Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là cơ thể phân lập đời 2, khi phát triển thành số lượng lớn trong thành ruột sẽ phá hủy niêm mạc ruột gây chảy máu, xoang chứa đầy các biểu bì bị
Trang 1KHOA NÔNG - LÂM - NGƢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện chương trình thực tập 2, ngoài nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của các cá
nhân cũng như tập thể trong Trường Đại học Hùng Vương
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy, cô giáo trong trường Đại học Hùng Vương đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và
bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa
học Ths Đỗ Thị Phương Thảo người đã trực tiếp hướng dẫn, trong quá trình
em thực hiện đề tài và em cũng xin chân thành cảm ơn Đại lý thuốc thú y Duy
Hằng xã Hoàng Lâu huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện, môi
trường thực tập hiệu quả và hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bác Mai Lâm Hạc – Giám đốc Trung tâm giống gia súc gia cầm Vĩnh Phúc đã hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập
Trong quá trình thực tập bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô để em được trưởng thành hơn trong công tác sau này
Cuối cùng em xin chúc toàn thể các thầy, cô trong khoa Nông - Lâm –
Ngư cùng gia đình bạn bè luôn mạnh khoẻ, công tác tốt
Việt Trì, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Lê Thị Thúy Hằng
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Lịch sử bệnh 3
2.1.2 Căn bệnh 4
2.1.3 Quá trình phát sinh cầu trùng 7
2.1.4 Vòng đời của cầu trùng gây bệnh cho gà 9
2.1.5 Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà 11
2.1.6 Bệnh lý lâm sàng 12
2.1.7 Phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà 18
2.1.8 Phòng trị bệnh cầu trùng gà 18
2.2 Đặc điểm của thuốc điều trị cầu trùng trên gà thịt 21
2.2.1 Một số loại thuốc điều trị cầu trùng trên gà thịt hiện nay 21
2.2.2 Sử dụng thuốc điều trị cầu trùng để phòng cầu trùng 23
2.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thuốc điều trị cầu trùng để phòng bệnh 23
2.2.4 Phòng bệnh bằng vaccine 23
2.3 Gà Ta Lai ( Ri lai Mía) 26
2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 31
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Phạm vi nghiên cứu 33
Trang 43.3 Nội dung nghiên cứu 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu 33
3.4.1.Đánh giá tình trạng vệ sinh thú y của trại 33
3.4.2 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng trên gà thịt tại trại 33
3.4.3 Triệu chứng, bệnh tích điển hình của gà mắc bệnh cầu trùng tại trại 35
3.4.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh cầu trùng gà thịt của trại 36
PHẦN IVKẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Đánh giá tình trạng vệ sinh thú y của trại gà thịt Hà Tuyết 39
4.2.Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng trên gà thịt tại trại 42
4.2.1 Tỷ lệ gà nhiễm noãn nang cầu trùng 42
4.2.2 Cường độ nhiễm noãn nang cầu trùng của gà tại trại 45
4.3 Triệu chứng, bệnh tích điển hình của gà mắc bệnh cầu trùng tại trại 47
4.4 Kết quả điều trị bệnh cầu trùng trên gà tại trại Hà Tuyết 53
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Tài liệu tiếng việt 57
Tài liệu dịch từ nước ngoài 59
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2.4 Một số loại vaccine phòng bệnh cầu trùng đã được sử dụng trong và
ngoài nước 25
Bảng 3.1 Phác đồ sử dụng điều trị thử nghiệm gà mắc cầu trùng 37
Bảng 4.1.Quy trình phòng bệnh bằng các biện pháp vệ sinh, khử trùng 39
Bảng 4.2 Quy trình phòng bệnh cho gà thịt bằng thuốc và vaccine 41
Bảng 4.3 Tỉ lệ nhiễm cầu trùng qua xét nghiệm phân ở đàn gà trại nuôi từ 7 đến 49 ngày tuổi 42
Bảng 4.4 Tỉ lệ nhiễm cầu trùng qua xét nghiệm phân ở đàn gà trại theo tính biệt trống – mái và các tháng 44
Bảng 4.5 Cường độ nhiễm noãn nang cầu trùng ở gà thịt nuôi tại trại qua xét nghiệm phân theo tuổi gà 45
Bảng 4.6 Cường độ nhiễm noãn nang cầu trùng ở gà thịt nuôi tại trại qua xét nghiệm phân theo tính biệt trống mái 46
Bảng 4.7 Cường độ nhiễm noãn nang cầu trùng ở gà thịt nuôi tại trại qua xét nghiệm phân theo các tháng 47
Bảng 4.8 Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng trên gà bệnh cầu trùng tại trại 48
Bảng 4.9 Tỷ lệ gà chết do bệnh cầu trùng theo độ tuổi tại trại 50
Bảng 4.10 Bệnh tích và tỷ lệ bệnh tích của gà bị bệnh cầu trùng 51
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bênh cầu trùng ở gà 14 ngày tuổi 53
Trang 6DANH MỤC H NH
Hình 2.1 Các loại cầu trùng 5
Hình 2.2 Vòng đời của cầu trùng gà Eimeria spp 9
Hình 4.1.Biểu đồ tỉ lệ nhiễm cầu trùng ở đàn gà theo lứa tuổi 43
Hình 4.8.1 Phân sáp lẫn có bọt khí 49
Hình 4.8.2 Phân lẫn máu tươi 49
Hình 4.10.1 Viêm xuất huyết niêm mạc manh tràng (ruột thừa), máu tích lại 51
Hình 4.10.2 Ruột sưng to, thành ruột mỏng 52
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ khỏi bệnh của 2 phác đồ khi điều trị bệnh cầu trùng 54
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Gia cầm là vật nuôi quan trọng thứ hai sau lợn, nhưng lại là vật nuôi của mọi nhà, mọi người Việt Nam, chăn nuôi gia cầm là một ngành nghề truyền thống, tất cả mọi người dân đều tham gia chăn nuôi do thu nhập trong chăn nuôi gia cầm đem lại không nhỏ,vốn đầu tư ít, quay vòng vốn nhanh
Một trong những khó khăn gây trở ngại cho việc phát triển đàn gà trong những cơ sở chăn nuôi tập trung cũng như trong hộ gia đình là dịch bệnh còn xẩy ra khá phổ biến Thực trạng chăn nuôi này đã đặt ra cho ngành thú y rất nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó phải kể đến như: các bệnh truyền nhiễm, các bệnh ký sinh trùng mà tiêu biểu là cầu trùng đã gây nhiều thiệt hại cho đàn
gà nuôi trong điều kiện sinh thái ở nước ta Cầu trùng gà (Coccidiosis avium) là căn bệnh gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, mà hầu như trang trại chăn nuôi nào cũng mắc phải Bệnh làm cho gà còi cọc, giảm tốc độ lớn cho toàn đàn, gây chết cao ở gà con từ 30 – 100%, làm giảm sản lượng trứng từ 20 – 40% ở gà
đẻ [11] Bệnh Cầu trùng ở gà là bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm, do loài ký sinh trùng đơn bào gây ra Có nhiều loài cầu trùng gây bệnh cho gia cầm, tuy nhiên giống cầu trùng gây bệnh cho gà là Eimeria, chủ yếu ở 2 loài : Eimeria tenella (ký sinh ở manh tràng – ruột già ) và Eimeria necatrix (ký sinh trùng ở ruột non) [16] Loại ký sinh trùng này phát triển trong đường ruột và gây ra những tổn thương
mô, ảnh hưởng đến tiêu hóa hoặc hấp thu dưỡng chất, sự khử nước, mất máu và tăng tính mẫn cảm với những tác nhân gây bệnh khác Theo Lê Văn Năm
(1996)[15] khi nhiễm cầu trùng có thể bội nhiễm với các bệnh khác như: E.Coli,
bạch lị và phó thương hàn, CRD, tụ huyết trùng, viêm ruột hoại tử, Gumboro, Newcastle, Marek, hội chứng giảm đẻ,…
Hiện nay trên tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 70% số hộ chăn nuôi Trong đó
có 120.000 hộ chăn nuôi gia cầm, số lượng gia cầm được nuôi là trên 8 triệu con, ngành chăn nuôi của tỉnh trong các năm qua đã chuyển mạnh sang hướng hàng hóa, tập trung đảm bảo gắn với an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực
Trang 9phẩm, hình thành các vùng sản xuất tập trung như vùng chăn nuôi gia cầm Tam Đảo, Tam Dương [1]
Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà dao động từ 4-100% và tỷ lệ chết từ 5-15% (Nguyễn Hữu Hưng (2010) [6]; Lương Tấn Phát và Bùi Trần Anh Đào (2011) [18]) Qua đó thấy được mức độ nghiêm trọng của bệnh cầu trùng gây ra đối với chăn nuôi gà, nó không chỉ ảnh hưởng đến số lượng đầu con mà còn làm tiêu tốn thức ăn, gà chậm lớn, giảm giá trị kinh tế của con gà
Để tìm hiểu rõ hơn về bệnh cầu trùng gà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Xác định mức độ nhiễm và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh cầu
trùng ở gà nuôi tại trại Hà Tuyết, Tam Dương, Vĩnh Phúc.”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm bệnh cầu trùng trên gà ta lai (Ri x Mía) tại trại Hà Tuyết, Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Xác định mức độ ảnh hưởng của lứa tuổi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà ta lai ( Ri x Mía) tại trại Hà Tuyết, Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Xây dựng được phác đồ điều trị bệnh cầu trùng mang lại hiệu quả kinh tế cao
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả đề tài là thông tin khoa học về tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên
gà ta lai ( Ri x Mía) tại trại Hà Tuyết, Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Kết quả là tài liệu tham khảo phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo tại trại Hà Tuyết, Tam Dương, Vĩnh Phúc
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà từ
đó đưa ra phác đồ điều trị nhằm giảm tỷ lệ chết và thiệt hại do bệnh cầu trùng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 10Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Lịch sử bệnh
Bệnh cầu trùng xảy ra ở cả gia súc, gia cầm và người Trong lĩnh vực thú
y, bệnh được phát hiện cách đây hơn 370 năm, ban đầu, các nhà khoa học dựa
trên họ căn nguyên Coccidia để đặt tên cho bệnh là Coccidiosis
Năm 1863, Rivolta[37] phát hiện ra một loại ký sinh trùng có trong phân
của những con gà thải phân lẫn máu Một năm sau, Eimeria xác định được loại
ký sinh trùng đó chính là loài nguyên sinh động vật (Protoza) sinh sản theo bào
tử, thuộc lớp Sporozoa, bộ Coccidia, họ Eimeria Đến năm 1875, kết quả nghiên cứu của Eimeria được công nhận và tên của ông được đặt cho tên của loài Protoza mà ông đã phát hiện ra Như vậy, tên gọi Coccidiosis vẫn mang tính chất chung chung do Coccidia có hai giống gây bệnh chủ yếu đó là Eimeria và Isospora Giống gây bệnh trên gà là Eimeria, do đó tên gọi chính thức thường được dùng đối với bệnh cầu trùng gà là Emiriois
Vào năm 1980, Levine[33] phân loại cầu trùng ký sinh trên gà như sau:
Ngành Protozoa, phân ngành Apicomplexa, lớp Sporozoasida, phân lớp Coccidiasina, bộ Eucoccidiorida, phân bộ Eimeriorina, họ Eimeriidea, giống Eimeria Schneider
Ở Việt Nam các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu về bệnh cầu trùng từ những năm 70 của thế kỷ 20, thời điểm đó, chăn nuôi gà theo hướng thâm canh công nghiệp phát triển Cho đến nay, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện hầu hết các loại cầu trùng gây bệnh ở gà như các tác giả nước ngoài đã mô tả
Cầu trùng là một bệnh ký sinh trùng có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng trong thịt gia cầm và sản xuất trứng Các ký sinh trùng sinh sôi trong ruột và gây tổn thương mô, lượng thức ăn giảm, kém hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn, mất nước và mất máu Chim cũng có nhiều khả năng bị bệnh do nhiễm khuẩn thứ
phát Khi kích thước của đàn tăng, số Coccidia cũng phát triển và có thể đặt ra một
Trang 11mối đe dọa cho đàn về nguy cơ bùng nổ dịch bệnh
Đến nay, bệnh cầu trùng trên gà được phát hiện ở khắp nơi trên thế giới, ở đâu có gà là ở đó có bệnh cầu trùng Đây cũng là một trong những mối quan tâm, trăn trở của các nhà nghiên cứu và giới chăn nuôi
2.1.2 Căn bệnh
Cầu trùng gà ký sinh ở manh tràng và ruột non, làm rối loạn tiêu hóa, gây tổn thương các tế bào thượng bì, không hấp thu được dinh dưỡng, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, giảm tăng trọng,
gà còi cọc, chậm lớn, suy yếu có thể chết Gà mắc bệnh sức đề kháng giảm là yếu tố mở đường cho các bệnh khác bùng phát Bệnh rất phổ biến trên đàn gà nuôi công nghiệp, bán công nghiệp và kể cả gà chăn thả
Mặc dù do ký sinh trùng nhưng bệnh lại lây lan rất nhanh và chủ yếu qua đường miệng
Có 9 loài cầu trùng, mỗi loài ký sinh, và gây bệnh ở một đoạn ruột trong
đó có 5 loài gây bệnh phổ biến, đó là: Eimeria tenella (kí sinh ở manh tràng), Eimeria necatrix (ký sinh ở ruột non), Eimeria acervulina (ký sinh ở tá tràng), Eimeria maxima (ký sinh ở ruột non), Eimeria bruneti (ký sinh ở ruột),
số còn lại gồm: Eimeria mitis, Eimeria mivati, Eimeria hagani, Eimeria praecox ít gây bệnh
Eimeria tenella
Đây là loài phổ biến rộng rãi nhất, noãn nang hình trứng bao bọc bởi hai
lớp vỏ màu xanh nhạt, ở một đầu noãn nang có hạt cực Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,16µm Thời gian hình thành bào tử con từ 18-48 giờ Khi nhiệt độ thấp
hình thành bào tử dừng lại, các nang trứng chết Qua sinh sản bào tử, các nang trứng phát triển thành 4 bào tử kích thước 4 x 8µm, mỗi bào tử có 2 thể bào tử
Trang 12Hình 2.1 Các loại cầu trùng
Cầu trùng Eimeria tenella phát triển trong manh tràng nhưng cũng có thể
ở các phần ruột khác, thời kỳ cầu trùng phát triển trong cơ thể gà là 10 ngày tuổi, cầu trùng thải nang trứng vào ngày thứ 6 đến ngày thứ 7 sau khi nhiễm vào
cơ thể Số lượng nang trứng thải ra tối đa trong 3-4 ngày đầu, những ngày tiếp theo cường độ nang trứng thải ra giảm dần, tới ngày thứ 10 thì hoàn toàn không thấy nang trứng nữa
Ở môi trường bên ngoài, nang trứng Eimeria tenella khá bền vững Cầu
trùng này giữ được khả năng gây bệnh sau khi nằm trong đất suốt năm Nơi cư trú là manh tràng nên chúng gây tổn thương rất nặng ở đây Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là cơ thể phân lập đời 2, khi phát triển thành số lượng lớn trong thành ruột sẽ phá hủy niêm mạc ruột gây chảy máu, xoang chứa đầy các biểu bì bị phá hoại, những thành phần hữu hình của máu và những dạng cầu trùng ở các giai đoạn khác nhau
Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối loạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa để các vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân hủy các chất trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể
Trang 13kéo dài từ 21-24 giờ Thường ký sinh ở giữa ruột non
Eimeria mitis
Là loài cầu trùng có độc lực yếu Noãn nang hình cầu, không màu Khối nguyên sinh chất đều đặn, nang trứng có hạt cực Cầu trùng ký sinh ở tuyến đầu ruột non Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ trong các tế bào biểu bì nhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6-12 thể phân đoạn, các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5 Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,09µm
Thời gian sinh sản bào tử là 48 giờ Thời gian xâm nhập trong cơ thể gà là 138-140h Gà con từ 2-5 tuần tuổi cảm nhiễm mạnh với cầu trùng này Thường
ký sinh ở ruột non và cả manh tràng Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,19µm
Trang 14Sức gây bệnh không mạnh Noãn nang hình cầu, không màu, có hạt cực
Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột non gây tổn thương tế bào nội mô nhung mao tạo ra những khe, những hốc trên suốt phần ruột non
2.1.3 Quá trình phát sinh cầu trùng
Trong chăn nuôi ngày nay, tình hình dịch bệnh diễn ra rất phức tạp, một khi xảy ra dịch sẽ gây thiệt hại rất lớn với người chăn nuôi Vì thế người chăn nuôi cần phải có hiểu biết về quá trình phát sinh dịch bệnh và các biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm để chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao
Đối với bệnh cầu trùng gà, con vật mắc bệnh luôn bài xuất mầm bệnh ra ngoài suốt cả thời gian mắc bệnh Noãn nang cầu trùng trong phân gà lẫn vào thức ăn nước uống, đất, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, trở thành nguồn gây nhiễm bệnh
Sức đề kháng của noãn nang cầu trùng rất mạnh, ở trong đất có thể duy trì sức sống 4 - 9 tháng ở sân chơi râm mát Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa
là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển Nhiệt độ 22 - 30ºC chỉ mất
18 - 36 giờ thì cầu trùng phát triển thành những bào tử con Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu
Trang 15Khi gia cầm được nuôi dưỡng quản lý không tốt, sức đề kháng giảm kết hợp với môi trường ẩm ướt mầm bệnh trong môi trường nhiều sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển mạnh và gây bệnh nặng Bệnh cầu trùng thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, sức đề kháng yếu dễ mắc bệnh kế phát nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi cầu trùng phát triển thành ổ dịch lớn, mang tính chất hủy diệt
Một dịch bệnh muốn phát sinh phải có đủ ba yếu tố: nguồn bệnh, các nhân
tố trung gian truyền bệnh và động vật cảm thụ, chúng là ba khâu của quá trình phát sinh dịch Thực hiện quá trình phát sinh dịch có ý nghĩa lớn đối với mầm bệnh Do bản chất ký sinh, mầm bệnh đòi hỏi luôn phát triển trên cơ thể sống Quá trình tiến hóa của mầm bệnh đã tạo ra cho nó một phương thức tồn tại thích hợp là thực hiện quá trình phát sinh dịch
Trên cơ sở đó, muốn tiêu diệt được bệnh truyền nhiễm ta phải nắm được các quy luật của quá trình ấy để ngăn chặn dịch Trên cơ sở phân tích vai trò và
sự liên hệ giữa các khâu của quá trình truyền lây dịch bệnh, cũng như ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội, đàn gia súc đối với quá trình phát sinh, phát triển của dịch bệnh, công tác phòng chống dịch có thể thực hiện bằng cách xóa bỏ một hoặc vài khâu làm cho quá trình sinh dịch không xảy ra được Đây là nguyên lý cơ bản trong công tác phòng chống dịch bệnh, ngoài ra còn có một số nhân tố nữa ảnh hưởng tới tình hình dịch bệnh đó là vấn đề kiểm soát sự vận chuyển và giết mổ vật nuôi Nếu vấn đề này được thực hiện tốt thì sẽ hạn chế tối đa sự phát tán của mầm bệnh
Trang 162.1.4 Vòng đời của cầu trùng gây bệnh cho gà
Hình 2.2 Vòng đời của cầu trùng gà Eimeria spp
(Nguồn:http://www.vemedim.com/bệnh cầu trùng, 2019)
Tất cả các loài cầu trùng đều có vòng đời khá phức tạp và chúng đều phát triển theo một vòng đời chung Việc hiểu biết về vòng đời của chúng rất quan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh và có những kế hoạch điều chỉnh loại ký sinh trùng này
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., (1999) [8]: Chu trình phát triển cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn phát triển: Giai đoạn ở ngoài tự nhiên và giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ
Vòng đời của cầu trùng gồm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: noãn nang đƣợc thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử (Cầu
trùng Eimeria phát triển thành 4 túi bào tử, trong mỗi túi bào tử có 2 bào tử thế)
Trang 17Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm (Oocyst gây nhiễm)
+ Giai đoạn ở trong cơ thế kí chủ: khi noãn nang cầu trùng xâm nhập vào
cơ thể theo thức ăn hoặc nước uống, dưới tác dụng trực tiếp của dịch dạ dày,
ruột, mật thì lớp vỏ cứng đó bị phá vỡ, các noãn nang được giải phóng Chúng
lập tức xâm nhập vào trong các tế bào biểu bì ruột phát triển thành Schizonte Schizonte tiếp tục phát triển và phân chia tạo thành Schizogoni rồi vỡ ra thành nhiều Schizogoit Schizogoit tiếp tục phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào
đực (tiểu phối tử) và tế bào cái (đại phối tử) Tế bào đực và cái kết hợp với nhau
tạo thành hợp tử rồi thành noãn nang (Oocyst) Thời gian hoàn thành vòng đời là
5 - 7 ngày
Trong vòng đời của cầu trùng diễn ra hai phương thức sinh sản đó là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Vì vậy có thể phân quá trình sinh sản của
cầu trùng qua 3 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn sinh sản vô tính: Cầu trùng ký sinh ở tế bào biểu mô của
con vật sinh sản theo phương thức trực phân
+ Giai đoạn sinh sản hữu tính: Sau giai đoạn sinh sản trực phân sẽ hình thành các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực (tiểu phối tử) Nhân của giao tử đực phân chia và lớn lên đến chừng mực nào đó thì xung quanh mỗi nhân con hình thành nguyên sinh chất bao bọc và giao tử đực đã được trưởng thành Chúng có hình quả lê, kích thước nhỏ, một đầu có vòi sinh dục
Quá trình hình thành giao tử cái cũng diễn ra tương tự như giao tử đực,
chỉ khác là ở một đầu tế bào có lỗ sinh dục gọi là micropil, thông qua lỗ này
giao tử đực chui vào bên trong giao tử cái để thực hiện chức năng thụ thai Giao
tử cái to hơn, ít chuyển động hơn Sau khi thụ thai xong cả giao tử đực và cái hình thành một hợp tử chung, được bọc chung một vỏ mới gồm 2 lớp và chúng
rơi vào lòng ruột biến thành noãn nang chưa chín gọi là Oocystit Hai giai đoạn
trên được tiến hành ở trong cơ thể ký chủ nên gọi là giai đoạn nội sinh sản
+ Sinh sản bào tử (Sporogonie): Ở ngoài môi trường, gặp điều kiện thuận
lợi, sau vài giờ, trong nguyên sinh chất của noãn nang đã xuất hiện khoảng sáng
và phân chia Sau 13 - 48 giờ, nguyên sinh chất hình thành 4 túi bào tử
Trang 18(Sporocyst) Nguyên sinh chất của các túi bào tử lại phân chia tạo thành 2 bào tử con (Sporozoit) Như vậy, trong Oocyst có chứa 8 bào tử con, khi gà ăn vào trở thành Oocyst có sức gây bệnh cho gà
2.1.5 Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà
Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gây nhiễm Noãn nang cầu trùng trong phân gà lẫn vào thức ăn, nước uống, đất, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, trở thành nguồn gây nhiễm bệnh Các loại chim, gia súc, gia cầm, ruồi… đều có thể là nguồn gieo rắc mầm bệnh Theo Phạm Văn
Khuê và Phan Lục (1996) [7], Oocyst khi bị hút vào trong ruột ruồi, vẫn còn khả
năng gây bệnh trong thời gian 24 giờ
Sức đề kháng của noãn nang cầu trùng rất mạnh, ở trong đất có thể duy trì sức sống 4-9 tháng và 15-18 tháng ở sân chơi râm mát Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ
C chỉ mất 18-36 giờ thì cầu trùng phát triển thành những bào tử con
Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu Khi
Khi gia cầm được nuôi dưỡng quản lý không tốt sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển mạnh và gây bệnh nặng Thức ăn thiếu sinh tố cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển mạnh
Vì vậy, gà nuôi trong môi trường ẩm ướt, sân chơi quá hẹp, thức ăn chất lượng không tốt, điều kiện vệ sinh kém là điều kiện thuận lợi cho bệnh cầu trùng phát triển và lây lan Bệnh cầu trùng thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, sức đề kháng yếu dễ mắc bệnh kế phát Và khi điều kiện thuận lợi, cầu trùng phát triển thành ổ dịch lớn, mang tính chất hủy diệt Tỷ lệ chết do cầu trùng ở gà con có thể lên tới 100%, những con ốm sẽ chậm lớn, giảm từ 12-30% trọng lượng, sức đẻ giảm
Thời gian xâm nhập của cầu trùng vào vật chủ diễn ra rất nhanh Natt
(1995) [30] cho biết, cầu trùng Eimeria acervulina sau khi nhiễm vào cơ thể gà
1 giờ 30 phút, các bào tử đã giải phóng ra trong tá tràng và chỉ 54 giờ sau khi bị
Trang 19nhiễm, các bào tử đã có trong tế bào biểu bì ruột, sau đó 16 giờ chúng bắt đầu nhân lên, ba ngày sau khi xâm nhiễm, thế hệ II đã xâm nhập vào tế bào biểu bì
Gà công nghiệp rất mẫn cảm với bệnh cầu trùng vì sức đề kháng kém Trong một đàn chỉ cần một vài con nhiễm cầu trùng thì sau vài hôm cả đàn nhiễm và gây chết hàng loạt Mưa nhiều, ẩm thấp thì cầu trùng phát triển mạnh
2.1.6 Bệnh lý lâm sàng
2.1.6.1 Cơ chế sinh bệnh
Quá trình sinh bệnh được hình thành trước hết từ tác động trực tiếp của căn bệnh ở các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng gà, đồng thời từ cả những yếu tố thứ phát do tác động của các yếu tố trên
Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho rằng: Cầu trùng xâm nhập vào tế bào biểu bì ruột gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột Từ đó, một số lượng lớn
tế bào biểu bì, lớp dưới niêm mạc ruột, các mạch quản thần kinh bị hủy hoại, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật khác xâm nhập vào cơ thể Nhiều đoạn ruột mất khả năng tiêu hóa làm cho con vật bị đói dai dẳng, dẫn tới ngưng đọng và phù nề các cơ quan và mô bào khác Vì vậy, quá trình sinh bệnh thường làm loãng máu, giảm bạch cầu, mạch đập chậm
Khả năng sinh sản lớn của cầu trùng làm tổn thương nơi chúng cư trú (niêm mạc ruột), vì vậy nhiều đoạn ruột không tham gia được vào quá trình tiêu hóa, làm cho con vật không hấp thu được thức ăn, con vật thiếu dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa dẫn đến tích tụ các chất độc gây phù nề các cơ quan mô bào khác
Sự phá hoại các tế bào ruột non dẫn đến trên các vùng tế bào, mô bào bị chết vi khuẩn xâm nhập vào và gây nên quá trình viêm ruột Quá trình viêm tăng dịch rỉ viêm tiết ra nhiều gây mất cân bằng nước tiểu trong cơ thể gà Đặc biệt khi mà bệnh cầu trùng ghép với các bệnh khác làm cho tỷ lệ chết của gà cao hơn
Sự sinh sản mạnh mẽ trong niêm mạc ruột của cầu trùng và sự phá hủy mạnh mẽ các tế bào dẫn tới hệ vi sinh vật gây mủ phát triển mạnh trên những vùng protit bị chết Các vi khuẩn này làm nặng thêm quá trình viêm, gây rối loạn quá trình hấp thu và nhu động ruột, làm mất sự cân bằng nước, từ đó làm tăng
độ dính của máu, tim hoạt động khó khăn hơn
Trang 20Những xét nghiệm máu về hóa sinh và hình thái cho thấy, khi bị bệnh cầu trùng, lượng hồng cầu và hemoglobulin giảm, con vật bị thiếu máu Ngoài ra, khi bệnh tiến triển ác tính thì lượng đường huyết, catalaza và kiềm dự trữ cũng giảm
Khi gà bị cầu trùng thì cấu trúc tiểu não cũng biến đổi Sợi thần kinh biến mất, xuất hiện những đám có cấu trúc khác với cấu trúc bình thường và xuất hiện những mảnh tế bào, sợi thần kinh đang trong quá trình thoái hóa Theo báo
cáo của Natt (1995) [30], Eimeria tenella gây ra trong gà con những biến đổi
trong thành phần lâm ba cầu Bắt đầu từ ngày thứ 5 sau khi nhiễm cầu trùng, ruột có những đám xuất huyết, cơ thể biểu hiện thiếu máu, tăng bạch cầu lympho và bạch cầu dị hình Đến ngày thứ 10 biểu hiện tăng bạch cầu ưa axit lúc này cơ thể gà bị mất máu nhiều
Theo Matrinsky và Orekop (1996) [29] cho thấy: Gà bị bệnh cầu trùng, thành phần đạm huyết bị thay đổi Ở thời kỳ đầu của bệnh trong máu gà hàm lượng đạm tổng số và gluco giảm
Số lượng tế bào hồng cầu và bạch cầu ở gà gây nhiễm noãn nang Eimeria tenella không chiếu xạ giảm so với gà bình thường Kết quả mổ khám cho thấy
ở gà này có hiện tượng xuất huyết trong manh tràng ở mức độ khác nhau Tỷ lệ bạch cầu Eosin ở gà gây nhiễm noãn nang tăng lên so với gà bình thường, triệu chứng tăng bạch cầu Eosin có liên quan với hiện tượng gà bị nhiễm cầu trùng theo Trần Tích Cảnh và cs., (1996) [2]
Những nghiên cứu trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể
gà bị cầu trùng, sự phát triển bệnh lý cuối cùng dẫn đến sự suy sụp trạng thái của
gà, gà bị ốm và cuối cùng dẫn đến chết Ruột bị phá hủy có thể bị trúng độc nặng, vận động không bình thường, mất cân bằng, cánh bị tê liệt, uống nhiều nước, kém ăn, thiếu máu niêm mạc và mào nhợt nhạt, phân có lẫn máu
Từ những phân tích trên cho chúng ta thấy: Không thể coi bệnh cầu trùng
là bệnh chỉ riêng ở cơ quan này hay cơ quan khác, do loài này hay loài khác ký sinh, mà phải coi bệnh cầu trùng là một bệnh toàn thân Vì vậy, khi điều trị bệnh cầu trùng thì ngoài việc dùng các loại thuốc đặc trị cầu trùng ta phải kết hợp
Trang 21dùng thuốc điều trị triệu chứng, dùng thuốc tăng lực, tăng sức đề kháng và có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng thích hợp
2.1.6.2 Sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng
Sau khi gà bị bệnh cầu trùng đã khỏi sẽ có sự miễn dịch đối với bệnh cầu trùng mà chúng đã nhiễm phải Tuy nhiên, sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng là không rõ ràng, nó phụ thuộc vào loài cầu trùng, trạng thái cơ thể và nhiều yếu tố khác Vấn đề miễn dịch cầu trùng được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố
Tyzzer (1929) [31] đã chứng minh tính đặc hiệu của miễn dịch trong bệnh cầu trùng Tác giả nhận thấy những gà khỏi bệnh với loài cầu trùng này thì có khả năng miễn dịch chống lại loài cầu trùng ấy khi chúng xâm nhập lần sau
Theo Hondon-Smith, Beattic (1961) [26] thì thời gian miễn dịch miễn dịch trong bệnh cầu trùng là tương đối dài và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là phương pháp miễn dịch Nếu tiêm cho gà con một liều lớn noãn nang cầu trùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng có sức đề kháng với bệnh và tới ngày thứ 42 thì sức đề kháng đó giảm đi một ít Sau khi tiêm cho gà con 3 liều nang trứng, mỗi lần cách nhau một tuần thì chúng có đủ sức đề kháng và có thể tự bảo vệ khi tiêm cho chúng một liều trên liều chết Hơn nữa gà còn được bảo vệ không bị tái nhiễm
miễn dịch mạnh hơn những loại cầu trùng chỉ ký sinh ở bề mặt niêm mạc
tốt hơn tiêm thẳng vào ruột
dịch, nhưng liều quá cao có thể gây ức chế miễn dịch, thậm chí phát bệnh
trùng (1-5.000 Oocyst/gà) thì thấy mắc bệnh, không có triệu chứng, nhưng gây
nhiễm liều 50.000 nang trứng/gà thì gà bị cầu trùng rất nặng, có thể chết
Trang 22Cường độ miễn dịch cũng phụ thuộc vào đặc điểm phát triển các giai đoạn nội sinh của các loài cầu trùng khác nhau Miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với loài cầu trùng khi các giai đoạn phát triển của chúng tiến triển và
xâm nhập sâu trong mô bào E.acervulina ký sinh trong tế bào biểu bì miễn dịch
kém bền vững khi các giai đoạn phát triển của chúng chỉ phát triển trong lớp
biểu bì niêm mạc ruột Với những loài có độc lực yếu như E.mitis thì tạo miễn
dịch ngắn, không bền vững với lần cảm nhiễm sau Ngược lại các thời kỳ nội
sinh của E.tenella phát triển không chỉ trong biểu bì mà còn xâm nhập vào lớp
dưới biểu bì của niêm mạc và đôi khi còn thấy chúng ở dưới lớp sâu màng niêm mạc Với loài cầu trùng đó thì chỉ cần một liều nhỏ nang trứng trong thời gian ngắn cũng đã đủ gây ra miễn dịch vững chắc
Trung Quốc lúc gà 3 và 6 ngày tuổi cho thấy: Tỷ lệ mắc cầu trùng giảm do đó làm cho gà tiêu hóa tốt, khối lượng cơ thể tăng lên, tỷ lệ chết và loại thải thấp hơn, chi phí cho bệnh cầu trùng giảm
do chúng đã bị nhiễm nhiều lần ở những ngày tuổi còn non, về sau sức đề kháng phát sinh được củng cố bằng sự tái nhiễm cầu trùng thường xuyên
2.1.6.3 Triệu chứng lâm sàng
những đặc điểm khác nhau Sở dĩ như vậy là vì cầu trùng trên mỗi loại gia cầm
là khác nhau Bệnh cầu trùng gà có thời gian nung bệnh ngắn (4-6 ngày) tùy thuộc vào chủng cầu trùng gà nhiễm phải, nơi cầu trùng cư trú, mức độ nhiễm bệnh, số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và tình trạng sức khỏe chung của đàn gà, gây bệnh cho gà ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở gà 14-60 ngày tuổi, đặc biệt là ở gà 18-40 ngày tuổi, thường bị mắc bệnh rất nặng mà chủ yếu ở thể cấp tính Gà lớn thường là vật mang trùng và gây giảm 20-40% sản lượng trứng
Trang 23Thể cấp tính: Thể này chủ yếu gặp ở gà con, thời gian nhiễm bệnh ngắn,
diễn ra từ vài ngày đến 2-3 tuần kèm theo các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là ủ
rũ, chậm chạp, lười đi lại hay đứng tụm một chỗ, bỏ ăn, khát nước, lông cánh xõa xuống, khi đứng đầu thường nghẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền Lúc đầu bệnh mới phát gà ỉa khó, có biểu hiện táo bón sau mấy tiếng đồng hồ thì gà
ỉa phân loãng toàn nước, phân sống, màu xanh sau có màu nâu vàng dần dần chuyển sang dạng sáp nâu lẫn máu và cuối cùng phân được thải ra toàn máu tươi
khi gà nhiễm phải E.tenella Lông xung quanh lỗ huyệt bẩn bết toàn phân lẫn
máu Đôi khi quan sát chúng ta còn thấy gà có các biểu hiện triệu chứng thần kinh như bị liệt, bán liệt hoặc sã cánh, nằm tụ lại một góc chuồng Quan sát bên ngoài thấy niêm mạc nhợt nhạt, con vật gầy dần Giai đoạn cuối gà bị tê liệt rồi chết
Thể cấp tính xảy ra hết sức nhanh chóng chỉ kéo dài 2-3 ngày và tỷ lệ chết
do thể này gây ra có thể lên đến 90-95%, thậm chí toàn bộ số gà thí nghiệm có thể chết hết nếu không can thiệp kịp thời
Thể mãn tính: Thể này hay gặp ở gà từ 4-6 tháng tuổi hoặc gà trưởng
thành Các triệu chứng lâm sàng chủ yếu hay gặp về cơ bản giống thể cấp tính nhưng không rõ, không điển hình Bệnh kéo dài từ vài ngày đến vài tháng, gà gầy dần, chân cánh liệt nhẹ, thỉnh thoảng bị kiết lỵ, rất ít gà bị chết, thời gian gà
ốm kéo dài từ 7-15 ngày, tỷ lệ chết khoảng 25-45%
Thể không triệu chứng: Theo nhiều tác giả thì đây là thể mang trùng của
những gà lớn, gà trưởng thành Quan sát bên ngoài thấy gà hoàn toàn khỏe mạnh, ăn uống đi lại bình thường, triệu chứng lâm sàng duy nhất ta có thể thấy
là đôi khi gà ỉa chảy, tỷ lệ đẻ không đều, năng suất trứng giảm từ 20-40%, nếu kiểm tra phân thấy nhiều noãn nang cầu trùng
2.1.6.4 Bệnh tích
Gà mắc bệnh cầu trùng xác chết gầy, niêm mạc, mào tích nhợt nhạt, phân dính bết xung quanh lỗ huyệt, thường trong phân có lẫn máu Bệnh tích chủ yếu thấy ở ruột, các cơ quan khác không rõ Mức độ biến đổi phụ thuộc vào chủng
cầu trùng và lượng cẩu trùng gà nhiễm phải
Trang 24Eimeria tenella: Gây bệnh tích ở manh tràng, manh tràng viêm xuất
huyết, phình to chứa đầy dịch lẫn máu hoặc có cục máu nhỏ và xốp Màng niêm mạc bị hủy hoại do đó mỏng đi và có nhiều vết loét mà ta có thể quan sát từ bên ngoài
Eimeria necastrix: Ruột non sưng to, thành ruột dày lên, chất chứa trong
ruột màu vàng nhạt hoặc xám, thỉnh thoảng có lẫn cục máu, ruột mất khả năng nhu động
Eimeria brunetti: Bệnh tích ở phần sau đường tiêu hóa Viêm xuất huyết ở
cổ manh tràng, kết tràng và trực tràng Ở kết tràng phần lớn có những điểm trắng (ít thấy có triệu chứng của loài này)
Eimeria maxima: Gây bệnh chủ yếu ở đoạn giữa và 1/2 đoạn dưới của
ruột non, niêm mạc ruột dày lên, có nhiều điểm trắng trên niêm mạc ruột (có thể nhìn thấy qua bề mặt lớp thành dịch)
Eimeria acervulina: Gây ra những vết trắng ở phần ruột non, tá tràng, niêm
mạc ruột non dày lên, phù và xung huyết đỏ, có một số điểm trắng và đỏ
Eimeria hagani: Gây bệnh tích ở tá tràng, phần trước ruột non, thành ruột
có những điểm xuất huyết, niêm mạc ruột viêm cata nặng
Kolapxki và cs., (1980) [27] đã gây nhiễm cầu trùng cho gà con bằng các
chủng E.tenella, E.acervulina, E.maxima, E.necastrix, khi mổ khám thấy: Niêm
mạc miệng, khí quản trắng bệch phủ chất nhầy, phổi màu trắng có bọt, niêm mạc đường tiêu hóa màu xanh tím, phủ chất nhầy màu vàng xám, diều và dạ dày tuyến trống rỗng, màng niêm mạc phủ niêm dịch, trong dạ dày cơ có một ít thức
ăn, tá tràng viêm chứa đầy chất niêm dịch màu vàng, vách ruột dày lên rõ rệt, thấy rõ các điểm xuất huyết, phần giữa ruột non không có biến đổi rõ rệt, manh tràng viêm xuất huyết, phình to chứa đầy chất dính có máu, trong đó có những cục máu nhỏ và xốp, vách manh tràng mỏng đi, màng niêm mạc bị hủy hoại phủ
đầy những nốt loét Đối với gà bị nhiễm E.tenella thì bệnh tích này rất rõ
Như vậy các vị trí bệnh lý đặc trưng cho loài, chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho một số nhà nghiên cứu chẩn đoán chính xác
Trang 252.1.7 Phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà
Chẩn đoán bệnh cầu trùng phải kết hợp nhiều mặt:
Phân tích, tìm hiểu tình hình dịch tễ của địa phương như: Thời gian mắc bệnh, độ tuổi và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng… Quan sát triệu chứng lâm sàng, bệnh tích mổ khám, chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
Bệnh Gumboro: Triệu chứng lông xù, lúc đầu phân loãng có màng nhầy
và trắng sau đó nâu đỏ Tốc độ xảy ra nhanh trong vòng 3-7 ngày, tỷ lệ chết cao
Bệnh tích: Chỉ sưng túi fabricius, không sưng manh tràng
Bệnh bạch lỵ: Thương hàn, phó thương hàn và E.coli: Triệu chứng phân
tiêu chảy trắng như cầu trùng ruột non Bệnh tích mổ khám là ruột không sưng
Bệnh tụ huyết trùng: Cũng có triệu chứng phân đỏ có lẫn máu trong trường hợp cấp tính, nhưng chết nhanh, tỷ lệ chết cao ở giai đoạn trên một tháng tuổi Bệnh tích mỡ ở vành tim xuất huyết, không sưng manh tràng
Xét nghiệm phân và đệm lót: Phương pháp này nhằm mục đích khẳng định bệnh và phân loại cầu trùng gà bị nhiễm Ta có thể dùng các phương pháp sau để xét nghiệm phân để tìm noãn nang cầu trùng: Xét nghiệm phân trực tiếp Xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn
Xét nghiệm bằng phương pháp Darling Phương pháp phổ biến nhất là phương pháp Fulleborn và Darling
hoặc triệt tiêu các yếu tố 1 và 2 Cụ thể là trước khi đưa gà vào nuôi:
Chuồng chăn nuôi phải được tiêu độc, khử trùng bằng việc quét dọn sạch
sẽ, sau đó phun crezin 5%, sau một tuần phun lại bằng formol 1,5%, sau đó 2 ngày quét vôi đặc Mọi dụng cụ sau khi rửa sạch được ngâm trong crezin 5%
Trang 26trong 2-5 giờ và phơi thật khô Chất độn chuồng phải phơi khô, phun formol 1,5% mới được đưa vào chuồng Sau đó cả chuồng và dụng cụ đều được hun
10g thuốc tím pha với 10 ml formol 30-38%, có thể đổ 10ml nước để giảm phản ứng, giữ khói thuốc tím lâu hơn trong chuồng để khử trùng tốt hơn và hiệu quả hơn Cuối cùng sau 2 ngày mới đưa gà vào nuôi
Trước cửa chuồng gà nên có chậu thuốc khử trùng, hố sát trùng, ra vào chuồng phải đi qua đó Tại chuồng và xung quanh chuồng nuôi phải có biện pháp tiêu diệt các vật cơ học hoặc sinh học có khả năng mang mầm bệnh cầu trùng như chuột, chim bồ câu, chim sẻ… Không nuôi chung gà con với gà lớn
và gà đẻ trong cùng một chuồng hay cùng một khu nuôi Thay đổi chất độn chuồng thường xuyên, sát trùng môi trường ngoài đều đặn Phải cách ly triệt để những gà bị bệnh Xác gà chết phải nhặt ngay ra khỏi chuồng rồi đốt, nếu mổ xác gà chết để khám thì phải mổ trong những khu quy định riêng Hàng ngày tập trung phân ủ hoặc đốt
Tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà bằng cách chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đảm bảo các kỹ thuật chăn nuôi Vệ sinh thú y thường xuyên
túy là khống chế việc nhiễm cầu trùng trong quá trình chăn nuôi đến một lúc nào
đó vẫn phải điều trị Sau này các vaccine sống được thay thế bằng các vaccine
an toàn hơn
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều sản phẩm vaccine ngoại nhập nhưng chủ yếu được dùng cho sinh sản Tập thể nhóm tác giả của Viện Chăn nuôi đã sản xuất được vaccine phòng bệnh cầu trùng Theo Trần Tích Cảnh và cs.,
Trang 27(1996) [2] kết quả kiểm tra khả năng được bảo vệ của gà sau khi phòng vaccine cho thấy, gà ở các lô thí nghiệm đều không bị chết, còn gà ở lô đối chứng tỷ lệ chết lên tới 94-96% Điều này cho thấy, gà được phòng bệnh cầu trùng bằng vaccine được bảo hộ rất cao
d Phòng bệnh bằng thuốc
Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay Thuốc được trộn vào thức ăn hay pha vào nước uống với liều bằng nửa liều điều trị và nó sẽ
có tác dụng ngăn chặn sự phát triển hầu hết của các loại cầu trùng
Sau đây là một số loại thuốc thường dùng:
- Avicoc: Đây là chế phẩm của hãng Avitec (Pháp), thành phần của thuốc gồm có Sulfadimexin và Diaveridin, thuốc dạng bột hòa tan, sử dụng an toàn và
có tác dụng tốt Thuốc được dùng phòng bệnh bằng cách hòa tan trong nước với liều 1g/2l nước và cho gia cầm uống liên tục trong 3-5 ngày
- Rigecoccin - WS: Đây là sản phẩm của Công ty cổ phần dược và Vật tư
Thú y Thuốc có tác dụng đặc biệt mạnh chống các chủng Cầu trùng Eimeria
gây bệnh cầu trùng ở ga cầm, thuốc có thể pha vào nước nên hiệu quả điều trị trực tiếp và tốt Liều phòng 1g/8l nước nhưng hiện tại do đã xuất hiện sự kháng thuốc nên trong chăn nuôi người ta đã tăng liều lên 1g/4l nước
- Baycox: Đây là một chế phẩm dạng dung dịch 2,5% Toltrazuril của hãng Bayer Thuốc có tác dụng với tất cả các loài Cầu trùng Liều phòng 3 mg/kg P/ngày, pha với nước uống 2-3 ngày
- Anticoccid: Đây là một chế phẩm hỗn hợp của Sulfaquixalin 27,3%, Sulfadimethoxin 22,35%, Trimethothrim 20%, Diaveridim 2,7% Liều phòng 1g/10kg P, hòa tan vào nước hoặc trộn vào thức ăn cho gia cầm 4-5 ngày liên tục
- Coccistop - ESB3: Là chế phẩm hỗn hợp của Sulfamid và Trimethothrim Liều phòng 0,5 đến 1g/l nước cho uống liên tục 3-5 ngày
- T.eimerin: là chế phầm dạng bột của Sunfaclozin 30% Liều phòng 1g/10kgP, hòa nước hoặc trộn cám cho gia cầm ăn 3-4 ngày
- Thái-cox: là chế phẩm dạng dung dịch của Totrazuril 25% Liều phòng 1ml/1lit nước, dùng 2-3 ngày
Trang 28- Coxi: là chế phầm hỗn hợp của Sunfadimidine 10% và Diaveridin 1% Liều phòng 1g/5kgP, hòa nước hoặc trộn thức ăn liên tục trong 4 ngày
- Apro-MST: là chế phẩm dạng dung dịch của Aprolium 25% Liều phòng 62,5mg/l nước dùng liên tục 4 ngày
2.1.8.2 Trị bệnh
Theo Lê Văn Năm (2003) [15] nguyên tắc điều trị bệnh cầu trùng phải đảm bảo: Thời gian điều trị bệnh cầu trùng phải kéo dài ít nhất 3-4 ngày cho dù thực tế khi mới dùng thuốc đặc hiệu 1-2 ngày đã thấy nhiều đàn gia súc, gia cầm khỏi bệnh về mặt lâm sàng Liều dùng thuốc phải đủ để tiêu diệt căn nguyên theo chỉ dẫn sử dụng của mỗi loại thuốc riêng biệt mà các nhà sản xuất đã khuyến cáo
Do chu trình phát triển sinh học của cầu trùng cần 3-5 ngày nên sau khi điều trị khỏi bệnh 3-5 ngày, phải duy trì liều phòng liên tục 3 ngày để kìm hãm
sự phát triển của chúng, sau đó nghỉ 3-5 ngày và lặp lại cho đến khi gia súc, gia cầm đạt đến độ tuổi miễn dịch tự nhiên Đối với gà thịt, thời gian duy trì liều phòng đến 90 ngày tuổi
Để nâng cao hiệu lực của công tác phòng và trị bệnh cầu trùng đạt kết quả tốt nhất, khi đã dùng một loại thuốc nào vào mục đích phòng bệnh thì khi bệnh xảy ra nên dùng loại thuốc thuộc nhóm khác để điều trị sẽ mang hiệu quả tốt hơn và thời gian điều trị sẽ được rút ngắn hơn
2.2 Đặc điểm của thuốc điều trị cầu trùng trên gà thịt
2.2.1 Một số loại thuốc điều trị cầu trùng trên gà thịt hiện nay
Hiện nay có rất nhiều thuốc trị bệnh cầu trùng Sau đây là một số loại thuốc thường dùng:
- Avicoc: Liều điều trị 1g/1l cho uống liên tục trong 3 đến 5 ngày
- Hancoc: Chế phẩm hỗn hợp dạng dung dịch của hãng Hanvet Thành phần: Sulphaquinoxalin, Pyrimethamin, Vitamin K
Tác dụng: Trị cầu trùng gà, thỏ, lợn, bê, nghé, dê, cừu Phòng và trị bệnh bạch lỵ, thương hàn, tụ huyết trùng gia cầm, lợn Liều dùng: 1,5-2ml/l nước
Trang 29Dùng 4-5 ngày liên tục nếu bệnh nặng cho uống 5 ngày, nghỉ 3 ngày rồi sau đó lại cho uống 5 ngày
Rigecoccin-WS: Liều dùng: 1g/2l nước, dùng liên tục trong 3-5 ngày
- Cocci stop - ESB3: Là chế phẩm hỗn hợp của Sulfamid và Trimethothrim Liều điều trị 1,5-2g/l nước cho uống liên tục 3 đến 5 ngày
- ESB3: Sản phẩm của hãng Ciba (Thụy Sỹ) Thành phần chính là Sulfaclorin, thuốc dạng bột màu trắng, dễ hòa tan, sử dụng an toàn và hiệu quả cao Liều trị 1-2g/l nước uống, dùng liên tục 3-5 ngày
- Anticoccid: Liều điều trị 1g/5kg P, hòa tan vào nước hoặc trộn vào thức
ăn cho gia cầm 4-5 ngày liên tục
- T.eimerin: là chế phầm dạng bột của Sunfaclozin 30% Liều điều trị 2g/10kgP, hòa nước hoặc trộn cám cho gia cầm ăn 3-4 ngày
- Coxi: là chế phầm hỗn hợp của Sunfadimidine 10% và Diaveridin 1% Liều điều trị 2g/5kgP, hòa nước hoặc trộn thức ăn liên tục trong 4 ngày
- Apro-MST: là chế phẩm dạng dung dịch của Aprolium 25% Liều điều trị 125-250mg/l nước dùng liên tục 4 ngày
- Thái-cox: là chế phẩm dạng dung dịch của Totrazuril 25% Liều điều trị 2-3ml/l nước dùng 3 ngày, nghỉ 2 ngày, dùng 2 ngày
- UV-sulcoc: là chế phẩm hỗn hợp dạng bột của Sunfaquinoxaline 18,7%
và Diaverdine 0,33% Liều điều trị 1g/10kgP dùng liên tục 5 ngày
- Cocidial usa: là chế phẩm dạng bột của Sunfachlopyrazne 30% Liều điều trị 1g/5kgP dùng liên tục 5 ngày
Dùng 1 trong số các thuốc trên kết hợp với trợ sức, trợ lực cho gia cầm, cho uống điện giải (2ml/con) Trong đó bao gồm:
- Vitamin C 500: Cho uống
- Vitamin K: Cho uống
- Axit amin: cho uống
- Multi vitamin: Cho uống
- Glucose: Cho uống
Trang 302.2.2 Sử dụng thuốc điều trị cầu trùng để phòng cầu trùng
- Sử dụng thuốc điều trị như trên với liều lượng thấp (bằng 1/4 đến 1/2 liều điều trị) đúng thời điểm sẽ ngăn chặn được sự phát triển, tăng sinh số lượng noãn nang cầu trùng trong cơ thể gà
2.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thuốc điều trị cầu trùng để phòng bệnh
- Thời điểm sử dụng thuốc: đúng thời điểm noãn nang cầu trùng phát triển, xâm nhập vào cơ thể gà thì thuốc sẽ cho hiệu quả cao do thời gian bán thải của thuốc điều trị dùng để phòng tương đối nhanh (24-48h)
2.2.4 Phòng bệnh bằng vaccine
- Vấn đề phòng bệnh bằng vaccine đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và còn nhiều vấn đề chưa được giải đáp Người ta đã thử nghiệm thành công việc gây miễn dịch bằng cách cho uống noãn nang thành thục E.tenella trong dung dịch muối, nhưng lại không thành công trong việc tiêm vaccine chế từ chiết xuất mô của những con vật nhiễm bệnh và việc sử dụng kháng nguyên cầu trùng bằng công nghệ gen cũng được mô tả Như vậy, việc ngăn ngừa bệnh cầu trùng gàbằng con đường vaccine là có khả năng thực hiện
Theo Chapman (1996)[9], hiện nay việc nghiên cứu chế tạo và sử dụng vaccine cầu trùng theo hai hướng chủ yếu:
- Nghiên cứu chế tạo và sử dụng vaccine cầu trùng sống: Thành phần vaccine là các Oocyst cầu trùng đã được xử lý theo yêu cầu công nghệ
- Những loại vaccine sống đã được sử dụng rộng rãi ở Việt nam như: Coccivac – B (Mỹ), Paracox (Canada)…Cơ chế quan trọng là khi đưa vaccine vào cơ thể gà Oocyst cầu trùng trong vaccine không gây bệnh cho gà, mà sự tồn tại của chúng sẽ kích thích cơ thể gà sản sinh kháng thể chống lại sự xâm nhập của cầu trùng gây bệnh tự nhiên Tuy nhiên, miễn dịch này không bền vững.Khi vaccine cầu trùng không còn trong cơ thể gà, chỉ sau một thời gian ngắn, gà không còn sức miễn dịch và lại có khả năng cảm nhiễm cầu trùng gây bệnh tự nhiên
Trang 31- Nghiên cứu chế tạo và sử dụng vaccine chết (vaccine vô hoạt) Vaccine loại này chỉ chứa một thành phần của Oocyst, đại diện tính kháng nguyên của cầu trùng Đó là một protein được chiết xuất ra từ Oocyst cầu trùng loài Eimeria maxima ở giai đoạn sản sinh bào tử, được chế dưới dạng nhũ hóa.Vaccine được
sử dụng bằng cách tiêm cho gà bố mẹ giai đoạn hậu bị trước khi đẻ, nhằm tạo ra kháng thể đặc hiệu ở mức cao Cơ thể gà sản sinh kháng thể chống lại các loài cầu trùng E.tenella, E.maxima, E.acervulina Vaccine này cũng có khả năng tạo
ra miễn dịch thụ động cho gà con sinh ra từ gà mẹ được tiêm phòng vaccine
Phạm Văn Chức và cs (1991)[2] đã nghiên cứu và sản xuất vaccine phòng bệnh cầu trùng gà bằng phương pháp chiếu xạ gama, bước đầu có kết quả tốt Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996)[7], sử dụng sử dụng vaccine Coccivax phòng bệnh cầu trùng cho gà từ 6 ngày tuổi có tác dụng bảo hộ đến 54 ngày tuổi
Bạch Mạnh Điều và cs (2004)[3] đã chế vaccine nhược độc bằng phương pháp chiếu xạ Oocyst cầu trùng, sử dụng cho gà từ 6 ngày tuổi cho khả năng bảo
hộ đến 36 ngày sau sử dụng
Các nhà nghiên cứu đã thực hiện bước đầu tiên trong việc phát triển một loại vắc-xin thế hệ mới giúp bảo vệ đàn gà chống lại bệnh cầu.Vaccine loại này dựa trên các protein lấy từ cầu trùng chứ không phải từ một ký sinh trùng sống
có thể được sản xuất trên một quy mô lớn hơn so với quy mô hiện tại, do đó, cóthể được sử dụng để phòng ngừa, bảo vệ trên quy mô lớn hơn cho đàn gà
Trang 32Bảng 2.2.4 Một số loại vaccine phòng bệnh cầu trùng đã được sử dụng
Pha nước uống 4 – 7 1985
VAC.M
Elancoprodu cts
Pha nước uống 5 -9 1992
Livacox X D
(dùng cho gà
nuôi lồng)
Bio Pharm research Institute (Cộng hòa Sec)
Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một hình ảnh chi tiết hơn về cách bệnh cầu trùng tấn công gà, phát hiện các phân tử protein được tiết vào bề mặt của ký sinh gây bệnh cầu trùng, ký sinh trùng - Eimeria, cho phép nó tấn công và xâm nhập các tế bào trong ruột của gà
Trang 33Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng khi khử trùng và tiêm phòng cho gà, một trong những phân tử này sẽ hỗ trợ bảo vệ chống lại bệnh cầu trùng
và do đó cho thấy triển vọng của chúng dưới hình thức là cơ sở của một loại vaccine thế hệ mới Nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế với sự tài trợ từ BBSRC, Hội đồng nghiên cứu khoa học vật lý và
Cơ khí (EPSRC), Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (MRC) và tổ chức Wellcome Trust Nghiên cứu được công bố ngày 13 tháng 10 trên tạp chí PLos Pathogens
và nghiên cứu ở Anh đã được thực hiện tại trường Imperial College London, Viện Thú y, Đại học Oxford và trường Đại học Thú y Hoàng gia Những kết quả nghiên cứu chế tạo và sử dụng vaccine phòng bệnh cầu trung cho gà đã mở ra triển vọng cho những nghiên cứu tiếp theo trong tương lai, nhằm tiến tới khống chế bệnh cầu trùng ở gà Hiện nay, trong và ngoài nước có nhiều vaccine đã được sử dụng có guồn gốc khác nhau nhưng có tác dụng phòng trị cầu trùng hiệu quả (Nguyễn Huy Đông, 2011)[4]
2.3 Gà Ta Lai ( Ri lai Mía)
- Dấu hiệu nhận biết :
Giống gà này dễ nuôi chịu nóng, chống bệnh tốt, tiêu tốn ít thức ăn, thịt đặc biệt thơm ngon, bán rất được giá trên thị trường
thanh tú, chóp đuôi có điểm vài lông đen xanh Khi trưởng thành thân hình khỏe mạnh lông vàng sặc sỡ, mào to, đỏ dựng đứng, mỏ và chân đều màu vàng
2 hàng vảy , mỏ và chân có màu vàng tương tự gà trống
- Thời gian nuôi
xuất chuồng ( Bán thịt)