Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc có nền văn hóa rực rỡ từ lâu đời, còn lưu giữ một hệ thống di sản văn hóa có giá trị phục vụ du lịch cao, trong đó nổi bật là quần thể di tích l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm đạo đức trong học thuật Tôi cam kết rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện đảm bảo trung thực và không vi phạm yêu cầu về đạo đức trong học thuật
Phú Thọ, ngày tháng năm 2020
Sinh viên thực hiện
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo của Trường Đại học Hùng Vương, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Khoa học xã hội và Văn hóa Du lịch đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt bốn năm học vừa qua đã tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành khóa luận Các thầy
cô không chỉ trang bị cho em những kiến thức chuyên môn nền tảng cần thiết
mà còn truyền đạt cả những kinh nghiệm, vốn sống thực tế rất hữu ích và vô cùng quý báu Tất cả sẽ trở thành hành trang, những kỉ niệm vô giá của em trong cuộc sống sau này
Đặc biệt, em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên, ThS Chu Thị Thanh Hiền, người đã trực tiếp giúp đỡ, động viên và luôn theo sát chỉ dẫn cho em trong thời gian em làm đề tài, cho em những lời khuyên bổ ích, giúp
em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Ngoài ra, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè – những người đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ em về nhiều mặt để hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy cô luôn dồi dào sức khỏe và gặt hái được nhiều thành công hơn nữa
Em xin trân thành cảm ơn!
Việt trì,ngày tháng năm 2020
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đăng Đạt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐIỂM DU LỊCH 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Các khái niệm 6
1.1.2 Vai trò của phát triển điểm du lịch 16
1.1.3 Các yếu tố cấu thành và điều kiện công nhận điểm du lịch 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
Tiểu kết chương 1 21
CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH Ở PHÚ THỌ 22
2.1 Tiềm năng phát triển tại các điểm du lịch ở tỉnh Phú Thọ 22
2.1.1 Các điểm du lịch tự nhiên 22
2.1.2 Các điểm du lịch văn hóa 24
2.1.3 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 32
2.1.4 Nguồn nhân lực 37
2.1.5 Các điều kiện kinh tế xã hội 39
2.2 Hiện trạng phát triển tại các điểm du lịch ở Phú Thọ 42
Trang 62.2.1 Khách du lịch 42
2.2.2 Doanh thu du lịch 44
2.2.3 Sản phẩm du lịch 47
2.3 Kết quả đạt được và những hạn chế 48
2.3.1 Những kết quả đạt được 48
2.3.2 Hạn chế, yếu kém 49
Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH Ở PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2020 – 2025 51
3.1 Định hướng phát triển du lịch Phú Thọ 51
3.1.1 Tình hình quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ 51
3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ 53
3.1.3 Mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ 54
3.1.4 Định hướng phát triển du lịch tỉnh phú thọ giai đoạn 2020 -2025 55
3.2 Một số giải pháp phát triển điểm du lịch ở tỉnh Phú Thọ 59
3.2.1 Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lí nhà nước về du lịch tại các điểm du lịch 59
3.2.2 Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với phát triển các dịch vụ cơ bản cho khách du lịch tại các điểm du lịch 60 3.2.3 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại các điểm du lịch 61
3.2.4 Đào tạo và phát triển, bổ sung nguồn nhân lực cho các điểm du lịch 62
3.2.5 Phát triển các hình thức xúc tiến, quảng bá du lịch, phát triển thị trường tại các điểm du lịch 64
Tiểu kết chương 3 65
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
hóa liên hợp quốc
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số cơ sở dịch vụ lưu trú và ăn uống tại tỉnh Phú Thọ 36
Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 – 2018 40
Bảng 2.3: Dân số và lao động tại các khu vực có điểm du lịch 41
Bảng 2.4: Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh phú thọ giai đoạn 2010 – 2018 42
Bảng 2.5: Hiện trạng khách du lịch tại các điểm du lịch ở tỉnh Phú Thọ 43
Bảng 2.6: Doanh thu du lịch Phú Thọ giai đoạn 2015 – 2018 45
Bảng2.7: giá trị của ngành du lịch trong tỉ trọng nền kinh tế của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 -2018 46
Bảng 2.8: Doanh thu du lịch tại các điểm du lịch 47
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dân số và lao động tỉnh Phú Thọ năm 2018 40
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2015- 2018 41
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng doanh thu du lịch giai đoạn 2015 -2018 45
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào GRDP toàn tỉnh 46
giai đoạn 2015 -2018 46
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ của các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch 8
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là ngành kinh tế phát triển nhanh và ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu của nhiều địa phương và quốc gia trên thế giới Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định vai trò hết sức quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, khẳng định mục tiêu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước và ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt từ nhiều năm qua để đạt được mục tiêu này Những thành tựu mà ngành du lịch của Việt Nam đạt được từ những năm đổi mới đến nay cho thấy, quan điểm định hướng đúng đắn trên ngày càng được hiện thực hóa Sự phát triển của du lịch ở nhiều địa phương nước ta cũng đã góp phần khẳng định điều đó
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, điểm trung chuyển giữa Đông và Tây Bắc, một trong những địa phương có tiềm năng du lịch khá toàn diện và nhiều lợi thế để phát triển du lịch Nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng núi Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc, vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông -Bắc đem lại lợi thế trong mối liên kết vùng phát triển
du lịch Các điều kiện tự nhiên của Phú Thọ, đặc biệt là địa hình trung du đa dạng đã tạo cho Phú Thọ có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú
và hấp dẫn Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc có nền văn hóa rực rỡ
từ lâu đời, còn lưu giữ một hệ thống di sản văn hóa có giá trị phục vụ du lịch cao, trong đó nổi bật là quần thể di tích lịch sử Đền Hùng được công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt gắn với Giỗ tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng, hàng năm thu hút hàng triệu khách du lịch người Việt Nam từ khắp mọi miền trên đất nước Đặc biệt Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và nhiều tài nguyên du lịch có giá trị khác là cơ hội cho du lịch tạo được những bước đột phá trong những năm tiếp theo Phú Thọ là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, trong đó có nhiều di tích được xếp hạng cấp quốc gia; là nơi có rừng quốc gia
Trang 11Xuân Sơn, có nguồn nước khoáng nóng Thanh Thủy; là vùng đất nằm ở trung
du Bắc Bộ, có đường sắt Hà Nội - Vân Nam, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Vân Nam–Hà Nội-Hải Phòng, đường quốc lộ 2 và các đường liên tỉnh chạy qua Chính vì thế mà Phú Thọ có vị trí thuận lợi, có tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa phong phú để phát triển các loại hình du lịch Kinh tế du lịch phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, là yêu cầu bức thiết đặt ra cho nhiệm vụ phát triển kinh tế của tỉnh Phú Thọ Tỉnh Phú Thọ là địa bàn cư trú của 28 dân tộc khác nhau Ngoài dân tộc Kinh, trong số các dân tộc thiểu số, đông nhất là dân tộc Mường, tiếp theo là dân tộc Dao Các dân tộc quần cư đan xen theo làng, bản Các làng, bản đều có lễ hội và nghề thủ công truyền thống Đây là cơ sở để hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng của miền Đất Tổ Tài nguyên du lịch Phú Thọ đa dạng, phong phú cả về tự nhiên
và văn hóa cho phép phát triển nhiều sản phẩm đặc thù có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Tất cả những điều này là lợi thế của Phú Thọ khi so sánh với các địa phương khác trên cả nước
Mặc dù tiềm năng phát triển lớn như vậy, nhưng trong những năm qua, việc phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ nhìn chung vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng hiện có Điều này thể hiện qua tỉ trọng đóng góp của ngành
du lịch còn khá thấp trong cơ cấu kinh tế, hiện tượng sử dụng lãng phí tài nguyên vẫn đang diễn ra Do đó, muốn du lịch Phú Thọ đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển, cần phải khai thác triệt để tài nguyên và thế mạnh trong vùng
để tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng hấp dẫn
Vì những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Khai thác tiềm năng phát triển tại các điểm du lịch ở Phú Thọ giai đoạn 2020-2025” nhằm góp phần tìm ra lời giải đáp cho bài toán phát triển du lịch một cách bền vững ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới, tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu về du lịch đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau như: Vũ Thế Bình (chủ biên) (2008), Non nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin; Đồng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình (2002),
Trang 12Kinh tế du lịch, Nxb trẻ; Phạm Trung Lương (2010), Tài nguyên và môi trường
du lịch, Nxb Giáo dục; Bùi Thị Hải Yến (2009), Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục Ngoài ra còn rất nhiều các công trình khác Nội dung cơ bản của các công trình trên nhằm đánh giá tiềm năng, giới thiệu các điểm du lịch trên khắp đất nước Từ đó cũng có một số công trình đưa ra những định hướng nhằm khai thác phát triển các điểm du lịch trong tương lai Trong hầu hết các công trình nghiên cứu trên, tỉnh Phú Thọ luôn được nhắc đến như một mảnh đất giàu tiềm năng trong phát triển du lịch
Ở tỉnh Phú Thọ, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra cách đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển tại các điểm du lịch ở tỉnh Phú Thọ Từ đó đưa ra được những định hướng để khai thác và phát triển các điểm du lịch của tỉnh như: Trong “Quy hoạch điều chỉnh phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2011 –2020 và định hướng đến năm 2030”, Sở văn hóa thể thao và du lịch xác định: “Đẩy mạnh phát triển du lịch, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Phát triển du lịch bền vững, đặt trong mối quan hệ liên ngành trong khu vực và các nước, phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế -xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các giá trị tài nguyên” Những quy hoạch trên đã đánh giá phát triển điểm, tuyến du lịch và các nguồn lực du lịch, nêu lên định hướng phát triển du lịch Phùng Thị Hoa
Lê, (2012), Nghiên cứu sản phẩm du lịch tại khu di tích lịch sử đền Hùng tỉnh Phú Thọ Phú Thọ, (2013), Đầu tư phát triển VQG Xuân Sơn thành điểm du lịch hấp dẫn Phú Thọ, (2018) Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại VQG Xuân sơn Nguyễn Thị Hồng Nhung, (2017), Phát triển du lịch ở huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên những bài viết này chỉ mang tính khái quát về phát triển du lịch tại các điểm, chưa chuyên sâu, chưa thực sự chú trọng đến khai thác phát triển điểm du lịch
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá, phân tích về khai thác tiềm năng phát triển tại các điểm du lịch, chúng tôi sẽ tổng hợp được tất cả các tiềm năng cơ bản nhất, đánh giá đúng tiềm năng và hiện trạng phát triển tại các điểm du lịch ở Phú Thọ Vì thế khóa luận “Khai thác tiềm năng phát triển tại các điểm du lịch
Trang 13ở Phú Thọ giai đoạn 2020 -2025” cũng có thể xem là một đóng góp mới cho vấn đề nghiên cứu
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Mục tiêu: Trên cơ phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển tại một số điểm du lịch hiện nay ở Phú Thọ, từ đó đề ra giải pháp khai thác hiệu quả các điểm du lịch đó trong giai đoạn 2020 – 2025
- Nhiệm vụ:
+ Tổng quan cơ sở lí luận về du lịch và điểm du lịch
+ Phân tích điều kiện phát triển du lịch tại một số điểm du lịch ở Phú Thọ giai đoạn hiện tại
+ Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại một số điểm du lịch của tỉnh Phú Thọ
+ Đề xuất các giải pháp để khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch tại một số điểm du lịch Phú Thọ giai đoạn 2020 – 2025
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đố i tượng : Khai thác tiềm năng phát triển du lịch ở các điểm du lịch
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các điều kiện phát triển du lịch tại một số điểm du lịch ở Phú Thọ trong giai đoạn hiện tại và đề xuất hướng khai thác phát triển du lịch trong giai đoạn 2020 - 2025
+ Thời gian nghiên cứu: Từ 2015 đến nay
+ Không gian nghiên cứu: tại một số điểm du lịch điển hình của Phú Thọ: Khu di tích lịch sử đền Hùng, đền Mẫu Âu Cơ, VQG Xuân Sơn, suối khoáng nóng Thanh Thủy
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
Đối với hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học nói chung, phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tich tài liệu, xử lí số liệu thống kê được coi là phương pháp phổ biến và cực kì quan trọng Việc vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa những nghiên cứu trước đó
Bên cạnh việc thu thập các dữ liệu từ các nguồn như sách, giáo trình, báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu khoa học của tỉnh Phú
Trang 14Thọ, Tổng Cục Du lịch, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, các thông in trên mạng internet … Các tài liệu có được trong quá trình thu thập phục vụ đề tài này hầu hết từ các nguồn chính thống như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, Cục Thống kê Phú Thọ…
Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu cần thiết, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp các tài liệu phục vụ cho việc đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnhPhú Thọ, từ đó đề xuất những giải pháp cần thiết góp phần thúc đẩy du lịch Phú Thọ phát triển hơn nữa trong thời gian tới
- Phương pháp phân tích, so sánh
Đây cũng là một trong những phương pháp rất quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình làm đề tài Trong khi thực hiện đề tài về phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ, phương pháp này đã phát huy rất rõ vai trò của mình, nó giúp cho việc nhận định, đánh giá, dự báo trên cơ sở phân tích các số liệu thống kê
và phép đối chiếu so sánh khoa học đạt được những kết quả nhất định Qua việc các số liệu, các thông tin được đưa vào xử lí, phân tích, so sánh đã giúp cho việc đưa ra những kết luận, những nhận định có giá trị thực tiễn cao
- Phương pháp thực địa
Khảo sát thực địa là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng lại là công việc bắt buộc đối với mỗi đề tài nghiên cứu Việc có mặt tại thực địa, quan sát trực tiếp và phỏng vấn những người có trách nhiệm các vấn đề có liên quan tới đề tài là rất cần thiêt Để từ đó bổ xung cho lý luận được hoàn chỉnh Là cơ
sở đánh giá ban đầu và thẩm định lại trong quá trình nghiên cứu Trên cơ sở đó giúp đề ra các giải pháp hợp lý và khả thi
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo; đề tài được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển điểm du lịch
Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển tại các điểm du lịch ở Phú Thọ Chương 3: Giải pháp khai thác tiềm năng phát triển tại các điểm du lịch ở Phú Thọ giai đoạn 2020 - 2025
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐIỂM DU LỊCH 1.1 Cơ sở lí luận
Theo một số học giả, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hi lạp “Tonos” nghĩa là
đi một vòng Thuật ngữ này được latinh hóa thành “Turnur” và sau đó thành
“Tour” (Tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “Touriste” là người đi dạo chơi Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hi Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới… Như vậy, nhìn chung chưa có một sự thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và có quay trở lại Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được giải thích theo âm Hán- Việt: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải
Cũng tương tự như vậy, có nhiều quan niệm không giống nhau về khái niệm du lịch
Trang 16Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động
cơ chính của hoạt động du lịch
Năm 1930, Glusman người thụy sĩ định nghĩa: “ Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”
Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết
về cung cầu du lịch, đưa gia định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan
hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu truscuar những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên
và không lien quan đến việc kiếm lời” So với các quan niệm trên, quan niệm của Hunziker và Krapf đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng
du lịch Tuy nhiên, quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và mối quan hệ du lịch ( các mối quan hệ nào và hiện tượng nào thuộc loại kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa…) Ngoài ra định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Dưới góc độ địa lí I.I Pirojnik (năm 1985) “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ và những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về thống kê Du lịch cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một dạng hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi cùng đến thăm”
Trang 17Theo quan điểm của Robert W.Mc.Intosh, Charles R.Goeldner, J.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch
Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch gồm:
(1) Khách du lịch
(2) Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch (3)Chính quyền sở tại
(4) Cộng đồng dân cư địa phương
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ của các thành phần tham gia vào
Trang 18Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu trú ta ̣i những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác”
Ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch được định nghĩa tại Điều 3 của Luật Du lịch (2017) như sau: “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”
Tuy tồn tại nhiều khái niệm khác nhau, nhưng nhìn chung mọi khái niệm đều có điểm giống nhau Và “du lịch” có thể được hiểu là:
+Một hiện tượng Xã hội: nghĩa là: Du lịch là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh,có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
+ Một hiện tượng kinh tế, một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích: phục hồi sức, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của Du lịch Cho đến nay không ít người, thậm chí
cả cán bộ nhân viên đang làm việc trong nghành Du lịch chỉ cho rằng: “ Du lịch là một nghành Kinh tế” Do đó,mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế điều đó đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, Du lịch còn là một hiện tượng Xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho Du lịch phát triển như với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực Văn hóa khác
Trang 19Như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện của nước ta hiện nay, tác giả đồng ý theo quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017
ví dụ như điểm du lịch Vườn quốc gia Tân Sơn (Tân Sơn – Phú Thọ) và điểm
du lịch đình Hùng Lô (Việt Trì – Phú Thọ)
Phân loại điểm du lịch: Các điểm thu hút khách có thể được phân loại theo nhiều cách thức khác nhau: theo chủ sở hữu, theo khu vực thị trường, thoe mức
độ bền vững, theo loại hình,…
Theo Nguyễn Minh Tuệ: Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên
du lịch (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì thế, điểm
du lịch có thể phân thành 2 loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng (hoặc điểm tiềm năng và điểm thực tế)
Thời gian lưu trú của khách tương đối ngắn (không quá 1-2 ngày) vì sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ cơ quan,…)
Theo Charles R.Goeldner, J.R.Brent Ritchie, Robert W.McIntosh trong tài liệu các điểm thu hút khách được phân loại như sau: (Phụ lục: Sơ đồ điểm du lịch)
Trang 20Như vậy theo Charles R.Goeldner, J.R.Brent Ritchie, Robert W.McIntosh, các điểm du lịch có thể được phân chia thành 5 nhóm chủ yếu:
- Các điểm du lịch văn hóa: Các di tích lịch sử, các khu khảo cổ, các công trình kiến trúc, các di tích văn hóa, các bảo tàng, các vùng dân tộc ít người, các món ăn, âm nhạc, hội họa, khu vực sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ,…
- Các điểm du lịch tự nhiên thường: các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, các danh thắng, bãi biển, đảo, các hệ động vật và thực vật,…
- Các khu thể thao: cung cấp các tiện nghi phục vụ cho các hoạt động thể thao trong nhà và ngoài trời như: sân gôn, sân tennis, khu trượt tuyết, bể bơi,
xe đạp địa hình, thể thao leo núi, lặn biển,…
- Các khu giải trí: công viên chủ đề, các sòng bạc, rạp chiếu phim, nhà hát, trung tâm biểu diễn nghệ thuật, khu triển lãm, khu mua sắm,…
- Các lễ hội, sự kiện: các lễ hội tôn giáo, lễ hội văn hóa, các hội thi đấu thể thao, hội chợ,…
Những điểm du lịch được công nhận là điểm du lịch quốc gia phải đảm bảo các điều kiện: có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn và khả năng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm ; có đường giao thông thuận tiện đến điểm du lịch ; các dịch vụ: bãi đỗ xe, có khu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch; đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật Các điểm du lịch nối với nhau bằng tuyến du lịch Trong từng trường hợp
cụ thể các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc là tuyến liên vùng
Các điểm du lịch là yếu tố cấu thành quan trọng của một điểm đến du lịch Trong một chuyến đi, khách du lịch thường quan tâm tới những yếu tố như: vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm, tham quan… Trong các yếu tố đó, vấn đề được khách du lịch đặc biệt quan tâm là tại điểm đến đó có cái gì để họ tham quan, thưởng thức và hoạt động theo đúng ý thích của họ Khách đến một
Trang 21nơi nào đó không phải mục đích chính là ngủ, đi lại bằng mộ phương tiện nào
đó mà chủ yếu là để có cảm giác mới do các điểm du lịch mang lại
Cần hiểu rằng, điểm du lịch rất quan trọng đối với quyết định đi du lịch của khách du lịch, nhưng chi tiêu của khách du lịch tại các điểm du lịch thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng chi tiêu của khách du lịch trong một chuyến du lịch
Thực tế cho thấy, một người khách quyết định đến một nơi nào đó (điểm đến du lịch) trước hết là nơi đó có thể cung cấp cho họ những cảm giác khác với nơi họ thường sống Một người sống ở nông thôn thích tìm đến những nơi đông đúc, nhộn nhịp, có nhiều công trình kiến trúc cửa hiệu,… đẹp ở thành phố; một người sống ở vùng núi thích đi thăm thành phố hoặc vùng biển; trong khi đó người sống ở thành phố thích đến nơi có thể thư giãn, nghỉ ngơi, không khí trong lành, yên tĩnh như vùng biển, vùng núi, hồ, vùng quê…
1.1.1.3 Khách du lịch
Có nhiều quan niệm khác nhau về khách du lịch Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp: “Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành trình lớn” (cuộc hành trình dọc theo bờ Địa Trung Hải, xuống phía tây nam nước Pháp và vùng Bourgone)
Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Joef Stander định nghĩa:
“Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế”
Theo Khadginicolov (Bungari) “Khách du lịch là những hành trình tự nguyện, với những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình, họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”
Như vậy, có nhiều quan niệm về khách du lịch Tuy nhiên, về cơ bản chúng còn phiến diện và chưa phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm Một số mới
Trang 22chỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch, hoặc bóc tách du lịch khỏi các chức năng kinh tế - xã hội…
Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan (năm 1989) đã đưa ra quan niệm:
“Khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú, phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước thường trus của mình hoặc đi đến một nước khác”
Năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Thống
kê liên hợp quốc (UNSC) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
- Khách du lịch quốc tế (International tourist): bao gồm những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia
+ Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): gồm những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia
+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài
- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước
+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến
+ Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trong nước vfa khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Hiện nay, trong các thống kê của Việt Nam: Khách du lịch là những người
đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục, với mục đích chính của chuyến đi là tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành
Trang 23các hoạt động để mang lại thu nhập và kiếm sông sở nơi đến Khái niệm khách
du lịch này được áp dụng cho cả khách du lịch quốc tế, khách du lịch trong nước và áp dụng cho cả khách đi du lịch trong ngày và đi du lịch dài ngày có nghỉ qua đêm
Khách du lịch quốc tế: được hiểu là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của một nước đang thường trú đến một nước khác trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm thu được thù lao ở nơi đến
Khách du lịch trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình ở trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng cùng các mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các công việc nhằm thu được thù lao ở nơi đến
Ở nước ta, theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2017), tại điều 3, chương I thì “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp
đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến”
Tại điều 10, chương II quy định: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch
Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài
cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài
Nhìn chung lại, quan niệm về khách du lịch ít nhiều có những điểm khác nhau, song nhìn lại chung chúng đều đề cập đến:
- Động cơ khởi hành (có thể là đi tham quan, nghỉ dưỡng, thăm người thân, kết hợp kinh doanh,… trừ động cơ lao động kiếm tiền)
- Yếu tố thời gian (đặc biệt chú ý đến sự phân biệt giữa khách tham quan trong ngày và khách du lịch là những người nghỉ qua đêm hoặc có sử dụng một tối trọ)
Trang 24- Những đối tượng được liệt kê là khách du lịch và những đối tượng không được liệt kê là khách du lịch
1.1.1.4 Sản phẩm du lịch
Luật Du lịch Việt Nam 2017 nêu rõ: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch
vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách
du lịch”
Sản phẩm du lịch là một quá trình "trực tiếp" cho phép các doanh nghiệp
và các cơ quan du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực, quốc gia
và quốc tế để các đơn vị này có thể thiết kế và tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra
Sản phẩm du lịch bao gồm cả những sản phẩm vô hình và hữu hình Nó là
sự kết hợp của những thành phần tạo nên sự hấp dẫn và lực hút đối với du khách (như những cảnh quan, kỳ quan thiên nhiên, các di sản văn hóa, các di tích lịch
sử …) với các dịch vụ du lịch (lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm, thông tin …) và cơ sở du lịch (phương tiện vật chất, kỹ thuật, hạ tầng phục vụ
du lịch) trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
1.1.1.5 Tài nguyên du lịch
“Đố i với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”( GS.TS Berneker) Đối với tài nguyên du lịch cũng vậy, dưới mỗi góc nhìn, mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau người ta lại đưa ra những khái niệm khác nhau về tài nguyên du lịch
Theo I.I Pirojinik (1985): “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng đươ ̣c sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để ta ̣o ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép”
Trang 25Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về
tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn ta ̣o và sử dụng cho ngành du lịch mang la ̣i hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”
Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch” Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 còn phân chia tài nguyên du lịch làm hai loại “Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên
du lịch văn hóa” Trong đó quy định rõ:
“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch”
“Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian
và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch”
1.1.2 Vai trò của phát triển điểm du lịch
Một là, phát triển điểm du lịch đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của địa phương và quốc gia Doanh thu của ngành du lịch đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Mặt khác, sự phát triển của điểm
du lịch nói riêng và du lịch nói chung có tác động lan tỏa tích cực đến các ngành, lĩnh vực khác có liên quan (như nông nghiệp, công nghiệp, các ngành dịch vụ), thúc đẩy các ngành, lĩnh vực này cùng phát triển Các địa phương có nguồn thu nhập từ các điểm du lịch ngày càng tăng là những minh chứng cho vai trò của ngành du lịch đối với phát triển kinh tế địa phương
Du lịch phát triển thúc đẩy cơ cấu kinh tế địa phương chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là nhờ tỷ trọng dịch vụ ngày càng tăng và đồng thời thúc đẩy các ngành khác chuyển dịch theo hướng hiện đại và
Trang 26hiệu quả Khai thác các điểm du lịch phát triển kéo theo hạ tầng giao thông phát triển và được bảo vệ, cơ sở lưu trú hiện đại
Hai là, điểm du lịch phát triển đóng góp tích cực vào thực hiện mục tiêu
ổn định chính trị - xã hội và tiến bộ xã hội ngày càng tăng, bảo tồn và tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương Các địa phương có chiến lược
và quy hoạch phát triển các điểm du lịch phù hợp sẽ tạo điều kiện, thúc đẩy các doanh nghiệp và đông đảo người dân thực hiện các hoạt động du lịch có hiệu quả Nhờ đó, công ăn việc làm ở địa phương ổn định và ngày càng tăng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân bản địa Du lịch phát triển góp phần tăng cường sự ổn định chính trị- xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững Phát triển các điểm du lịch tạo nhu cầu, điều kiện và đồng thời cũng đặt ra mục tiêu bảo vệ và tôn tạo các công trình văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể của địa phương, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương nơi có điểm du lịch
Ba là, phát triển điểm du lịch tạo điều kiện và đóng góp tích cực cho bảo
vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Để phát triển du lịch trong dài hạn, các địa phương phải coi trọng công tác bảo vệ môi trường cảnh quan ở các điểm du lịch, bảo đảm môi trường trong sạch Mặt khác, nhờ có việc đầu tư trở lại bằng nguồn thu từ du lịch cho công tác bảo vệ tài nguyên, phát triển các tài nguyên du lịch có khả năng tái sinh và bảo vệ môi trường nên nguồn tài nguyên được bảo vệ, môi trường được cải thiện tốt hơn
Bốn là, phát triển điểm du lịch góp phần nâng cao năng lực hội nhập quốc
tế cho địa phương, đất nước Với việc mở rộng thị trường khách du lịch trong
đó cơ cấu khách du lịch quốc tế ngày càng đa dạng, phong phú, một mặt vừa tạo cơ hội, mặt khác đặt ra trách nhiệm đối với ngành du lịch nói riêng, các ngành, lĩnh vực khác có liên quan và cả nền kinh tế nói chung, phải tăng cường năng lực mọi mặt để phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của hội nhập Bên cạnh
đó, với chất lượng và tính trách nhiệm cao trong phát triển điểm du lịch, sẽ giúp quảng bá, lan tỏa hình ảnh tốt đẹp của địa phương, của quốc gia ra với thế giới, đạt được sự ghi nhận tích cực của bạn bè quốc tế, từ đó tạo thuận lợi cho việc
Trang 27mở rộng, thúc đẩy phát triển các quan hệ giao lưu, giao thương, hợp tác, hội nhập quốc tế
1.1.3 Các yếu tố cấu thành và điều kiện công nhận điểm du lịch
1.1.3.1 Các yếu cấu thành điểm du lịch
Từ góc độ cung, có thể cho rằng điểm đến là tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách Hầu hết các điểm đến bao gồm một hạt nhân cùng các yếu tố sau:
Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn của một điểm đến du lịch dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng đều gây ra động lực ban đầu cho sự thăm viếng của khách
Giao thông đi lại: Rõ ràng giao thông và vận chuyển khách ở điểm đến sẽ làm tăng thêm chất lượng của các kinh nghiệm sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điểm căn bản cho
sự thành công của các điểm đến Sự sáng tạo trong việc tổ chức giao thông du lịch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tập du khách trong việc tiếp cận điểm đến và là một yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch
Nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú của điểm đến không chỉ cung cấp nơi ăn nghỉ mang tính chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi cuồng nhiệt
và ấn tượng khó quên về món ăn và đặc sản địa phương
Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại điểm đến du lịch Bộ phận này có đặc điểm là mức độ tập trung về sở hữu thấp
Hỗn hợp các cấu thành của điểm đến kết hợp theo nhiều cách khác nhau, tất nhiên để du khách sử dụng có hiệu quả hơn thời gian của mình, góp phần làm tăng sự hấp dẫn du khách
Các hoạt động, các yếu tố cấu thành của một điểm du lịch đó là cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của điểm đến Cơ sở hạ tầng biểu thị tất cả các dạng của công trình xây dựng trên hoặc dưới mặt đất cần thiết cho một khu vực dân cư sinh sống bao gồm cả hệ thống thông tin liên lạc mở rộng ra hệ thống bên ngoài Cở sở vật chất kỹ thuật của điểm đến bao gồm toàn bộ những tiện
Trang 28nghi vật chất và phương tiện kỹ thuật của điểm đến du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú và ăn uống, các điểm hấp dẫn được xây dựng, các khu vui chơi, giải trí, các cơ sở thương mại và dịch vụ khác
1.1.3.2 Điều kiện để công nhận điểm du lịch
Theo điều 11, nghị định quy định chi tiết về một số điều của luật du lịch, 168/2017/NĐ-CP
Có tài nguyên du lịch, có ranh giới xác định trên bản đồ địa hình do cơ quan có thẩm quyền xác nhận Tỷ lệ bản đồ phụ thuộc vào yêu cầu quản lý và địa hình khu vực
Có kết cấu hạ tầng, dịch vụ cần thiết bảo đảm phục vụ khách du lịch, bao gồm: Có kết nối giao thông, thông tin liên lạc thuận lợi; Có điện, nước sạch;
Có biển chỉ dẫn, thuyết minh về điểm du lịch; Có dịch vụ ăn uống, mua sắm Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, bao gồm: Có bộ phận bảo vệ trực 24 giờ mỗi ngày; Công khai số điện thoại, địa chỉ của tổ chức, cá nhân quản lý điểm du lịch; Có hình thức tiếp nhận và giải quyết kịp thời phản ánh, kiến nghị của khách du lịch; Nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ, được thông gió và đủ ánh sáng, được bố trí đủ, tương ứng với số lượng khách du lịch vào thời kỳ cao điểm; Có biện pháp thu gom và xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; bố trí nhân lực làm vệ sinh môi trường; Áp dụng các biện pháp phòng, chống cháy
nổ theo quy định của pháp luật
1.2 Cơ sở thực tiễn
Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều tiềm năng để phát triển một ngành
du lịch đa dạng và phong phú với hàng chục ngàn di tích, thắng cảnh Trong đó
có 21 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam, hơn
3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh
Tính đến hết năm 2019, Việt Nam có 9 khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Cát Tiên, Tây Nghệ An, Lang Biang, Cù lao Chàm, Cần Giờ, Cà
Trang 29Mau và biển Kiên Giang Việt Nam còn có rất nhiều vườn quốc gia như Ba Bể, Cúc Phương, Phong Nha - Kẻ Bàng, Côn Đảo, Mũi Cà Mau, Phú Quốc, Phước Bình, Tràm Chim, U Minh Hạ, U Minh Thượng …
Việt Nam có hàng trăm nguồn nước nóng từ 40 - 100 độ Nhiều suối có
hạ tầng xây dựng khá tốt như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi, Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu, Bà Rịa-Vũng Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh, Quảng Ninh
Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang
Việt Nam là một nước đa dân tộc với 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc đều
có những nét đặc trưng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống riêng Điều
đó tạo nên sự đa dạng trong việc khai thác phát triển du lịch
Một số di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới tại Việt Nam đã được UNESCO công nhận như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Ca trù, Hội Gióng, Hát xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ
Chính những tiềm năng dồi dào và đa dạng đó đã hình thành một nền tảng khá vững chắc để du lịch Việt Nam phát triển và hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới
Trong Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định, du lịch là “ Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước”, và Đảng ta đặt ra mục tiêu là phải “Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực” Tổng Cục Du lịch (Việt Nam) chính thức được thành lập ngày 27 tháng 6 năm 1978 Tiền thân của Tổng cục là Công ty Du lịch Việt Nam (ra đời năm 1960) Trải qua nhiều biến cố của lịch sử đất nước, từ khi thành lập đến nay, ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều cố gắng, từng bước khẳng
Trang 30định được vị trí, vai trò của một ngành kinh tế tổng hợp Hiện nay ngành du lịch nước ta đã gặt hái được những thành quả rất đáng tự hào
Tiểu kết chương 1
Ngày nay du lịch thực sự trở thành một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội hiện đại Nó là một trong những nhân tố quan trọng góp phần phục hồi và tái tạo sức sản xuất của con người Việc nghiên cứu phát triển các điểm du ngày càng khẳng định vị trí và vai trò cực kì to lớn của ngành du lịch trong nền kinh
tế quốc dân Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển tại các điểm du lịch nói chung và thực trạng phát triển du lịch của một vùng lãnh thổ hay một địa phương nói riêng sẽ mang nhiều ý nghĩa và có giá trị thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy cho ngành du lịch ngày một phát triển theo hướng bền vững hơn Trong Chương 1, cơ sở lý luận về điểm du lịch đã được trình bày một cách cơ bản
Cụ thể: Chương 1 đã nêu rõ được các khái niệm về du lịch, điểm du lịch, khách du lịch, sản phẩm du lịch, tài nguyên du lịch; trình bày được vai trò của phát triển điểm du lịch cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành điểm
du lịch
Bên cạnh đó, Chương 1 cũng đã trình bày được cơ sở thực tiễn về phát triển điểm du lịch như: tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của Việt Nam
Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển điểm du lịch ở trên là cơ sở quan trọng cho việc phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển các điểm du lịch tại tỉnh Phú Thọ sẽ được trình bày ở Chương 2
Trang 31CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN TẠI CÁC
ĐIỂM DU LỊCH Ở PHÚ THỌ 2.1 Tiềm năng phát triển tại các điểm du lịch ở tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Các điểm du lịch tự nhiên
2.1.1.1 Suối khoáng nóng Thanh Thủy
Nguồn nước ở tỉnh Phú Thọ được khai thác phục vụ phát triển hoạt động
du lịch (với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao và chữa bệnh), bao gồm: mạng lưới sông, hồ, các nguồn nước nóng, nước khoáng
Ở tỉnh Phú Thọ có tài nguyên nước khoángvà nước nóng rất đa dạng về thành phần hóa học, kể cả các nguyên tố vi lượng, độ khoáng hóa, nhiệt độ cũng như khả năng sử dụng làm nước uống, chữa bệnh và phục vụ du lịch Nhiều nguồn nước khoáng có chất lượng cao như ở xã La Phù, huyện Thanh Thủy Theo các nhà nghiên cứu địa chất, suối nước khoáng nóng Thanh Thuỷ được hình thành và dẫn lên gần mặt đất từ đứt gãy ngầm Sông Đà, nơi giao nhau với đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam với diện tích trên 1km2 , trữ lượng gần
20 triệu m3 Sau đó nguồn nước khoáng này được các công ty du lịch khai thác, hút lên trên mặt đất qua một quá trình lọc tối thiểu loại bỏ những cặn bã dư thừa
để rồi đưa vào các bể tắm khoáng nóng Thanh Thủy để sử dụng
Thành phần nước khoáng nóng Thanh Thủy là một dung dịch hỗn hợp chứa nhiều chất ion hóa mạnh, các chất men và hầu hết các nguyên tố hóa học cấu thành vỏ trái đất, nổi bật có thành phần khoáng chất lưu huỳnh Việc dùng nước suối khoáng từ lòng đất phun lên để tắm và uống có thể chữa một số bệnh
và tăng cường sức khỏe Tác dụng điều trị của nước suối khoáng được tạo nên bởi nhiệt độ của nước, các ion, tính phóng xạ, các muối hòa tan, các kim loại
và á kim, các nguyên tố vi lượng, các khí hiếm…Các loại nấm, rong li ti trong bùn suối khi đắp lên người cũng có công dụng điều trị
Theo tài liệu đã nghiên cứu của các nhà địa chất tỉnh Phú Thọ Suối khoáng nóng thanh thủy là nguồn nước nóng thiên nhiên có nhiều thành phần khoáng chất như lưu huỳnh Đặc biệt nguồn nước nơi đây đã được liên hiệp khoa học địa chất Việt Nam công nhận là vùng suối nước nóng Radon (Rn) đầu tiên ở
Trang 32miền Bắc nước ta, nước khoáng có Rn rất quý cho điều dưỡng Rn là khí phóng
xạ có tính phân rã cao, điều đó giải thích vì sao Rn chỉ phát hiện được ở những trung tâm dị thường có nhiệt độ cao, nhưng ra xa trung tâm nguồn nước khoáng thì nhiệt độ của nước nóng giảm, Rn không còn phát hiện được
2.1.1.2 Vườn quốc gia Xuân Sơn
Xuân Sơn là vườn quốc gia (VQG) đứng thứ 12 trong tổng số 25 VQG đã được chính phủ phê duyệt nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ VQG Xuân Sơn nằm ở điểm cuối của dãy Hoàng Liên Sơn Vườn được ví là “lá phổi xanh”, là điểm du lịch hấp dẫn nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1884: khu vực VQG có các quá trình phát triển địa chất phức tạp, các nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp sông mưa Toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi, nham thạch gồm nhiều loại
có độ tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp Phía Tây và Tây Nam
có các dãy núi thấp và trung bình được cấu tạo bằng các loại đá trầm tích, biến chất màu đỏ có kết cấu hạt mịn, tuổi Jura – creta
Từ trung tâm xã Xuân Sơn theo hướng Tây Bắc có các dãy núi đá vôi khá cao, cao nhất trong các đỉnh 1.200m Đá vôi có màu trắng xám, cấu tạo khối, tuổi Triat trung Trong dãy núi đá vôi này thường gặp các thung tròn có nước chảy trên mặt như thung làng Lạng, làng Dù và làng Lấp,… các thung được lấp đầy các tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm Các thung biến thành cánh đông dạng này khá rộng và trở thành bình địa phù sa màu mỡ
VQG nằm trong một vùng núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi đây kết thúc của dãy Hoàng Liên Sơn Vùng đồi núi thấp này lan tỏa rộng
từ hữu ngạn sông Hồng sang tả ngạn sông Đà, bao gồm cả huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Nhìn toàn cảnh, các dãy đồi núi chỉ cao chừng 600 – 700m Hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá biến chất quen thuộc, hướng nghiêng chung của địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Cao nhất là đỉnh núi Voi (1.368m), tiếp đến núi Ten (1.244m) và núi Cẩn chia cắt sâu khá lớn các sườn dốc bình quân 200, nhìn chung địa hình trong khu vực
Trang 33có những dạng chính sau: Kiểu trung bình (cao từ 700 – 1368 m), Kiểu địa hình núi thấp (300 – 700m), kiểu đồi ( dưới 300m), thung lũng và bồn địa
Kiểu địa hình đa dạng đã tạo cho VQG Xuân Sơn một số lợi thế để phát triển các hoạt động du lịch Ở Xuân Sơn có hệ thống hang động đá vôi kì thú
do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Vào thăm hang động ở đây chúng
ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống tạo nên muôn hình vạn trạng, nhiều hang còn có suối chảy qua lại them vẻ đẹp hữu tình kỳ
vỹ Có thể nói, hang động là một nét nhấn khá nổi bật đối với một số loại hình
du lịch, các hang động ở đây điển hình là: Hang Lạng, hang Lun,…
Theo thống kê bước đầu, VQG Xuân Sơn có 726 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 475 chi và 134 họ trong đó có 52 loại thuộc ngành quyết và ngành hạt trần Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở VQG Xuân Sơn còn có các loài nổi tiếng như: re, dẻ, sồi và mộc lan … Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như: táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ, chò chỉ, vầu đắng… Xuân Sơn còn
là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ đặc biệt là cây rau sắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc tại đây có 365 loài động vật, trong đó có
46 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong sách đỏ thế giới
Ngoài các điểm trên Phú Thọ còn rất nhiều các điểm du lịch tự nhiên khác như: đầm Ao Châu (Hạ Hòa), Ao Giời – Suối Tiên (Hạ Hòa), hồ Đồng Mậu (Đoan Hùng),
2.1.2 Các điểm du lịch văn hóa
Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hóa được coi là một trong những tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng nhất Đây là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch tại Phú Thọ Hiện nay trên địa bản tỉnh Phú Thọ đã được công nhận hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đó là: “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” và “Hát Xoan Phú Thọ” Loại tài nguyên này gắn liền với môi trường xung quanh, thể hiện sự sinh động trong quá khứ đã hun đúc nên và làm cho cuộc sống thêm đa dạng và phong phú Qua thời gian các di sản đã chứng minh cho những sáng tạo to lớn về văn
Trang 34hóa, tôn giáo và xã hội loài người việc bảo vệ, khôi phục và tôn tạo những thành quả của loài người trong các thời kì lịch sử không chỉ là trách nhiệm bảo tồn của nhân loại, mà còn tạo điều kiện để những giá trị vô giá đó có thể được khai thác trong các mục đích du lịch của tỉnh
Ngày 6/12/2012, tại kỳ họp thứ 7, Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003
về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Đây là lần đầu tiên một di sản văn hóa của Việt Nam được vinh danh
vệ khẩn cấp Bằng đề án và kế hoạch hành động cụ thể, sự đồng thuận của các cấp, các ngành, của nhân dân và đặc biệt của các cộng đồng Xoan, tỉnh Phú Thọ đã phục hồi và tạo sức sống mãnh liệt cho di sản Hát Xoan Theo Ủy ban liên chính phủ, Hát Xoan Phú Thọ đảm bảo đủ 5 tiêu chí vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại theo tinh thần Công ước năm 2003
về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Các di tích lịch sử - văn hóa được coi là một trong những tài nguyên văn hóa vô giá Đây là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch tại Phú Thọ Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của tỉnh Phú Thọ, mà ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật Di tích lịch sử - văn
Trang 35hóa có khả năng to lớn, góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử Đó chính là bộ mặt quá khứ của tỉnh Phú Thọ
2.1.2.1 Khu di tích lịch sử đền Hùng
Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng nằm trên vùng đất Việt Trì, Phú Thọ Hàng năm cứ vào dịp mồng 10 tháng 3 Âm lịch, triệu triệu người con lại hướng về nơi thờ Quốc Tổ; hàng trăm ngàn người từ khắp mọi miền đất nước lại hành hương về Đền Hùng để tưởng nhớ và tri ân công lao dựng nước của Tổ tiên
Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm trên địa bàn hai xã Hy Cương và Chu Hóa, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Phía đông giáp xã Kim Đức và xã Vân Phú (Thành phố Việt Trì); phía Tây giáp xã Tiên Kiên; phía Nam giáp xã Chu Hóa và thị trấn Hùng Sơn (huyện Lâm Thao); phía Bắc giáp xã Phù Ninh (huyện Phù Ninh) Nằm trong một khu vực có địa hình phần lớn là đồi núi, đây
là vùng bán sơn địa chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng cho nên cảnh quan khá đa dạng: có cả rừng núi, đồi gò và đồng bằng Không phải tới bây giờ mà ngay từ buổi đầu định đô, dựng nước, Vua Hùng đã nhìn thấy vùng đất này là một kỳ quan của tạo hóa, là nơi “Sơn chầu, Thủy tụ”, mang đậm khí thiêng của đất trời, sông núi
Tổng diện tích quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử Đền Hùng là 845 héc-ta; bao gồm 4 điểm tham quan chính là: đền thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân trên núi Sim, đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ trên núi Vặn và Bảo tàng Hùng Vương trên đồi Công Quán
Các công trình trên núi Nghĩa Lĩnh:
Núi Nghĩa Lĩnh còn có tên gọi là núi Hùng: Đây là ngọn núi cao nhất trong vùng, có độ cao 175m so với mực nước biển, lúc đầu dân cư địa phương gọi là núi Cả Về sau, khi các ngôi đền được xây dựng trên núi để thờ các Vua Hùng thì nhân dân gọi là núi Hùng Phía Đông (bên tả) là dãy Tam Đảo trùng điệp, phía nam là dãy Ba Vì cao ngất Ngày nay, trên núi Hùng có các công trình thờ
Trang 36tự bao gồm: Cổng Đền, đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng mộ Vua Hùng thứ 6, đền Giếng và một ngôi chùa tên chữ là Thiên Quang thiền tự
Cổng đền: Được xây dựng năm Khải Định thứ hai (năm 1917) do gia đình
bà Phạm Thị Thịnh ở Hà Nội cung tiến toàn bộ tiền xây dựng
Đền Hạ: Theo sử sách thì Đền Hạ do dân làng Vi Cương, xã Chu Hóa,
huyện Lâm Thao (nay thuộc thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao) xây dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII - XVIII)
Đền Hạ có kiến trúc kiểu chữ Nhị (=), gồm hai toà Tiền bái và Hậu cung; mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m; Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa, bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật, mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn Hậu cung Đền Hạ có ba gian, hai bên đầu đốc có đắp Hổ phù gắn chữ Thọ Tường hậu giáp bệ thờ đắp hình “Long chầu nguyệt” Hậu cung của ngôi đền là nơi đặt thờ các Long ngai bài vị thờ Thần núi, thờ các Vua Hùng và thờ hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái Hùng Vương thứ 18 Năm
2010, ngôi đền được đầu tư tôn tạo vững chãi, khang trang hơn
Chùa Thiên Quang: Di tích chùa Thiên Quang bao gồm: Chùa, Mộ tháp,
Tam quan - gác chuông
Chùa được xây dựng vào thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV) với tên gọi là Viễn Sơn Cổ tự Thế kỷ XV, chùa được đổi tên là Thiên Quang Thiền tự Thời
Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI), chùa được tôn tạo lại, đến thời Tự Đức năm thứ
3 (1850), chùa được làm lại theo kiến trúc kiểu nội công, ngoại quốc Trong kháng chiến chống Pháp chùa bị tàn phá, chỉ còn kiến trúc kiểu chữ Công Năm
1999 - 2000 chùa được đại trùng tu giữ nguyên kiểu dáng cũ Năm 2015 chùa được tu bổ, tôn tạo, phục dựng lại bằng chất liệu bền vững, đồng thời xây dựng thêm nhà Tổ và hai dãy hành lang đặt tượng các vị La Hán Hiện nay chùa có kiến trúc kiểu “Nội công, ngoại quốc”
Trước cửa chùa có cây vạn tuế ba ngọn độc đáo, gần 800 năm tuổi Ngày 19/9/1954, khi đến thăm Đền Hùng, Bác Hồ đã ngồi trước thềm chùa, dưới gốc cây vạn tuế để nghe đồng chí Thanh Quảng (Chánh văn phòng Quân ủy Trung
Trang 37ương) và đồng chí Song Hào (Chính ủy Đại Đoàn quân Tiên Phong) báo cáo
về tình hình Đại đoàn quân Tiên Phong và kế hoạch đưa bộ đội về tiếp quản Thủ đô Hà Nội
Đền Trung: Đền Trung có tên chữ là Hùng Vương Tổ Miếu (Miếu thờ Tổ Hùng Vương) Đền được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII) Thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược đã tàn phá đền Năm 1998, đền Trung được trùng tu vẫn giữ nguyên kiểu dáng chữ Nhất, một tòa, 03 gian quay về hướng Nam Năm 2009, đền Trung được tu bổ, tôn tạo lại, kiểu dáng chữ Nhị (=), hai tòa, gồm: Tiền bái và Hậu cung Trong Hậu cung có đặt ngai, bài vị thờ Đột Ngột Cao Sơn, Ất Sơn, Viễn Sơn và các đời Vua Hùng để nhân dân hương khói phụng thờ
Khi Lang Liêu dâng lên vua cha, hai loại bánh ấy được Vua Hùng rất ưng
ý nên đã quyết định truyền ngôi cho chàng, đồng thời Vua Hùng đặt tên bánh hình tròn tượng trưng cho trời là bánh giày, bánh hình vuông tượng trưng cho đất là bánh chưng Kể từ đó, mỗi khi Tết đến xuân về, trên mâm cỗ cúng Tổ tiên, dân gian thường làm hai thứ bánh này để tạ ơn Trời Đất
Đền Thượng: Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện”, dịch là
“Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh”
Đền Thượng có kiến trúc theo kiểu chữ Vương, có ba cấp: phía trước là nghi môn, đại bái (cấp I), tiền tế (cấp II) và hậu cung (cấp III) Trong đó nghi môn được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn gồm 4 trụ lớn tạo thành ba cổng mái vòm Chính giữa là cổng lớn; hai cửa phụ hai bên nhỏ hơn Ở các cột trụ phía trên đắp lồng đèn, bốn mặt đắp hình tứ linh, đỉnh cột hai bên đắp nghê chầu; hai cột giữa trên đỉnh mỗi cột là bốn con phượng cách điệu; ở giữa phía trên nóc cổng có đắp hình trang trí “Lưỡng long chầu nguyệt”, hai bên có tượng
võ sỹ Phía trước ở chính giữa cửa đền có bức đại tự: “Nam Việt Triệu tổ”; hai bên cửa phụ có hai cuốn thư, cửa bên trái đề “Nguyệt Minh”, cửa bên phải đề
“Nhật Ánh”
Lăng Hùng Vương: Tương truyền đây là lăng mộ của Hùng Vương thứ
VI, theo lời căn dặn của nhà vua với con cháu trước khi mất: "Khi ta chết, hãy
Trang 38chôn ta trên đỉnh núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu"
Xưa kia là mộ đất có mái che Năm Tự Đức thứ 27 (1874) mộ và lăng được xây dựng lại, lăng được tôn tạo vào năm 1914 và năm 1922 Năm 2008 được trùng tu như hiện nay
Đền Giếng: Đền Giếng có tên chữ là “Ngọc tỉnh”, nằm ở phía Đông Nam chân núi Đền Giếng được xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ Công (工), gồm hậu cung và tiền bái kiến trúc kiểu chuôi vồ Tiền bái có ba gian, toàn bộ khung
và cánh cửa đều được làm bằng gỗ lim bền chắc, mái lợp ngói mũi Gian đại bái có một giếng nước hình tròn, được gọi là Giếng Ngọc Giếng sâu gần 2m, nước trong mát quanh năm Thành giếng được làm từ một khối đá liền đục ra
Kể từ khi được xây dựng vào thế kỷ XVIII, đến nay đền Giếng cũng đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần (1922, 1998) Năm 2010, đền Giếng đã được xây dựng lại khang trang và bền chắc hơn, nhưng vẫn giữ theo lối kiến trúc của đền cũ
2.1.2.2 Đền Mẫu Âu Cơ
Nằm trên vùng đất địa linh nhân kiệt (xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ), Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình lịch sử văn hoá đặc biệt, là biểu tượng của tinh thần yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc Hình tượng
mẹ Âu Cơ sinh ra con Lạc cháu Hồng nước Việt trong một bọc trăm trứng đã trở thành hình tượng bất hủ sống mãi trong tư tưởng, tình cảm và tâm trí của các thế hệ người Việt Nam
Trang 39người con Khi các con lớn lên Lạc Long Quân nói với bà Âu Cơ “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khó mà hoà hợp bèn chia 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển để lưu truyền đựơc lâu dài,
về sau tất cả các con đều hoá thần Trong 50 người con theo mẹ thì người con đầu lên nối ngôi vua, lấy niên hiệu Hùng Vương thứ nhất, đặt tên là nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, truyền 18 đời vua Hùng trị vì đất nước trong
2621 năm (Từ năm Nhâm Tuất 2879 đến năm 258 TCN)
Bà Âu Cơ cùng các con đi đến đâu cũng thu phục nhân tâm, dạy dân cấy lúa trồng dâu, nuôi tằm dệt vải Trên con đường dài muôn dặm đó, một ngày kia Người đến trang Hiền Lương, quận Hạ Hoa, trấn Sơn Tây.Thấy phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, có núi cao đồng rộng, sông dài, có hồ nước trong xanh bát ngát, cỏ cây hoa lá tốt tươi, cá chim muông thú dồi dào Người cho khai hoang lập ấp, dạy dân cấy lúa trồng dâu, nuôi tằm dệt vải Giếng Loan, giếng Phượng,
gò Thị, gò Cây Dâu là những cái tên từ thủa xa xưa đến nay vẫn còn đọng mãi trong ký ức người dân nơi đây
Khi trang ấp đã ổn định, người lại cùng các con lên đường đến các vùng đất mới Đến khi giang sơn đã thu về một mối, bờ cõi biên cương được mở rộng, Người lại trở về với Hiền Lương, nơi người đã chọn để gắn bó cuộc đời của mình Tương truyền ngày 25 tháng chạp năm Nhâm Thân, bà Âu Cơ cùng bầy tiên nữ bay về trời để lại dưới gốc đa một dải yếm lụa, ở đó nhân dân đã dựng lên một ngôi miếu thờ phụng, đời đời hương khói
Để tri ơn công đức Tổ Mẫu Âu Cơ và giáo dục truyền thống dân tộc, cách đây hơn 500 năm, thế kỷ thứ XV thời hậu Lê, vua Lê Thánh Tông đã phong thần và cho xây dựng Đền Mẫu Âu Cơ tại xã Hiền Lương - huyện Hạ Hoà; Đền Mẫu Âu Cơ đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1991 Ngày lễ chính của Đền Âu Cơ là ngày “Tiên giáng” mùng bảy tháng giêng, ngoài ra trong năm còn có các ngày lễ khác là ngày 10-11 tháng 2, ngày 12 tháng 3, ngày 13 tháng 8 Nhân dân trong vùng từ già, trẻ, gái, trai ai cũmg thuộc câu ca:
Mồng bảy trong tiết tháng giêng
Trang 40Dân Hiền tế lễ trống chiêng vang trời
Nghi lễ của ngày hội: Vào sáng sớm mồng 7 tháng giêng tổ chức lễ tế Thành Hoàng ở Đình, đây là đội tế toàn nam giới; Đến giờ Thìn (từ 7 đến 9 giờ) đoàn rước kiệu từ Đình Đức Ông vào đến sân Đền, phường Bát âm chỉ dùng Đàn, Sáo, Nhị, Trống, phách Lễ vật dâng Mẫu bao gồm: cỗ chay, ngũ quả, tiền giấy ngũ sắc Đội tế nữ gồm 12 cô gái thanh tân có nhan sắc và học vấn, mặc áo dài với các mầu sặc sỡ và tế theo nghi lễ truyền thống
Dẫu vật đổi sao dời, dẫu thời gian có biến thiên, không gian có xoay vòng thì từ bao đời nay, truyền thống, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ
kẻ trồng cây" vẫn chảy mãi trong tình mỗi người con đất Việt Miếng cơm hôm nay bắt nguồn từ cây lúa ngày xưa mẹ Âu Cơ dạy ta cày cấy, áo quần ta mặc cũng từ cây dâu, con tằm Mẹ dạy ta trồng Biết ơn tổ tiên, nhớ về cội nguồn dân tộc là đạo đức, tình cảm là lẽ sống, là đạo lý mà ông cha đời đời căn dặn con cháu Đó cũng là sức mạnh để dòng giống Lạc Hồng quyết tâm bảo về giang sơn tổ tiên để lại, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, phồn thịnh và phát triển
Xưa kia, trong huyền tích, Mẹ Âu Cơ dừng chân tại Hiền Lương lập sơn trang, dạy dân trồng lúa nước, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải Chính vì vậy, lễ vật dâng lên Mẫu Mẹ cũng gắn liền với sự trù phú của đời sống nông nghiệp ở vùng này Để làm các lễ vật dâng lên Mẹ, đến gần ngày lễ, người dân Hiền Lương bơi thuyền ra giữa sông Hồng, chọn nơi nước trong nhất múc nước về
để chế biến các thứ bánh và lễ dâng Quốc Mẫu Nghi thức này được người dân
tổ chức trang trọng và thiêng liêng
Trăm thứ bánh làm nên thơm thảo, người dân quanh vùng Hiền Lương tấp nập làm bánh ngọt để dâng lên Mẫu Mẹ Bánh được làm bằng bột gạo nếp thơm
và mật mía ngon, nhào kỹ rồi lăn thành hình tròn dài, cắt thành từng đoạn như đốt tre hấp chín Một trăm cầu bánh ngọt cùng với xôi nếp, chè lam, 100 phẩm oản bằng xôi nếp, hoa thơm là lễ vật dâng lên Mẫu Mẹ Âu Cơ vào ngày chính
lễ Lễ chỉ dùng đồ chay để dâng Mẫu chứ không dùng đồ mặn