứng tích của những người nguyên thủy trên đất Phú Thọ xưa, để cho sau này,

có ngày các vua Hùng bắt đầu thời dựng nước…

Hai là bắt đầu thời dựng nước:

Giới thiệu 4 nghìn năm trước những hiện vật khảo cổ được chọn lọc từ các di chỉ theo giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn thế hệ cư dân cổ trên miền núi non đồi gò đồng bãi từ Ba Vì đến Tam Đảo

mà trung tâm là miền hội lưu của 3 dòng sông Hồng, Lô, Đà đã nhận những sáng tạo luyện kim đồng thau và nông nghiệp trồng lúa, đẩy kỹ thuật chế tác đã tới đỉnh cao, liên kết các nghề gốm, dệt, chài, săn… thực hiện một bước phát triển văn minh và xã hội đặc sắc trong suốt thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên Đó là thời kỳ trỗi dậy tại chỗ của một bộ lạc có tên cổ là Văn Lang mang nghĩa cổ là con người tập hợp quanh những thủ lĩnh cha truyền con nối được gọi là Hùng Nòng cốt của cuộc vận động dựng nước đầu tiên đã thành hình và để lại trong lòng đất vô vàn chứng tích mà những cuộc khai quật đã phát hiện và sắp xếp lại thành những văn hoá cổ có niên đại từ 4 đến 3 nghìn năm, mang tên của những địa danh: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun…

Ba là sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng:

Ở thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên – niên đại của những trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Miếu Môn, Hy Cương, của văn hóa Đông Sơn rực

rỡ có diện phân bố từ biên giới phía Bắc vào tới miền Trung đất nước bấy giờ bằng các hiện vật tiêu biểu ở Phú Thọ với các di tích Làng Cả Gò De,… Các thủ lĩnh Hùng, từ cương vị quân chủ bộ lạc Văn Lang, từ nền tảng kỹ thuật cuối hậu kỳ đá mới – sơ kỳ đồng thau, đã vượt lên mở rộng địa bàn và ảnh hưởng – đẩy mạnh sự phát triển văn minh và xã hội tới mức kỹ thuật đồng thau – sắt sớm, liên minh và áp phục 15 bộ lạc, trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, rồi quân chủ quốc gia Vua Hùng! Phú Thọ ở Thiên niên kỷ thứ I TCN từ chỗ là

Trang 31

bộ lạc Văn Lang đã trở thành địa bàn gốc của nước Văn Lang Một dân tộc – một nhà nước, một xã hội của phương thức sản xuất châu Á, một bản sắc dân tộc đều mang tên là Văn Lang: Con người! Đó là thành tựu công đức lớn lao từ một thời rất xa xưa: thời đại các vua Hùng dựng nước đầu tiên

Bốn là con cháu tưởng nhớ các Vua Hùng:

Giới thiệu về Di tích lịch sử Đền Hùng từ xưa đến nay và việc thờ cúng

tổ tiên trên vùng đất cổ Phong Châu, về sự quan tâm của Nhà nước phong kiến, của Đảng, Chính phủ, đặc biệt là sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đền Hùng Ngày nay, Đền Hùng đã và đang được tôn tạo, tu bổ, xây dựng xứng đáng là trung tâm văn hoá tâm linh của dân tộc Việt Nam

1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang - Âu lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 1.1.3.1 Xuất phát từ đặc trưng tâm lí của học sinh THCS đối với việc tiếp nhận thông tin khi sử dụng tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng để học tập lịch sử

Xuất phát theo đặc điểm tâm lý học nói chung, lứa tuổi học sinh THCS

từ 11 đến 15 tuổi đang có những thay đổi quan trọng về các mặt tâm sinh lý Lứa tuổi này chiếm một ví trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các

em Sự phát triển của các em thời kì này được phản ánh với các tên gọi khác nhau như: thời kì quá độ, tuổi khủng hoảng, tuổi bất trị,…Đây là thời kì quá độ trẻ từ trẻ em sang người lớn và giai đoạn này tạo nên sự phát triển đặc thù về mọi mặt: thể chất, trí lực, đạo đức, xã hội

Hoạt động học tập của học sinh THCS cũng mang những sắc thái mới,

có sự phân hóa sâu sắc hơn, điển hình hơn Đây chính là môi trường tạo ra những đặc điểm hoạt động trí tuệ khác về chất so với lứa tuổi tiểu học trước đó

Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh giai đoạn này là sự phát triển cảm giác, tri giác Tri giác có sự chủ định phát triển hơn, khối lượng tri giác tăng lên nhiều, các em có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác Tri giác có trình tự và hoàn thiện hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển năng

Trang 32

lực quan sát của học sinh Bên cạnh đó tri giác không chủ định vẫn phát triển nên các em dễ bị lôi cuốn bởi ấn tượng bên ngoài, dễ bị hấp dẫn bởi cái mới lạ

Vì vậy sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp là yếu tố quan trọng để phát triển cảm giác, tri giác ở học sinh, giúp cho sự phát triển về trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ cho học sinh Chính vì thế khi dạy học giáo viên cần chú ý thiết kế các phương pháp, dạy học kích thích tư duy, độc lập sáng tạo ở học sinh, cần tổ chức giảng dạy để tạo được tình huống khiến học sinh phải độc lập tư duy Giáo viên cần phát triển tư duy trìu tượng cho học sinh để làm cơ sở cho việc lĩnh hội khái niệm khoa học, rèn luyện cho các em cách trình bày logic, chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình

Hiện nay ngoài sách vở, bài giảng cuả thầy cô trên lớp, học sinh còn tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như sách báo, tạp chí, phim ảnh, các dư luận xã hội,… Do đó học sinh ngày nay biết nhiêu kiến thức cũng rộng hơn thế hệ cùng lứa tuổi trước đó Nhưng những nguồn thông tin các em thu được bên ngoài không hoàn toàn đúng, nó có thể sai Vì vậy các em cần phải được hướng dẫn phân biệt chỗ đúng, chỗ sai của nhận thức đó Cho nên, đối với học sinh THCS các tư liệu, hiện vật trưng bày trong Bảo tàng lịch sử có

ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy độc lập sáng tạo của học sinh Thông qua việc tiếp xúc với cáctấtdi tích hay các dấu vế còn lại của quá khứ, bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại thực cảu mỗi thời kì lịch sử, học sinh sẽ có những hình ảnh củ thể, chân thực về quá khứ và từ đó các em sẽ có những tư duy, nhận thức đúng đắn về lịch sử Nhưng để nhận thức đúng về những hiện vật trưng bày trong bảo tàng không phải là chuyện dễ dàng, vì những hiện vật đó đã tách khỏi hiện thực lịch sử của thời đại đã sinh ra nó, nó chỉ là những “dấu vết” của quá khứ là một mảnh nhỏ còn lại của quá khứ chứ không phải là quá khứ Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện vật lịch sử trưng bày ở bảo tàng, học sinh phải phát huy được óc tưởng tưởng sáng tạo, tư duy lịch sử để hình dung đời sống hiện thực của quá khứ lịch sử, với tất cả sự muôn màu muôn vẻ của nó, nhưng ngày nay đã không còn nữa

Trang 33

Khi tiếp xúc với những tư liệu hiện vật trong bảo tàng, học sinh THCS không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức sự vật ở những biểu hiện bên ngoài mà năng lực tư duy của các em còn cho phép tìm hiểu về bản chất bên trong, cũng như các mối quan hệ của các hiện vật và đặt chúng trong mỗi quan hệ đó

1.1.3.2 Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn lịch sử

Bộ môn lịch sử có những đặc trưng riêng so với các bộ môn văn hóa khác Nói đến lịch sử là nó đến những gì sảy ra trong quá khứ (các sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử) không bao giờ lặp lại cũng không thể mô hình hóa lại trong phòng thí nghiệm đúng như nó tồn tại Đặc điểm của tri thức lịch sử đã chi phối nhận thức lịch sử Mặc dù hiện tượng khách quan đó có tồn tại độc lập ngoài ý muốn của con người hoàn toàn nhận thức được hiện tượng khách quan

ấy mặc dù cần sự cố gắng tích cực trong nhận thức Nhiệm vụ của người giảng dạy lịch sử là làm thế nào để học sinh dễ dàng tưởng tượng hình dung lại những

sự kiện hiện tượng đúng như nó đã từng tồn tại Đây không phải là một yêu cầu

dễ đối với giáo viên lịch sử Mặt khác học lịch sử không thể dừng lại ở việc học sinh nắm các kiến thức một cách chung chung hay điểm qua một vài sự kiện chính mà phải nhận thức được toàn bộ nội dung cơ bản của lịch sử xã hội loài người Từ đó học sinh có thể tìm ra được mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện

để so sánh đánh giá nhận xét theo tư duy của mình Hay nói cách khác họ lịch

sử không chỉ cần biết, nhớ mà phải hiểu những quy định về bài học kinh nghiệm

cụ thể, quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử xuất phát từ sự nhận thức những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ có thể phản ánh quá trình phát triển cuả lịch sử, đi đến chỗ khái quát các tri thức đó thành những khái niệm quy luật bài học Trên cơ sở những kiến thức thu được các em đã giải quyết một cách đúng, thông minh, sáng tạo những vấn đề thực tế trong học tập, trong đời sống và trong đấu tranh xã hội, thực hiện mục đính phương châm: học lịch

sử để biết về quá khứ hiểu hiện tại và đoán định tương lai

Trang 34

1.1.3.3 Xuất phát từ xu hướng đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường Phổ thông theo hướng phát triển năng lực của học sinh

Thời đại ngày nay sự phát triển của kinh tế tri thức đã đặt các quốc gia vào cuộc chạy đua trí tuệ trong đó có cuộc chạy đua trong giáo giục Việt Nam trong con đường đổi mới kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao Mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện, tự chủ sáng tạo trở thành mục tiêu hàng đầu của giáo dục quốc dân

Để đáp ứng mục tiêu đó nhiều giải pháp được đề xuất và áp dụng nhằm giải quyết vấn đề làm thế nào để giúp học sinh có khả năng tự học tự nghiên cứu, tự chiếm lĩnh tri thức, có khả năng phát hiện, phân tích giải quyết các vấn

đề đặt ra trong quá trình học tập Các giải pháp đó đều hướng tới vai trò của người học, coi học sinh là chủ thể của quá trình học, là nhân vật trung tâm của quá trình nhận thức

Bộ môn lịch sử và các bộ môn khác trong trường THCS đều nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là : “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện” Căn cứ tình hình mới Đảng và nhà nước đã điểu chỉnh đổi mới căn bản và quá trình đào tạo Nghị quyết số 29-HNTW8 khóa XXI nhấn mạnh chuyển từ dạy học chủ yếu trang thiết bị kiến thức sang hình thành năng lực và phẩm chất học sinh; đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học và khả năng đánh giá theo hưởng phát triển năng lực

Tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về việc xây dựng chuẩn các năng lực đặc thù, năng lực chuyên môn trong dạy học từng môn học ở trường phổ thông, trong đó có hai các tiếp cận chính là: xây dựng các năng lực đặc thù từ các năng lực chung (năng lực cốt lõi) và xây dựng các năng lực đặc thù từ đặc thù kiến thức của bộ môn

Theo cách tiếp cận thứ nhất, từ các năng lực chung đã được ban dự thảo chương trình sách giáo khoa của bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình giáo dục phổ thông- chương trình tổng thể năm 2018 thì các năng lực đặc thù cần được chú trọng hình thành và phát triển cho học sinh trong môn lịch sử là:

Trang 35

Bảng 1.1 Các năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển cho học sinh

1 Thu thập và sử lý thông tin

về các sự kiện, hiện tượng

lịch sử

- Sưu tầm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau như sách báo, tranh ảnh, tư liệu hiện vật, mạng Internet,…

- Biết chọn lọc thông tin, tư liệu chân thật,

có giá trị

- Biết phân biệt đâu là tư liệu thật, tư liệu gốc, những thông tin không chân thực về lịch sử

2 Xác định mối liên hệ logic

của các sự kiện, hiện

tượng lịch sử

- Hiểu biết được bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử và tìm ra được mối liên hệ tất yếu của các sự kiện hiện tượng lịch sử

- Hiểu được lịch sử là hệ thống hoàn chỉnh, liên tục, không thể chia cắt, một sự kiện hiện tượng lịch sử này mất đi sẽ là nguyên nhân nảy sinh sự kiện, hiện tượng khác

3 Tái hiện quá khứ lịch sử - Có trí tưởng tượng phong phú, khôi phục

các sự kiện, hiện tượng lịch sử với đầy đủ tính cụ thể, tính hình ảnh, tính muôn hình muôn vẻ của nó

- Khôi phục lại bức tranh lịch sử với các yếu tố chính về thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến, kết quả

- Phân biệt được bối cảnh lịch sử, diễn biến chính, kết quả của sự kiện, hiện tượng lịch sử

Trang 36

nó nảy sinh và phát triển

- Xem xét những tác động của những điều kiện đối với các sự kiện lịch sử

- Đánh giá được các sự kiện, hiện tượng lịch sử vừa phải đảm bảo tính khách quan, trung thực vừa đảm bảo tính tư tưởng, giá trị dân tộc, giá trị nhân văn

- Thuyết trình, trình bày, kể lại lịch sử rõ ràng, dễ hiểu

- Viết được các vấn đề lịch sử bằng văn phong trong sáng, giản gị với ngôn ngữ của bản thân HS

Trang 37

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử Việt Nam (Chương 2 lớp 6, thời đại dựng nước Văn Lang – Âu Lạc) cho học sinh THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Việc sử dụng tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng Hùng Vương trong dạy học lịch sử là một biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, làm phát triển tính tích cực chủ động của học sinh Biện pháp này có ý nghĩa quan trọng đối

với giáo viên và học sinh

Đối với giáo viên: Việc sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng

Vương là một biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, nó giúp cho bài giảng của giáo viên trở nên phong phú và hấp dẫn thu hút học sinh hơn Những kiến thức lịch sử vốn khô khan với các mốc thời gian với sự kiện sẽ được học sinh tiếp thu một cách nhanh hơn

Đối với học sinh: Sử dụng tư liệu, hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương sẽ

góp phần phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Qua các tư liệu hiện vật tại bảo tàng Hùng Vương học sinh có cái nhìn biện chứng về quá khứ, hiện tại, tương lai của lịch sử, tuân thủ đúng quy luật chung của quá trình nhận thức của các em là đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng đến hoạt động thực tiễn” Việc sử dụng tư liệu hiện vật ở bảo tàng một cách hợp lý, có chọn lọc sẽ góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao hiệu quả bài học, phát triển các năng lực nhận thức độc lập của học sinh Biện pháp này cũng có ý nghĩa to lớn trên cả ba mặt:

Về mặt giáo dưỡng: Chức năng và nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở

trường THCS trên các mặt giáo dưỡng, giáo dục, phát triển đã được lý luận, phương pháp dạy học lịch sử và thực tiễn chứng minh cụ thể:

Trước hết chúng ta phải làm cho học sinh biết được kiến thức cơ bản Trên cơ sở đó bộ môn lịch sử mới có tác dụng giáo dục và phát triển kĩ năng tư duy hành động cho học sinh

Để nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử, chúng ta không thể không sử dụng phương pháp trực quan, đây là một vấn đề đã được xác nhận về lý luận

Trang 38

về thực tiễn dạy - học lịch sử, tuy nhiên phương pháp trực quan thường dường như không được sử dụng thường xuyên, nếu được sử dụng thì phương tiện trực quan chỉ là bản đồ, lược đồ là chính, giáo viên vẫn dạy theo lối mòn thuyết trình

là chính, xa rời thực tiễn, lối học này mang tính nhồi nhét làm cho các em ngại học về môn lịch sử, hạn chế tối đa khả năng chủ động trong tư duy học tập của học sinh

Để khắc phục tình trạng thiếu đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, việc khai thác và sử dụng các tư liệu hiện vật tại bảo tàng, nhà truyền thống là một điều quan trọng Bảo tàng là: “thứ học đường đặc biệt, là nơi giải trí tích cực, học mà chơi chơi mà học”

Học tập lịch sử tại bảo tàng sẽ góp phần hình thành kiến thức cho học sinh Thông qua các tư liệu, hiện vật gốc được trưng bày trong bảo tàng sẽ làm cho học sinh nhanh chóng nắm được nội dung kiến thức cơ bản của bài Bởi nguồn tư liệu này rất phong phú, đa dạng và cụ thể phản ánh nhiều hoạt động

về đời sống vật chất và tinh thần của con người, từ những đề tài lao động sản xuất đến đề tài chiến tranh Những tư liệu, hiện vật phong phú đó là nguồn cung cấp kiến thức giúp các em có được biểu tượng lịch sử chính xác, chân thật Hơn nữa các tư liệu hiện vật tại bảo tàng được sắp xếp có hệ thống đã vẽ nên trước mắt học sinh bức tranh tương đối toàn diện về quá khứ, phản ánh phần nào hiện thực lịch sử đã tồn tại, góp phần cụ thể hóa sự kiện và tránh sai lầm làm” hiện đại hóa lịch sử” của học sinh

Nội dung ở bảo tàng Hùng Vương phù hợp với quá trình lịch sử của học sinh lớp 6 THCS hiện nay Với ưu thế đó, bảo tàng Hùng Vương có khả năng cung cấp khối lượng kiến thức mới cho học sinh, làm phong phú hơn kiến thức lịch sử các em đã học trên lớp Trên lớp học với thời lượng 45 phút một tiết học, mà giáo viên thường chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức cơ bản và đi sâu vào trọng tâm của bài Nếu cung cấp thêm kiến thức mới ngoài sách giáo khoa cho học sinh thì giáo viên dễ rơi vào tình trạng ”cháy giáo án”, các tư liệu

Trang 39

hiện vật của bảo tàng sẽ bổ sung thêm kiến thức mới, đồng thời củng cố kiến thức cơ bản đã học

Về mặt giáo dục: Trong dạy học nói chung học sinh là chủ thể của quá

trình nhận thức Để học tập tốt, có hiệu quả bộ môn lịch sử học sinh phải có một trạng thái tâm lý tốt, có sự hưng phấn Vì vậy giáo viên phải kích thích được sự say mê học tập, hứng thú học tập của học sinh, khi học sinh có hứng thú học tập thì hiệu quả bài học sẽ tốt, có tác dụng giáo dục cao Ngược lại nếu không co hứng thú học tập thì hiệu quả học tập kém, tác dụng giáo dục thấp Đây là yêu cầu lớn của quá trình dạy học, chỉ có sự nỗ lực của thầy là chưa đủ

mà người học là yếu tố quyết định đến chất lượng dạy học Việc tri giác các tư liệu hiện vật trong bảo tàng đặc biệt là hiện vật, tư liệu gốc sẽ tạo cho các em tính tò mò, lòng hiểu biết và óc suy luận, kích thích các em tìm hiểu những điều chưa biết… Do đó việc học tập lịch sử có tác dụng giáo dục chính trị, tư tưởng sâu rộng, đặc biệt là trong tình hình thế giới hiện nay đang có những biến động lớn Trong nước hiện nay nảy sinh một số vấn đề tiêu cực trong bộ phận thanh thiếu niên học sinh, nhiều em có khuynh hướng không quan tâm và không coi trọng quá khứ, phủ nhận những thành quả mà thế hệ trước đạt được, lại chịu ảnh hưởng của văn hóa không lành mạnh được lan truyền như các loại tranh ảnh, sách báo xuyên tạc lịch sử

Trước tình hình trên việc cung cấp kiến thức khoa học thực sự, việc giáo dục tư tưởng chính trị cho thế hệ trẻ đặc biệt cho hoc sinh là một vấn đề cấp bách đặt ra mà bộ môn lịch sử nhất thiết phải đảm nhận một phần trách nhiệm không nhỏ Việc giáo dục phải thực sự cụ thể không được chung chung Những con người thực việc thực của quá khứ có sức thuyết phục, có sự rung cảm sâu sắc thực sự đối với thế hệ trẻ Giáo viên lịch sử có thể lấy ra những dẫn chứng tấm gương anh dũng tuyệt vời của các anh hùng dân tộc, các chiến sĩ đã chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc để giáo dục học sinh Nhờ vậy tư tưởng tình cảm của các em được sâu sắc hơn, các em đã có suy nghĩ về trách nhiệm của mình đối với bản thân, gia đình, đất nước Những sự kiện về sự tàn ác, dã

Trang 40

man, sự phản phúc của bọn bán nước và cướp nước luôn gây cho học sinh sự

căm phẫn, lòng căm thù sâu sắc

Sở dĩ sử dụng tài liệu, hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử để

nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn là vì các tài liệu, hiện vật gốc trưng bày

ở bảo tàng có tác dụng tốt, gây hứng thú cho học sinh trong học tập lịch sử

Qua các tài liệu, hiện vật các em có thể tự tìm thấy câu trả lời, mặt khác nó tạo

cho các em sự hiếu kì, tò mò, ham khám phá tìm hiểu, óc suy luận…từ đó nảy

sinh trong học sinh những cảm xúc lịch sử như yêu, ghét, kính trọng, khâm

phục,…những hiểu biết của học sinh thông qua xúc cảm là con đường ngắn

nhất, hiệu quả nhất đối với việc giáo dục niềm tin, tư tưởng, tình cảm một cách

tự nhiên không gò bó gượng ép

Các tài liệu, hiện vật, hình ảnh ở bảo tàng có tác dụng giáo dục niềm tin

giáo dục lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho học sinh đặc biệt là tinh thần yêu nước

quyết tâm bảo vệ dân tộc, bảo vệ thành quả của ông cha ta Khi trực tiếp tri

giác các tư liệu, hiện vật ở bảo tàng các em có biểu tượng cụ thể, những bằng

chứng hiển nhiên về các thời kì lịch sử đã qua, xác nhận tính hiện thực của

những sự kiện hiện tượng lịch sử các em đã học là có thật

Như vậy những tư liệu, hiện vật ở bảo tàng góp phần quan trọng vào việc

giáo dục tư tưởng, tình cảm giáo dục niềm tin vững chắc vào sự phát triển bền

vững của dân tộc trong công cuộc xây dựng đât nước Bảo tàng di tích lịch sử

còn có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục truyền thống của dân tộc, giáo dục

lòng yêu nước của học sinh Khi trực tiếp quan sát các hiện vật ở bảo tàng, các

em như được sống trong thời kì lịch sử hào hừng của dân tộc, các em đang được

“trực tiếp tham gia” vào một sự kiện lịch sử quan trọng nào đó

Về mặt phát triển: Dạy - học lịch sử tại bảo tàng Hùng Vương còn góp

phần phát trển năng lực tư duy của học sinh Việc rèn luyện năng lực tư duy

đặc biệt là “tư duy lịch sử’’, khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực

tế là một trong các yêu cầu quan trọng của quá trình dạy, học Trong điều kiện

Ngày đăng: 07/07/2022, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2010) “Đất nước Việt Nam qua các đời” NXB Văn hóa thông tin Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2010
2. Nguyễn Văn Âu(2008), Một số vấn đề về địa danh Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
3. Đinh Ngọc Bảo (Chủ biên) – Nguyễn Thị Bích – Lê Thị Thu (2012), Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử 6, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử 6
Tác giả: Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Bích, Lê Thị Thu
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2012
5. Hoa Bằng (1969), Về Hùng Vương và xã hội Hùng Vương, tạp chí khảo cổ học số 2/ 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Hùng Vương và xã hội Hùng Vương
Tác giả: Hoa Bằng
Nhà XB: tạp chí khảo cổ học
Năm: 1969
6. Nguyễn Đổng Chi(1972), Tính chất xã hội thời kì Hùng Vương, Hùng Vương dựng nước, tập 2, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất xã hội thời kì Hùng Vương
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1972
7. Nguyễn Thị Côi(2006), Con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2006
8. Nguyễn Thị Côi(2007), Giáo trình các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường THCS, tập 2, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường THCS
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
9. Nguyễn Thị Côi(2008), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS( phần lịch sử Việt Nam), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS( phần lịch sử Việt Nam)
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguyễn Thị Côi(2011), Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Côi( 2008), Tìm hiểu lịch sử Việt Nam hỏi đáp tập 2, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu lịch sử Việt Nam hỏi đáp tập 2
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2008
12. Hồ Ngọc Đại, Bài học là gì? NXB Giáo dục Hà Nội 1885 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học là gì
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội 1885
13. Bộ GD&ĐT (2009) SGK lịch sử 6, NXB Giáo Dục. 31. Nguyễn Văn Âu(2008), Một số vấn đề về địa danh Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK lịch sử 6
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2009
14. Bảo tàng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhà XB: NXB Hà Nội 1998
15. Hội giáo dục lịch sử Việt Nam, Thuật ngữ khái niệm lịch sử phổ thông, NXB ĐHQG Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ khái niệm lịch sử phổ thông
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội 1998
16. NG. Đalri (1978) Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? , NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
17. Tạp chí giáo dục, số đặc biệt, kì 1 tháng 10/2017, NXB Giáo dục 18. I. Lec- ne , Dạy học nêu vấn đề, NXB Giáo dục Hà Nội 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nêu vấn đề
Tác giả: I. Lec-ne
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1977
19. I.F. Khar- la- mop, Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào? Tập II, NXB Giáo dục Hà Nội 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F. Khar-lamop
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1979
20. Các bảo tàng Quốc gia Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1990 21. Công trình nghiên cứu của bảo tàng dân tộc học Việt Nam , NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bảo tàng Quốc gia Việt Nam," NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1990 21. "Công trình nghiên cứu của bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1990 21. "Công trình nghiên cứu của bảo tàng dân tộc học Việt Nam"
23. Phan Huy Lê và Chử Văn Tần (1974),” Hùng Vương dựng nước” , tập 4, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),” Hùng Vương dựng nước” , tập 4
Tác giả: Phan Huy Lê và Chử Văn Tần
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1974
24. Phan Ngọc Liên, Vài suy nghĩ về quan hệ giữa nghiên cứu lịch sử với giảng dạy lịch sử , Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 2- 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về quan hệ giữa nghiên cứu lịch sử với giảng dạy lịch sử

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• Giám đốc phụ trách điều hành chung tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
i ám đốc phụ trách điều hành chung tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty (Trang 17)
Sơ đồ số 05: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán “Nhật ký chứng từ” - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Sơ đồ s ố 05: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán “Nhật ký chứng từ” (Trang 22)
Bảng 1.1. Các năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển cho học sinh - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.1. Các năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển cho học sinh (Trang 35)
Bảng 1.2. Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát giáo viên: Câu hỏi Số giáo viên - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.2. Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát giáo viên: Câu hỏi Số giáo viên (Trang 45)
thầy(cô) hình thức  dạy  học  nào sau đây sẽ  tạo  hứng  thú  học  tập  và  nâng  cao  hiệu  quả  bài  học  lịch sử? - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
th ầy(cô) hình thức dạy học nào sau đây sẽ tạo hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả bài học lịch sử? (Trang 48)
Bảng 1.2.1. Đánh giá vị trí,chất lượng dạy học bộ môn lịch sử - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.2.1. Đánh giá vị trí,chất lượng dạy học bộ môn lịch sử (Trang 51)
Bảng 1.2.2. Mức độ cần thiết của sử dụng tư liệu,hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.2.2. Mức độ cần thiết của sử dụng tư liệu,hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử (Trang 52)
Bảng 1.2.4. Lý do giáo viên ít quan tâm đến dạy học lịch sử có sử dụng tư liệu, hiện vật bảo tàng - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.2.4. Lý do giáo viên ít quan tâm đến dạy học lịch sử có sử dụng tư liệu, hiện vật bảo tàng (Trang 53)
Bảng 1.3. Kết quả điều tra học sinh Câu hỏi Số học sinh - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.3. Kết quả điều tra học sinh Câu hỏi Số học sinh (Trang 53)
Ví dụ: Trị giá vật liệu thực tế phát sin hở PXCN1 kế toán tập hợp đợc từ bảng phân bổ vật liệu và công cụ dụng cụ là: 353.145.580 - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
d ụ: Trị giá vật liệu thực tế phát sin hở PXCN1 kế toán tập hợp đợc từ bảng phân bổ vật liệu và công cụ dụng cụ là: 353.145.580 (Trang 54)
Bảng 1.3.1. Điều tra hứng thú học tập môn lịch sử của HS - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Bảng 1.3.1. Điều tra hứng thú học tập môn lịch sử của HS (Trang 56)
Hình 1.1. Tác dụng của dạy học sử dụng tư liệu,hiện vật bảo tàng - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Hình 1.1. Tác dụng của dạy học sử dụng tư liệu,hiện vật bảo tàng (Trang 57)
Hình 1.2. Tần suất số lần HS tham quan bảo tàng, nhà truyền thống,di tích lịch sử - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
Hình 1.2. Tần suất số lần HS tham quan bảo tàng, nhà truyền thống,di tích lịch sử (Trang 58)
+ Hình ảnh mảnh gốm, rìu, giáo, mảnh thạp trong mộ táng tại làng Cả,… - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
nh ảnh mảnh gốm, rìu, giáo, mảnh thạp trong mộ táng tại làng Cả,… (Trang 67)
+ Hình ản h- hiện vật thạp đồng Đào Thịnh - Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng hùng vương trong dạy học lịch sử việt nam (chương 2  lớp 6 nhà nước văn lang  âu lạc) cho học sinh THCS thành phố việt trì, tỉnh phú thọ
nh ản h- hiện vật thạp đồng Đào Thịnh (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w