1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị của một số nhà cải cách ở việt nam nửa cuối thế kỷ XIX

104 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tư Tưởng Cải Cách Chính Trị, Kinh Tế Của Một Số Nhà Cải Cách Ở Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX
Tác giả Nguyễn Ngọc Ánh
Người hướng dẫn ThS. Đoàn Thị Loan
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ nhận thức được vận mệnh của dân tộc và lo lắng về tình hình đất nước, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã xuất hiện một số xu hướng cải cách của tầng lớp Nho

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA DU LỊCH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA DU LỊCH

-

NGUYỄN NGỌC ÁNH

ĐÁNH GIÁ TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NHÀ CẢI CÁCH

Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Sư phạm Lịch sử

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS ĐOÀN THỊ LOAN

Phú Thọ, 2019

Trang 3

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vương, các Phòng, Ban trong trường đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa Du lịch đã định hướng, hướng dẫn, chỉnh sửa và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo ThS Đoàn Thị Loan, cô luôn tận tình, hướng dẫn, chỉ bảo và từng bước chỉnh sửa những thiếu sót trong quá trình thực hiện nghiên cứu, để bài khóa luận của em có giá trị và khoa học nhất

Em cũng xin gửi lời biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận

Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu có hạn, chắc chắn đề tài khóa luận nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, nên em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy cô và các bạn để em có điều kiện hoàn thiện hơn nữa khóa luận của mình

Phú thọ, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Ánh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

7 Cấu trúc khóa luận 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX 8

1.1 Bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX 8

1.1.1 Bối cảnh thế giới 8

1.1.2 Sự khủng hoảng của triều đình nhà Nguyễn 12

1.1.3 Sự xuất hiện của tầng lớp sĩ phu yêu nước nửa cuối thế kỉ XIX 17

1.2 Tư tưởng cải cách về kinh tế, chính trị nửa cuối thế kỉ XIX 21

1.2.1 Tư tưởng cải cách kinh tế 21

1.2.2 Tư tưởng cải cách về chính trị 30

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX 38

2.1 Đặc điểm của tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX 38

2.1.1 Đặc điểm của tư tưởng cải cách kinh tế 38

2.1.2 Đặc điểm của tư tưởng cải cách chính trị 40

2.2 Những điểm tích cực và hạn chế của tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX 41

2.2.1 Tính tích cực trong tư tưởng cải cách kinh tế chính trị cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX 41

Trang 5

Nam nửa cuối thế kỉ XIX 44

2.3 Thái độ của triều Nguyễn đối với các đề nghị canh tân, đổi mới đất nước 46

Tiểu kết chương 2 50

Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 51

3.1 So sánh tư tưởng cải cách với các nước trong khu vực Đông Nam Á 51

3.2 Nguyên nhân thất bại của các tư tưởng cải cách nửa cuối thế kỷ XIX 54

3.3 Bài học cho công cuộc xây dựng đất nước ngày nay 62

3.3.1 Những bài học kinh nghiệm 62

3.3.2 Đối chiếu tư tưởng canh tân kinh tế, chính trị cuối thế kỷ XIX với công cuộc xây dựng đất nước hiện nay 64

Tiểu kết chương 3 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ và chuyển dần từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa) Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường, đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông Mục đích của việc xâm lược là để biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước thực dân phương Tây

Vào thời điểm này, trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, các nước ở khu vực Châu Á đã có những phản ứng khác nhau Trong đó, một số nước như Nhật Bản, Xiêm (Thái Lan) đã tiến hành những cuộc cải cách để đưa đất nước thoát khỏi số phận thuộc địa và phát triển nền kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa Ở Nhật Bản, vào năm 1868, sau khi lên ngôi, Thiên hoàng Minh Trị đã tiến hành cải cách đất nước trên tất cả các lĩnh vực Cuộc cải cách đó đã đưa Nhật Bản bước vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi số phận một nước thuộc địa và trở thành nước đế quốc đầu tiên ở châu Á Ở Xiêm, dưới thời vua Rama IV (1851- 1868), Rama V (1868- 1910)

đã tiến hành cải cách, mở cửa bằng những biện pháp thỏa hiệp, ngoại giao mềm dẻo Chính sách đối ngoại khôn khéo đã đưa Xiêm thoát khỏi ách thống trị trực tiếp của thực dân, trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á giữ được độc lập và tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản ở nước này phát triển

Ở Việt Nam, vào năm 1802, Nguyễn Ánh lập ra vương triều Nguyễn, lấy niên hiệu là Gia Long Đến giữa thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng toàn diện Cuộc khủng hoảng đã cho thấy tất cả những mâu thuẫn ở Việt Nam lúc bấy giờ, đó là mâu thuẫn về kinh tế xã hội do quan hệ sản xuất phong kiến đã lỗi thời kìm hãm mầm mống tư bản

Trang 7

chủ nghĩa; mâu thuẫn chính trị - xã hội: biểu hiện nhiều phong trào đấu tranh chống phong kiến, khủng hoảng cung đình ngày càng bộc lộ; mâu thuẫn văn hóa - tư tưởng với sự xâm nhập của nền văn hóa, tư tưởng mới của chủ nghĩa thực dân (Thiên Chúa Giáo), Nho giáo - vốn được coi là quốc giáo nay không còn là tối thượng nữa và điển hình bao trùm nhất là mâu thuẫn dân tộc và thời đại Bên cạnh đó, các nhà vua nhà Nguyễn, từ vua Gia Long đến vua Minh Mệnh lại thể hiện sự bảo thủ, trì trệ, lúng túng, bị động, thiếu nhận thức đầy đủ về thời thế và không quan tâm đến việc cải cách canh tân đất nước Trước tình hình Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XIX, đòi hỏi nước ta cần

có những cải cách theo hướng tiến bộ của thời đại “Nói đến cải cách là nói

đến biện pháp giải quyết một cuộc khủng hoảng xã hội Hay nói một cách khác, cải cách nhằm giải quyết khủng hoảng xã hội Có thể là khủng khoảng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, mà thường là do khủng hoảng kinh tế sâu sắc, kéo dài theo cả khủng hoảng chính trị, văn hóa, xã hội, tức là khủng hoảng toàn diện Có khi lại chỉ là khủng hoảng bộ phận như khủng hoảng kinh tế - xã hội, mặc dầu chính trị, văn hóa ổn định Hay khủng hoảng cung đình thường diễn ra trong nền phong kiến chuyên chế xa xưa hay khủng hoảng cơ cấu quyền lực thường diễn ra hiện nay” [16;215] Do đó, cải cách

là một nhu cầu không thể thiếu trong lịch sử dân tộc nhằm đưa đất nước phát triển, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, lệ thuộc, nô lệ và sự nhòm ngó xâm lược của kẻ thù Nhờ nhận thức được vận mệnh của dân tộc và lo lắng về tình hình đất nước, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã xuất hiện một số xu hướng cải cách của tầng lớp Nho sĩ và quan lại với những đại diện tiêu biểu như: Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch,

Việc nghiên cứu tư tưởng cải cách chính trị, kinh tế của một số nhà cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX sẽ góp thêm một góc nhìn về trào lưu cải cách ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đánh giá được vai trò của đội ngũ tri thức

Trang 8

nửa cuối thế kỷ XIX đối với vận mệnh dân tộc và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay Pháp, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay Với

những lí do trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá tư tưởng cải cách kinh tế, chính

trị của một số nhà cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX” làm khóa luận

tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đặc biệt là vấn đề canh tân, cải cách đất nước đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu Những công trình nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng, tiêu biểu như:

Năm 1985, Nhà xuất bản Đông Nam Á đã cho ra mắt cuốn Bùi Viện với

chính phủ Mỹ - lịch sử ngoại giao triều Tự Đức của Phan Trần Chúc Nội

dung của tác phẩm chủ yếu đề cập đến hành trình đi Mỹ của Bùi Viện Qua chuyến đi đó, ông mở rộng được tầm nhìn, thấy được sự phát triển nước Mỹ

và sau khi về nước thì ông đã đưa những bản điều trần của mình lên Tự Đức

Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo của tác giả Trương Bá Cần Trong

công trình này, tác giả đã sưu tầm những kiến nghị, điều trần của Nguyễn Trường Tộ đồng thời tìm kiếm khá đầy đủ về những tư tưởng của ông

Năm 1997, công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 2) của tác giả Lê

Sỹ Thắng được nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành Tác phẩm đã trình bày khái quát sự ra đời của tư tưởng canh tân đất nước cuối thế kỷ XIX và những

cơ sở hình thành tư tưởng đó Cùng với đó, tác giả phân tích khá rõ ràng những bản điều trần, những kiến nghị của các nhà canh tân đất nước trên tất

cả các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, giáo dục, đối ngoại,… của các nhà canh tân tiêu biểu cuối thế kỷ XIX đó là: Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch

Trang 9

Năm 1999, công trình Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn

do nhiều tác giả đã được nghiên cứu được nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản Trong tác phẩm tác giả đề cập đến quá trình chuyển biến trong nhận thức của các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX như: Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ,…

Năm 2006, tác phẩm Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt

Nam của tác giả Văn Tạo đã được Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội ấn

hành Tác phẩm đề cập đến mười cuộc cải cách tiêu biểu trong suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam, bắt đầu từ cải cách của Khúc Hạo, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Trịnh Cương, Minh Mệnh, Nguyễn Trường Tộ đến phong trào đổi mới đầu thế kỷ XX

Năm 2011, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội đã tập hợp nhiều

các bài viết của nhiều tác giả và xuất bản thành cuốn Lịch sử nhà Nguyễn –

một cách tiếp cận mới Trong công trình này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra

những nguyên nhân dẫn đến thất bại của xu hướng canh tân đất nước nửa cuối

thế kỷ XIX Như tác giả Đỗ Thanh Bình viết về Triều đình nhà Nguyễn không

chấp nhận hay không thể thực hiện các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường

Tộ Hay như tác giả Nguyễn Trọng Văn đưa ra bài viết Về nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX Hai bài nghiên

cứu đó hai tác giả đã nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trường

Tộ và nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân cuối thế kỷ XIX

Bên cạnh đó, còn có các công trình khác nghiên cứu về Nguyễn Trường

Tộ như Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2011 của tác giả Bùi Kha; Nguyễn Trường Tộ với triều Tự Đức

(nhà xuất bản Trẻ, năm 2013) của tác giả Nguyễn Đình Đầu

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX còn có những công trình mang tính thông sử có liên quan đến thời gian

lịch sử này như: Cuốn Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, tập IV

Trang 10

do Nguyễn Ngọc Cơ chủ biên (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội); hay

cuốn Đại cương Lịch sử Việt Nam toàn tập của các tác giả Trương Hữu

Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (Nhà xuất bản Giáo dục, 2006); cuốn

Tiến trình lịch sử Việt Nam do tác giả Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (Nhà

xuất bản Giáo dục, 2006) Đặc biệt là cuốn Lịch sử Cận – hiện đại Việt Nam,

một số vấn đề nghiên cứu (Nhà xuất bản Thế giới, 1998) của tác giả Đinh

Xuân Lâm Trong tác phẩm này, tác giả đã làm sáng tỏ trách nhiệm của triều Nguyễn đối với sự thất bại của xu hướng đổi mới canh tân đất nước cuối thế

kỉ XIX

Như vậy cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về xu hướng cải cách ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX Các công trình ở trên là những nguồn tài liệu tham khảo hết sức quý giá cho tôi thực hiện khóa luận Tuy nhiên, những công trình đó chủ yếu tập trung nghiên cứu vào từng cá nhân và những

tư tưởng canh tân của họ, chưa đi sâu vào những cải cách cụ thể về lĩnh vực lĩnh kinh tế và chính trị Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu đó, cùng với nguồn tài liệu sưu tập được tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề nghiên cứu của khóa luận

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu những đề nghị cải cách đất nước về kinh tế, chính trị của một số nhà cải cách tiêu biểu ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX từ đó đưa ra đánh giá, nhận xét về những đề nghị cải cách đó và rút ra bài học kinh nghiệm để vận dụng cho công cuộc xây dựng đất nước ngày nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX của một số nhà cải cách tiêu biểu như: Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ…

Trang 11

- Tìm ra những điểm tích cực, giá trị, hạn chế của tư tưởng cải cách về kinh

tế, chính trị ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX

- Từ việc nghiên cứu các tư tưởng cải cách rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xu hướng đánh giá cải cách về kinh

tế, chính trị của một số nhà cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX như: Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện,…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Việt Nam

- Thời gian: nửa cuối thế kỷ XIX

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện khóa luận này, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp chuyên ngành: phương pháp lịch sử, phương pháp

lô-gic là hai phương pháp chủ yếu

+ Phương pháp lịch sử: được sử dụng khi nghiên cứu các tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị của một số nhà cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX và đánh giá về tư tưởng cải cách đó

+ Phương pháp logic: được sử dụng khi nghiên cứu các tư tưởng cải cách của một số nhà canh tân nửa cuối thế kỷ XIX về kinh tế, trên các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tiếp thu khoa học kỹ thuật và

về chính trị; tổ chức bộ máy nhà nước, những đề nghị cải cách về chính trị

- Phương pháp liên ngành: Phân tích, so sánh, tổng hợp

+ Phương pháp phân tích: sử dụng khi phân tích về những cải cách kinh

tế, chính trị của một số nhà canh tân nửa cuối thế kỷ XIX

+ Phương pháp so sánh: Được sử dụng khi so sánh những cải cách về kinh tế, chính trị của những nhà cải cách với nhau ở các mức độ chuyên môn

Trang 12

khác nhau Đồng thời, so sánh với cuộc các cuộc cải cách của Xiêm, Trung Quốc, Nhật Bản về hoàn cảnh lịch sử để cải cách ở mỗi nước

+ Phương pháp tổng hợp: được sử dụng trong việc tổng hợp các luận điểm đã đưa ra

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Khóa luận nghiên cứu về tư tưởng cải cách của một số nhà tư tưởng ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX như: Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, rút ra một số đặc điểm, giá trị

và hạn chế của các tư tưởng đó

Giá trị thực tiễn của khóa luận là trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam cận đại Việc triển khai nghiên cứu các nội dung của khóa luận là một lần mở lại những vấn đề canh tân cải cách trong lịch sử dân tộc để rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn cho công cuộc đổi mới đất nước hiện nay về các lĩnh vực cải cách, biện pháp tiến hành cải cách và cả thời điểm thực hiện cải cách

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị Việt Nam nửa cuối

thế kỉ XIX

Chương 2: Đặc điểm và giá trị của tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị Việt

Nam nửa cuối thế kỉ XIX

Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ

VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX 1.1 Bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX

1.1.1 Bối cảnh thế giới

Vào cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở các nước phương Tây bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn cao của nghĩa tư bản Biểu hiện

rõ nhất của sự chuyển biến này thể hiện trong công nghiệp, sự phá sản của các

xí nghiệp loại nhỏ, các xí nghiệp lớn thâu tóm công ty nhỏ hình thành các tổ chức lũng đoạn xuất hiện với các hình thức các-ten, xanh-đi-ca, tơ-rớt, cóng-xóc-xi-um,… và nhanh chóng trở thành cơ sở của toàn bộ đời sống kinh tế các nước tư bản Cùng với đó là những tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng được đưa vào sản xuất tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất lao động Năng suất lao động cao, hàng hóa sản xuất ra nhiều, đã đặt ra nhu cầu về vốn, nhân công, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ Vì vậy, giữa các nước tư bản xảy ra

sự cạnh tranh gay gắt trong việc xác lập vị trí kinh tế và vị trí chính trị Điều

đó làm nảy sinh nhu cầu chạy đua xâm chiếm thuộc địa để tìm nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ mạt Mục tiêu xâm lược của các nước đế quốc là những nước có trình độ thấp kém và lạc hậu như châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh

Châu Á trở thành đối tượng chính trong công cuộc tìm kiếm thị trường

và tranh giành thuộc địa của các nước phương Tây Vì đây là châu lục lớn nhất và đông dân nhất trên thế giới, lại giàu có và phong phú về tài nguyên thiên nhiên nên đáp ứng những gì các nước đế quốc đang thèm khát và tìm kiếm

Trong khi các nước tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa

và phát triển mạnh mẽ thì các quốc gia ở châu Á vẫn duy trì chế độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu và đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng Chính sự suy

Trang 14

yếu đó đã làm cho các quốc gia châu Á trở thành miếng mồi béo bở cho các nước đế quốc chia sẻ, xâu xé: Phi-líp-pin bị người Tây Ban Nha xâm lược; Sin-ga-po, Ấn Độ, My-an-ma bị thực dân Anh xâm lược; Trung Quốc bị các nước đế quốc Anh, Pháp, Mĩ,… sâu xé; ba nước Đông Dương là Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia cũng chung số phận, bị thực dân Pháp xâm lược Chỉ có Xiêm (Thái Lan) và Nhật Bản là hai nước ở châu Á không bị biến thành thuộc địa Vào cuối thế kỷ XIX, bằng những vũ khí hiện đại các nước tư bản phương Tây đã tiến sang phương Đông để tiến hành xâm chiếm đất đai, biến các quốc gia phương Đông trở thành thuộc địa Lúc này, các quốc gia phong kiến phương Đông bị đặt vào tình thế hết sức nguy nan trước sự xâm lược của các đế quốc phương Tây

Ở Nhật Bản, đầu thế kỉ XIX, triều đại Tokugawa vẫn duy trì chính sách đóng cửa Năm 1825, Nhật hoàng ra sắc lệnh cấm tất cả các tàu ngoại quốc nhập cảng của Nhật, cấm giáo sỹ phương Tây hiện diện trên đất nước Đến năm 1868, sau khi lên ngôi Thiên hoàng Minh Trị đã nhanh chóng tiến hành

cải cách đất nước trên tất cả lĩnh vực Về cải cách hành chính và thể chế, ban

hành Hiến pháp 1889 thiết lập quân chủ lập hiến; bãi bỏ chế độ đẳng cấp, thực hiện “quyền bình đẳng giữa các công dân”, ban bố tự do đi lại; tòa án

mới (kiểu tư sản) được thành lập Về giáo dục, ban hành chế độ giáo dục bắt

buộc 4 năm; tăng cường nội dung khoa học kỹ thuật trong chương trình; cử

thanh niên ưu tú ra học tập ở nước ngoài Về kinh tế, xóa bỏ chế độ nộp tô,

ban hành chế độ đóng thuế bằng tiền, cho phép mua bán ruộng đất; tăng cường phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn; thống nhất tiền tệ, thống nhất thị trường, xóa bỏ sự độc quyền ruộng đất của giai cấp phong kiến;

xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá, cầu cống phục vụ giao thông liên lạc Về

quân sự, quân đội được tổ chức, huấn luyện theo kiểu phương Tây, chế độ

nghĩa vụ thay cho chế độ trưng binh; phát triển công nghiệp quốc phòng; mời chuyên gia quân sự nước ngoài về huấn luyện Cuộc cải cách Duy tân Minh

Trang 15

Trị đã đưa Nhật Bản thoát khỏi số phận một nước thuộc địa và đưa Nhật Bản phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa và trở thành đế quốc đầu tiên ở châu Á

Ở Xiêm (Thái Lan), nhờ có vị trí địa lý, trở thành vùng đệm giữa hai khối thuộc địa của Anh và Pháp, vua Rama V đã nhận thấy tình hình thế giới

và trong nước có nhiều chuyển biến nên đã nhanh chóng tiến hành cải cách đưa đất nước thoát khỏi số phận là thuộc địa trực tiếp của các nước phương

Tây Về kinh tế, để tăng nhanh lượng gạo xuất khẩu nhà nước giảm nhẹ thuế

ruộng, xóa bỏ chế độ lao dịch Khuyến khích tư nhân bỏ vốn kinh doanh, xây

dựng nhà máy, mở hiệu buôn, ngân hàng Về chính trị, cải cách theo khuân

mẫu của phương Tây, đứng đầu nhà nước vẫn là vua, giúp việc có hội đồng nhà nước (nghị viện); chính phủ có 12 bộ trưởng Quân đội, tòa án, trường

học được cải cách theo khuân khổ của phương Tây Về xã hội, xóa bỏ chế độ

nô lệ, giải phóng người lao động Về đối ngoại, thực hiện chính sách ngoại

giao mềm dẻo lợi dụng vị trí nước đệm, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai thế lực Anh – Pháp đã lựa chiều để có lợi để giữ chủ quyền đất nước Nhờ cuộc cải cách đó mà Xiêm đã thoát khỏi số phận là thuộc địa của các nước phương Tây

và có điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước

Ở Trung Quốc: cũng như Việt Nam, Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh

đã triệt để thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”, hoàn toàn đóng cửa với các nước phương Tây và thế giới bên ngoài Tuy nhiên, Hiệp ước Nam Kinh (kí ngày 29/8/1842) đã buộc Trung Quốc phải mở cửa, áp dụng tự do mậu dịch với các quốc gia khác Các cảng: Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải, Hồng Kông lần lượt trở thành nhượng địa của Anh[19,30Ths]

Phong trào Thái bình thiên quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo tiếp tục giáng những đòn mạnh mẽ vào triều đình nhà Thanh Sự khủng hoảng và suy yếu trên nhiều phương diện đẩy nhà Thanh đến chỗ phải ký Hòa ước Thiên tân (1885) chính thức biến Trung Quốc thành nước nửa thuộc địa của Anh,

Trang 16

Mỹ, Pháp Việc Trung Quốc thất bại trong “Chiến tranh nha phiến” khiến

xã hội ngày càng suy đồi, một tầng lớp trí thức mới của Trung Quốc đã xuất hiện

Qua thực tiễn cho thấy, ở Nhật Bản và Xiêm đã chủ động mở cửa cải cách thành công nên đã bảo vệ được chủ quyền độc lập và còn đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Vì vậy, ở thời điểm lịch sử cuối thế kỷ XIX thì các quốc gia châu Á chủ động mở cửa cải cách chính là một giải pháp tích cực nhằm tận dụng những cơ hội thuận lợi để làm cho đất nước không bị trở thành thuộc địa Tuy nhiên, để mở cửa cải cách thì quốc gia đó phải có những điều kiện tiếp nhận từ bên trong và phải có tư duy nhìn nhận của chính quyền thực hiện Đối với Nhật Bản và Xiêm thì họ đã chủ động mở cửa với các nước phương Tây ngay từ đầu thế kỷ XVI do đó họ đã có những

cơ sở để dễ dàng cải cách, hơn nữa những cải cách đều do vua – người đứng đầu nhà nước thực hiện nên không bị cản trở

Còn đối với Trung Quốc và Việt Nam lại bị tư tưởng Nho giáo chi phối nên Việt Nam và Trung Quốc đều thực hiện chính sách đóng cửa không giao thoa buôn bán với bên ngoài Bên cạnh đó lại coi nhẹ công nghiệp và thương nghiệp đề cao kinh tế nông nghiệp, điều đó đã làm cho những mầm mống của nền kinh tế chủ nghĩa tư bản không có điều kiện để phát triển Chính vì vậy, đã gây nên một cản trở lớn và gây khó khăn cho những cuộc cải cách đất nước

Như vậy, cuối thế kỷ XIX là một khoảng thời gian khá phức tạp và đầy biến động Chủ nghĩa tư bản phương Tây đang thèm khát một thị trường béo

bở đó là châu Á Vì vậy, để không bị trở thành miếng mồi cho các nước đế quốc thì mỗi quốc gia phải có những phướng hướng, biện pháp phù hợp để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Hoặc là cải cách đưa đất nước phát triển tiến bộ hoặc là thay thế một chế độ mới để đưa đất nước tránh khỏi sự xâm lược của các nước đế quốc

Trang 17

1.1.2 Sự khủng hoảng của triều đình nhà Nguyễn

Vào năm 1802, triều đình phong kiến cuối cùng của Việt Nam được thiết lập Mặc dù triều Nguyễn cũng có nhiều đóng góp nhất định trong lịch

sử dân tộc như: Trong những năm 1828 – 1829, Nguyễn Công Trứ mộ dân khai hoang lập ra hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) Hay năm 1853, cử Nguyễn Tri Phương chiêu dân lập ấp ở Nam Kỳ Nhưng một thực tế khác cũng rất rõ ràng, đó là sau khi thiết lập vào năm 1802 triều đình nhà Nguyễn ngày càng có những biểu hiện đi ngược với xu thế phát triển chung của lịch sử Trong chính sách cai trị của các vua nhà Nguyễn từ vua Gia Long đến vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị, vua Tự Đức, vấn đề “lợi ích dòng họ” luôn được đặt lên hàng đầu Các vị vua của nhà Nguyễn không nhận thấy những thay đổi của thời đại, duy trì toàn bộ các thiết chế chính trị của chế độ phong kiến mà không có bất cứ một thay đổi nào

Về chính trị, triều Nguyễn duy trì là một nước quân chủ chuyên chế

tuyệt đối mang tính quan liêu, độc đoán Trên hết là Hoàng đế, nắm tất cả quyền binh, có cơ mật viện bàn quốc sự lớn lao, nhưng ý kiến quyết định cuối cùng vẫn là ý kiến của vua Hoàng đế tự xưng là Thiên tử - con trời, thay trời trị dân [3;14] Vua là người nắm mọi quyền hành, quyết định mọi ngân sách

và có quyền tước đoạt quyền hành của người khác Nhà vua trên thực tế là một địa chủ lớn có vô số quyền hạn Hệ thống quan lại thì ăn chơi, xa đọa, mua quan bán tước, bóc lột sức lao động, cướp bóc ruộng đất của nhân dân

Hệ thống quan lại từ triều đình đến tỉnh, huyện, làng, xã đều do vua sắp xếp Quan đứng đầu tỉnh do Nhà nước bổ nhiệm và thông qua thi cử Dưới các thôn, xã, do phú hào cai trị, đây được coi như là công cụ bóc lột sương máu của nhân dân

Về kinh tế, các vua nhà Nguyễn vẫn duy trì quan hệ sản xuất phong

kiến, nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp Công tác đê điều lúc đầu được chú ý về sau thiếu sự quản lí và không có quy hoạch nên mất mùa, đói kém, lũ

Trang 18

lụt xảy ra liên miên, làm cho đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, bần hàn Bên cạnh đó, nhân dân còn phải nộp vô vàn thứ thuế như thuế thân, thuế ruộng, nộp vô số các loại tiền (tiền đèn dầu, tiền sai dư…) để làm giàu cho giai cấp thống trị Ruộng đất của nông dân bị bọn địa chủ, cường hào cướp

bóc một cách trắng trợn, tràn lan trong cả nước Sách Minh Mạng chính yếu

cho biết, vào năm 1840, tại tỉnh Gia Định “không có ruộng công, các nhà giàu

đã bao chiếm ruộng tư đến ngàn trăm mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy” [3;15] Cũng theo sử cũ, vào năm 1852, trong 31 tỉnh của toàn quốc thì chỉ có hai tỉnh là Thừa Thiên Huế và Quảng Trị có số ruộng công nhiều hơn ruộng

tư Một số tỉnh là Quảng Bình có ruộng công và ruộng tư bằng nhau, còn 28 tỉnh khác ruộng tư nhiều hơn ruộng công, phần ruộng tốt thì cường hào chiếm

cả, thừa ra thì hương lí cũng bao chiếm Dân chỉ được phần ruộng xấu, cằn cỗi, bạc màu [3;15-16] Trước tình hình trên, nông dân rơi tình cảnh khổ cực lâm con đường bần cùng hóa vì vậy họ đi lưu tán khắp nơi Dưới thời cầm quyền của vua Minh Mạng, có năm tại trấn Hải Dương trong số 13 huyện, dân phiêu tán mất 108 thôn xã, ruộng bỏ hoang trên 1.270 mẫu Thời cầm quyền của vua Tự Đức, nạn vỡ đê đã biến miền Khoái Châu thuộc Hưng Yên trở thành bãi cát hoang vu Năm Tự Đức thứ 8 và thứ 9 (1856- 1857) hàng chục vạn người chết đói ngay trên đồng ruộng phì nhiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ Nạn ôn dịch vì thế đã hoành hành Năm Tự Đức thứ 12 (1859), số người chết

vì đói và nạn ôn dịch ở trong miền Nam và ngoài miền Bắc lên tới 60 vạn người” [3;16]

Nạn nông dân phiêu tán đã dẫn đến thực trạng ruộng đất bị bỏ hoang nhưng triều đình nhà Nguyễn hầu như không có bất cứ một biện pháp nào Công tác tu bổ ruộng đất bỏ hoang, tu bổ đê điều khiến cũng không được chú

ý, đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, đê Văn Giang (Hưng Yên) liên tiếp bị vỡ trong suốt 18 năm Cộng thêm sự khắc nghiệt của thời tiết, phá hoại của sâu bệnh khiến nạn đói thường xuyên xảy ra liên miên “Ngay trước khi tư bản

Trang 19

Pháp sắp nổ súng đánh vào Đà Nẵng (1858), một trận đói gê gớm đã xảy ra Đồng thời, cũng do sự bất lực của bọn phong kiến hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hàng chục vạn người” [14;479-484]

Như vậy, nền nông nghiệp trở nên hết sức tiêu điều, vua quan không chăm lo cho nhân dân làm cho nhân dân rơi vào tình trạng khổ cực, bần hàn, đói kém, mất mùa, dịch bệnh hoành hành

Trong công nghiệp, triều Nguyễn nắm tất cả những ngành kinh doanh

lớn, gần như độc quyền về thương nghiệp nhưng lại không có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với người lao động Các xưởng đúc tàu, đúc súng, đúc các loại

vũ khí, các công trường xây dựng lớn đều nằm dưới sự quản lí của triều đình Bắt những người thợ giỏi về để phục vụ trong triều đình và phải chịu sự kiểm soát gắt gao của triều đình

Từ khi Nguyễn Ánh tái lập triều Nguyễn đến trước khi thực dân Pháp xâm lược năm 1858, cả nước có 139 mỏ khoáng sản các loại được khai thác Ngoại trừ một số lượng không quá nhiều mỏ do Hoa kiều và người Việt Nam đứng ra khai thác, phần còn lại đều do triều đình trung ương độc quyền kiểm soát Không những thế, nhà Nguyễn còn đặt ra những nguyên tắc hết sức vô lí như khoanh vùng những khu vực không được khai thác, đặt giá cho một số kim loại rồi độc quyền thu mua,…

Trong thương nghiệp, triều đình duy trì chính sách “trọng nông, ức

thương Các hoạt động buôn bán hết sức nhỏ giọt Triều đình độc quyền kinh doanh nguyên liệu công nghiệp như: đồng, thiếc, chì, diêm tiêu,… bên cạnh

đó, còn đặt ra rất nhiều đạo luật vô lí khác như: đánh thuế rất nặng vào các mặt hàng gạo, nghiêm cấm nhân dân họp chợ khiến việc giao thương buôn

bán giữa các địa phương gặp khó khăn,… Về ngoại thương, nhà Nguyễn thực

hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, chỉ nhập những nguyên liệu cần thiết cho triều đình (sắt, gang,… để đúc đạn dược, vũ khí) ở một số cửa biển Tàu buôn các nước ngoài bị khám xét kỹ và đánh thuế rất nặng

Trang 20

Như vậy, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu cản trở lực lượng sản xuất mới đã manh nha từ những thế kỉ trước, để đất nước càng rơi vào khủng hoảng và trì trệ không lối thoát Điều đó cũng cho ta thấy, đến khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam

có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, kém phát triển Đây lại là một trong những điểm yếu để thực dân phương Tây dễ dàng xâm nhập và xâm lược vào nước ta

Về xã hội, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, cuộc đấu tranh của

nhân dân nổ ra ngày càng liên miên Trong thời cầm quyền của vua Tự Đức, cao trào nông dân khởi nghĩa đã làm cho nền tảng chế độ phong kiến lung lay nền móng Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ từ năm 1848 (khi vua Tự Đức lên ngôi) đến năm 1862 (là năm thực dân Pháp cướp trắng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ) đã có tới 40 cuộc khởi nghĩa và nếu tính đến năm 1883, khi nhà Nguyễn kí Điều ước Hắc-măng, thừa nhận sự chiếm đóng của Pháp trên toàn cõi Việt Nam thì các cuộc khởi nghĩa chống triều đình đã lên tới con

số 103 [4; 23-24]

Trước tình hình đó, triều đình tìm cách đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, làm cho nhân dân ngày càng căm phẫn triều đình và mất tinh thần đoàn kết dân tộc, mà đây lại là yếu tố quan trọng góp phần thắng lợi trước kẻ thù xâm lược Điều này càng làm cho mâu thuẫn trong xã hội có diễn biến phức tạp hơn Theo như nhận xét của Nguyễn Trường Tộ, tình hình trong

nước lúc đó đang rối loạn: “Trời sanh tai biến để cảnh báo, đất thì hạn hán

tai ương, tiền của, sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh

đã mệt mỏi, trong triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan ham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc, tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ thế

cô, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước” [1;11] Chính những mâu thuẫn gay

Trang 21

gắt trong xã hội dưới triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã tạo cơ hội cho thực dân Pháp nhanh chóng thôn tính được Việt Nam

Về quân sự - ngoại giao, quân đội triều Nguyễn với số lượng đông

nhưng kém về luyện tập chuyên nghiệp, không được đào tạo bài bản Vũ khí thiếu thốn, lạc hậu, cùng với đó là đời sống của binh lính còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, lại bị đối xử khắt khe nên tinh thần chiến đấu xa xút Một người Pháp lúc đó nhận xét: “Những cuộc hành quân của vua xứ Nam Kỳ giống kì lạ với các cuộc hành binh thời Đệ nhất Cộng hòa Pháp, giống kì lạ về

tổ chức và vũ khí, nhất là ảnh hưởng của các nhà quân sự Pháp cuối thế kỉ XVIII,…” [11;206]

Chính sách ngoại giao thời kì này của triều đình nhà Nguyễn đó là: đẩy

mạnh các cuộc chiến tranh với Cam-pu-chia và Lào; thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, cấm đạo và giết đạo Do nhà Nguyễn cho rằng nếu quan hệ ngoại giao rộng rãi sẽ tạo thêm cơ hội cho người nước ngoài can thiệp vào nền độc lập của Việt Nam Đây là những chính sách sai lầm, bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn Việc đi xâm lược mở rộng thuộc địa khiến cho binh lực đất nước yếu đi và mất nhiều tiền của sức lực Còn việc thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng” cấm đạo, giết đạo lại càng khiêu khích kẻ thù, càng làm cho đất nước tiếp tục khủng hoảng, không thông thương, giao lưu trao đổi với bên ngoài vì vậy không bắt kịp những xu thế phát triển mới của thế giới lúc bấy giờ

Về văn hóa – tư tưởng, mọi chính sách của nhà Nguyễn đều nhằm duy

trì lợi ích dòng họ Năm 1815, ban hành bộ luật Gia Long để trấn áp nhân dân

và giữ vững trật tự quân chủ Nhìn chung, chỉ vài thập kỷ sau khi thiết lập vương triều, nhà Nguyễn đã khiến tiềm lực đất nước suy yếu rất nhiều

Như vậy có thể thấy rằng, tất cả những chính sách về chính trị, kinh tế,

xã hội, ngoại giao, quân đội, mà triều đình phong kiến nhà Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho tập đoàn phong kiến

Trang 22

nhà Nguyễn Chính vì vậy đã không tạo ra được sức mạnh của nhân dân, không phát huy được truyền thống lâu đời vốn có của dân tộc trong khi thực dân Pháp đang tìm cách xâm lược nước ta Tình hình đó đã đặt triều Nguyễn trước thử thách để quyết định cho sự tồn vong của dân tộc, hoặc là phải cải tổ

để đáp ứng yêu cầu lịch sử, thay thế một triều đại khác tiến bộ hơn có khả năng bảo vệ đất nước; hoặc là Việt Nam sẽ bị xâm lược và biến thành thuộc địa Đứng trước nguy cơ đó triều Nguyễn vẫn ra sức bảo vệ lợi ích dòng họ cộng với tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thiếu nhận thức về thời thế nên đã không quan tâm đến canh tân để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và sự nhòm ngó xâm lược của phương Tây

1.1.3 Sự xuất hiện của tầng lớp sĩ phu yêu nước nửa cuối thế kỉ XIX

Vào nửa cuối thế kỉ XIX, Việt Nam ngày càng rơi vào khủng hoảng và trì trệ về mọi mặt, triều Nguyễn ngày càng tỏ ra suy yếu, bảo thủ, lung túng trước sự xâm lược của thực dân Pháp Cải cách hành chính của vua Minh Mệnh vào đầu thế kỉ XIX tuy tiến bộ nhưng không phù hợp với thời thế Đứng trước vận mệnh dân tộc như vậy, một bộ phận sĩ phu, quan lại, tri thức yêu nước đã đưa ra những chương trình để canh tân, cải cách đất nước Tiêu biểu đó là:

Phạm Phú Thứ (1821-1882): Mặc dù có nhiều tư liệu đề cập đến ông

nhưng đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nguyên quán của ông, chỉ biết là ông là người Bắc, tổ tiên vào Quảng Nam lập nghiệp Ông có tên tự Giáo Chi (có nghĩa là “dạy học”), hiệu Trúc Đường (ngôi nhà tre), biệt hiệu là Giá Viên (vườn mía) Cha ông là Phạm Phú Sung, mẹ là Phạm Thị Cẩm Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, học giỏi Năm 21 tuổi, (năm Thiệu Trị thứ 2, tức 1842), Phạm Phú Thứ đỗ Giải nguyên ở kì thi Hương Một năm sau, ông tiếp tục đỗ đầu kì thi Hội Sau đó, ông đậu Tiến sĩ cập đệ ở kì thi Đình [13;758] Thi đỗ Phạm Phú Thứ được bổ nhiệm làm biên tu, một năm sau (năm 1845) ông được thăng chức Tri phủ Lạng Giang

Trang 23

Năm 1852, triều đình cử ông làm Tri phủ Tư nghĩa Xét công lao tổ chức và vận động dân chúng lập được hơn năm mươi kho nghĩa thương, nhà Nguyễn phong cho ông chức Viên ngoại lang ở bộ Lễ

Năm 1855, nhân cuộc bạo động của người Thượng ở Đá Vách (Quảng Ngãi), ông được điều sang công tác quân sự Ông được giao chức Án sát hai tỉnh: Thanh Hóa và Hà Nội Sau đó, ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông

Ái Nghĩa và xây dựng căn cứ quốc phòng ở Quảng Nam

Từ việc ông vận động dân chúng lập hơn năm mươi kho nghĩa thương đến việc dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa là một trong những tiền đề để xuất hiện dòng canh tân đất nước sau này

sang châu Âu xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Sau khi trở về nước, Phạm Phú Thứ đã dâng lên vua Tự Đức bản tường trình đề nghị “Cải cách việc học tập

và phát triển công nghiệp” Ngoài ra, ông còn dâng lên triều đình hai tác

phẩm: Tây hành nhật kí và Tây phù thi thảo

Vào năm 1874, ông nhận chức Tổng lý thương chánh đại thần tại Hải Yên Tại đây, ông chứng kiến cảnh vỡ đê Văn Giang (thuộc Hưng Yên ngày nay), Phạm Phú Thứ đã xin triều đình chuẩn y đề xuất trích 5 vạn gạo trong kho Hưng Yên để phát chấn, đồng thời di dân đến Đông Triều, Nam Sách để khai khẩn, ổn định cuộc sống cho nhân dân

Năm 1976, Phạm Phú Thứ chính thức nhận chức Tổng đốc Ông đã thực thi một số biện pháp an dân, mở rộng sông ở Bình Giang

Năm 1880, ông cáo quan về quê

Đặng Huy Trứ (1825- 1874) sinh ra trong một gia đình có truyền thống

khoa bảng, tổ tiên nhiều đời làm quan dưới triều Nguyễn Ông có tên tự là Hoàng Trung, hiệu Võng Tân, Tỉnh Trai Quê ở làng Bát Vọng, sau dời sang làng Thanh Lương, Hương Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên Huế

Trang 24

Năm 18 tuổi ông đã đổ Cử nhân, sau đó thi đỗ Tiến sĩ và dạy học Năm

1865, ông đi Hương Cảng và mang về cuốn sách viết hơi nước của người phương Tây Dương, ông đã tự mình dịch sang tiếng Hán Năm 1867, ông đi Trung Quốc và mua về cho triều đình khẩu sơn pháo, đồng thời ông còn viết sách và mua một số tân thư, máy móc, vật liệu chụp ảnh về nước

Ngày 7/8/1874, ông lâm bệnh nặng và từ trần

Nguyễn Trường Tộ (1831-1871) ông sinh ra và lớn lên trong một gia

đình Công giáo Quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An Cha ông là Nguyễn Quốc Thư Từ nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi nhưng không đỗ đạt gì Ông mở trường dạy học chữ Hán

rằng người Công giáo có thể tiếp tay cho tư bản phương Tây, triều đình Huế

đã thi hành một số biện pháp như: bắt giam các nho sĩ, phân tán người Công giáo bằng cách sáp nhập các gia đình công giáo vào các làng bên Lương Trong tình hình đó, Nguyễn Trường Tộ đã cùng giám mục Ngô Gia Hậu chuyển vào Đà Nẵng

Tháng 2 năm 1861, thực dân Pháp với ý định mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài Gòn đã thuyết phục một số giáo sĩ cộng tác Ông đã làm phiên dịch các tài liệu chữ Hán cho Pháp Tuy nhiên sự cộng tác này chỉ kéo dài chưa đầy 8 tháng Đến cuối năm 1861, thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến xâm lược Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ nhận thấy không thể “nghị hòa” giữa hai quốc gia nên đã xin thôi việc phiên dịch

Với vốn kiến thức rộng rãi và sự thông minh uyên bác và sự am hiểu về

thời đại Năm 1863, ông thảo ba bản điều trần: Tế cấp luận, Giáo môn luận và

Thiên hạ phân hợp đại thế luận gửi lên triều đình Đến đầu năm 1864, ông

tiếp tục soạn một bản điều trần nữa với đại ý là thuyết phục triều đình nên tạm thời hòa hoãn với Pháp để mở rộng bang giao

Trang 25

Tháng 6 năm 1864, Nguyễn Trường Tộ gửi lên triều đình bản Lục lợi

từ, nhưng cũng như những bản điều trần trước cũng không được đáp từ

Từ cuối năm 1864 đến năm 1865, Nguyễn Trường Tộ liên tiếp gửi 5

bản điều trần nhưng cũng bị thất lạc Những năm sau đó ông liên tiếp gửi các bản điều trần, những đề nghị canh tân đất nước cho triều Nguyễn, nhưng đều

sự ở Sài Gòn và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình Đầu tháng 11 cùng năm đó, tranh thủ thời cơ quân Pháp thất thế trên chiến trường (thua Phổ - Đức và Cách mạng Pháp đang phát triển mạnh) ông xin vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ

Đến đầu năm 1871, trên danh nghĩa “đưa học sinh đi Pháp”, Nguyễn Trường Tộ được gọi ra Huế để giải trình về các bản điều trần mà ông gửi lên triều đình vào năm trước Tuy nhiên, tất cả các đề xuất của Nguyễn Trường

Tộ đều bị bỏ ngỏ

Năm 1871, Nguyễn Trường Tộ về lại xã Đoài (Nghệ An) và đột ngột qua đời ngày 22 tháng 11 năm 1871

Bùi Viện (1841-1879) tên hiệu Mạnh Dực, quê ở làng Trình Phố, tổng

đình có truyền thống Nho giáo Năm 1873, Bùi Viện được triều đình cử sang

Mĩ trước nguy cơ mất nước để chủ trương tìm đối trọng với Pháp nhưng sau

đó công việc không thành ông nên ông về nước Bùi Viện được cử làm Chánh

Trang 26

quản đốc Nha tuần tải ông đã thực hiện nhiều biện pháp chỉnh đốn hải quân, thành lập đội tuần dương quân do ông trực tiếp chỉ huy, lập hệ thống thương điếm ở các tỉnh ven biển Năm 1879, ông đột ngột qua đời

Nguyễn Lộ Trạch (1853-1895) quê ở làng Kế Môn, huyện Phong Điền

(tỉnh Thừa Thiên Huế) Ông không xuất thân bằng con đường khoa cử, ông không tham gia các kì thi mà chỉ chú tâm vào ứng dụng Ông chịu tác động bởi tư tưởng canh tân của các sĩ phu đương thời Năm 1877, ông dâng bản

Thời vụ sách I, vạch trần bộ mặt giả tạo của Pháp, đồng thời chủ trương chuẩn

bị để đối phó với âm mưu của thực dân Pháp Bản Thời vụ sách I không được

triều đình quan tâm nhưng cũng đã gây tiếng vang lớn

Năm 1882, nhân sự kiện Pháp đánh thành Hà Nội, Nguyễn Lộ Trạch

tiếp tục dâng bản Thời vụ sách (hạ) gấp rút đề ra những kế hoạch giữ nước

Nhưng cũng bị triều đình bỏ qua

Bên cạnh đó, còn có một số cải cách khác như: Cải cách của Nguyễn

Tư Giản, Trần Đình Túc, Nguyễn Thông

1.2 Tư tưởng cải cách về kinh tế, chính trị nửa cuối thế kỉ XIX

1.2.1 Tư tưởng cải cách kinh tế

1.2.1.1 Vai trò của kinh tế đối với đất nước nửa sau thế kỷ XIX

Kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự hưng thịnh của một quốc gia Để tồn tại thì đất nước phải có một nền kinh tế vững chắc để đảm bảo cho đời sống của nhân dân Muốn nền kinh tế phát triển, không bị lạc hậu so với thời đại thì phải có những nhìn nhận, tư duy để tiến hành cải cách thường xuyên thay đổi nền kinh tế, thay thế những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời để áp dụng cái mới Đồng thời, nền kinh tế vững chắc, phát triển

cũng tác động tích cực đến tình hình chính trị - xã hội của một quốc gia

Nửa cuối thế kỷ XIX, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa càng làm tăng nhu cầu về thuộc địa, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa Ở châu Á, đã trở thành mục tiêu của các nước đế quốc Trước

Trang 27

xu thế bành trướng sang phương Đông của các nước tư bản phương Tây, nhiệm vụ chung của các nước châu Á lúc này tìm ra phương hướng để cải cách đất nước cho phù hợp với xu thế của thời đại và bằng mọi cách phải bảo

vệ nền độc lập của dân tộc

Ở Việt Nam, cuối thế kỷ XIX, đang lâm vào cuộc khủng hoảng về mọi mặt về kinh tế, chính trị, xã hội Nền kinh tế nông nghiệp của quốc gia vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, đặt dưới sự cai trị của nhà Nguyễn đã khiến cho nền kinh

tế càng thêm rối loạn Từ đó, dẫn đến khủng hoảng về xã hội, liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại triều đình phong kiến: khởi nghĩa Nông Hùng Thạc, khởi nghĩa Cao Bá Quát, khởi nghĩa Nguyễn Thịnh, khởi nghĩa Đoàn Hữu Trưng,… Nền kinh tế ở Việt Nam dưới triều Nguyễn vẫn mang tính tự phát, chưa có sự chú trọng về khoa học kỹ thuật Nền kinh tế lúc bấy giờ chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu Trong bối cảnh đó, nhờ nhận thức được sự khủng hoảng của đất nước cần phải thay đổi cải cách, một bộ phận sỹ phu yêu nước đã đưa ra những cải cách đất nước để thoát khỏi khủng hoảng, đặc biệt chú trọng đến cải cách kinh tế

Các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX đều nhận thấy sự phát triển kinh tế là vấn đề hàng đầu, như theo Nguyễn Trường Tộ cho rằng: dân có giàu, nước có mạnh mới cứu được nước và giữ được nước Theo ông, muốn làm cho dân giàu mà nước cũng giàu là bằng cách phát triển toàn diện nông - công - thương, theo lối làm ăn, áp dụng khoa học kỹ thuật phương Tây, những nhà cải cách đều quan tâm đến vấn đề khai hoang, thủy lợi, đê điều Những điều

mà họ quan tâm cải cách đều xuất phát từ thực tế của đất nước Bên cạnh phát triển nông nghiệp, các nhà cải cách chú trọng đến sự phát triển công nghiệp

và thương nghiệp Do một số nhà cải cách được đi thực tế ở nước ngoài và nhận thức được sự thay đổi của thời đại nên họ đều chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, học tập mô hình sản xuất của phương Tây Chú

Trang 28

trọng đến sự giao lưu, buôn bán, mở các con đường để tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển

Từ những nhận thức xuất phát từ thực tế hoàn cảnh trong nước và thế giới, một số nhà cải cách đã đưa ra một số đề nghị cải cách nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự khủng hoảng

1.2.1.2 Đề xuất cải cách kinh tế của các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX

Về nông nghiệp

Trong cải cách của Phạm Phú Thứ, ngay khi được bổ nhiệm làm Tri

phủ Tư nghĩa, ông đã ra sức khuyến khích nông dân phát triển nông nghiệp (khai hoang, phát triển thủy lợi, lập 50 kho nghĩa thương để đối phó với nạn đói) Phạm Phú Thứ còn dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí (huyện Điện Bàn- Quảng Nam), đào sông Ái Nghĩa ( Đại Lộc)

Khi đê Văn Giang, đê sông Đuống, đê sông Thái Bình bị vỡ năm 1873, ông đã khẩn cấp tổ chức việc phát chẩn cứu đói nhân dân bị nạn lụt đồng thời

tổ chức khai hoang, trồng cây, khôi phục các công trình thủy lợi

Phạm Phú Thứ cũng giống như Nguyễn Trường Tộ, ông chú ý canh tân đến nông nghiệp đặc biệt là vấn đề thủy lợi, đê điều

Nguyễn Trường Tộ là người quan tâm đến nông nghiệp nhất, ông cho

rằng nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế nước ta, “nông nghiệp là gốc, ăn mặc và hàng trăm nhu cầu khác cho đời sống đều nhờ vào nông nghiệp” [1;291] Nhưng dưới thời vua Tự Đức, mặc dù hơn 90% nhân dân sống bằng nghề nông nhưng nông nghiệp lại giảm sút nặng nề, dự trữ thóc gạo rất ít, đời sống nhân dân cực khổ Theo Nguyễn Trường Tộ nguyên nhân là do phương thức canh tác lạc hậu, tổ chức sản xuất kém, muốn phát triển nông nghiệp trước hết cần khắc phục tình trạng trì trệ kéo dài đó Vì vậy, Nguyễn Trường

Tộ đã đề nghị triều đình phải tiến hành cải cách toàn diện về nông nghiệp nhằm phát triển nền kinh tế

Trang 29

Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình Huế phải quan tâm đào tạo đội

ngũ “nông quan” chuyên trông coi nông nghiệp, ông đề nghị chọn trong số các cử nhân, tú tài, mỗi huyện một người cho học “nông chính toàn thư” và phải vừa học vừa làm Những nông quan này phải được học trong các trường nông chính nào đó hoặc học ở nước ngoài để nắm được những kiến thức về thiên văn học, địa lí, thực vật, tổ chức nông nghiệp “Tất cả mọi việc về nông chính và khai hoang đều phải nắm chắc trong tay Tất cả vườn ao, trang trại, núi đồi, gò nỗng dần dần vẽ thành bản đồ Dần dần từ bỏ các tệ nạn tồn tại trong dân từ trước, mỗi ngày đi tuần chỉ vẽ cho dân làm, y như mình là người chủ nông vậy Nhưng chủ nông là người chỉ biết lo làm giàu cho gia đình mình còn quan nông chính là người lo cho sự giàu có của toàn huyện Do đó, quan nông chính là phải có tầm sốt sắng và tháo vát mới làm tròn công việc được” [1;475] Ông lưu ý triều đình nên sớm mở trường Nông chính, dạy về nông nghiệp

Ông cho rằng nguyên nhân gây nên lũ lụt là do nước ta ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều, mưa chủ yếu ở vùng thượng nguồn mà rừng đầu nguồn bị chặt phá vô số không ngăn được nước, sông nước ta độ dốc cao, lòng sông lại hẹp Ông đưa ra một số biện pháp như: trồng rừng, trồng rừng không chỉ ở thượng nguồn mà còn phải trồng ở bãi biển, dọc đường đi Trồng cây gây rừng ngăn bão lụt, lội, cân bằng môi trường sinh thái và còn có lợi ích khác như “Gỗ của ta rất quí có thể dùng để trao đổi buôn bán với nước ngoài, thu lợi về cho đất nước” rõ ràng là “Rừng núi có công dụng rất lớn, thế mà người khinh bỏ không biết coi trọng, cho nên không đạt được cái dụng của nó cũng phải” [1;472] Bên cạnh đó, phải đào các kênh nhánh nối với các sông chính

để xả lũ khi lụt, dẫn nước tưới hạn và còn thu thuế thuyền buồm qua lại Mặt khác, Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị cho chỉnh cương giới và khai hoang với những phương pháp cụ thể và thiết thực Ông coi đây là chính sách lớn trong nông nghiệp mà các nước lớn trên thế giới đều quan tâm

Trang 30

Ông đề nghị chỉnh cương giới nhằm biết tiềm năng thiên nhiên của đất nước và nhằm mục đích xây dựng kế hoạch thủy nông phục vụ cho nông nghiệp Trước hết là việc đào kênh, ông phân tích kĩ khí hậu, địa hình nước ta,

so sánh với khí hậu, địa hình Trung Quốc và rút ra nguyên nhân của việc vỡ

đê là do: độ dốc sông quá cao, lòng sông quá hẹp, nước ta lại mưa nhiều, ông đưa ra cách khắc phục bằng cách đào kênh, rạch để phân tán lượng nước, hạn chế sức nước chảy mạnh Ông cho rằng công trình thủy lợi là công trình có qui mô lớn và “phần đông các nước trên thế giới đã làm” [1;307-308], triều đình nên khuyến khích nhà giàu bỏ tiền cho vay để làm thủy lợi và khen thưởng nhiều người có sáng kiến trong việc đắp đê, giữ nước, chống úng,…

Nguyễn Trường Tộ còn đề nghị triều đình phái người ra nước ngoài đi học ngay về thủy lợi để thực hiện chương trình thủy lợi qui mô lớn Ông còn

đề nghị triều đình phải coi trọng việc thu nhập kinh nghiệm, phát huy sáng kiến, ông xin đặt các khoa hải lợi để xét thưởng cho những ai có sáng kiến mới trong các khoa

Đặt khoa sơn lợi để xét khen thưởng cho ai tìm ra cách khai thác mỏ, tìm ra phương pháp luyện kim, săn bắt,

Đặt khoa địa lợi để xét thưởng cho những ai khai khẩn được đất hoang hóa, đầm lầy hoặc biết trồng trọt có năng suất cao

Đặt khoa thủy lợi để xét khen thưởng cho những ai biết đào kênh, đắp đập, tưới tiêu, chống hạn, lụt,…

Ông xin triều đình lập ra Bộ canh nông giống như các nước phương Tây Như vậy, có thể thấy tư tưởng canh tân trên lĩnh vực nông nghiệp của Nguyễn Trường Tộ là đầy đủ và khoa học nhất, ông quan tâm đến các yếu tố

về cả địa hình, khí hậu, đê điều, thủy lợi và những nguyên nhân lũ lụt, mất mùa để từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục

Về thủ công nghiệp

Trang 31

Phạm Phú Thứ là người được đi ra nước ngoài nhiều và được tiếp thu khoa học kĩ thuật phương Tây Ông chứng kiến sự phát triển vượt bậc về kinh

tế, xã hội của Quảng Đông, Ma Cao hoàn toàn đối lập với sự chậm chạp, trì trệ của triều đình Ông nhận ra rằng phải xóa bỏ các quan điểm cũ của triều đình, tiếp thu khoa học – kĩ thuật phương Tây mới có thể vực dậy nền kinh tế đất nước Đến năm 1855, khi được cử làm Án sát Thanh Hóa, Phạm Phú Thứ mới hiện thực hóa được chủ trương này qua việc kiến nghị triều đình cho tổ chức đóng tàu, chế tạo thuyền vận tải Ông đã trực tiếp chỉ đạo và đóng thành công chiếc tàu bọc đồng mang tên Thụy Nhạc

Năm 1863, khi ông được cử sang Pháp và Tây Ban Nha xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kì, mặc dù không thành công nhưng ông đã tận dụng cơ hội này để trực tiếp học hỏi, tiếp thu khoa học – kĩ thuật của các nước châu

Âu Ông được trực tiếp tham quan các nhà máy nước ngoài từ công nghiệp nhẹ đến công nghiệp nặng Nhờ đó ông đã thuyết phục triều đình ban hành cách thức sản xuất và hoàn thiện 27 chiếc “xe trâu” (được học hỏi từ Ai Cập)

có năng suất lao động cao hơn rất nhiều Những điều mà ông học tập được từ

phương Tây ông đã ghi chép và in thành tập chữ Hán Tây hành nhật kí (330 trang) và tập thơ Tây phù thi thảo, dâng lên vua Tự Đức và được vua khen ngợi

Ông là người ham học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu những kĩ thuật của phương Tây, gắn những gì “mắt thấy, tai nghe” vào thực tế ở Việt Nam

Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh nguồn tài nguyên phong phú của nước

ta và coi đó là điểu kiện thuận lợi để phát triển nghành công nghiệp Ông cho rằng: nước ta có bốn nguồn lợi lớn và coi đó là những cách làm giàu nhanh và hiệu quả nhất lúc bấy giờ:

Một là, nguồn lợi về biển – không gì lớn bằng cá và muối

Hai là, nguồn lợi về rừng – không gì lớn bằng gỗ

Ba là, nguồn lợi về đất – không gì lớn bằng trồng tơ gai

Bốn là, nguồn lợi về mỏ – không gì lớn bằng đồng và thiếc

Trang 32

Ông nhấn mạnh: quan trọng là khoáng lợi “phải gấp rút tính liệu mưu

kế trước để chiếm lấy ưu thế, để mưu đồ lợi vĩnh viễn” [1;184] nếu không tư bản nước ngoài sẽ chiếm mất Ông cho rằng một đất nước muốn phát triển phải đi vào khai thác khoáng sản, mà muốn khai thác thì phải có kế hoạch, có chương trình và cán bộ khoa học kĩ thuật hiểu biết về địa chất…

Ông cho rằng triều đình phải đưa ra được đường lối, phải biết cách chỉ đạo nhân dân “triều đình phải có người đứng ra xướng xuất cho dân theo” 1;165] Triều đình phải khuyến khích người dân mua tàu lớn buôn bán với nước ngoài

Ông nhấn mạnh rằng: Việt Nam “có rất nhiều ngũ kim bát thạch, rất nhiều thứ ngọc quý và của lạ” Ông nêu lên vị trí của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong việc chấn “Hiện nay, cái mà chúng ta thiếu thốn là sự học tập tài nghệ Nay nếu ta mời họ đến phàm chỗ nào có khai quật, thì có quan quân của ta ngồi thu thuế Do sự đi lại, nói năng và mắt thấy những điều có thể dung được ta đều học lấy Dân ta với họ cùng nhau làm việc, nơi ở gần nhau, ăn mặc giống nhau, trong khoảng mười năm thì tài nghệ trong dân ta chẳng khác gì họ nữa Như thế nhà nước không mất một đồng tiền nào, mà việc học của nhân dân vẫn thành đạt” [1; 184]

Bên cạnh đó, ông còn chú ý đến ngành luyện kim, ông đề nghị việc nộp sắt của người dân trước đây được thay bằng việc nộp tiền để đặt mua hàng ở nước ngoài vừa tiện cho nhà nước vừa tiện cho nhân dân Các nghề làm muối, đánh cá, ướp cá,… theo ông cũng cần được phát triển và kỹ nghệ hóa

Như vậy, Nguyễn Trường Tộ là người đã tiên đoán và nhìn nhận một cách toàn diện về vai trò chủ đạo của công nghiệp trong phát triển kinh tế đất nước Ông nhận thấy Việt Nam có nhiều tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản

có thể khai thác làm giàu cho đất nước, không để các nước tư bản khai thác

mà phải lợi dụng họ giúp ta khai thác

Trang 33

Cả Phạm Phú Thứ và Nguyễn Trường Tộ đều rất quan tâm đến công nghiệp Với Phạm Phú Thứ, nhờ tiếp thu, học hỏi khoa học kĩ thuật phương Tây do vậy ông chủ trương xây dựng, đóng tàu, phát triển nghành công nghiệp theo hướng cải tiến Với Nguyễn Trường Tộ thì chủ trương chú trọng khai thác các nguồn lợi từ tài nguyên thiên nhiên để phát triển đất nước, khai thác những gì đất nước có để vừa phát triển và vừa để sản xuất, mà trước đó ngành công nghiệp nước ta rất nhỏ trong nền kinh tế mà nguồn tài nguyên của

ta lại phong phú và ông coi đây là điều kiện thuận lợi để nước ta phát triển công nghiệp

Về thương nghiệp

Đặng Huy Trứ cho rằng “việc làm ra của cải là đạo lớn không thể coi

thường” ông là người dám đề cao khái niệm “cái tâm” của người kinh doanh

“Không vì lỗ lãi mà vượt qua sự ngay thẳng của lòng ta được” Ông là người duy nhất trong số các nhà canh tân của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỉ XIX đã trực tiếp kinh doanh thương nghiệp Việc phát triển kinh tế, thương trường của ông được biểu hiện như:

Ông dịch cuốn sách viết về máy hơi nước của người Tây Dương năm

1865 ra chữ Hán

Năm 1866, ông tâu xin triều đình cho thành lập Ty Bình Chuẩn ở Hà Nội để làm giàu ngân khố cho quốc gia, ông là người đứng đầu Ty Bình Chuẩn Tại đây ông đã mở mang “nhiều hiệu buôn, tổ chức việc giao lưu hàng hóa trong phạm vi cả nước, tổ chức khai thác và xuất cảng thiếc và một số mặt hàng nông thổ sản ra nước ngoài” [16; 323-335]

Tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ có lẽ được biểu hiện rõ nhất

trong bài Bệnh trung đắc Dã Trì chủ nhân chỉ giáo, thi dĩ chí chi, bài thơ

được viết năm 1867 tại Quảng Đông (Trung Quốc) Đặng Huy Trứ đối thoại

với Dã Trì chủ nhân nhưng thực ra là sự hóa thân của ông

Trang 34

Ông phủ nhận “cái khổ chỉ quan hệ đến bản thân mình thì kẻ ngu phu, ngu phụ cho là khổ cũng còn được, nhưng đã mang thân phận kẻ bề tôi thì không thể cho là khổ được” Ông cho rằng “cái khổ có quan hệ đến xã tắc, đến triều đình, đến dân đen thì cho là khổ được” (thiếu ăn, thiếu mặc, cô đơn, không người thăm hỏi khi đau ốm) Cái “nhục” theo ông là “không có cái nhục nào bằng cái nhục không được như người!” “Tư tưởng của Đặng Huy Trứ về “Cái khổ và Cái nhục” là tiền đề dẫn đến cả lập trường chủ chiến lẫn

tư tưởng canh tân”

Nửa sau bài thơ của ông là kế tự cường đất nước như: Sang phương Tây mua máy móc, lập xưởng gang thép, lập cục cơ khí, chọn binh sĩ đến học nghề, lập cục dạy nghề, mời chuyên viên phương Tây đến dạy ngôn ngữ, đóng tàu thuyền; nghiêm cấm thương gia nước ngoài mua rẻ bán đắt, buôn bán các mặt hàng cấm hàng cấm và lợi dụng việc thương mại để do thám

Nguyễn Trường Tộ đã vạch rõ nhưng lợi ích về thương mại và đề nghị

triều đình tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển Ông khuyên triều đình nên đào một con kênh lớn từ Hải Dương đến kinh đô Huế để cho thuyền quan hay thuyền dân, việc lớn hay việc nhỏ đều thông hành được Ông đề nghị mở cửa cho các nước vào thông thương buôn bán và đầu tư khai thác tiềm năng của đất nước Bên cạnh đó, Nguyễn Trường Tộ đề nghị chấn chỉnh thuế điền thổ, điều tra nhân khẩu để điều chỉnh mức thuế, đề nghị nhà nước phải thống

kê số hàng hóa xuất – nhập khẩu, số tàu bè qua lại trong và ngoài nước, số lượng chợ, nhà hàng, giá cả

Nhìn chung, những đề nghị canh tân kinh tế của Nguyễn Trường Tộ khá toàn diện về kinh tế trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, so với các nhà canh tân cuối thế kỉ XIX, căn bản đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa

Bùi Viện là người Việt Nam đầu tiên ở thế kỷ XIX đặt chân đến Hoa Kì

và đề xuất triều đình mở rộng quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ

Trang 35

Bùi Viện đã sáng lập ra cửa biển Hải Phòng, thực chất lúc ban đầu đây

là nơi hội họp của mấy nhà thuyền chài Chỉ trong khoảng một tuần, ông đã

mộ được 200 binh sĩ, cấp y phục, khí giới cho họ… Ban ngày, ông đốc thúc dân phu đào sông để tháo nước ra bể và vượt đất lên làm vườn, ruộng hoặc làm nền móng cho các phủ đệ sau này Rồi đến đêm lại phải phòng ngự giặc Tàu ở ngoài bể tràn vào hoặc những thổ phỉ từ trong nổi lên

1.2.2 Tư tưởng cải cách về chính trị

1.2.2.1 Hệ thống chính trị của nhà Nguyễn

Vào năm 1802, sau khi xóa bỏ được triều đình của Quang Trung, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, tái lập vương triều Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân (Huế)

Nhà Nguyễn từng bước củng cố về quyền lực, xây dựng một nền chính trị phong kiến trung ương tập quyền cao độ Trong đó, quyền hành của nhà vua là quyền “tối cao” Hoàng đế tự xưng là Thiên tử - con trời, thay trời trị dân Vua có uy quyền tuyệt đối cho ai sống thì được sống, bắt ai chết thì phải chết Trong thực tế, vua là một địa chủ lớn nhất, có toàn quyền quyết định trong việc sử dụng ngân khố nhà nước, có quyền tước đoạt bất kì cái gì, của bất cứ ai nếu nhà vua muốn [3;14] Nắm giữ toàn bộ quyền lực của quốc gia

là triều đình, trong đó vua nắm mọi quyền hành tối cao gồm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời vua cũng là tổng chỉ huy quân đội

Để đảm bảo uy quyền tuyệt đối của nhà vua, vua cho đặt lệ “tứ bất” gồm bốn điều không lập đó là: không đặt Tể tướng, không lập Hoàng hậu, không lấy Trạng nguyên, không phong tước vương cho người ngoài Hoàng tộc Dưới vua phụ trách các mảng công việc quan trọng của quốc gia là Lục Bộ do các chức Thượng thư đứng đầu ở mỗi bộ Bên cạnh đó, còn có một số cơ quan biệt lập trực thuộc Bộ là Bưu Chính ty (Binh bộ) và Tiết Thận ty (Công bộ) Thành viên của mỗi bộ phụ thuộc vào tình hình công việc của mỗi bộ

Trang 36

Bên cạnh Lục bộ, còn đặt thêm nhiều cơ quan phụ trách về chuyên môn khác gọi là các Nha, bao gồm: Các nha phục vụ cho hoàng gia và hoàng cung (Tôn Nhân phủ, Cẩn Tín ty, Thái Y viện); các nha sở trông coi về kho tàng (Nội Vụ phủ, Thương trường, Vũ khố); các nha sở phụ trách về những mảng công việc khác của quốc gia

Đô Sát viện là một tổ chức về giám sát có nhiệm vụ phát hiện và tâu báo lên nhà vua về những việc làm của các Bộ không đúng luật lệ được vua Minh Mạng thành lập năm 1832 Giúp vua giải quyết các công việc là Tam Nội viện gồm Thị Thư viên, Thị Hàn viện và Nội Hàn viện, đây là một cơ quan độc lập không chịu sự kiểm soát của bất kì cơ quan nào trong triều đình Vua Minh Mệnh cho thiết lập một cơ quan làm nhiệm vụ phát hiện và

đề xuất các kế sách giải quyết những vấn đề “quân quốc trọng sự” được gọi là

Cơ mật viện, được Minh Mạng phỏng theo tổ chức Khu mật viện của nhà Tống và Quân cơ sứ của nhà Thanh (Trung Quốc) Cơ mật viện gồm có 2 kinh là Nam Chương kinh làm nhiệm vụ theo dõi tình hình ở các tỉnh thuộc phía nam Kinh đô Phú Xuân và Bắc chương kinh làm nhiệm vụ theo dõi về tình hình ở các tỉnh thuộc phía bắc của Kinh đô Phú Xuân Đứng đầu Cơ mật viện có 4 viên quan đại thần do vua lựa chọn từ các quan văn, quan võ có hàm

từ tam phẩm trở lên

Tổ chức hành chính địa phương

Dưới triều Nguyễn, hệ thống hành chính ở địa phương mang tính thống nhất Vua Gia Long chia nước thành ba khu vực: Bắc, Trung, Nam Ở miền Bắc gọi là Thành bắc được chia làm 11 Trấn Ở miền Trung (Kinh đô), được chia thành các Dinh hoặc Trấn trực thuộc vào Triều đình Ở miền Nam thì gọi

là Gia Định gồm 5 Dinh Tổng toàn quốc có 27 Trấn/Dinh Dưới Trấn (hoặc Dinh) được chia ra Phủ và Huyện (ở miền xuôi) hoặc Châu (ở miền núi) Tại Bắc thành và Gia Định thành vua Gia Long cho đặt một chức Tổng trấn đứng đầu cấp Thành, được có toàn quyền xử quyết tất cả các công việc ở bên trong

Trang 37

khu vực quản lý của mình sau đó tâu lên vua Đầu thế kỉ XX, vua Minh Mạng thực hiện cải cách hành chính thâu tóm mọi quyền lực vào tay triều đình

Tổ chức bộ máy nhà nước dưới thời Nguyễn giống như thời Lê sơ nhưng tổ chức chặt chẽ hơn Nhà Nguyễn đã xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền cao độ từ trung ương đến địa phương ngày càng hoàn thiện chặt chẽ đặc biệt sau cải cách hành chính của vua Minh Mạng “Nguyên tắc bao trùm chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thời Nguyễn là tập trung thống nhất quyền lực vào một cá nhân – Hoàng đế, tăng cường sự quản lí của nhà nước trung ương đối với tất cả các địa phương, quan lại các cấp” [5;132]

Theo đánh giá của Giáo Sư Đinh Xuân Lâm “Tổ chức xã thôn thời này

đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thôn, nó trói buộc người nông dân trong những quan hệ địa phương hẹp hòi có lợi cho

sự bóc lột của nhà nước quân chủ và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa” Tuy nhiên, xây dựng một bộ máy quân chủ quan liêu chuyên chế trước lúc các quốc gia khác trên thế giới đang chuẩn bị bước vào cuộc cách mạng công nghiệp, một số nước láng giềng như Nhật Bản, Xiêm… cải cách đi theo hướng chủ nghĩa tư bản và đặc biệt trong lúc tư bản phương Tây đang chuẩn bị ráo riết xâm lược Việt Nam Vì vậy, không còn phù hợp với thời đại

và xu thế lịch sử nước ta lúc bấy giờ Việc nhà Nguyễn tập trung củng cố đặc quyền, đặc lợi của dòng họ như vậy sẽ không củng cố được khối đoàn kết dân tộc mà nó còn làm cản trở sự phát triển của đất nước trở nên bảo thủ, trì trệ, không hòa nhập với thế giới bên ngoài, không phù hợp với xu thế thời đại

1.2.2.2 Tư tưởng cải cách về chính trị

Cuối thế kỉ XIX, một số nhà cải cách đã nhìn nhận được những bất cập của bộ máy quản lí triều Nguyễn nên đã đưa ra một số cải cách với tư duy đổi mới, tiêu biểu như:

Trang 38

Phạm Phú Thứ là người nhìn nhận ra sự bất cập trong bộ máy quản lí

đương thời Ngay từ năm 1850, ông đã không đồng tình với sự “nhiêu khê, rườm rà” lãng phí của triều đình Huế, ông đã dâng sớ phê phán vua lơi lỏng trong việc triều chính nhưng lại bị triều đình cách chức và kết án khổ sai (bị đày làm Thừa nông dịch ở Trạm thừa nông, thực chất là phải cắt cỏ, chăn ngựa) Một năm sau ông mới được phục hồi chức Hàn lâm viện

Năm 1865, sau khi được thăng làm Thự Hộ bộ Thượng thư sung Cơ

mật viện đại thần, Phạm Phú Thứ đã xin đặt bốn Tuyên phủ sứ ở các vùng giáp ranh Quảng Trị, Bình Định, Nghệ An và Hưng Hóa, cụ thể: 9 châu Cam

Lộ đối với Quảng Trị, An Tây phía Tây Bình Định, trấn Tây ở Nghệ An và phủ Điện Biên ở Hưng Hóa Cùng với đề xuất thành lập các Tuyên phủ xứ này, ông còn kiến nghị xây thành, lập chợ, sửa đổi thuế thương chính, thi hành biện pháp “thổ tù đời đời được tiếp tập” để “cha con, anh em họ cùng nhau ngăn giữ”,… nhưng việc không thành [13;758]

Như vậy, có thể thấy Phạm Phú Thứ là nhà cải cách khá toàn diện trên lĩnh vực kinh tế và chính trị, do được đi và tiếp xúc với nhiều nước phương Tây nên ông tiếp thu, học hỏi được nhiều kiến thức vì vậy tư tưởng cải cách, canh tân của ông mang tư duy đổi mới, sớm nhìn nhận ra những điều cần thay đổi trong triều đình Ông là người cương trực, dám phê phán cả vua mà không

sợ bị rang chức, dù bị ráng chức nhiều lần nhưng cũng không hề nhụt chí Ông rất quan tâm đến việc triều chính, tổ chức quan lại trong triều đình, ông chủ trương xây dựng các Tuyên phủ và xây thành, lập chợ,… để làm vững mạnh nơi biên phòng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước và mạnh dạn đề xuất

để đưa đất nước thoát khỏi sự xâm lăng của các nước tư bản phương Tây nhưng tất cả những đề nghị của ông cũng như của những nhà cải cách khác thời điểm này cũng đều bị triều đình khước từ

Khi bàn về bộ máy nhà nước, Nguyễn Trường Tộ nêu lên thực trạng hệ

thống quan chế dưới triều Tự Đức là một hệ thống quan liêu nặng nề, hệ

Trang 39

thống ấy vừa làm cho triều đình tốn lương bổng, vừa làm cho tình trạng quan dân cách nhau muôn dặm, trên dưới không hiểu lòng nhau Quan viên bất tài,

ăn chơi sa đọa, lợi dụng dân trí thấp kém, chữ nghĩa rắc rối,… để bóp méo sự thật và công lý Con đường thăng quan tiến chức là con đường sống lâu lên lão làng, con đường đút lót, con đường “tập ấm”, gặp may chứ không phải thực tài Còn trong triều thì che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn bậc hiền tài, chia bè lập đảng khuynh loát lẫn nhau Ngoài nội thì xưng hùng xưng bá, tác phúc tác oai, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước Ở các làng thì bọn hương hào, lý dịch bao chiếm đất công, biến ruộng công thành ruộng riêng, làng mình dung vào việc cúng tế, hát xướng, trốn thuế, lậu thuế, man khai sổ đinh để thu của bọn dân thì nhiều, nạp lên thì ít

Nguyễn Trường Tộ cho rằng những tệ nạn đó đã trở thành một thói quen, khó có thể thay đổi được Ông đã đưa ra những biện pháp để thay đổi thực trạng đó: Đổi mới học thuật, đào tạo quan lại theo lối mới vì “học xưa thì lòng người hướng về xưa, học nay thì hướng về thời nay” và “có học thì mới hiểu rõ đạo lí thì mới cứu được đất nước ra khỏi sự suy yếu” Phải dùng luật pháp để duy trì trật tự xã hội, pháp lệnh phải được thi hành đều khắp từ thành thị đến rừng sâu, vì có luật mới giành được kỷ cương, uy quyền và chính lệnh của quốc gia, hạn chế được sự lạm dụng quyền hành và đảm bảo công bằng, dẫu là vua cũng không được đứng ngoài pháp luật “Kẻ làm vua biết rõ cái điều trời phó thác cho mình là nặng nề, mọi họa phúc đều do trách nhiệm ở vua cho nên tự hạ mình ghép vào vòng pháp luật” [1;175] Phải hạn chế quyền hành của nhà vua, ông đề nghị vua không có quyền xét xử mà chỉ có quyền ân xá Phải thẩn trọng trong việc tuyển chọn quan lại, phải chọn quan giỏi, thanh liêm, siêng năng, sáng suốt, thải quan dở dù là con cháu công thần, con nhà tập ấm vì “bất tài thì chính bản thân cũng không sắp xếp được nói gì đến quản lý người khác” Theo ông muốn giữ được thanh liêm cho quan lại

Trang 40

thì một trong những biện pháp là phải tăng lương mà phải tăng lương thì phải biên chế bộ máy gọn nhẹ, lấy quỹ lương dư ra cấp cho các quan lại tại chức

Để ổn định tình hình chính trị - xã hội thì cần phải có công bằng, đây là điều kiện bền vững cho an ninh xã hội Cần có hệ thống luật pháp chặt chẽ, tất

cả các mối quan hệ, các vấn đề xã hội đều được xem xét bằng pháp luật của quốc gia Đối với bọn tù tội, ăn của nhà nước, bọn lười biếng thì phải cải tạo bằng lao động Phải xuất công quỹ lập trại tế bần để nuôi người nghèo khổ, lập viện Dục Anh để nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyến khích việc nuôi trẻ mồ côi Nhà nước nên lập các trường dạy trẻ miễn phí, nhà trọ, nơi phục hồi nhân phẩm,… Những vấn đề chính trị - xã hội mà ông đưa ra cho tới bây giờ vẫn còn mang tính thời sự

Nguyễn Trường Tộ đề cao thuyết “quốc dân nhất thể”: Nước cũng như

cơ thể, một bộ phận bị đau thì cả cơ thể vì thế mà không yên “Quốc gia với nhân dân như huyết mạch trong cơ thể con người Nếu có sự đình trệ, không lưu thông, thì tất nhiên sinh ra bệnh tật” Ông muốn xây dựng một chế độ chính trị khác theo mô hình của Nhật Bản: “Tôi đã hiểu rõ cái chính lý của đạo trung ái trong kinh, biết rõ danh vị là lợi ích cho nhân dân, thấy thiên hạ

có sự yên trị lâu dài, lợi ích to lớn là do chỗ một họ cầm quyền, do chỗ đời đời truyền mối Mà chế ngự được nhân tâm là do trị lý về kinh tế, và duy trì được đời đời dài lâu là nhờ ngoại giao” [1;180] Cùng với đó ông đề nghị hàng loạt các cải cách hành chính như: giảm bớt bộ máy quan lại bằng cách hợp các tỉnh, huyện lại; lược bớt thủ tục giấy tờ; chống tham nhũng; sử dụng đội ngủ quan lại chuyên ngành ứng dụng,…

Nguyễn Trường Tộ là một nhà tri thức yêu nước nhìn xa trông rộng với kiến thức uyên bác, muốn thay đổi đất nước cho phù hợp với thời thế, ông đặc biệt tin tưởng vào triển vọng canh tân của Nhật Bản, lấy Nhật Bản làm mô hình ở một số lĩnh vực như chính trị, kinh tế để tiến hành cải cách trong nước, tuy nhiên không áp dụng máy móc mà dựa vào tính khả thi ở Việt Nam

Ngày đăng: 07/07/2022, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Bá Cần (1998), Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
2. Phạm Trần Chúc (1945), Bùi Viện với chính phủ Mỹ - Lịch sử ngoại triều Tự Đức, Nhà xuất bản Đại La, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Viện với chính phủ Mỹ - Lịch sử ngoại triều Tự Đức
Tác giả: Phạm Trần Chúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại La
Năm: 1945
3. Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trần Đức Cường (2012), Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, tập IV, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trần Đức Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2012
4. Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trương Công Huỳnh, Nguyễn Anh Dũng (2005), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trương Công Huỳnh, Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
5. Trần Bá Đệ (chủ biên - 2007), Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
6. Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng tám, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ" XIX "đến Cách mạng tháng tám
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
7. Vũ Ngọc Lanh (2015), Tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ giá trị và hạn chế, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ giá trị và hạn chế
Tác giả: Vũ Ngọc Lanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 2015
8. Đinh Xuân Lâm (1998), Lịch sử cận – hiện đại Việt Nam, một số vấn đề nghiên cứu, Nhà xuất bản Thế giới mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cận – hiện đại Việt Nam, một số vấn đề nghiên cứu
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới mới
Năm: 1998
9. Đinh Xuân Lâm (1999), Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
Năm: 1999
10. Triệu Thị Hương Liên, Trần Văn Hùng (2017), giáo trình Những cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam thời trung đại, Tài liệu nội bộ Trường Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam thời trung đại
Tác giả: Triệu Thị Hương Liên, Trần Văn Hùng
Năm: 2017
11. Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên - 2007), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
12. Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử Đông Nam Á, Nhà xuất bản Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
13. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam chính biên liệt truyện, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam chính biên liệt truyện
Tác giả: Quốc Sử Quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2004
14. Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (2003), Đạicương Lịch sử Việt Nam, toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạicương Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
15. Văn Tạo (2006), Mười cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử Việt Nam
Tác giả: Văn Tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2006
16. Lê Sỹ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Tác giả: Lê Sỹ Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1997
17. Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới (2005), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới
Tác giả: Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 1. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHỮNG NHÀ CẢI CÁC HỞ VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX - Đánh giá tư tưởng cải cách kinh tế, chính trị của một số nhà cải cách ở việt nam nửa cuối thế kỷ XIX
1. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHỮNG NHÀ CẢI CÁC HỞ VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX (Trang 79)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w