Nguyên nhân gây ra hội trứng tiêu chảy này được xác định là do sự xâm nhập của một số vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella, kết hợp với điều kiện vệ sinh, dinh dưỡng cho lợn con khô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC H NG VƯ NG
KHOA NÔNG – LÂM - NGƢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Phú Thọ, 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và học tập cho tôi được gửi lời cảm ơn tới tất
cả các thầy cô giáo Trường Đại Học Hùng Vương và đặc biệt là các thầy cô giáo khoa Thú y đã truyền đạt những kiến thức môn trong suốt quá trình học tập tại trường, để tạo nền tảng tốt cho tôi phát huy trong sự nghiệp của mình
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Cao Văn và ThS Phan Thị Yến , người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực tập và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp
Qua đây cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới anh Nguyễn Minh Đức quản lý trại Cuối Hạ công ty chăn nuôi Mavin cùng tất cả các cô, chú, anh, chị công nhân đang làm việc tại trại lợn Cuối hạ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại trang trại của công ty
Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè những người đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về đơn vị và trại thực tập 4
2.1.1 Cơ cấu đàn 4
2.1.2 Tình hình sử dụng thức ăn của trại 4
2.1.3 Quy trình phòng bệnh tại trại 4
2.2 Một số nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con 8
2.2.1 Một số nghiên cứu trong nước 9
2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới 10
2.3 Đặc điểm sinh lý lợn con 11
2.3.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con 11
2.3.3 Hệ miễn dịch của lợn con 12
2.3.4 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con 13
2.3.5 Hiện tượng thiếu máu ở lợn con 14
2.4 Nguyên nhân gây bệnh 14
2.4.1 Nguyên nhân do môi trường, ngoại cảnh 14
2.4.2 Nguyên nhân do chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng 15
2.4.3 Nguyên nhân do virus 16
2.4.4 Nguyên nhân do vi khuẩn 18
2.4.5 Nguyên nhân do ký sinh trùng 21
2.4.6 Nguyên nhân do nấm 21
2.4.7 Nguyên nhân do stress 22
2.5 Cơ chế gây bệnh 23
Trang 42.6 Triệu chứng 23
2.7 Bệnh tích 24
2.8 Chẩn đoán 25
2.9 Phòng bệnh 25
2.9.1 Vệ sinh phòng bệnh 25
2.9.2 Phòng bệnh bằng vaccine 26
2.9.3 Phòng bệnh bằng bổ sung sắt 26
2.9.4 Phòng bệnh bằng các chế phẩm sinh học 26
2.9.5 Phòng bệnh bằng cách trộn kháng sinh 27
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng 30
3.2 Phạm vi nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp theo dõi và thu thập số liệu 30
3.4.2 Phương pháp thử nghiệm điều trị 31
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Thực trạng nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0 - 45 ngày tuổi ) 33
4.1.1 Tình hình nhiễm bệnh chung ở lợn con (0- 45 ngày tuổi ) 33
4.1.2 Tình hình nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) theo các tháng 35
4.1.3 Tình hình nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) qua giai đoạn tuổi 39
4.1.4 Tình hình nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) theo tính biệt 43
4.1.5 Những biểu hiện lâm sàng của lợn con khi nhiễm hội chứng tiêu chảy (0- 45 ngày tuổi) 44
Trang 54.2 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy lợn ở con (0-45 ngày
tuổi) 47
PHẦN 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết Luận 50
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AD Aujeszky ( bệnh giả dại )
Cl.perfringens Clostrdium perfringens
CSF Classis Swine Fever ( bệnh dịch tả)
FMD Foot and mouth disease ( bệnh lở mồm long móng)
PRRS Porcine reproductive and respiratory syndrome ( hội
chứng rối loạn hô hấp và sinh sản) PED Porcine Epidemic Diarrhea ( bệnh tiêu chảy cấp ở lợn) TGEV Transmissible gastro enteritis virus (bệnh viêm dạ dày
ruột truyền nhiễm)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn 4
Bảng 2.2 Lịch vệ sinh áp dụng tại trang trại Cuối Hạ 5
Bảng 2.3 Lịch tiêm vaccin cho lợn nuôi tại trang trại 6
Bảng 3.1 Phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy (0-45 ngày tuổi ) 31
Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm bệnh chung ở lợn giai đoạn (0- 45 ngày tuổi) 33
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) theo các tháng 36
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con ( 0-45 ngày tuổi ) theo giai đoạn tuổi 39
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) theo tính biệt 43
Bảng 4.5 Kết quả theo dõi các triệu chứng lâm sàng ở lợn con ( 0-45 ngày tuổi) nhiễm hội chứng tiêu chảy 44
Bảng 4.6 So sánh hiệu quả điều trị hội chứng 47
tiêu chảy qua 2 phác đồ 47
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm, tỷ lệ chết hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) theo các tháng 38Hình 4.2 Tỷ lệ nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con ( 0-45 ngày tuổi) theo giai đoạn tuổi 40Hình 4.3 Phân của lợn con bị tiêu chảy màu vàng trắng, loãng 46Hình 4.4 Tỷ lệ khỏi bệnh và tỷ lệ tái phát khi thử nghiệm phác đồ 48
Trang 9PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Trong quá trình nền kinh tế nước ta không ngừng phát triển Mức sống của con người được nâng cao Nhu cầu thực phẩm để đáp ứng cho con người rất được quan tâm và chú trọng Chăn nuôi lợn là một ngành hết sức quan trọng cung cấp một số lượng rất lớn thịt cho con người và là một loại thực phẩm thiết yếu Theo báo cáo của cục thống kê về tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm
2020, tổng số lợn của cả nước tháng 6 năm 2020 đạt 23,05 triệu con Chính vì vậy ngành chăn nuôi lợn đã và đang là trọng tâm của nền kinh tế nước ta
Trong thời gian vừa qua ngành chăn nuôi lợn cũng gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Năm 2020 dịch tả Châu Phi ở Việt nam bùng phát và đã lây lan đến 38 tỉnh thành, riêng Hà Nội số lượng bị tiêu hủy lên đến 1,5 triệu con Từ những trang trại vừa và nhỏ cho đến những trang trại có quy
mô lớn đều bị thiệt hại nặng nề do phải tiêu hủy vì dịch bệnh Sau khi dịch bệnh qua đi nhiều trang trại muốn nhập giống để tái đàn tiếp tục phát triển kinh tế làm thiếu hụt nguồn cung lợn giống Vấn đề hiện tại là chăn nuôi lợn nái sinh sản để đáp ứng cho nhu cầu đó Quá trình chăn nuôi lợn con là quá trình vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất của vật nuôi sau này Việc hạn chế dịch bệnh xảy ra trên lợn con đặc biệt là hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn (0 - 45 ngày tuổi) đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm
Hội chứng tiêu chảy ở lợn giai đoạn (0 - 45 ngày tuổi) là bệnh phổ biến đã
và đang gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Tỷ lệ mắc cao từ 60-70 % Theo Nguyễn lương (1963), Trịnh Văn Thịnh (1995) nghiên cứu lợn bị tiêu chảy thường mất nước mất chất điện giải và kiệt sức Những con khỏi bệnh thường chịu hậu quả còi cọc, thiếu máu chậm lớn dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp và tỷ lệ chết cao Nguyên nhân gây ra hội trứng tiêu chảy này được xác định là do sự xâm nhập của một số vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella, kết hợp với điều kiện vệ sinh, dinh dưỡng cho lợn con không đảm bảo Nước ta, hội chứng tiêu chảy rất hay gặp và xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết thay
Trang 10đổi đột kết hợp ảnh hưởng bởi các yếu tố stress Bệnh xảy ra làm lợn con còi cọc chậm lớn da nhăn nheo, lông dựng đứng, mắt trũng bỏ bú Lợn bệnh sốt ở nhiều mức độ khác nhau, hay nằm, lười vận động, tiêu chảy phân loãng lẫn bọt khí có màu trắng, vàng, thối Khi mắc hội chứng tiêu chảy làm cho con vật giảm sức tăng trọng, gầy yếu, sức đề kháng kém, giảm năng xuất chất lượng của đàn con Nếu không chữa trị kịp thời con vật có thể chết Gây ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế của người chăn nuôi Vì vậy để giảm tổn thất nặng nề đến ngành chăn nuôi cần chú trọng vào khâu phòng, chuẩn đoán điều trị kịp thời trên đàn vật nuôi chúng ta nên đưa ra phương pháp phòng trị
Công ty cổ phần chăn nuôi Mavin có rất nhiều trại, trong đó trại lợn Cuối
Hạ (Hòa bình) có quy mô 1800 con nái Từ thực tế chăn nuôi cho thấy việc điều tra tỷ lệ nhiễm bệnh và đưa ra biện pháp điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0-45 ngày tuổi) là rất cần thiết Xuất phát từ lý do trên, để nâng cao hiểu biết về bệnh này và thử nghiệm một số phác đồ điều trị góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi hạn chế thiệt hại do hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn (0 -45 ngày tuổi) Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Thực trạng nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0 - 45 ngày tuổi) tại trại lợn giống bố mẹ công ty Mavin, Hòa Bình và hiệu quả điều trị”
1.2 Mục tiêu
Đánh giá được thực trạng nhiễm hội chứng tiêu chảy ở lợn con (0 - 45 ngày tuổi) tại trại lợn giống bố mẹ công ty Mavin, Hòa Bình
Đánh giá được hiệu quả điều trị bằng phác đồ điều trị
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu tại trại của công ty Mavin sẽ thu thập những thông tin cần thiết nhằm bổ sung và cung cấp hoàn thiện phong phú thêm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Cơ sở khoa học để giúp cho người dân biết cách nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con một cách tốt nhất
Trang 11Từ kết quả nghiên cứu có các biện pháp nhận biết bệnh tiêu chảy ở lợn con giai đoạn (0 – 45 ngày) tuổi tại trại lợn giống bố mẹ công ty Mavin và biết cách phòng bệnh
Từ việc thử nghiệm sẽ đưa ra được phác đồ tốt nhất để điều trị
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về đơn vị và trại thực tập
2.1.2 Tình hình sử dụng thức ăn của trại
Các loại cám được sử dụng trong trại là cám do công ty sản xuất, gồm:
Cám silo và cám bao
- Cám silo là cám thường
- Cám bao là cám có pha thêm thuốc
+ Cám 1111 (cám silo) sử dụng cho lợn mang thai
+ Cám 1112 (cám silo) sử dụng cho lợn nái đẻ sau 1 tuần và trước khi đẻ
1 tuần, lợn đực giống, lợn ở chuồng cách ly 14 ngày
+ Cám 1112T (cám bao) sử dụng cho lợn nái đang đẻ trong 1 tuần
+ Cám 1113 (cám bao) sử dụng cho lợn con đang tập ăn, lợn con ở
chuồng cai dưới 10kg
+ Cám 1114T (cám bao )sử dụng cho lợn con trên 10 kg
+ Cám 1114 (cám silo) sử dụng cho lợn con chuẩn bị xuất chuồng
2.1.3 Quy trình phòng bệnh tại trại
a, Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh tại trại
Công tác vệ sinh là cơ sở, là nền tảng của biện pháp phòng bệnh trong chăn nuôi Vệ sinh phòng bệnh nhằm hạn chế và tiêu diệt mầm bệnh ở môi trường, đồng thời nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu cho đàn gia súc Việc
Trang 13chăm sóc nuôi dưỡng tốt và vệ sinh phòng bệnh là những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp người chăn nuôi giảm bớt thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra
êu cầu với người làm việc: phải mặc quần áo lao động, đi ủng (ủng đi ngoài chuồng riêng, ủng đi trong chuồng riêng) của trại, ăn ở tại trại, nếu ra ngoài khi vào trại phải được tắm sát trùng trước khi xuống khu chăn nuôi
Đối với chuồng trại, trang thiết bị, dụng cụ: các dụng cụ lao động, dụng
cụ thú y sau khi sử dụng xong đều được rửa sạch sẽ và sát trùng được để vào đúng nơi quy định Với chuồng lợn nái bầu hàng ngày được dọn phân, tắm cho lợn, xịt rửa nền chuồng, chuồng lợn đẻ thì không tắm cho lợn nhưng thường xuyên dọn phân, quét nền, rắc vôi bột ở nền và lối đi lại (ngày 2-3 lần) Hệ thống máng ăn được cọ rửa sau khi lợn ăn xong, tiến hành xịt rửa gầm 1 lần ngày
Ngoài ra ở chuồng nái đẻ sau khi cai sữa lợn con được xuất đi, lợn nái được chuyển sang chuồng bầu chờ phối thì các tấm đan bê tông được xịt sạch bằng máy áp lực sau đó được phun vôi lên trên, các tấm đan nhựa đều được tháo
dỡ ngâm trong dung dịch NaOH trong vòng 24 – 48h, sau đó được xịt sạch, còn chuồng được xịt sạch bằng nước, phun vôi lên các khung chuồng và để trống chuồng ít nhất là một tuần trước khi đón lợn mới lên
Trại có lịch phun sát trùng định k , một tuần phun từ 3-4 lần, khu vực đường đi xung quanh trại thường xuyên được rắc vôi
Bảng 2.2 Lịch vệ sinh áp dụng tại trang trại Cuối Hạ
Ba Xịt gầm, đổ vôi Quét và rắc vôi đường đi,
Phun sát trùngXịt gầm, đổ vôi
Trang 14Vệ sinh tổng khu Vệ sinh tổng
khu
b, Phòng bệnh bằng vaccine
Phòng bệnh bằng vaccine luôn được coi trọng và đặt lên hàng đầu với mục tiêu phòng bệnh hơn chữa bệnh Do trại sản xuất lợn giống thương phẩm nên việc theo dõi và thực hiện lịch tiêm phòng vaccine chính xác là rất quan trọng
Tiêm phòng bằng vaccine là biện pháp tạo miễn dịch chủ động cho gia súc chống lại mầm bệnh và là một trong những biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất hiện nay Hiệu quả của vaccine phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của con vật, thời gian tiêm, liều lượng tiêm Trên cơ sở đó trại chỉ tiêm vaccine cho lợn khỏe mạnh, đúng liều, đúng thời gian để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Bảng 2.3 Lịch tiêm vaccin cho lợn nuôi tại trang trại
+ Lịch vaccine nái và đực
4 4 tháng lần PCV2 Ingelvac Circoflex 1ml/con
5 4 tháng lần FMD Aftopor type O, A 2ml/con
6 6 tháng lần Giun sán, KST Antiparavet 1ml/30kgTT
Trang 152ml/con 5ml/con
6 29 AD, KHÔ THAI Auphyl Plus
Farrowsure B
2ml/con 5ml/con
Trang 16+ Lịch vaccine heo con
STT Tuần tuổi Phòng bệnh Tên vacxin Liều tiêm
Porcine reproductive and respiratory
1ml/con 0,5ml/con
2.2 Một số nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Hội chứng tiêu chảy ở lợn là một trong các bệnh phổ biến đã và đang gây những thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay xảy ra khi thời tiết thay đổi Hội chứng tiêu chảy gây chết với tỷ lệ chết thấp nhưng thiệt hại lớn của nó là làm tổn thương hệ thống nhung mao ruột non, giảm khả năng hấp thu thức ăn, làm cho lợn con còi cọc chậm lớn Theo PGS.TS Phạm Ngọc Thạch (2006), tiêu chảy là tình trạng bệnh lý đường tiêu hóa, con vật có hiện tượng ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa (ruột tăng cường co bóp và tăng tiết dịch) Hiện tượng lâm sàng tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến, tùy theo độ tuổi mắc bệnh, loài gia súc, tùy theo yếu tố nào được gọi là nguyên nhân chính mà nó được gọi theo nhiều tên khác nhau như: bệnh xảy ra với gia súc non theo mẹ, lợn con phân trắng, chứng
Trang 17khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa…
Hội chứng tiêu chảy đã được nhiều nhà khoa học trong nước và thế giới đi sâu nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau
2.2.1 Một số nghiên cứu trong nước
Hội chứng tiêu chảy trên lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ lâu tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh) Ở nước ta bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa đông xuân, nhất là sau những trận mưa lớn, những ngày có độ ẩm cao và khi thời tiết thay đổi đột ngột
Ở các trang trại chăn nuôi tập trung, bệnh xảy ra rất nhiều mặc dù đã thực hiện tốt các khâu về chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn con, lợn mẹ nhưng bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại lớn về kinh tế
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiên (2001) cho biết số lượng vi khuẩn trung bình của E.coli và Samonella trong 1gam phân ở trạng thái bình thường là
91.450 000 vi khuẩn gam và 26.531.000 vi khuẩn/gam Trong khi đó số lượng
vi khuẩn trung bình của E.coli và Samonella trong phân của lợn mắc tiêu chảy là: 173.837.000 vi khuẩn gam và 51.050.000 vi khuẩn gam Như vậy số lượng
vi khuẩn E.coli và Samonella trong trạng thái bệnh lý tăng gấp hai lần so với lợn
khoẻ
Theo Lê Văn Tạo và cộng sự (1993), đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh
của các chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vaccin chết dưới
dạng cho uống vacxin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/ con, liên tục trong 3 – 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con từ 30– 35% so với đối chứng
Theo Nguyễn Như Thanh và cộng sự (2001), hội chứng tiêu chảy trên lợn con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng,
đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy nhanh Tác nhân gây bệnh
chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là
Proteus, Streptococcus Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5),
Trang 18đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô
ẩm sang rét), tỉ lệ chết tới 30 – 45%
Năm 2002, Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình công bố rằng, ở lợn con
theo mẹ đều phân lập được E.coli và Cl.perfingens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt của E.coli luôn chiếm một tỉ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl.perfingens chỉ được phát hiện ở gan và ruột non với một tỷ lệ
khá cao Khi sử dụng các sinh phẩm E.coli - sữa và Cl.perfringens – toxoit trong
quy trình phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con, kết quả thu được bước đầu cho thấy tác dụng và hiệu quả khá rõ rệt, đã giảm số lợn con bị mắc bệnh (28,12% so với 55,5%), số ngày điều trị cho mỗi lợn con bệnh cũng rút ngắn từ 3 ngày xuống còn 1,8 ngày và khống chế được tỉ lệ lợn con chết do bị tiêu chảy (7,4% so với
đối chứng) Ngoài ra các sinh phẩm còn cho thấy hiệu quả kinh tế khi khối lượng bình quân lúc cai sữa của lợn con được nâng cao lên 0,46 kg con và 1,37kg/con so với đối chứng
2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới hội chứng tiêu chảy cũng là vấn đề nổi cộm được nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu trên lợn con
Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu
do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công Theo Purivà cộng sự (1985), phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn Laval (1997), báo cáo rằng thức ăn thiếu các khoáng chất, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy Fairbrother
và cộng sự (1992), cho biết độc tố ruột (entertoxin) do E.coli (Enterotoxinogenic
Escherichia coli-ETEC) sản sinh ra gây ỉa chảy trầm trọng cho lợn con sinh ra từ 1-4 ngày tuổi Trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước và sau cai sữa
bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus, 29% phân lợn bệnh tiêu chảy phân lập được rotavirus, 11,2% có TGE, 2% có Enterovirus, 0,7% có Parvovirus (bergenland, 1992) Radostits và cộng sự (1994), cho rằng E.coli gây bệnh cho
Trang 19lợn là các chủng có kháng nguyên pili và sản sinh độc tố đường ruột đóng vai trò quan trọng và phổ biến trong quá trình tiêu chảy
2.3 Đặc điểm sinh lý lợn con
Ở lợn con theo mẹ do cấu tạo chức năng sinh lý của các cơ quan chưa ổn
định, hệ tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh chưa được hoàn thiện vì vậy khả năng thích nghi của chúng với điều kiện ngoại cảnh còn nhiều hạn chế
2.3.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
- Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là cơ quan tiêu hóa chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hóa chưa hoàn thiện, chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa nên dễ gây rối loạn trao đổi chất để lại hậu quả là rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lợn
- Lợn con trước một tháng tuổi có hàm lượng HCL tự do trong dạ dày rất ít vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với niêm dịch Giai đoạn này là giai đoạn thích ứng cần thiết giúp tự nhiên cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ
- Nhờ đặc điểm này cơ thể mới có khả năng thẩm thấu được kháng thể đưa vào cùng với sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn đó dịch vị không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có thể làm đông vón sữa, huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột, thẩm thấu vào máu Tuy nhiên, khi lợn con trên 14 – 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl tự do trong dạ dày không còn cần thiết cho sinh lý bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt cai sữa sớm rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl tự do, hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Sau 20 ngày, lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng Để khắc phục tình trạng này cần cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa; sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa
Trang 202.3.2 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con
- Lợn con sơ sinh có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống Khi còn trong cơ thể mẹ thân nhiệt bào thai được giữ ổn định, khi ra bên ngoài cơ thể bị mất một lượng nhiệt lớn do tác động của môi trường làm con vật sơ sinh bị giảm thân nhiệt trong những giờ đầu tiên Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:
Lông lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt hạn chế
Diện tích bề mặt so với khối lượng cơ thể cao nên mức độ mất nhiệt cao hơn
Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế
Hệ thần kinh điều khiển cân bằng thân nhiệt chưa hoàn chỉnh do trung khu điều khiển thân nhiệt nằm ở vỏ não mà vỏ não là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong thai và ngoài thai
Nói chung khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con trong những ngày đầu rất kém và chịu ảnh hưởng rất lớn của nhiệt độ môi trường Nếu nhiệt độ không khí 180C thì thân nhiệt lợn con giảm 20C, song nếu nhiệt độ không khí 00C thì thân nhiệt lợn con giảm đi tới 40C
- Khi lợn con bị lạnh ta thấy lợn nằm sát nhau, thậm chí nằm chồng lên nhau để tận dụng nhiệt từ những con khác và cũng giảm được sự mất nhiệt do giảm diện tích tiếp xúc của bề mặt cơ thể với môi trường ngoài
2.3.3 Hệ miễn dịch của lợn con
- Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do vậy, các
mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường
tiêu hoá và gây bệnh
- Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozim được
Trang 21tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 – 36 giờ, nhờ
đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên (Trương Lăng, 2007)
2.3.4 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con
- Ở gia súc trưởng thành, trong đường ruột có hệ vi sinh vật có lợi thường trực cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của các loài vi sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu hoá hấp thu Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi - vi sinh vật đối kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hoá chưa thành thục, môi trường sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc non Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và chế độ tập ăn, tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay mãn tính
- Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa vật chủ và hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa cũng như giữa các vi sinh vật với nhau luôn ở trạng thái cân bằng Trong đường tiêu hóa của lợn có rất nhiều vi sinh vật cư trú, chúng giữ chức năng nhất định trong quá trình tiêu hóa và có vai trò sinh lý quan trọng với
cơ thể Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram âm sống trong ống tiêu hoá của người và động vật Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tu tiện, bao gồm vi khuẩn sinh axit lactic, một số loại cầu khuẩn đường ruột có khả năng ức chế và tiêu diệt vi khẩn
Salmonella , Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn
Lactobacillus , Bacilus subtilis Ở gia súc sơ sinh, chưa hình thành hoặc hình
thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế
và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá
- Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonella
spp, E.coli , một số chủng Clostridium spp, Shigella Cho đến nay nhiều công bố
Trang 22nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm 3
loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens
- Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng
xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn Như Thanh, 2001)
2.3.5 Hiện tượng thiếu máu ở lợn con
- Lợn con nếu không có sự hỗ trợ của con người thì luôn luôn xuất hiện bệnh thiếu máu do thiếu sắt Sữa chỉ cung cấp 1mg ngày cho nên bệnh thiếu máu xảy
ra rất sớm từ ngày 3 – 5 sau khi đẻ và mức huyết sắc tố không ngừng giảm xuống
- Theo Gunter (1996) giới hạn thấp sinh lý của nồng độ hemoglobin trong máu
là 8g 100ml Trong thực tế có tới 50% số lợn con sơ sinh chỉ đạt 6g 100ml máu Đến ngày tuổi 21 của lợn con người ta thấy lượng huyết sắc tố trong máu thấp nhất, sau đó tăng dần và đạt mức bình thường vào ngày tuổi 50
- Sở dĩ lợn con thường xuyên xuất hiện thiếu máu là do thiếu sắt Sắt là một trong những yếu tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa, khi tăng nồng độ sắt trong thức ăn lợn mẹ cũng không làm tăng được lượng sắt trong sữa, cho nên phải bổ sung trực tiếp sắt cho chúng
2.4 Nguyên nhân gây bệnh
2.4.1 Nguyên nhân do môi trường, ngoại cảnh
Môi trường ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh huởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, mưa, nắng, điều kiện chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức khoẻ của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ Do ở lợn con cai sữa mới được tách mẹ nên không gặp các yếu
tố bất lợi dễ bị stress, làm giảm sức đề kháng, dễ bị bệnh trong đó có tiêu chảy
Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường không thích hợp, đặc biệt là thời tiết lạnh Do ảnh hưởng của lạnh, nhiệt độ cơ thể giảm xuống làm cho mạch máu ngoại vi co lại dồn máu vào cơ quan phủ tạng Khi đó, mạch máu thành ruột bị xung huyết làm trở ngại đến tiêu hóa, thức ăn bị đình trệ
Trang 23tạo điều kiện cho các vi sinh vật sinh sôi và phát triển, đặc biệt là quá trình lên men tạo ra các sản phẩm độc, các chất này kích thích vào vị trí nội cảm thụ thần kinh ruột gây hưng phấn làm cho ruột co bóp mạnh và nhiều lần, đẩy thức ăn ra ngoài Đồng thời do hiện tượng xung huyết làm cho tính thấm thành mạch tăng lên, đẩy thức ăn ra ngoài gây tiêu chảy
Do nước ta là một nước nhiệt đới, khí hậu quá nóng, quá lạnh, mưa, gió,
độ ẩm cao, kết hợp với vệ sinh chuồng trại không hợp lý, mật độ nuôi nhốt quá đông làm cho lợn dễ bị tiêu chảy Trong thực tế những tháng mưa nhiều kèm theo khí hậu lạnh tỷ lệ lợn con phân trắng tăng lên rõ rệt trong đàn Lợn con chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường sống như: Nóng, lạnh, mưa, hanh khô,
ẩm thấp thất thường, thêm vào đó do cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, nên các phản ứng thích nghi và bảo vệ rất yếu vì vậy khi thời tiết thay đổi đột ngột, lợn con dễ bị cảm lạnh, đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra
hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Độ ẩm thích hợp cho lợn con vào khoảng 75 - 85% Khi độ ẩm tăng, lợn
dễ bị lạnh Do đó, trong những tháng mưa nhiều thì số lượng lợn con bị ỉa chảy tăng rõ rệt, có khi tới 25 - 35% toàn đàn Khi gia súc tiếp xúc với điều kiện ẩm
ướt, bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm khả năng phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, do đó gia súc dễ bị các vi khuẩn cường độc gây bệnh, đặc biệt
đối với lợn sơ sinh và sau cai sữa ít ngày vì các phản ứng thích nghi bảo vệ của lợn con lúc này là chưa hoàn thiện Ngoài ra, các yếu tố của ngoại cảnh như gió
và ánh sáng cũng làm cho lợn con bị stress, làm cho sức đề kháng của lợn con bị
giảm sút, từ đó tạo điều kiện cho các vi khuẩn tấn công và gây bệnh
Vì vậy, sau khi lợn con được chuyển từ chuồng đẻ sang chuồng cai sữa phải đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho tiểu khí hậu chuồng nuôi, tránh gió lùa và các tác động bất lợi khác của ngoại cảnh tới đàn lợn con
2.4.2 Nguyên nhân do chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng
Thức ăn là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng quan trọng để cơ thể
tồn tại và phát triển Tuy nhiên do nhiều quá trình bảo quản hay chăm sóc không
Trang 24chu đáo để thức ăn bị nấm mốc, ôi thiu, nhiễm khuẩn gây rối loạn tiêu hóa Hay
thức ăn thiếu hay thừa chất nào đó cũng dẫn đến lợn bị tiêu chảy
Đối với lợn thì nước uống rất quan trọng đặc biệt với lợn con Nếu cung cấp nước không đủ sẻ ảnh hưởng tới sự phát triển và hoàn thiện của lợn con
Nguồn nước không sạch, nhiễm khuẩn hay kim loại nặng đều gây tiêu chảy
Thức ăn và nước uống không đảm bảo sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát triển mạnh trong đường ruột của gia súc và gây bệnh Bệnh phát sinh
ở nơi thức ăn không đảm bảo, thiếu vận động nhất là nơi chuồng nuôi ẩm thấp, khi thời tiết thay đổi đột ngột, lợn bị stress sau khi làm vaccine , chuyển từ chuồng đẻ sang chuồng cai sữa
2.4.3 Nguyên nhân do virus
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy sự có mặt của virus trong các trường hợp tiêu chảy Virus là tác nhân rất nguy hiểm, có khả năng lây lan mạnh, khó điều trị bằng các thuốc thông thường nên hiệu quả điều trị không cao, gây thiệt hại kinh tế cao cho người chăn nuôi, chủ yếu hạn chế tiêu chảy bằng cách phòng
ngừa ban đầu
Theo Bergeland (1980): Trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có nhiều loại virus, trong đó có 20,90%
lợn bệnh phân lập được Rotavirus; 11,20% là Transmissible Gastro Enteritis
virus (TGEV); 2% là Enterovirus và 0,7% là Parvovirus
Có 2 nhóm virus chủ yếu gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con: thuộc họ
Corona viridae và Rota viridae Trong nhóm Corona viridae có 3 đại diện chính
gây bệnh tiêu chảy ở lợn là dịch tả lợn, TGEV và Poreine Epidemic Diarrhea
virus (PEDV) Ngoài ra, còn có Porcine Hemagglutinatinl Encephalomyelitis
đường tiêu hóa của lợn Còn trong nhóm Rota viridae có Rotavirus gây bệnh
tiêu chảy ở lợn
+ Đầu tiên là TGEV (Transmissible gastro enteritis virus): bệnh viêm dạ dày
ruột truyền nhiễm đặc trưng là nôn mửa, tiêu chảy nặng, tỷ lệ chết cao ở lợn con 2- 3 tuần tuổi, tuổi càng lớn thì tỉ lệ chết giảm dần Bệnh lay lan chủ yếu do tiếp
Trang 25xúc trực tiếp, đường lây truyền qua đường miệng, có thể lay truyền gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi hoặc người lao động
+ PEDV (Poreine Epidemic Diarrhea virus): bệnh tiêu chảy cấp là bệnh truyền
nhiễm lây lan nhanh, lợn có thể mắc ở mọi lứa tuổi Tỷ lệ chết cao ở lợn con theo mẹ nếu lợn con mắc bệnh từ :
- 0-5 ngày tuổi : tỉ lệ chết 100%
- 6-7 ngày tuổi tỉ lệ chết khoảng 50%
- ở độ tuổi lớn hơn 7 ngày tỷ lệ chết khoảng 30%
Bệnh thường xảy ra với lợn nuôi ở chuồng trại ẩm ướt, lạnh, bẩn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không tốt Virus PED tồn tại lâu trong môi trường và chất
thải chăn nuôi Bệnh lây trực tiếp từ con khỏe sang con ốm, lây gián tiếp qua thức ăn nước uống, dụng cụ chăn nuôi và người chăn nuôi Triệu chứng điển hình của bệnh là lợn con nôn mửa, tiêu chảy phân lỏng, tanh, màu vàng và thích nằm trên bụng mẹ (triệu chứng điển hình)
+ Virus dịch tả lợn CSF (Classis Swine Fever): Bệnh dịch tả lợn là bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh ở loài lợn , ở mọi nòi giống , mọi lứa tuổi Bệnh lây lan nhanh , mạnh, tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết cao Virus tác động gây biến đổi bệnh lí ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là hệ thống đường tiêu hóa làm con vật ỉa chảy 1 cách trầm trọng gây viêm loét ruột
+ Rotavirus: là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, Rotavirus thường gây tiêu chảy
cho lợn, bò và người Lợn con từ 1 dến 6 tuần tuổi haymắc với các biểu hiện lâm sàng như kém ăn hay bỏ ăn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, gầy sút nhanh chóng
do mất nước, nằm bẹp một chỗ Giai đoạn cuối, con vật biểu hiện thiếu máu, truy tim mạch và chết trong vòng 2 đến 3 ngày Lợn hậu bị thường mắc bệnh ở thể nhẹ, tỷ lệ chết ít hơn nhưng để lại những biến chứng Lợn sơ sinh và cai sữa
thường có tỷ lệ bệnh và chết do Rotavirus cao nhất Mức độ trầm trọng của bệnh tiêu chảy ở những lợn bị nhiễm Rotavirus bị ảnh hưởng bởi chủng và liều virus,
trong đó tỷ lệ lợn bị tiêu chảy do chủng A (group A) là 89%, 6% do chủng B (group B) và 5% do chủng C (group C), bị ảnh hưởng tuổi của lợn, yếu tố dinh dưỡng, yếu tố môi trường và các tác nhân đồng gây nhiễm (Loren và cộng sự )
Trang 26Svensmark (1989) cũng cho biết lợn bị nhiễm Rotavirus thường có trọng lượng
thấp hơn lợn không bị nhiễm lần lượt là 0,5kg; 0,4kg khi được 30 ngày tuổi và
21 ngày tuổi
Khi lợn bị nhiễm virus, virus sinh sản theo đường tuần hoàn, phá hủy thành mạch máu, gây viêm tụ máu, xuất huyết làm cho niêm mạc bị tụ máu dầy lên, thấm huyết tương và hình thành màng giả từ dịch rỉ, huyết tương hỗn hợp với những mảng biểu mô, khi tróc ra để lại những vết lõm không đều Viêm loét rải rác trong đường tiêu hóa: Miệng, dạ dày, ruột, trực tràng Vết loét sâu, rộng nếu có các vi khuẩn kết hợp tác động Đặc biệt virus làm trỗi dậy những vi khuẩn kết hợp làm cho bệnh nặng và phức tạp hơn
2.4.4 Nguyên nhân do vi khuẩn
Các nghiên cứu về bệnh lý và vi sinh vật học thú y đã nhận thấy rằng hiện tượng lợn con tiêu chảy có liên quan đến hệ vi sinh vật trong đường ruột của lợn Trong cơ thể lợn vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại chung sống hòa bình với nhau, một khi cơ thể suy yếu hoặc gặp điều kiện bất lợi vi khuẩn có hại nhân lên và phát triển lấn áp vi khuẩn có lợi tạo ra sự mất cân bằng thì dẫn đến rối loạn tiêu hóa, suy giảm khả năng miễn dịch niêm mạc ruột, suy giảm sức đề kháng của cơ thể
Các tác nhân như virus, ký sinh trùng, môi trường, thức ăn gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến viêm ruột, khi đó các vi khuẩn đường ruột có hại tiếp tục tác động làm cho bệnh nặng thêm Trong đường tiêu hóa của gia súc có các vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột được và được chia thành 2 loại: Các vi khuẩn có lợi có tác dụng lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hóa thuận lợi và các vi khuẩn có hại khi gặp điều kiện bất lợi thì gây bệnh Vi khuẩn đường ruột là họ vi khuẩn cộng sinh thường trực sống trong đường ruột nên khi gặp điều kiện bất lợi cho cơ thể vi khuẩn có hại sẽ nhân lên
và gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột, tiêu chảy
+ E.coli : là vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae, là họ vi khuẩn thường trực
ở trong ruột, chiếm tới 80% các vi khuẩn hiếu khí, vừa là vi khuẩn cộng sinh thường trực đường tiêu hoá, vừa là vi khuẩn gây nhiều bệnh ở đường ruột và ở
Trang 27các cơ quan khác Vi khuẩn này có thể phát triển gây bệnh khi sức đề kháng của lợn bị giảm do bất lợi của môi trường hoặc điều kiện chăn nuôi kém Đặc biệt
lợn thường bị nhiễm E.coli ở tuần đầu sau khi sinh và tái nhiễm vào khoảng 1
tuần trước khi cai sữa Bình thường vi khuẩn E.coli cư trú ở ruột già và phần
cuối ruột non, nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các nội tạng Trong máu, nhờ cấu trúc kháng nguyên O và khả năng dung huyết, vi khuẩn chống lại các yếu tố phòng
vệ không đặc hiệu, khả năng thực bào, ở các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát triển và sự cư trú của chúng làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý Đoàn Thị Kim Dung (2004) cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1gam phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong
hội chứng tiêu chảy như: E.coli, Salmonella và Streptococcus tăng lên trong khi
Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi
+ Tô Thị Phượng (2006) khi nghiên cứu biến động của Salmonella và E.coli ở lợn qua các lứa tuổi cho thấy, có 100% các mẫu phân có vi khuẩn E.coli dù lợn bị
tiêu chảy hay không bị tiêu chảy Lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm Salmonella là 41,165%, sau đó theo độ tuổi tỷ lệ nhiễm tăng dần từ 58,33% đến
60% Khi lợn bị tiêu chảy, tỷ lệ Salmonella cũng tăng lên đáng kể, tỷ lệ nhiễm là
81,25% ở lợn từ 1 đến 21 ngày tuổi; 85,71% ở lợn 22 - 60 ngày tuổi và 75% ở lợn trên 60 ngày tuổi Số lượng vi khuẩn Salmonella cũng tăng lên từ 13,91 triệu đến
41,48 triệu vi khuẩn 1gram phân ở lợn từ 1 đến trên 60 ngày tuổi Nguyễn Thị
Ngữ (2005) khi nghiên cứu về E.coli và Salmonella trong phân lợn tiêu chảy và
lợn không tiêu chảy cho biết: Ở lợn không tiêu chảy có 83,30% - 88,29% số mẫu
có E.coli; 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt Salmonella Phan Thanh Phượng và cộng sự (1996) đã xác định vi khuẩn yếm khí Clostridium perfringens là một
trong những tác nhân quan trọng gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn lứa tuổi 1 đến
120 ngày Ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến 100% và tỷ lệ chết là
60% Số lượng vi khuẩn Clostridium perfringens trong 1gam phân lợn tiêu chảy ở
lứa tuổi 1 đến 60 ngày dao động từ 106 đến 1010 CFU, số mẫu có lượng vi khuẩn
Trang 28cao (108, 109, 1010) chiếm tỷ lệ 37% đến 45% Ở lợn từ 60 đến 120 ngày tuổi bị tiêu chảy, những mẫu phân có số lượng vi khuẩn 1gram phân ở mức 108 ; 109
chiếm tỷ lệ 27,14% đến 35,71% Cl.perfringens thường gây ra bệnh ở lợn con
theo mẹ, tuy nhiên bệnh có thể xảy ra ở lợn lớn với các triệu chứng khó nhận biết
hơn Sự có mặt thường xuyên của Cl.perfringens trong chất chứa đường tiêu hoá
có thể gắn liền với nguyên nhân gây bệnh, nhưng các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu đề làm rõ hiện tượng chết đột ngột và sự thay đổi nhanh chóng sau khi con vật chết Hội chứng gây tiêu chảy ở lợn con theo mẹ do vi khuẩn
Cl.perfringens typA, typ C hoặc typ B, để kh ng định bệnh cần xác định chính xác
nguyên nhângây bệnh và độc tố của chúng sản sinh ra Độc tố β -2 được sản sinh
bởi hầu hết các chủng Cl.perfringens phân lập được từ lợn, cũng có thể là nguyên
nhân gây những biến đổi bệnh lý ở các con vật mắc bệnh Có một vài nghiên cứu
đã kh ng định: Một trong những tác nhân quan trọng gây tiêu chảy là vi khuẩn
yếm khí Cl.perfringens typ C (Trần Thị Hạnh và cộng sự, 2002) Vi khuẩn này là nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử, xuất huyết trầm trọng ở lợn sơ sinh, tổn thất
do bệnh gây từ 50 – 100% Theo nghiên cứu của Smith và Halls (2006) cho thấy
ở lợn không tiêu chảy, số lượng vi khuẩn Cl.perfringens xác định được thường ở
mức 105 vi khuẩn gram phân (mức sinh lý); song ở lợn tiêu chảy, số lượng vi
khuẩn Cl.perfringens xác định được thường ở mức 106 vi khuẩn gram phân (mức bệnh lý) do vậy cần phải có biện pháp can thiệp và điều trị kịp thời Như vậy một trong những cơ sở ban đầu cho việc nhận định về vai trò gây bệnh của mỗi vi khuẩn đường ruột là sự tăng cao về số lượng của chúng giữa tiêu chảy so với trạng thái bình thường, đây là hiện tượng loạn khuẩn trong bệnh lý tiêu chảy Songer và Francisco (2005) công bố: Chỉ vài giờ sau khi nhiễm, số lượng vi
khuẩn Cl.perfringens có thể nhân lên nhanh chóng 108- 109 CFU g chất chứa đường tiêu hoá Phan Thanh Phượng và cộng sự (1996) khi nghiên cứu vai trò của
vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens cho thấy: Khi lợn bị tiêu chảy, số lượng
Cl.perfrigens trung bình là 1,2 x 109 vi khuẩn gam phân, cao hơn ngưỡng sinh lý
100 – 1000 lần Tác giả cũng dẫn chứng kết quả nghiên cứu của Stephan và cộng
sự (1991) cho rằng: Ngưỡng bệnh lý của vi khuẩn Cl.perfringens là trên 106 gam
Trang 29phân Điều này có thể giải thích: Trong đường tiêu hoá của lợn bình thường
thường xuyên có vi khuẩn Cl.perfringens và E.coli chúng tồn tại một cách ổn định
và cân bằng với sức đề kháng của cơ thể Khi bị tác động của một số yếu tố bất lợi, các vi khuẩn này sẽ tăng lên một cách đáng kể về số lượng, gây nên rối loạn
và làm mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột của lợn, đồng thời vi khuẩn sản sinh độc tố dẫn đến hiện tượng tiêu chảy Nguyễn Bá Hiên (2001) nghiên cứu biến động của vi khuẩn đường ruột thường gặp ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy đã chỉ ra rằng, khi lợn bị tiêu chảy, số lượng vi khuẩn E.coli trung bình tăng
1,90 lần, số lượng vi khuẩn Cl.perfringens tăng 100 lần so với lợn khoẻ mạnh
Nguyễn Văn Sửu và cộng sự (2008) cũng cho biết, khi lợn bị tiêu chảy ở các lứa
tuổi, số lượng trung bình vi khuẩn Cl.perfringens trong phân tăng 173,84% so với
lợn bình thường
2.4.5 Nguyên nhân do ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là
cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có nhiều loại ký sinh trùng gây
bệnh tiêu chảy ở lợn như: Cầu trùng (Eimeria, Isospora suis), Crytosporidium,
Ascaris suum, Trichuris suis hoặc một số loài giun tròn khác thuộc lớp Nematoda Bệnh do Isopora suis, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn con từ
5 - 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) Ngoài ra, một số loại ký sinh trùng đường tiêu hóa như: Sán lá ruột lợn (Fasiolopsis buski) và giun đũa lợn (Ascaris
suum) cũng gây ra hội chứng tiêu chảy trên lợn
2.4.6 Nguyên nhân do nấm
Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay Hàm lượng Aflatoxin trong các mẫu thức ăn chăn nuôi ở các tỉnh phía
Trang 30Bắc biến động từ 10 đến 2800 µg kg thức ăn Có đến 10% các loại thức ăn hiện dùng là không an toàn cho gia súc, gia cầm (Trần Thế Thông, Lã Văn Kính (1996))
Nấm mốc dễ xâm nhập vào thức ăn từ khi còn là nguyên liệu đến khi ra sản phẩm nếu như các khâu bảo quản hay các khâu chế biến không đảm bảo
đúng yêu cầu kỹ thuật Một số loại như: Aspergilus, Penicillium , Fusarium, có khả năng sinh nhiều độc tố Aflattoxin (Aflattoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Độc tố Aflattoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất
cho người là ung thư gan, huỷ hại gan, độc cho thận, sinh dục, thần kinh
Aflattoxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm Mẫn cảm nhất là gà, vịt, lợn
Lợn thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, tiêu chảy ra máu Nếu trong khẩu phần
có 500 – 700 µg Aflattoxin kg thức ăn sẽ làm cho lợn chậm lớn, còi cọc, giảm
sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997)
Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với biều hiện nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội, mà thường chúng ta không nghĩ tới nguyên nhân này nên mọi phác đồ điều trị đều không có hiệu quả Ngoài việc mắc hội chứng tiêu chảy cho gia súc độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người từ thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố còn tồn dư trong thực phẩm
2.4.7 Nguyên nhân do stress
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển
đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả
giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy
Theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1998) hệ thống tiên hóa (dạ dày, ruột) của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng
Ngoài những nguyên nhân trên còn một số nguyên nhân khác như: Gia súc ăn phải thức ăn có tác dụng kích thích, ăn phải thức ăn đã bị ôi thiu, các loại thuốc tẩy ký sinh trùng, dị vật cũng là những nguyên nhân gây nên tiêu chảy vì khi đó niêm mạc dạ dày, ruột bị kích thích làm trở ngại nghiêm trọng tới cơ
Trang 31năng vận động và tiết dịch gây rối loạn tiêu hóa Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số chuyên gia nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985); Lê Văn Tạo (1993); Hồ văn Nam (1997) thì cho dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm,
có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
2.5 Cơ chế gây bệnh
Khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCL giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protit Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh,làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc co thể chết (Phạm Ngọc Thạch – 2009)
2.6 Triệu chứng
Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt là lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi, có con mắc sớm sau khi sinh 1 đến 3 giờ và mắc muộn đến khi 4 tuần tuổi Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì chỉ sau 2 – 3 ngày rồi hạ xuống trở về lúc bình thường, có con thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nước nhiều
Trong 1 đến 2 ngày đầu mắc bệnh lợn vẫn bú sau đó lợn con ít bú hoặc bỏ
bú, gầy tóp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân Tiêu chảy có thể ở mức nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước hoặc tiêu chảy nặng với triệu chứng phân toàn nước Phân lợn có màu sắc khác nhau phân vàng kem hay hơi xanh, trắng hoặc xám Phân có thể chảy tự do từ hậu môn xuống sàn Trong trường hợp nặng, triệu chứng lâm sàng là mất nước, rối loạn trao đổi chất, tiêu chảy có thể gây sốt hoặc không sốt và lợn con suy nhược rất nhanh rồi chết Khối lượng cơ thể giảm
Trang 3230 – 40% do mất nước Cơ bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt Sự mất nước và giảm khối lượng cơ thể làm cho lợn bị suy sụp nhanh, những con lợn con này thường bị chết Trong trường hợp mạn tính hay bệnh ít nghiêm trọng, da quanh hậu môn và vùng háng có thể
đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước và điều trị tích cực thì
có thể khỏi bệnh
2.7 Bệnh tích
Những bệnh tích điển hình quan sát thấy như: Xác lợn gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt Hội chứng tiêu chảy đề cập tới tất cả các nguyên nhân gây ra tiêu chảy do vậy mà bệnh tích ở từng bệnh có sự khác nhau nhưng chủ yếu những biến đổi xảy ra trên hệ tiêu hóa, đặc biệt là phần dạ dày và ruột Một số bệnh tích điển hình của một số bệnh như sau:
- Bệnh lợn con ỉa phân trắng : Khi mổ khám: Dạ dày chứa đầy sữa đông vón
màu vàng trắng do chưa tiêu Ruột non căng phồng chứa đầy hơi, dịch màu vàng
và có xuất huyết điểm ở thành ruột, niêm mạc ruột bị hoại tử từng đám Trong ruột (ruột già) chứa phân màu vàng Làm cho ruột xuất huyết, hạch màng treo ruột sưng Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng, chứa dịch
- Bệnh Phó thương hàn lợn thể mạn tính: Niêm mạc dạ dày và ruột viêm đỏ
từng đám Ở ruột già và ruột non có nhiều đám loét bờ cạn, những đám loét này phủ màng nhày Gan có nốt viêm hoại tử màu xám bằng hạt đậu Phổi viêm sưng có ổ hoại tử màu vàng xám
- Bệnh Dịch tả lợn: Trên da xuất hiện những nốt xuất huyết nhỏ màu đỏ, có khi những nốt xuất huyết tập trung lại thành đám nhìn giống như đám cơm cháy Bệnh tích điển hình nhất là ở các cơ quan nội tạng: Tại van hồi manh tràng có những nốt loét hình cúc áo, thận xuất huyết hình đinh ghim, lách nhồi huyết xù
xì hình răng cưa
- Bệnh viêm dạ dày- ruột truyền nhiễm(TGE): Dạ dày chứa sữa không tiêu, có thể xuất huyết hoặc xung huyết niêm mạc dạ dày hầu hết là vùng hạ vị Viêm ruột, ruột non căng phồng, chứa nhiều chất lỏng màu vàng có nhiều bọt và sữa