và hiện nay những nhà điêu khắc trẻ đã trưởng thành và tiếp nối được các thế hệ đàn anh, tiếp tục say mê sáng tạo làm ra các tác phẩm đẹp cho đời như: Hoa Bích Đào, Khổng Đỗ Tuyền, Lê Lạ
Trang 1PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1986, đất nước Việt Nam từ bỏ nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng là lúc nền nghệ thuật thay đổi và chuyển mình, phát triển bắt kịp xu hướng của thế giới, trong đó các ngành nghệ thuật vận động đó, nghệ thuật điêu khắc có sự phân hóa hoạt động và sáng tác một cách rõ rệt Trong thời
kỳ đầu của cơ chế thị trường, các tượng đài được phát triển rất mạnh và rầm rộ Điêu khắc với tư cách là một bộ phận của nghệ thuật thị giác góp phần làm nên thế giới sự nhìn của một cộng đồng văn hóa Với chiến lược tiếp cận và giáo dục con người có thế giới quan, nhân sinh quan về nhân cách, trí tuệ và các yếu
tố thẩm mỹ, điêu khắc là một phần thiết yếu của quá trình vận động đó, nó là phương tiện độc đáo để biểu hiện, để khám phá các giá trị vật thể và phi vật thể của những nền văn hóa, thông qua ngôn ngữ đặc trưng của mình nó truyền đạt thông điệp trực tiếp nhất đến người thưởng thức qua kênh thị giác Qua con đường thị giác với những ngôn ngữ tạo hình cụ thể là hình khối, đường nét, màu sắc, bề mặt, chất cảm, không gian được thể hiện rõ nét
Nghệ thuật điêu khắc lưu giữ và phát tán những tín hiệu văn hóa dân tộc trong mối quan hệ giữa các nền văn hóa với nhau, khi xã hội chuyển biến, điêu khắc cũng thay đổi, biến động Xu hướng phát triển chung của xã hội cho thấy điêu khắc dù ở được trưng bày ở bất cứ không gian nào cũng đều phản ánh sống động
sự phát triển của văn hóa Đối với một loại hình mang tính xã hội như điêu khắc thì cần mở rộng của để hội nhập với thế giới, do vậy tính dân tộc và yêu cầu hiện đại sẽ bộc lộ bằng chính cái tâm và bản năng của người nghệ sĩ
Trang 2Năm 1925 thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương, từ ngôi trường này các nhà điêu khắc được đào tạo một cách bài bản và dần khẳng định vị thế, đóng góp vai trò to lớn của mình vào sự phát triển chung của nền mĩ thuật Việt Nam đương đại Cũng từ cái nôi này những “ Cây đa, cây đề” ngành điêu khắc như Nguyễn Thị Kim, Diệp Minh Châu, Nguyễn Hải, Lê Công Thành,…chính họ đã cống hiến những tác phẩm nổi tiếng, có nhiều sáng tạo, mang nhiều dấu ấn ngôn ngữ, nội dung, hình thức có tinh thần Việt, dân tộc Việt Tre già măng mọc, lứa nhà điêu khắc này già đi lại có lứa điêu khắc trẻ khác kế thừa và tiếp tục sáng tạo
ra những tác phẩm mang hồn cốt Việt tinh thần dân tộc Việt Đó là những thế hệ tài năng kế tiếp như: Vương Học Báo, Tạ Quang Bạo, Đào Châu Hải, Lưu Danh Thanh, Lê Đình Quỳ, Ninh Thị Đền và hiện nay những nhà điêu khắc trẻ đã trưởng thành và tiếp nối được các thế hệ đàn anh, tiếp tục say mê sáng tạo làm ra các tác phẩm đẹp cho đời như: Hoa Bích Đào, Khổng Đỗ Tuyền, Lê Lạng Lương, Thái Nhật Minh…Có thể nói những tác giả trên đã khai thác mạnh về nguồn vô giá là những chạm khắc đình làng, là hoa văn, họa tiết, là lối tạo hình,
bố cục, là màu sắc là không gian…để làm tác phẩm của mình trở nên gần gũi và đậm đà bản sắc dân tộc
Để vấn đề nghiên cứu tính dân tộc trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam hiện đại một cách chỉnh chu, nghiêm túc nhằm tìm ra giá trị độc đáo của tính dân tộc
có những tác động như thế nào, vai trò của nó ra sao và phát huy nó vào trong sáng tác các tác phẩm điêu khắc như thế nào? rất cần có những phân tích, chứng minh một cách rõ ràng và rành mạch
Chính vì lý do trên và để có thêm những kiến thức về nghệ thuật điêu khắc
Việt Nam, tôi đã lựa chọn đề tài “Tính dân tộc trong một số tác phẩm điêu khắc giai đoạn 1986 đến 2016” (Nghiên cứu trường hợp Triển lãm MTTQ)
làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 32 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài nghiên cứu về phong cách sáng tạo trong điêu khắc của một số nhà điêu khắc Việt Nam hiện đại, góp phần nâng cao khả năng thẩm mỹ, xây dựng hình tượng sáng tác tác phẩm
Là tài liệu tham khảo cho sinh viên mỹ thuật trường Đại học Hùng Vương
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này nhằm nghiên cứu và khẳng định tính dân tộc trong các tác phẩm điêu khắc giai đoạn 1986 đến 2016
Những giá trị nổi bật của tính dân tộc ở các tác phẩm điêu khắc trong nền
mỹ thuật Việt Nam hiện đại giai đoạn 1986 đến 2016
Tiếp thu, kế thừa và phát huy những giá trị của tính dân tộc trong các tác phẩm điêu khắc Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2016
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về tính dân tộc
Tính dân tộc được hình thành từ truyền thống, mang đặc điểm và giá trị văn hóa truyền thống với những bản sắc độc đáo của mỗi dân tộc Tính dân tộc là
hệ tư duy, hệ thống giá trị, hình thành của giai đoạn văn hóa trong đời sống dân tộc và nhân loại, tùy theo mỗi nền văn hóa mà tính dân tộc có nội dung khác nhau
Như vậy có thể hiểu, tính dân tộc được xác lập bởi chính con người trong từng thời kỳ lịch sử và trao truyền qua từng thế hệ, có khi tiềm ẩn trong mỗi cá nhân dưới dạng vô thức Hay nói cách khác, tính dân tộc chứa đựng trong đó những yếu tố tâm sinh lý phù hợp với lịch sử phát triển của dân tộc với tính cách
là một thực thể xã hội
Tính dân tộc phụ thuộc vào tính chất các quan hệ xã hội cũng như hình thức hoạt động nghệ thuật chủ đạo của con người trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Điều này lý giải vì sao những tác phẩm nghệ thuật chân chính có khả năng tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử, vượt qua cả thời đại mà chúng ra đời và
có ảnh hưởng đến các thế hệ sau này
1.2 Vài nét về tính dân tộc trong một số loại hình nghệ thuật
1.2.1 Trong văn học
Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác đều là sản phẩm tinh thần của một cá nhân nghệ sĩ mà cá nhân đó lại thuộc về một cộng đồng, một dân tộc nhất định Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa, phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình Vậy tính
Trang 5dân tộc có thể được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, là một “thuộc
tính tất yếu của việc sáng tạo” (Bienlinxki)
Tính dân tộc trong văn học không bộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể thành yếu
tố hữu hình mà nó thấm vào trong cảm xúc, trong cách nhìn và phương thức thể hiện của tác phẩm, thông qua tác phẩm nó truyền đi thông điệp một cách rõ ràng nhất đến người thưởng thức
Nhà văn không phải cứ chăm chú miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên hay kể về những tên đất, tên làng gắn liền với dân tộc mình đang sinh sống thì tác phẩm mới có tính dân tộc Đọc tác phẩm “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du chúng ta thấy trong tác phẩm xuất hiện nhiều địa danh, nhân vật, kể cả cốt truyện đều có nguồn gốc từ đất nước Trung Hoa, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tâm hồn dân tộc thấm đẫm trong những tranh Kiều
1.2.2 Nghệ thuật điện ảnh
Tính dân tộc của nghệ thuật điện ảnh bộc lộ ở hai mặt là nội dung tác phẩm
và hình thức thể hiện Nội dung tác phẩm sẽ mang tính dân tộc khi người sáng tác đề cập đến những vấn đề cốt lõi, quan thiết của đất nước, phản ánh những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của những con người trong cộng đồng Hình thức thể hiện
sẽ mang tính dân tộc khi nội dung tác phẩm được chuyển tải lên màn ảnh theo đúng cách nghĩ, cách cảm của dân tộc đó, bằng hình ảnh và âm thanh đặc trưng
Có thể thấy, tính dân tộc đa dạng về chủ đề, đồng hành cùng lịch sử dân tộc Kể
từ bộ phim truyện nhựa đầu tiên của miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 và cũng
là bộ phim truyện đầu tiên của Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân, hãng phim truyện Việt Nam) ra đời cho đến nay có thể thấy phim truyện đã thể hiện ở sâu sắc tâm hồn dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử và chính những tác phẩm đó đã góp vào thành tựu chung của điện ảnh cách mạng Việt Nam 60 năm qua
Trang 6Những phim truyện đã tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, như Lửa trung tuyến, Vợ chồng A Phủ, Con chim vành
khuyên, Người chiến sĩ trẻ, Nguyễn Văn Trỗi, Nổi gió, Lửa rừng, Tiền tuyến gọi, Chị Nhung, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Bài ca ra trận…Sau năm 1975, không khí
hân hoan của đất nước hòa bình, thống nhất đã tạo nên môi trường kích thích và đòi hỏi cao sự sáng tạo của người nghệ sỹ, đặc biệt tính dân tộc trong cảm hứng
đất nước thống nhất Nhiều phim truyện ra đời, đa dạng hơn chủ đề: Phim Sao
Tháng Tám, Ngày lễ Thánh, Mối tình đầu (1977), Tiếng gọi phía trước, Hà Nội mùa chim làm tổ (1978), Cánh đồng hoang, Mẹ vắng nhà, Tự thú trước bình
minh (1979) Thập niên 80-90 của thế kỷ trước là thời kỳ “hoàng kim” của phim
truyện với nhiều đề tài, gồm: Ván bài lật ngửa, Làng Vũ Đại ngày ấy, Bao giờ
cho đến tháng Mười, Thằng Bờm, Đêm hội Long Trì, Kiếp phù du, Số đỏ, Vị
đắng tình yêu, Nước mắt học trò, Hoa ban đỏ
Cũng như các loại hình văn học nghệ thuật khác, tính dân tộc trong tác phẩm điện ảnh Việt Nam thể hiện ở rất nhiều khía cạnh, nhưng tập trung rõ nhất
ở ba mặt: Tư tưởng, tâm hồn và những nét sinh hoạt của một dân tộc Đặt trong bất kỳ một thời kỳ lịch sử nào, phim truyện đã thể hiện bao yếu tố đó ở chủ nghĩa anh hùng cách mạng với tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự
do của Tổ quốc, ở chủ nghĩa anh hùng bình dị với cuộc sống giản dị, bình thường, sự gắn bó với ông bà tổ tiên, mối quan hệ gắn kết hữu cơ giữa gia đình
và xã hội Ở chủ nghĩa nhân văn cao cả thì tính nhân văn là một điểm mạnh của phim truyện, có sức mạnh chinh phục mang tính toàn cầu Đây không phải là đặc trưng riêng của Việt Nam, song tính nhân văn lại mang tâm hồn dân tộc của chính quốc gia đó Điều quan trọng là tinh thần nhân văn của phim Việt được thể hiện theo tâm hồn, cốt cách Việt Nam, tạo nên nét đặc sắc của tác phẩm…
Trong hình thức thể hiện, tính dân tộc không chỉ bộc lộ một chiều “tô hồng” nhằm tôn vinh con người cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu
Trang 7mà còn phơi bày cả những tiêu cực của con người, mặt trái của xã hội Được xây dựng từ một cốt truyện hoàn chỉnh, hoặc được gợi ý hoặc chuyển thể từ tác phẩm văn học, nhân vật trong phim truyện bao giờ cũng được xây dựng theo hai tuyến
rõ rang đối lập với nhau như “nước với lửa”: chính diện và phản diện, chính và
tà, trung và nịnh, thiện và ác…Kết thúc phim thường có hậu Đó cũng là niềm mong ước của khán giả
Điện ảnh thời kỳ đổi mới có những biểu hiện phong phú của tính hiện đại
và tính dân tộc Nhiều bộ phim tạo được ấn tượng đẹp cho khán giả bởi chính
tâm hồn dân tộc: Đêm hội Long Trì , Kiếp phù du , Canh bạc , Hãy tha thứ cho
em , Vị đắng tình yêu , Thương nhớ đồng quê (1995), Đời cát (1999)…
Là đất nước “Ra ngõ gặp anh hùng”, nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng thể hiện rất đậm nét trong những phim truyện giàu tính sử thi Phim truyện phục
vụ nhiệm vụ chính trị của dân tộc là đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập và thống nhất đất nước Đặc điểm nổi bật của phim truyện chiến tranh cách mạng là tính sử thi, tập trung ca ngợi con người với những phẩm chất cao quý như một di sản tinh thần quý báu của dân tộc: lòng yêu nước, căm thù giặc, tinh thần chiến đấu quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung Những phẩm chất được phản ánh trong phim liên quan đến đặc điểm của tính dân tộc và tính hiện đại Các nhà làm phim đã có thời gian tách khỏi cuộc chiến để chắt lọc những chi tiết có sức nặng Dưới bề mặt hiện thực ta cảm nhận những triết lý sống sâu sắc của dân tộc,
là chiều sâu của tâm hồn con người Việt Nam, cuộc sống tâm linh trong mối quan hệ mật thiết với truyền thống dân tộc Tư duy của người sáng tác cũng có
sự đổi mới để bắt nhịp được với thời đại và trở thành chiếc cầu nối giữa truyền thống và hiện đại Cũng cùng chủ đề trên, nhưng khi có “độ lùi” thời gian, tách khỏi cuộc chiến, những tác phẩm điện ảnh đó chắt lọc để nhìn cuộc chiến bình tĩnh và có chiều sâu hơn vì có được vốn sống và sự trải nghiệm
Trang 8Có thể thấy dưới bề mặt hiện thực ta vẫn cảm nhận những triết lý sống sâu sắc của dân tộc, là chiều sâu của tâm hồn con người Việt Nam, cuộc sống tâm linh trong mối quan hệ mật thiết với truyền thống dân tộc Tư duy của người sáng tác cũng có sự đổi mới để bắt nhịp được với thời đại và trở thành chiếc cầu nối giữa truyền thống và hiện đại
1.2.3 Nghệ thuật Kịch
Kịch là một môn nghệ thuật sân khấu, một trong ba phương thức phản ánh hiện thực của văn học Thuật ngữ này bắt nguồn từ từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là
"hành động" (cổ điển Hy Lạp: δρᾶμα, drama), được bắt nguồn từ "I do" (Tiếng
Hy Lạp cổ: δράω, drao) Là sự kết hợp giữa 2 yếu tố bi và hài kịch Được coi là một thể loại thơ ca, sự kịch tính được đối chiếu với các giai thoại sử thi và thơ ca
từ khi Thơ của Aristotle (năm 335 trước Công nguyên) - tác phẩm đầu tiên của thuyết kịch tính ra đời Mặc dù kịch bản văn học vẫn có thể đọc như các tác phẩm văn học khác, nhưng kịch chủ yếu để biểu diễn trên sân khấu Đặc trưng của bộ môn nghệ thuật này là phải hành cuộc sống bằng các hành động kịch, thông qua các xung đột tính cách xảy ra trong quá trình xung đột xã hội, được khái quát và trình bày trong một cốt truyện chặt chẽ với độ dài thời gian không quá lớn Mỗi vở kịch thường chỉ trên dưới ba giờ đồng hồ và còn tuy kịch ngắn, kịch dài
Căn cứ vào nội dung kịch, có thể chia thành các thể loại: hài kịch, bi kịch, bi hài kịch, chính kịch Cũng có thể căn cứ vào nội dung của các đề tài mà chia kịch thành: kịch cổ điển, kịch dân gian, kịch thần thoại, kịch hiện đại Một cách phân chia khác dựa theo chính thời gian biểu diễn, có kịch ngắn, kịch dài
1.2.4 Trong Âm nhạc
Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt Các yếu tố chính của nó là cao độ (điều chỉnh giai điệu), nhịp điệu (và các khái niệm liên
Trang 9quan của nó: tempo, tốc độ), âm điệu, và những phẩm chất âm thanh của âm sắc
và kết cấu bản nhạc Từ gốc music xuất phát từ tiếng Hy Lạp μουσική (mousike;
"nghệ thuật của Muses")
Bản sắc dường như là một “mặc định” trong suy nghĩ của nhiều người Việt chúng ta mỗi khi nói tới tính dân tộc trong âm nhạc Tuy nhiên, để chỉ ra những
gì cụ thể thật không đơn giản
Hình 1.1 Hát xoan cửa đình
Lướt một vòng theo dải đất hình chữ S, chúng ta vẫn còn quá nhiều những
gì thuộc về âm nhạc dân tộc Chỉ tính riêng những di sản được vinh danh tầm thế giới đã có một số lượng tương đối Từ quan họ, ca trù, hát xoan của miền Bắc tới
ví giặm xứ Nghệ, nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên của miền Trung, vào Nam có thêm đờn ca tài tử Vẫn còn đó hát then, hát văn, bài chòi… đang trên hành trình chờ ngày UNESCO vinh danh Và còn biết bao di sản âm nhạc khác nữa của người Kinh cũng như các tộc người trên khắp đất nước khó có thể kể đầy đủ ra đây Còn chưa nói tới những tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau của nền âm nhạc mới giờ cũng là một di sản đồ sộ và quý giá Nhưng tính dân tộc thể hiện ở đâu trong những di sản ấy? Đương nhiên, nó hiện hữu trong tất cả các di sản và thể hiện trong từng chi tiết tạo nên diện mạo của mỗi di sản
Trang 10Điều này tôi luôn coi là một phi thường và từ đó càng thêm nể phục, ngưỡng mộ những bậc tiền nhân mỗi khi soi lại quá khứ về hành trình âm nhạc của dân tộc Gần như chỉ biết tới cây đàn bầu là một trong số hiếm hoi nhạc cụ do cha ông ta tạo nên Cây đàn có âm thanh trữ tình buồn man mác nghe rất quyến rũ
Sự ra đời gắn liền với người hát xẩm, lại chỉ có nam giới dùng nên dân gian mới khuyên răn “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu” Âm thanh của tiếng đàn rất gần với giọng người, được ví như giọng hát thứ hai cùng song ca với nghệ nhân Vậy thì phải chăng, nhạc hát mới là bản chất của nhạc Việt khi mà hầu hết di sản xưa nhất đều là những thể loại ca hát dân gian không nhạc đệm, có chăng chỉ là nhạc cụ gõ đơn giản như trong hát xoan, hát ví, hát đúm, trống quân, quan họ Tuy nhiên, sự giao lưu tiếp biến không chỉ diễn ra ở riêng nhạc hát dân gian
mà nó ở ngay trong chính những yếu tố du nhập từ bên ngoài vào
Lớp nhạc sĩ thế hệ đầu tiên nhanh chóng đưa nhạc mới đến gần với màu sắc dân ca Ngay cả những bài hành khúc như “Chiến thắng Điện Biên” (Đỗ Nhuận) cũng tràn ngập âm hưởng dân gian từ đồng bằng đến miền núi phía Bắc Những thể loại lớn như ca kịch, nhạc kịch cũng vậy, yếu tố dân tộc luôn chiếm vị trí chủ đạo Trong khí nhạc tính dân tộc cũng luôn ở vị trí hàng đầu Nhà soạn nhạc Nguyễn Thiên Đạo thành công ở Pháp có lẽ bởi chính từ phương châm sáng tác của ông là: “Dân tộc đích thực, nhân loại tiên phong”
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận từng viết: “Tôi thấy cách sáng tác do tinh hoa của vốn cổ dân tộc (cả hình thức lẫn nội dung) đã “nhập” vào tâm hồn người viết một cách nhuần nhuyễn và bật ra thành ngôn ngữ thời đại của dân tộc là một cách sáng tác
lý tưởng” Tính dân tộc trong âm nhạc mang tính trìu tượng nhưng nó lại có sức sống vô cùng mạnh mẽ bởi nó nằm trong chính tâm thức, bản năng và suy nghĩ
và hành động của người Việt Có lẽ trong suốt quá trình lập nước luôn gắn với việc đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm để giữ nước nên ý thức về tính dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu
Trang 111.2.5 Trong Mỹ thuật
Mỹ thuật Việt Nam hiện đại hình thành trong bối cảnh thuộc Pháp, cùng với
sự ra đời của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (giai đoạn 1925-1945)
Đó là giai đoạn văn hóa Việt Nam giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây đầy sôi động, góp phần tạo ra sự biến đổi diện mạo của văn hóa Việt Nam nói chung, mỹ thuật Việt Nam nói riêng
Sự tiếp xúc với mỹ thuật Pháp và phương Tây đem lại một diện mạo mới cho mỹ thuật Việt Nam Sự hình thành diện mạo mới của mỹ thuật Việt Nam hiện đại được thực hiện theo quy trình: tiếp nhận, sao phỏng, biến đổi theo hướng bản địa hóa các yếu tố văn hóa ngoại sinh
Giai đoạn thời mỹ thuật Đông Dương có nhiều ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại Đó là bước chuyển từ nền mỹ thuật dân gian sang nền mỹ thuật hiện đại có tính bác học, hàn lâm theo hướng phương Tây hóa Các họa sĩ thời đó được đào tạo trong môi trường giáo dục phương Tây, từ giáo trình, chương trình học, thầy giáo cho đến học liệu, họa phẩm , nhưng các tác phẩm của họ vẫn phản ánh đậm nét cốt cách và tâm hồn dân tộc Trước hết, chúng ta đều nhận thấy đối tượng phản ánh và miêu tả hội họa Việt Nam giai đoạn này là thiên nhiên và con người Việt Nam Làng quê và những người lao động bình dị là chủ đề khá bao trùm trong các bức tranh thời
đó Trường hợp tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) là một ví dụ tiêu biểu Toàn bộ nhân vật, cảnh sinh hoạt, lao động trong tranh của Nguyễn Phan Chánh là thể hiện đời sống thôn quê thường nhật, bình dị, ấm áp Tiêu đề của các
bức tranh đã phản ánh khá rõ chủ đề của chúng, ví như: Chơi ô ăn quan, Ra
đồng, Đi chợ về, Rửa rau cầu ao…
Lúc đầu khi người Pháp mở trường dạy mỹ thuật là nằm trong chiến lược của chính sách đồng hóa của thực dân Điều này dễ nhận thấy ở những mục tiêu
Trang 12đào tạo khác nhau trong những giai đoạn khác nhau Người có công lớn cho sự
ra đời của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương là người hiệu trưởng đầu tiên Vichtor Tardieu Chính giai đoạn từ 1925 đến 1937, từ ngôi trường danh tiếng này xuất hiện nhiều họa sĩ Việt Nam danh tiếng, mà các tác phẩm của họ đặt nền móng cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung… Người kế nhiệm Vichtor Tardieu
là Evarite Jonchere, một nhà điêu khắc có tư tưởng thực dân đã phát biểu
“Trường Mỹ thuật Đông Dương chỉ nên đào tạo những người thợ lành nghề” Ý
tưởng đào tạo thợ mỹ nghệ đã được thể chế hóa bằng việc đổi tên trường từ Trường Mỹ thuật Đông Dương (L' Ecole des Beaux - Art des Indochine) thành Trường mỹ thuật và mỹ nghệ ứng dụng (L' Ecole superieure des Beaux - Arts et des Arts appliques de L' Indochine) Tư tưởng này đã bị vấp phải sự phản kháng mãnh liệt của sinh viên Một sự kiện được nhiều người nhắc đến, đó là tại Triển lãm Đấu Xảo 1931 tại Paris, khách tham quan đã rất ấn tượng với bức tranh
lụa Chơi ô ăn quan của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh Với thành công này, tranh
của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh trở thành người đại diện tiêu biểu cho tranh lụa Việt Nam hiện đại Tiếp bước Nguyễn Phan Chánh, những người bạn học của ông như Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tường Lân, Lê Thị Lựu, Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị cũng đã bắt đầu vẽ lụa trong khi vẫn tiếp tục vẽ tranh sơn dầu Cả nhóm đã sáng tác những bức tranh lụa mang tâm hồn họ cộng hưởng với
truyền thống dân tộc Những bức tranh Em bé cho chim ăn của Nguyễn Phan
Chánh, Hiện và hoa của Nguyễn Tường Lân, Chị em của Lê Thị Lựu, Thiếu
nữ của Lê Văn Đệ, Mai Trung Thứ đã dần khẳng định tranh lụa Việt Nam là
một trường phái độc đáo chứ không phải là bản sao của tranh lụa Trung Quốc
Vẽ lụa nhưng không dùng nét như tranh quốc họa của Trung Quốc hay tranh khắc gỗ Nhật Bản, xây dựng hình họa vững vàng, nhưng không theo lối diễn tả sáng tối như của Châu Âu
Trang 13Là một trong số ít nữ sinh mỹ thuật thời đó, bà Lê Thị Lựu tham gia hội các
nữ họa sĩ và điêu khắc, sau khi đã tốt nghiệp trường mỹ thuật và được nhận giải thưởng về tranh lụa của hội Tranh của Lê Thị Lựu mang đậm hình ảnh người phụ nữ Việt Nam và Châu Á Bà thích những đề tài về gia đình và thích bày tỏ tình yêu qua các đề tài phụ nữ và trẻ em Phong cách nghệ thuật của bà mang tính kinh điển, nhưng luôn thể hiện bằng một bút pháp mềm mại và một gam màu dịu dàng Lúc đầu bà cũng vẽ theo phong cách Trung Quốc, dùng các mảng màu có viền nét, sáng tối phân cách, sau mới chuyển dần sang các ảnh hưởng của phái ấn tượng Pháp như Cezanne, Renoir, nhưng cái cốt lõi vẫn luôn là một tinh thần phương Đông, đặc biệt là Việt Nam
Họa sĩ Mai Trung Thứ tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa đầu tiên (1925-1930) Tác phẩm hội họa của ông thoạt nhìn giống như là nghệ thuật dân gian: đường nét, màu sắc mộc mạc, có khi không theo luật viễn cận Tranh của ông chứa chan tình cảm luyến tiếc cái cổ xưa, cái thiện lương Nói đến tranh sơn mài Việt Nam, người ta không thể không nói đến danh họa Nguyễn Gia Trí Ông là người đầu tiên trong số nhiều họa sĩ Việt Nam gặt hái được thành công rực rỡ trên con đường tìm tòi chất liệu tạo hình mới mang nét đặc sắc Việt Nam Mặc dù ông áp dụng cả phương pháp tiếp cận hội họa hiện đại phương Tây nhưng kỹ thuật sơn mài của ông dùng là thuần Việt Có thể nói, Nguyễn Gia Trí đặt chuẩn mực cho hội họa sơn mài chính thống Việt Nam, tranh của ông dường như là hình ảnh phản chiếu của đối tượng dưới một mặt nước trong veo Các họa sĩ vẽ tranh sơn mài khác như Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ đều có những đóng góp đáng kể cho việc khẳng định tính chất độc đáo của hội họa sơn mài Việt Nam Họ thường
vẽ phong cảnh, đình chùa, cầu quán, bờ tre, sông biển với những màu sơn mài truyền thống như son, then, vàng, bạc cánh gián cùng gam màu lạnh và các thủ pháp tạo hình không dễ làm chủ
Trang 14Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội Khi một nền nghệ thuật phát triển đến trình độ có khả năng phản ánh mâu thuẫn xã hội thì khuynh hướng nghệ thuật kết tinh của ý thức xã hội mới phát triển Trong thời kỳ Pháp thuộc, họa sĩ theo xu hướng hiện thực phản ánh đời sống thực tế của nhân dân, nhất là nhân dân lao động, họ nêu lên được những đức tính cần cù, chịu khó, tâm hồn mộc mạc, chất phác của tầng lớp này, làm cho người xem tranh biết yêu quê hương đất nước, biết trăn trở và suy nghĩ trước thực tại
1.3 Khái niệm về tính dân tộc trong nghệ thuật điêu khắc
Tính dân tộc trong nghệ thuật điêu khắc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một thời kì lịch sử lâu dài được chiêm nghiệm, được nghiên cứu, vận dụng ngôn ngữ tạo hình để chuyển tải vào tác phẩm thông qua bàn tay, khối óc, sự sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm đưa đến người xem một tác phẩm hoàn chỉnh nhất
Như vậy có thể hiểu tính dân tộc trong tác phẩm điêu khắc được nhà điêu khắc trải qua quá trình chiêm nghiệm, nghiên cứu, suy tư những giá trị truyền thống, giá trị văn hóa với những bản sắc độc đáo của mỗi dân tộc, của cộng đồng, lãnh thổ, đất nước, chuyển tải nó vào tác phẩm thông qua các phương pháp, cách thức, ngôn ngữ thể hiện nhằm đưa đến người xem một nội dung cụ thể nhất định
1.3.1 Tính dân tộc trong điêu khắc cổ truyền của người Việt
Phải nói rằng tính dân tộc được hình thành phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất và lối sống của dân tộc Những yếu tố này tác động đến cách nghĩ, cách cảm, cách ứng xử cụ thể trên những vật thể xác định Trước một tác phẩm điêu khắc như tượng phật, tượng thú, người Việt có xu hướng thiên về một sự vật có kích thước vừa phải, không to hoặc nhỏ quá, vẻ ngoài ít phô trương, mang tính hòa đồng nhiều hơn là tính nổi trội Tượng được kết hợp
Trang 15những đường nét trang trí hài hòa, mềm mại, không cứng nhắc Chủ đề của những bức tượng thường có sự liên kết với đời sống hàng ngày, ít mang tư tưởng thần bí mà chủ yếu mang tính nhân văn.
Có thể phân tích và quan sát nhận thấy tượng hổ ở lăng Trần Thủ Độ có cấu trúc tạo hình khối thô, mang tính gợi hơn là tả Dáng vẻ của tượng cũng hiền lành nên dù là tượng về một loài thú dữ nhưng trông vẫn gần gũi với con người Hay tượng hổ ở đền Y Sơn (Đông Môn tự), lăng Nguyễn Công Triều, dù mang tính tả thực nhưng cũng được tạo hình theo dáng vẻ của con vật nuôi, không thấy biểu trưng rõ nét nào của một loài thú dữ Cả hai tượng có tạo dáng như chú chó đang canh nhà, đượm một vẻ đẹp hồn nhiên, bình dị Tượng hổ của người Việt ở chốn tâm linh có lối tạo hình và dáng vẻ khác biệt so với tượng cùng chủ đề của nước ngoài, chẳng hạn như ở Nhật Bản
Tượng điêu khắc bằng đá xuất hiện rất nhiều trong những công trình tín ngưỡng của người Việt, từ lăng mộ cho đến đền, chùa, miếu với nhiều dáng vẻ khác nhau
Những tượng đá mang mỹ cảm của dân tộc Việt đều có một tinh thần chung, có tính biểu cảm riêng, khác biệt so với tượng của những nước khác Nét đặc trưng trong cách tạo hình của tượng người Việt được hình thành từ tâm lý dân tộc với bản tính chịu ảnh hưởng, tác động từ nền văn hóa lúa nước trọng âm, trọng tình Trong cách tạo hình tượng thú hầu như không xuất hiện lối tạo hình hướng ngoại hay mang dáng vẻ dữ tợn, hung bạo như ở một số nền văn hóa trọng dương Những con vật tượng trưng cho sức mạnh, nhanh nhẹn như voi, hổ, ngựa, chó được người Việt tạo hình với dáng vẻ mềm mại, nhẹ nhàng, mang tính ước lệ cao
Tượng con vật mang tính huyền thoại của người Việt như nghê cũng được tạo hình gần gũi với những con vật thân thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Tượng nghê đá ở lăng Dinh Hương là một điển hình về sự tài tình trong lối tạo hình của nghệ nhân dân gian Tượng này mang tính tổng
Trang 16hợp cao của những con vật gần gũi trong cuộc sống như cách điệu dáng ngồi, chân của chó và vẩy cá, miệng của cá chép
Theo Phật giáo, các con vật dù với vẻ bên ngoài dữ tợn, nhưng khi đến nhà Phật đều mang dáng vẻ hiền lành bởi đã được cảm hóa Theo ý nghĩa biểu tượng trong Phật giáo, tượng sư tử biểu thị cho sự uy mãnh của trí tuệ hay tượng voi mang ý nghĩa tượng trưng cho sự kiên định của lý trí Hiểu được ý nghĩa của tượng thú trong chùa như vậy thì chắc rằng không ai đi đặt những tượng sư tử dữ tợn trong và ngoài cửa chùa, bởi trí tuệ không phải thứ đi hù dọa người khác mà
là phương tiện để giúp mỗi người hiểu mình, hiểu người, tự giác ngộ, sớm xóa
Ngay cả tượng con lân, một con vật huyền thoại, linh thiêng có xuất xứ từ nền văn hóa phương Bắc, nhưng khi xuất hiện ở không gian văn hóa Việt, cũng
đã được những nghệ nhân dân gian tạo hình cho phù hợp với mỹ cảm dân tộc Tượng lân đá ở lăng họ Ngọ (Hiệp Hòa, Bắc Giang) cho chúng ta thấy dáng vẻ hiền hòa, gần gũi, đáng yêu của một con thú nuôi, chứ không tạo cảm giác uy quyền, xa cách Cách tạo hình của tượng lân càng làm chúng ta hiểu hơn về sự tinh tế trong cách người Việt đón nhận những giá trị của nền văn hóa khác nhưng
có sự biến đổi cho phù hợp với thẩm mỹ chung của cộng đồng, chứ không tiếp nhận hay vay mượn một cách máy móc
Trang 17Tìm hiểu về điều này để thấy được sự xa lạ trong dáng vẻ cũng như tinh thần mà một số tượng ngoại lai được đặt ở những nơi công cộng thời gian qua
Rõ ràng, chúng không phù hợp với cảm xúc thẩm mỹ của người Việt, kể cả trong tiềm thức của cộng đồng Điều rất thú vị là, những tượng thú, tượng linh vật của người Việt được trưng bày tại một số cuộc triển lãm quy mô toàn quốc được người dân thích thú, hào hứng và cảm phục sự sáng tạo tài tình của nghệ nhân điêu khắc cổ truyền Đa số các ý kiến của người dân sau khi xem triển lãm đều khẳng định việc cần thiết phải tuyên truyền, quảng bá sâu rộng cho mọi người biết những giá trị của văn hóa nghệ thuật dân tộc, góp phần quan trọng giúp người dân tự ý thức được niềm tự hào dân tộc, có những hành xử phù hợp trong
Trang 18việc mua, trưng bày, cúng tiến tượng đến các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Mỹ cảm của dân tộc luôn hiện hữu trong tâm thức mỗi người dân chứ không dễ dàng thay đổi hoặc biến mất Chính vì vậy, việc nghiên cứu, giới thiệu… giúp người dân hiểu biết đúng về những giá trị của nền văn hóa dân tộc nói chung, trong đó
có những hiện vật tượng đá là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Trong bài báo của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, đăng trên báo Ngày nay, số 14,
ngày 7-1-1939, cũng cũng thể thấy niềm tự hào dân tộc, căn nguyên hình thành
nên tính dân tộc trong các tác phẩm của các họa sĩ Việt Nam: “Ông (tức Evarite
Jonchere - NV) là một nhà điêu khắc gia, tôi mời ông hãy chịu khó xem qua những đồ khắc ở chùa Đậu, đình Đình Bảng, chùa Cói, chùa Keo hay đình Chu Quyến và mời ông thử so sánh những nét chạm từ cổ chí kim của Nhật Bản hay những tác phẩm của ông, xem đằng nào thâm trầm, gân guốc và đặc sắc hơn, rồi lúc đó sẽ thong thả nghe ông tuyên bố lại Đó là tôi cũng chưa kể đến Ăngkor cũng của người Đông Dương đó”
1.3.2 Vài nét về nghệ thuật điêu khắc Việt Nam hiện đại
Điêu khắc là tác phẩm nghệ thuật ba chiều được tạo ra bằng cách tạo hình hoặc kết hợp vật liệu như kim loại, đá, thủy tinh, hoặc gỗ Vật liệu cũng có thể được sử dụng như đất sét, dệt may, nhựa, polyme và các kim loại nhẹ nhàng hơn Thuật ngữ này đã được mở rộng để công trình điêu khắc bao gồm cả không gian
âm thanh, ánh sáng, không gian hư ảo và không gian tâm linh
Các nhà điêu khắc làm việc bằng cách loại bỏ như khắc, hoặc họ có thể được lắp ráp như hàn, làm cứng như đúc Trang trí bề mặt bằng sơn có thể được
áp dụng Điêu khắc đã được mô tả như là nghệ thuật tạo hình công nghiệp vì nó liên quan đến việc sử dụng các vật liệu có thể được đổ khuôn hoặc điều chế Sản phẩm thu được là tác phẩm điêu khắc
Trang 19Điêu khắc là một hình thức quan trọng của nghệ thuật công cộng Một bộ sưu tập nghệ thuật điêu khắc trong một khu vườn có thể được gọi là một khu vườn điêu khắc
Một cách tiếp cận nghiên cứu nghệ thuật thông qua quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa được các nhà dân tộc học Pháp và nhân học phương Tây đưa ra vào cuối TK XIX Cách tiếp cận này nói đến sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau, dẫn đến sự biến đổi của một số loại hình văn hóa thuộc một hoặc cả hai nền văn hóa đó Nói cách khác, giao lưu tiếp biến văn hóa là cơ chế của biến đổi văn hóa Sự biến đổi này mang tính tất yếu nhưng không xóa bỏ những giá trị đặc trưng mà có thể còn làm giàu có thêm cho mỗi nền văn hóa Đây cũng là cách tiếp cận của sử học nghệ thuật, khi xem xét nghệ thuật trong mối tương quan với bối cảnh văn hóa xã hội, được khởi xướng bởi Carl Jacob Christoph Burckhardt (1818 - 1897) và Hippolyte Adolphe Taine (1828 - 1893) Tác giả Jacob C Burckhardt đưa ra quan điểm nghệ thuật nhằm mô tả tinh thần
và các hình thức biểu hiện của một thời đại đặc biệt, một con người đặc biệt, hoặc một địa điểm cụ thể Và tác giả Hippolyte A Taine thì đặc biệt chú ý đến
cách tiếp cận ba yếu tố chủng tộc, môi trường, thời điểm để nghiên cứu một tác phẩm nghệ thuật Sau này, nhà nghiên cứu Thái Bá Vân có bài viết Sử học mỹ
thuật như một hệ thống và đưa ra một số luận điểm: sử học mỹ thuật Việt Nam
không thể đứng ngoài hệ thống thế giới; nội dung lịch đại của sử mỹ thuật; vấn
đề xa rời sử sách và thời sự nước ngoài trong nghiên cứu mỹ thuật… Theo ông, nghệ thuật là một cái gì phổ quát, liên tục và thường trực bởi vậy không bao giờ đứng yên mà luôn luôn hiện diện trong những tiếp xúc Với quan điểm này, điêu khắc hiện đại Việt Nam lần lượt thực hiện những cuộc tiếp xúc trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau Nếu cuộc tiếp xúc đầu tiên với nghệ thuật Pháp, qua trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trước đây, đã xác lập một nền điêu khắc hiện đại có hệ thống, từ việc đào tạo chính thức trong nhà trường đến tác giả, tác
Trang 20phẩm thì cuộc tiếp xúc lần thứ hai với phong trào hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tạo nên một bước chuyển trong tư duy thẩm mỹ cũng như phong cách tạo hình Sau đó, trong cuộc tiếp xúc hiện nay, với một thế giới mở rộng và đổi khác, đã tạo nên một nền điêu khắc phong phú, đa dạng về hình thức thể hiện và tạo nên tính chất riêng biệt cho mỗi tác giả.
Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất dẫn đến sự xuất hiện của mỹ thuật hiện đại Việt
Nam nói chung, trong đó có nghệ thuật điêu khắc Trong những năm đầu TK XX, người Pháp đã thành lập một số trường đào tạongười có tay nghề, hình thành đội ngũ lao động bản địa phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa Năm 1901, họ mở trường Mỹ nghệ bản xứ Thủ Dầu Một; năm 1903, mở trường
Mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa; năm 1913, mở trường Mỹ nghệ bản xứ Gia Định; năm 1918, mở trường Canh nông kỹ nghệ tại Hà Nội; năm 1920, lập trường Nghệ thuật thực hành…Sinh viên ở các trường này được học hình họa và thực hành theo chương trình cụ thể, khác với hình thức truyền nghề trước đây Cũng trong bối cảnh này, nhiều cuộc triển lãm được tổ chức tại Pháp và Việt Nam nhằm giới thiệu tranh, tượng của Pháp hay những hiện vật đặc sắc của văn hóa Việt như trống đồng Ngọc Lũ, tượng cổ, đồ mỹ nghệ trang trí bằng vàng, bạc, gốm, tre…Năm 1923, Hội Khai trí tiến đức đã tổ chức cuộc đấu xảo đầu tiên của người Việt tại Hà Nội với mục đích khuyến khích việc sáng tạo của các nghệ nhân, khẳng định những giá trị tiêu biểu của mỹ nghệ dân tộc Do có sự giao lưu với nghệ thuật phương Tây nên thời kỳ này, một số tượng như quan hầu, lính hầu, thú ở lăng Khải Định đã có những sự thay đổi về cấu trúc và chất liệu, như
bê tông cốt thép thay cho gỗ, đá… và đặc biệt, xuất hiện bức tượng tả chân dung vua Khải Định bằng đồng (năm 1922)
Có thể nói, giai đoạn trước năm 1925, cùng với việc tiếp nối những giá trị tạo hình của điêu khắc cổ truyền, một số cá nhân đã được làm quen, tiếp xúc với nền điêu khắc hiện đại trên thế giới và đã có tác phẩm điêu khắc theo xu
hướng này như Em bé ngồi học, Sĩ nông công thương của Nguyễn Đức Thục…
Trang 21Tuy nhiên, điêu khắc hiện đại Việt Nam được tính từ khóa 1 (1925 1930) của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, với sự tham gia của sinh viên đầu tiên là Nguyễn Gia Khánh (Georges Khánh) Thời điểm đó, người Việt Nam đến với nghệ thuật phương Tây với một tâm trạng háo hức tìm kiếm những giá trị của cái đẹp khác với những gì họ đã biết Trong trường, họ được tìm hiểu, học tập có bài bản, trường quy, bắt đầu từ chủ nghĩa cổ điển TK XVII Chính điều này đã tác động nhiều đến những sáng tác điêu khắc thời kỳ đầu, chủ yếu là tượng tròn và phù điêu, theo xu hướng diễn tả khối mượt mà, tả thực Các tác giả cố gắng tái hiện hình ảnh của nhân vật sao cho có sự chân xác, đặc biệt là phản ánh được tâm trạng chung của xã hội đương thời Điều này khác biệt với
-những tác phẩm hội họa cùng thời khi họa sĩ Tô Ngọc Vân nói: “Cái đẹp trong
tranh không phải cái đẹp ngoài đời” Mặc dù trong giai đoạn từ 1925 đến 1945,
ngành điêu khắc của trường chỉ có 10 sinh viên nhưng cũng đủ để lại dấu ấn
đáng kể, với những tác phẩm tiêu biểu như Cô gái cài lược (1929), tượng tròn
của Vũ Cao Đàm,Đường phố(1937), phù điêu thạch cao của Phạm Gia Giang…
Phải kể đến một số giáo sư, họa sĩ người Pháp tham gia giảng dạy tại trường như V.Tardieu, J Inguimberty, C.A.Lemaire, E.Jonchère đã có những ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của một số sinh viên điêu khắc thời kỳ này, trong đó vai trò của E Jonchère (1892 - 1956) là rất lớn
Về mặt lý thuyết, cuộc tiếp xúc lần thứ hai được khởi đầu bằng Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc (tháng 9 - 1949) nhưng trên thực tế, ảnh hưởng sâu rộng của lý thuyết ấy bắt đầu rõ nét từ cuối những năm 50, TK XX, chủ yếu
ở miền Bắc và về sau ở vùng giải phóng của miền Nam Sau Cách mạng tháng Tám, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bị giải thể, thay vào đó là trường
Mỹ thuật Việt Nam do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng Nhưng hoàn cảnh lúc đó chỉ cho phép trường được chính thức hoạt động từ năm 1950 với khóa sinh viên đầu tiên gồm 22 người, không có ai học điêu khắc Đến khóa thứ hai (1954 - 1957), trường có 4 người theo học điêu khắc, là các ông Phạm Mười,
Trang 22Nguyễn Phước Sanh, Võ Văn Tấn, Lê Công Thành Cùng với sự thay đổi của bối cảnh xã hội, nền điêu khắc hiện đại non trẻ của nước nhà đã có những biến đổi trong nhận thức và chủ đề sáng tác Đối tượng phục vụ lúc này của nghệ thuật là tầng lớp công - nông - binh, người dân lao động Do vậy mỹ thuật cần phải dễ hiểu, giản dị, gần gũi với quần chúng, nội dung cần phản ánh được thời cuộc
Kỹ thuật thể hiện và hiệu quả thị giác trên bề mặt tác phẩm vẫn mang âm hưởng của giai đoạn trước, kế thừa mà không có sự thay đổi đột ngột bởi đội ngũ họa sĩ trong giai đoạn này vẫn được đào tạo và ảnh hưởng của phong cách, kỹ thuật trong giai đoạn trước
Trong giai đoạn 1954 - 1975, điêu khắc hiện đại Việt Nam ở miền Bắc chịu sự chi phối bởi xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa nên hầu hết các tác phẩm được sáng tác phục vụ mục đích tuyên truyền cho cách mạng, phản ánh tinh thần thời cuộc Những tác phẩm giai đoạn này dù không nhiều nhưng đã phản ánh được ý thức của người nghệ sĩ trước không khí chung của xã hội lúc bấy giờ Các nhà điêu khắc sử dụng lối tạo hình chân thực, dễ hiểu đối với đại bộ phận người dân để phản ánh chủ đề tư tưởng Tác phẩm điêu khắc thời kỳ này là
sự kết hợp giữa chủ nghĩa hàn lâm kinh viện và chủ nghĩa tự nhiên, không chú trọng nhiều đến sắc thái biểu cảm cho khối Đến những năm 60, TK XX, đội ngũ những nhà điêu khắc đã được mở rộng với sự đào tạo tại 2 trường Cao đẳng
Mỹ thuật Việt Nam và trường Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, cũng như một số nhà điêu khắc được đào tạo tại nước ngoài trở về (chủ yếu là từ Liên Xô) Chính việc được đào tạo có hệ thống kết hợp với giao lưu, học tập, tìm hiểu
về nghệ thuật ở bên ngoài nên một số nhà điêu khắc đã có những tác phẩm tạo nên sự khác biệt trong mặt bằng chung của nền mỹ thuật Việt Nam thời kỳ này
Cùng giai đoạn 1954 - 1975, ở miền Nam, có nhiều hoạt động mỹ thuật sôi nổi, với trung tâm lớn nhất là Sài Gòn Ngày 31-12-1954, trường Cao đẳng
Mỹ thuật Sài Gòn được thành lập Việc điều hành trường được giao cho họa sĩ
Lê Văn Đệ Với vai trò giám đốc, ông phát biểu “Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài
Trang 23Gòn được tổ chức theo nền tảng của các trường: Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương, trường Cao đẳng Mỹ thuật Paris và Viện Đại học Mỹ thuật Roma” Việc xác lập này đã đưa nội dung, phương pháp học tập của nhà trường theo khuynh hướng nghệ thuật tân cổ điển Những giảng viên điêu khắc tham gia đợt đầu Trương Đình Ý, Nguyễn Phi Hùng, Nguyễn Văn Yến, Lê Văn Mậu, Nguyễn Thanh Thu, Lê Thành Nhơn…Bên cạnh đó, việc ra đời của trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế vào năm 1957 cũng đóng góp không nhỏ trong việc đào tạo nên những nhà điêu khắc giai đoạn này Lúc này, một số nhà điêu khắc từng học ở Pháp cũng về tham gia giảng dạy như nhà điêu khắc Lê Ngọc Huệ
Như vậy, điêu khắc hiện đại Việt Nam giai đoạn này vận động theo hai khuynh hướng khác nhau Các tác phẩm sáng tác ở miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam hướng về nhiệm vụ cách mạng và đời sống nhân dân, phát triển nền nghệ thuật theo xu thế hiện thực XHCN, chân phương, giản dị Trong khi đó, một số tác phẩm tại miền Nam theo xu hướng xóa bỏ những phong cách nghệ thuật trước đó, cổ vũ sức sáng tạo, những đột phá trong điêu khắc (nhất là nhóm Sáng tạo, hội Họa sĩ trẻ…)
Cuộc tiếp xúc thứ ba là cuộc hội ngộ giữa nghệ sĩ hai miền Nam Bắc và cũng là cuộc tiếp xúc với các xu hướng của điêu khắc thế giới Những yếu tố này
đã giúp cho nghệ sĩ sáng tác được cởi trói trong sáng tạo bởi mục đích của nghệ
thuật không còn phải chú trong quá mức đến việc phục vụ chính trị và phản ánh đời sống xã hội Sự mở rộng của phạm vi của đề tài và quan niệm thẩm mỹ là những tác động quan trọng, động lực cho những sáng tác điêu khắc sau này bởi hình khối không chỉ tái hiện hình ảnh của hiện thực mà còn thể hiện những chất chứa bên trong tâm hồn hoặc có khi, ghi nhận lại những khoảng khắc ấn tượng của thị giác
Có thể nói, sử mỹ thuật thì không phải chỉ ghi nhận những gì đã đi qua
mà là nói đến những gì còn lại Với cách tiếp cận của sử mỹ thuật, chúng ta sẽ có
Trang 24được cái nhìn mang tính tiếp biến giữa các thời kỳ để từ đó góp phần lý giải được sự vận động của điêu khắc hiện đại Việt Nam, tính kế thừa và hình thức biểu đạt của nó nói lên nỗi niềm của người nghệ sĩ trước bản thân mình với dân tộc và thời đại mà họ đang sống.
*Tiểu kết chương
Lịch sử còn minh chứng rất nhiều điều về bước khởi đầu của nền điêu khắc Việt Nam hiện đại với sự đóng góp của các nhà điêu khắc học tập và trưởng thành trong giai đoạn 1925 - 1945 Và một điều đáng trân trọng ở lớp các nhà điêu khắc đó là họ đã đặt nền móng và khẳng định trước thế giới về một nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại nhưng đậm đà bản sắc dân tộc
Tính dân tộc trong tác phẩm điêu khắc luôn được nghệ sĩ nghiên cứu tìm hiểu, trải qua quá trình phát triển, gặt hái nhiều thành tựu từ năm 1925 khi thành lập trường Cao đẳng mĩ thuật Đông Dương cho đến hiện nay, có lúc thăng, lúc trầm, xuất hiện nhiều tác giả, nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn, tạo dấu ấn sâu đậm, từ đó từng bước có kế thừa, có phát triển, có thay thế, có đổi mới để rồi hình thành nên những thế hệ nhà điêu khắc nối tiếp nhau tiếp tục làm nên những bài ca ca ngợi cuộc sống, quê hương, đất nước bằng hình tượng nghệ thuật, bằng sự sáng tạo, tạo ra sức sống mãnh liệt cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam
Có thể nói chức năng tạo hình trong nghệ thuật điêu khắc luôn bị hạn chế bởi không gian thời gian nhất định Do vậy người nghệ sĩ thường phải tìm tòi chắt lọc và suy tính từng chi tiết trong nội dung, hình thức để hình tượng nghệ thuật được đạt tới giá trị khái quát cao nhất
Tất cả những giá trị tạo hình có tính dân tộc được thể hiện rõ nét qua những nội dung và hình thức biểu đạt, các nghệ sĩ đã thổi hồn mình vào những chất liệu khiến chúng không còn đơn thuần là vật liệu kiến trúc mà thành
Trang 25những tác phẩm vật thể có ngôn ngữ đặc biệt, những tác phẩm điêu khắc là tư liệu quý giá phản ánh quá trình phát triển văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo, tinh thần của từng thời kỳ, từng thế hệ
Từ những nghiên cứu về tính dân tộc, các nhà điêu khắc đã để lại cho dân tộc những giá trị nghệ thuật tạo hình rất độc đáo ở hình thể với sự đôn hậu, hiền lành, bình dị và vẻ đẹp với nội tâm trong sáng, nhân từ, tất cả tạo nên những báu vật của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam hiện đại
Trang 26Chương 2
TÍNH DÂN TỘC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM ĐIÊU KHẮC
GIAI ĐOẠN NĂM 1986 ĐẾN 2016 (Nghiên cứu trường hợp Triển lãm mĩ thuật toàn quốc)
2.1 Nghiên cứu tính dân tộc trong một số tác phẩm tượng tiêu biểu ở Triển lãm MTTQ năm 1985 đến 1986
Giai đoạn này đất nước Việt Nam từ bỏ nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng là lúc nền nghệ thuật thay đổi và chuyển mình, phát triển bắt kịp xu hướng của thế giới, trong đó các ngành nghệ thuật vận động đó, nghệ thuật điêu khắc có sự phân hóa hoạt động và sáng tác một cách rõ rệt Trong thời kỳ đầu của cơ chế thị trường, các tượng đài được phát triển rất mạnh
và rầm rộ
Trước khi công cuộc đổi mới của đất nước diễn ra từ năm 1986, những tác
phẩm Chiến thắng Điện Biên, Thánh Gióng của Nguyễn Hải, Quang Trung
Nguyễn Huệ của Vương Học Báo, Bác Hồ với thiếu nhi của Diệp Minh
Châu, Súy Vân của Lê Công Thành đã khẳng định trước thế giới về một loạt tác
phẩm điêu khắc Việt Nam, không hề lẫn với phương Tây và làm người phương Tây không khỏi ngỡ ngàng Người ta không thể phủ nhận về những giá trị cốt lõi của tính dân tộc đậm đặc trong điêu khắc với các họa sĩ Việt Nam thời Đông Dương đương thời có một tác động hết sức mạnh mẽ thông qua những thông tin tiếp xúc trực tiếp từ các ông thày người Pháp Nhưng trái lại, người ta cũng không thể nhầm lẫn được trước các tác phẩm chân dung con người Việt dưới tài năng thể hiện của các họa sĩ Việt bởi chúng thấm đẫm tâm hồn dân tộc, màu sắc dân tộc Việt Nam
Trang 27Triển lãm mĩ thuật toàn quốc năm 1995 có tổng số 716 tác phẩm trong đó điêu khắc có 127 tượng và phù điêu của 87 tác giả, gồm 34 gò đồng - nhôm, 32 tượng gỗ và chạm gỗ, 28 tượng thạch cao, 10 tượng đá, 7 đúc đồng – gang - nhôm, 6 bê tông - xi măng, 6 gốm – đất nung, 1 phối hợp đá - gỗ - sắt, 1 phối hợp gỗ - đồng - sừng, 1 bồi giấy trên thạch cao, 1 phối hợp thạch cao - nhôm
Huy chương Bạc trao cho các tác phẩm 2 bức chạm gỗ Uống rượu cần và Dệt
khố của Đinh Rú; Ngày hội Hai Bà Trưng, chạm gỗ của Phạm Văn Định Huy
chương Đồng kỳ này thật dồi dào, tượng thạch cao Tiên Dung - Chử Đồng
Tử của Hồng Hưng…
Giải thưởng MTTQ 1985 gồm đầy đủ các hạng Huy chương Vàng, Bạc,
Đồng và Khuyến khích Huy chương Vàng trao cho các tác phẩm: Bên bếp
lửa, tạc gỗ của Hứa Tử Hoài; Cắt tóc, tạc gỗ của Đào Phương; Tàn mà không phế (Anh thương binh), thạch cao của Phạm Mười;
Hình 2.1 Tác phẩm Cô đơn- đồng (1986) của Tạ Quang Bạo
Trong tác phẩm “Cô đơn”, chất liệu đồng của nhà điêu khắc Tạ Quang
Bạo ta thấy tính dân tộc được tác giả thể hiện rõ nét nhất Bức tượng người đàn
Trang 28ông ngồi suy tư, với các khai thác khối độc đáo vươn tới đỉnh sáng tạo là bởi song hành các hướng cuộn khối mây cùng hướng hình học còn có hướng tâm tưởng với những đan bện quyện chặt của khát vọng sống hướng thượng trong khi theo chiều đối lập khiến nhân vật càng cô đơn, tuyệt vọng
Những chiều và hướng có thể đối lập như cong với thẳng, trơn nhẵn với nhăn nhúm nhưng lại tụ tập làm một trong hình thức vừa phô bày ngoài mặt vừa
thẳm sâu trong tâm khảm Tuyệt phẩm Cô đơn là một minh chứng cho nhận định
này Khối đặc và rỗng đan quyện nhau xoắn xuýt với nhau Khối của Tạ Quang Bạo khá phong phú, có chỗ tiết chế như ở phần thân, có chỗ đầy đặn giản dị kiểu khối củ khoai củ sắn trong vô số thử nghiệm trên đồng của ông, cũng có thể sắc gọn, thanh thoát, dứt khoát
Tác phẩm của nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo mang đậm tính dân tộc Việt, văn hóa Việt, nó đặc trưng về hình tượng, thống nhất về phong cách, hoàn thiện
về nội dung, nó làm người xem cảm nhận tâm hồn Việt ngay từ trong sâu thẳm của tác phẩm
Hình 2.2 Tác phẩm Anh tương binh của Phạm Mười
Trang 29Tác phẩm Anh thương binh của điêu khắc gia Phạm Mười là tác phẩm
tiêu biểu cho lối tả thực về khối nhưng vẫn dày dặn, vẹn toàn, khối căng tròn, nuột đều, cơ thể anh thương binh vươn lên phía trước, cả người dồn sức vào cái nạng, phía dưới là đứa bé đang ngẩng đầu nhìn anh thương binh, tưởng cơ thể anh thương binh nặng nề bất động, nhưng phần chân lại uyển chuyển Bên cạnh những khối liền mạch vững vàng, bất chợt ta cảm nhận thấy sự hy sinh một phần thân thể của nhân vật không bi lụy mà đầy can trường, nghị lực
Nhà điêu khắc Phạm Mười đã khéo léo biến cái rất thực, rất đau đớn thành nỗi niềm, sự chia sẻ, sự biết ơn, có một tình tiết rất đẹp đó là sự truyền nối tiếp các thế hệ Tính dân tộc và hiện đại được kết hợp nhuần nhuyễn trong điêu khắc Phạm Mười được tác giả khắc họa rõ nét ở tác phẩm này
Đây là triển lãm đầu tiên của quá trình đổi mới của đất nước do vậy chất liệu sang trọng vẫn chưa nhiều, vẫn còn ảnh hưởng của cách tạo tượng Liên Xô, tuy nhiên vẫn có những tác phẩm mang đậm tính dân tộc trong tác phẩm
2.2 Nghiên cứu tính dân tộc ở một số tác phẩm điêu khắc tiêu biểu trong triển lãm MTTQ năm 1990 – 1995
2.2.1 Tính dân tộc trong một số tác phẩm điêu khắc ở Triển lãm MTTQ năm 1990
Tổng số tác phẩm: 1353 tranh tượng của 822 tác giả Điêu khắc gồm: 89 tượng gỗ - chạm gỗ, 34 gò đồng, nhôm, 8 đúc đồng và kim loại, 32 gốm, sứ, đất nung, 30 thạch cao, 20 tượng đá, 7 xi măng, 1 giả đồng, 1 tổng hợp
Việt Nam đã kịp thời tiến hành Đổi mới và Mở cửa từ 1986 nhờ đó tác động vào hoàn cảnh Mỹ thuật: Đổi mới, mở cửa đã tạo giá trị thực tiễn cho mỹ thuật nước ta, xét trên hầu hết các mặt: triển lãm, bán tranh, giao lưu và học hỏi trực tiếp
Giải thưởng MTTQ 1990 gồm rất nhiều thứ hạng: Chỉ có 01 giải Nhì cho
bức tượng gỗ Bác Hồ về bản của Hứa Tử Hoài, tiếp theo, có Huy chương Vàng
Trang 30cho các tác phẩm: Tiếng kèn Chăm, tạc đá của Nguyễn Hoàng Ánh Huy chương Bạc trao cho các tác phẩm Bà mẹ Quảng Nam, đúc đồng, cao 120m của Phạm Hồng Huy chương Đồng cho các tác phẩm: Mẹ con, tượng đá của Nguyễn Chi Lăng; Dân công kháng chiến, sơn mài đắp nổi của Trịnh Ngọc Lâm; Già làng, tượng gỗ của Hoàng Tường Minh; Dưới ánh mặt trời, đồng nhôm của Trần Văn Mỹ; Màu xanh tình yêu, điêu khắc tổng hợp của Phạm Sinh; Mùa xuân vĩnh
cửu, tượng đá của Cần Thư Công
Hình 2.3 Tác phẩm Bác Hồ về bản của Hứa Tử Hoài
Trong tác phẩm Bác Hồ về bản của tác giả Hứa Tử Hoài, cách tạo khối
của ông về một nhân vật lãnh tụ đóng đặc dày dặn, khối chân nặng nhưng vẫn động, cách tạo hình khỏe vững như các tượng trong chạm khắc đình làng
Bên cạnh những khối liền mạch vững vàng, bất chợt ta va chạm tới kiểu khối xẻ vạt áo mảng diện lớn đầy mạnh bạo trên thân hình người lãnh tụ Bổ sung cho khối đặc của cánh tay là khối của chiệc khăn được vắt chéo qua thân người trông vừa tả thật vừa cách điệu, nhà điêu khắc Hứa Tử Hoài đã khéo léo
Trang 31kết hợp khối rỗng với những khối đặc Chính cái cách tả khối tròn đều tưởng chẳng có gì này đôi khi lại có sức biểu cảm thâm trầm của vật chất đá
Tính dân tộc và hiện đại được kết hợp nhuần nhuyễn trong khối điêu khắc được Hứa Tử Hoài thể hiện rõ nét ở tác phẩm này
Đây là triển lãm MTTQ đông nhất về số lượng trong lịch sử các MTTQ suốt từ 1945 đến 2010 Điêu khắc có 222 tác phẩm, có một số tác phẩm điêu
khắc cỡ rất nhỏ như: Ngắm trăng, chạm gỗ, 4x15cm của Mai Duy Thân; Vật, tượng gỗ, cao 15cm của Trần Quốc Chiến; Mẹ và Ru con đều là tượng gỗ, đều chỉ cao 10cm cùng của tác giả Vương Học Báo; Cô gái chải tóc, tượng gỗ, cao 10cm của Lê Thị Hiền; Bế con, đất nung, cao 10cm của Lê Thị Hoài; Tượng sân
vườn, đất nung, cao10cm của Lê Công Thành Các nghệ sĩ điêu khắc đã nhìn thế
giới hội họa và điêu khắc phương Tây vô cùng phong phú và biến đổi nhanh đến chóng mặt, cả nền nghệ thuật Việt Nam nói chung và mỹ thuật Việt Nam nói riêng, từ nay chính thức giã từ con đường độc đạo mang tên Chủ nghĩa Hiện thực
Xã hội chủ nghĩa Những kiểu cách tạo hình phi hiện thực dần dần quen mắt và
có chỗ đứng khá thoải mái trong các triển lãm
Hình 2.4 Tác phẩm Thiếu nữ của Lê Công Thành
Về đề tài thiếu nữ của Lê Công Thành, trong tác phẩm “Thiếu nữ” ông
dốc tâm huyết để sáng tạo nên tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của thiếu nữ Việt, một vẻ
Trang 32đẹp đặc trưng, hoàn hảo, không miêu tả cụ thể đối tượng thiếu nữ Việt nào mà là những khối cơ thể nần nẫn, đầy sức sống và mềm mại, trau truốt tràn trề cảm xúc được chồng đặt lên nhau Tổng thể khối tượng được cách điệu với dáng vẻ ngồi, các khối lần lượt được hoán đổi vị trí khá kỳ lạ: từ khối đầu hình trứng, khối cổ hình trụ, khối cơ thể hình chóp phồng và khối bụng, mông, chân hình nón, trụ Tất cả được biến điệu về vẻ đẹp hình thể người phụ nữ, gây cho người xem sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp đơn sơ và đầy bí ẩn của nhân vật đang hiện hữu trước mắt Toàn bộ tác phẩm cho thấy sự tài hoa của bàn tay nghệ sĩ, nâng niu, trân trọng đục tạc, gọt chẻ những khối vô hồn thành hình hài tuyệt mỹ, những giá trị thẩm mỹ của người phụ nữ được đúc kết ngàn đời thành hình tượng đẹp đẽ nhất, sang trọng, quý phái mà vẫn gần gũi, thân thương
Có khá nhiều xu hướng, trường phái lạ xuất hiện trong triển lãm, minh chứng cho bước phát triển đa dạng hoá của mỹ thuật Việt Nam (chịu ảnh hưởng của các trường phái tượng trưng, lập thể, ngây thơ - nguyên sơ, biểu hiện, cực thực…)
2.2.2 Tính dân tộc trong một số tác phẩm điêu khắc ở triển lãm MTTQ 1995
Có 171 tác phẩm điêu khắc Phần điêu khắc gồm: 68 ĐK gỗ, 4 thạch cao,
18 gốm, đất nung, 11 đá, 35 đồng, gò đồng, nhôm, 22 xi măng, bê tông, 2 điêu khắc tổng hợp, 2 đồng + xi măng, 2 gỗ + đồng, 5 composit, 01 tượng bồi lụa phủ sơn ta, 01 điêu khắc sơn mài Như vậy là đã xuất hiện thêm khá nhiều chất liệu mới, đồng thời vắng hẳn ký họa, tranh cổ động, mỹ nghệ và số tượng thạch cao rút xuống tối thiểu để đá, gốm, đồng vượt lên
Về giải thưởng: Có giải Nhì cho tác phẩm Cây đời, tượng gỗ của Lưu Thanh Lan, Đầu ngựa, tượng đồng của Nguyễn Hải Nguyễn Có tới Giải Ba là tác phẩm Bác Hồ với đại biểu dũng sỹ, tượng composit của Minh Đỉnh, Xuân, sơn đắp của Trần Hùng, Cuộc sống và tình yêu, tượng gỗ của Phan Gia Hương
Có những Giải Khuyến khích gồm: Những cánh diều, tượng xi măng của Hoa
Trang 33Bích Đào, Hào khí bình Ngô, tượng đồng của Tạ Duy Đoán, Mẹ con, tượng sa thạch của Phạm Hồng, Chân dung họa sỹ Trần Văn Cẩn, tượng đồng của Trần Thị Hồng, Sự hoàn thiện của thiên nhiên, tượng gốm của Lê Liên, Gảy đàn, gò đồng của Đinh Thị Thắm Pôông, Nỗi đau, tượng gỗ của Lều Thị Phương, Tượng
đá của Lê Công Thành, Lửa cầu nguyện, tượng gỗ của Vũ Quang Sáng, Gội đầu, gò đồng của Mai Thu Vân Loại Giải thưởng về đề tài cách mạng gồm: tác
phẩm Bất tử, tượng xi măng và đồng của Hồng Ngọc Loại giải thứ 3 là Giải
thưởng của Quỹ hỗ trợ và phát triển văn hoá Việt Nam - Thụy Điển (SIDA)
gồm: Bóng nguyệt, tượng đồng của Vân Thuyết, Ngày hội, phù điêu xi măng
patin giả đồng của Vũ Tiến
Có thể nhận định đây là giai đoạn phát triển đa dạng nhất của Mỹ thuật Việt Nam từ trước đến nay Bối cảnh lịch sử năm 1995 khá sáng sủa: công cuộc đổi mới - mở cửa đã tiến hành được 9 năm và đã có hiệu quả thực tiễn được 6 năm, toàn dân được no ấm, các cuộc chiến biên giới và hải đảo đã chấm dứt hoặc lắng dịu gần như hoàn toàn Lứa họa sỹ Việt Nam đầu tiên sau đổi mới và mở
cửa đi du học hay thực tập ở phương Tây cũng mới trở về (Lê Anh Vân, Sơn
Trúc, Vũ Huyên, Đào Minh Tri, Lê Thừa Tiến, Bình Minh, Đức Hoà, Lê Thị Hiền…) Các chủ nghĩa, trường phái trong nghệ thuật Việt Nam bắt đầu trở nên
phong phú, cũng như các loại vật liệu vẽ tranh, đúc tượng ngày càng đa dạng
Tác phẩm “Đầu ngựa” của Nguyễn Hải Nguyễn là cái nhìn lạ về hình
khối, thay đổi mạnh mẽ về bố cục, lối tạo hình khúc triết, đặc rỗng rõ ràng, thể hiện sự cô đọng xúc tích, không thừa không thiếu Đây là tác phẩm thể hiện cái nhìn độc đáo, cách quan sát mới lạ của tác giả đối với một đối tượng bình thường, chỉ thay đổi khối hình, diễn chất thô mộc mà không mất đi vẻ quyến rũ, khối kia đích thị là dư âm của những cột đình, chạm kia là nét của hoa văn họa tiết ở đầu đao được khéo léo chuyển thể vận động với đường nét thẳng cong trổ thủng khiến tác phẩm vừa có dấu ấn dân gian mà không mất đi tính hiện đại
Trang 34Hình 2.5 Tác phẩm Đầu ngựa, đồng, 50 x 20 cm của Nguyễn Hải Nguyễn
Hình 2.6 Tác phẩm Cây đời, gỗ, của Lưu Danh Thanh
Đời sống tâm hồn con người Việt Nam thể hiện rõ nét trong tác phẩm
“Cây đời” của tác giả Lưu Danh Thanh một cách hồn hậu, tinh tế Cách sống tế
nhị, kín đáo của người Việt Nam, cùng vẻ đẹp thuần khiết mang tâm hồn Việt đã thấm vào nội dung tác phẩm, với bố cục ba khối chụm lại như một cái cây, có sự thay đổi về khối hình khi thì cong, khi thẳng, vạt thẳng nghiêng, mỗi hình người đều có thế dáng riêng biệt đặc trưng đầy sáng tạo để thể hiện những diễn biến tình cảm tế nhị của 3 nhân vật (vừa là cơ thể người, vừa là cơ thể cây) Tác phẩm
Trang 35có thể nói như một bài ca dao ca ngợi tình yêu giữa con người với con người, được lưu truyền trong dân gian:
“Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên đã tạo nên chất thơ trong tác phẩm thể hiện đậm đặc hoặc thấp thoáng nét trữ tình, ta thấy đâu đó trong tác phẩm có sự sẻ chia, có sự đồng cảm có sự bùi ngùi, có những nỗi niềm không gọi thành lời mà thay vào đó là tiếng nói của khối hình bền chặt, tất cả vang lên
âm hưởng của tình cảm con người việt với nhau, hàng ngàn đời đến nay vẫn gắn
bó không tách rời
Hình 2.7 Mẹ Việt Nam của Nguyễn Phú Cường
Trang 36Hình 2.8 Rồng của Trần Tuy
Ngoài ra ta có thể cảm nhận những tác phẩm mang đậm tính dân tộc như
Mẹ Việt Nam của Nguyễn Phú Cường, Rồng của Trần Tuy, qua cách tạo hình,
diễn khối, cách sử dụng họa tiết hoa văn của chạm khắc đình làng vào trong tác phẩm một cách nhuần nhuyễn
Có thể nhận thấy triển lãm MTTQ 1995 là một bước tiến cả về nội dung đến chất lượng tác phẩm
2.3 Nghiên cứu tính dân tộc trong một số tác phẩm tượng tiêu biểu ở triển lãm năm 2000-2010
2.3.1 Triển lãm MTTQ lần thứ 15, năm 2000
Đây là triển lãm khẳng định được tính nghề nghiệp vững vàng, ngày càng có tìm tòi trong kỹ thuật và chất liệu, có bản sắc dân tộc Các tác phẩm đã có nội dung tư tưởng sâu sắc, phản ánh được các vấn đề của thời đại, có chất lượng nghệ thuật cao, tính nghề nghiệp vững vàng, tính sáng tạo Phân loại Điêu khắc gồm: 65 đồng, 9 nhôm, 4 sắt - thép, 3 kim loại, 1 inox, 29 gốm - đất nung – sành
- sa mốt, 18 đá - cuội - granito, 2 than đá, 13 xi măng - bê tông, 46 gỗ, 24 composit, 22 tổng hợp, 7 thạch cao, 3 sắt + gỗ, 1 đá + thuỷ tinh, 1 gỗ + đồng, 1
gỗ + nhôm, 1 gỗ + inox, 1 inox + gốm, 1 inox + kính, 1 đồng + sắt, 1 đồng +
Trang 37nhôm Đây là triển lãm với tỷ lệ trên 90% là chất liệu quý hiếm như đồng, đá, kim loại quý, gỗ quý.
Đó là bước tiến rất dài vì 40 năm trước, giải thưởng của triển lãm MTTQ
2000: Có huy chương Bạc: Lê Liên với tượng đồng + sắt Khi cuộc chiến đã đi
qua, Lê Lạng Lương với tượng đá Mùa đông Bắc Hà, Mai Thu Vân với bức gò
đồng Đợi anh về Có huy chương Đồng trao cho: Nguyễn Phú Cường với tượng đồng Lửa hậu phương, Nguyễn Trọng Cần với tượng gỗ sơn thếp Khổ hạnh, Nguyễn Phúc Tùng với tượng composit Mắt rồng, Lê Duy Ngoạn với tượng gốm sành Con rồng Có giải Khuyến khích trao cho: Nguyễn Trọng Đoan với tượng sành Hạnh phúc, Nguyễn Minh Luận với tượng sắt - gỗ Ngóng, Nguyễn Hoàng Ánh với tượng đồng Chim sáo, Vũ Đại Bình với tượng đồng Chim và chiến sỹ, Trần Xuân Quang với tượng uốn đồng dây Luân hồi, Đoàn Văn Bằng với tượng inox - gốm Hàn gắn, Hồ Thu với tượng gỗ Mẹ con, Vi Thị Hoa với tượng đồng Dân quân vùng cao, Vũ Hữu Nhung với tượng gốm sành Đồng đội, Minh Đỉnh với tượng đồng Chân dung nhà thơ Quang Dũng Điêu khắc chia khá đều
cho các chất liệu đồng, sắt, đá, gỗ, gốm, composit
Hình 2.9 Tác phẩm Mùa đông Bắc Hà, đá, 102cm của Lê Lạng Lương
Trang 38Tác giả Lê Lạng Lương với tác phẩm “Mùa đông Bắc Hà” đã thể hiện bố
cục một nhân vật nữ dân tộc người Mông đứng, tư thế đầu hơi cúi, hai tay đưa về phía trước để luồn trong nếp khăn váy, cảm giác run vì lạnh, vì gió, vì
sự chuyển mình của thiên nhiên, vì sự khắc nghiệt của thời tiết, vì những tác động của môi trường xung quanh
Với hình khối đơn giản, dứt khoát, căng nuột, nhát đục đơn giản nhưng gọn ghẽ, khối căng, tròn, thô nhưng không vụng về lấp liếm mà hết sức tinh
tế, đẹp đẽ, toàn bộ hình khối mang hơi thở của nghệ thuật chạm khắc đình làng Việt Thiếu nữ dân tộc Mông hiện ra với khối cơ thể đơn giản mà gợi cảm, bí ẩn đáng yêu mà đầy chất thơ, gợi sự nhẹ nhõm, cái lạnh như đang hiện hữu, đang truyền cho người thưởng thức được thưởng ngoạn, được chiêm nghiệm, từ đó mà có sự đồng cảm sẻ chia với những vất vả lo toan của người miền núi, đó cũng là sự tinh tế và đầy thi vị toát lên từ tác phẩm
Hình 2.10 Khi cuộc chiến đã đi qua đồng + sắt, 115 x 50cm của Lê Liên
Trang 39Tác giả Lê Liên trong tác phẩm “Khi cuộc chiến đã đi qua” đã thể hiện tinh
thần dân tộc quật cường thông qua hình ảnh các khối được sắp xếp chồng lớp lên nhau, giữa khối này với khối kia được trổ thủng bằng một lỗ tròn, các diện mặt được tác giả cào xước tạo sự thay đổi về chất, sự xói mòn, sự mất, còn, trên đỉnh
là hai nhân vật, tượng trưng cho hai chiến tuyến đang thân mật gần gũi như chia
sẻ, như động viên, như chịu đựng nỗi niềm mất mát không kể xiết, dưới bệ được tác giả thiết kế các mảnh sắt nối với nhau bởi sợi xích tù đày, sự đau khổ của chiến tranh được thể hiện rõ ràng nhất, minh bạch nhất thông qua biểu tượng trên
Tác phẩm “Khi cuộc chiến đã đi qua” là minh chứng cho cuộc chiến khi kết
thúc kẻ thắng người bại đềucó sự mất mát Thông qua cách tạo khối đậm chất dân gian thô mộc, nghệ thuật diễn khối, hình, không gian và ý tưởng, tác giả đã truyền tải đến người xem sự cảm nhận, sự xúc động đến tận cùng cho một cuộc chiến
Hình 2.11 Tác phẩm Khổ hạnh, sơn thếp, 90cm của Nguyễn Trọng Cần
Có thể nói, các tác phẩm điêu khắc trong triển lãm lần này có nhiều tìm tòi mới, phong cách độc đáo, sáng tạo trong kỹ thuật, chất liệu, có bản sắc dân
tộc đậm đà, cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp
Trang 402.3.2 Tính dân tộc trong một số tác phẩm điêu khắc ở triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 2005
Càng ngày nghệ thuật điêu khắc càng phát triển, có vị trí trong nền mỹ thuật Việt Nam Ðiều này được khẳng định qua Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần thứ 16 - 2005
Ở Triển lãm MTTQ 2005, điêu khắc với số lượng 197 tượng, phù điêu của các tác giả thể hiện sự đa dạng về phong cách Ở mỗi một tác phẩm chúng
ta như đọc được sự trăn trở, tìm tòi của các nhà điêu khắc tìm một vấn đề của cuộc sống để thể hiện Nếu so sánh các tác phẩm điêu khắc ở Triển lãm Ðiêu khắc toàn quốc 1973 - 1983 (có 234 tác phẩm của 97 tác giả, chất liệu là thạch cao, gỗ, đá, nhôm, sành, đất nung) thì ta thấy được sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc, tất nhiên cùng do hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ, các chất liệu bền vững được sử dụng nhiều cũng là sự chú ý đến tính vĩnh cửu của tác phẩm Chất liệu cũng góp phần tạo ra vẻ đẹp của tác phẩm
Ðiêu khắc ngày càng đi gần đến vẻ đẹp của đặc trưng ngôn ngữ Nếu như trước kia phần lớn tác phẩm thiên về tả, kể hoặc mô phỏng hiện thực có tác phẩm gần như bê nguyên xi thực tế cuộc sống thì ở Triển lãm MTTQ 2005 các tác phẩm điêu khắc được thể hiện với nhiều phong cách hiện thực, siêu thực, biểu hiện lãng mạn
Ðiều đáng nói ở đây là các khối hình đã được vận dụng để thể hiện cái đẹp
Sự tương phản của đường nét, khối lồi lõm, đặc trưng chất liệu, vận dụng mầu sắc và điều quan trọng là nêu được tư tưởng tác phẩm Các tác giả bám sát các đề tài đa dạng của cuộc sống, cố gắng nêu bật được vấn đề thời đại đó là vấn đề môi trường, quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, tình cảm gia đình, bè bạn, tình yêu, tình mẫu tử, chiến tranh và hòa bình, các tác phẩm toát lên tính nhân văn sâu sắc
Trong 53 tác phẩm đoạt giải thưởng của Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc