Xuất phát từ những thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi tỷ lệ nhiễm một số bệnh đường hô hấp trên gà hyline brown nuôi tại công ty TNHH ĐTK Phú Thọ và biện pháp ph
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA NÔNG- LÂM- NGƯ -
TẠ THỊ HƯƠNG
THEO DÕI TỶ LỆ NHIỄM MỘT SỐ BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN GÀ HYLINE BROWN NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH ĐTK PHÚ THỌ VÀ
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ -
TẠ THỊ HƯƠNG
THEO DÕI TỶ LỆ NHIỄM MỘT SỐ BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN GÀ HYLINE BROWN NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH ĐTK PHÚ THỌ VÀ
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Dưới sự sắp xếp của Trường Đại học Hùng Vương, và các thầy cô giáo
trong khoa Nông - Lâm - Ngư, sau thời gian thực tập 5 tháng tại công ty TNHH
ĐTK Phú Thọ, xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thực tập và khoá luận tốt nghiệp, cũng như học hỏi được nhiều điều về chuyên ngành
Trong thời gian đi thực tập, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của nhà trường, thầy cô trong khoa Nông - Lâm - Ngư, cùng sự chỉ bảo tận tình của các kỹ sư, kĩ thuật tại cơ sở trong suốt thời gian tôi đang thực tập, nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Ban chủ nhiệm khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại Học Hùng Vương Ban lãnh đạo Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ cùng toàn thể cán bộ, anh chị
em công nhân trong công ty đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt nghiệp
Gia đình và bạn bè các anh chị đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, khích lệ và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành bàikhoá luận tốt nghiệp Đặc biệt tôi chân thành cảm ơn tới giáo viên hướng dẫn là: TS Nguyễn Tài Năng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi để khoá luận tốt nghiệp được hoàn thiện
Tôi luôn mong và chúc các thầy cô, gia đình và bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và có nhiều thành công trong những lĩnh vực theo đuổi Chúc toàn thế cán bộ, công nhân viên công ty TNHH ĐTK Phú Thọ công tác tốt!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Việt trì, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Tạ Thị Hương
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 2 4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của địa bàn nghiên cứu 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 5
2.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập tại công ty TNHH ĐTK Phú Thọ 8
2.3 Đặc điểm các bệnh hô hấp trên gà và giống gà Hyline Brown 12
2.3.1 Đặc điểm các bệnh hô hấp trên gà 12
2.3.2 Đặc điểm giống gà Hyline Brown 22
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh hô hấp trên gà 23
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
2.5 Các quy trình sản xuất tại công ty TNHH ĐTK Phú Thọ 31
Trang 5iii
2.5.1 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 31
2.5.2 Công tác vệ sinh phòng bệnh 36
Chương 3 39
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Đối tượng nghiên cứu 39
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39
3.3 Nội dung nghiên cứu 39
3.4 Phương pháp nghiên cứu 39
3.4.1 Quan sát triệu chứng lâm sàng 39
3.4.2 Mổ khám và quan sát bệnh tích 40
3.4.3 Phương pháp điều trị 41
3.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 42
3.4.5 Bố trí thí nghiệm 43
3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 4 44
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Kết quả tỷ lệ nuôi sống theo tuần tuổi của đàn gà Hyline Brown 44
4.2 Kết quả theo dõi số gà có triệu trứng bệnh đường hô hấp 47
4.3 Kết quả các triệu chứng chủ yếu của gà bị bệnh đường hô hấp 48
4.4 Phác đồ điều trị bệnh đường hô hấp 49
4.5 Kết quả điều trị bệnh đường hô hấp ở gà Hyline Brown 51
4.6 Kết quả bệnh tích chủ yếu của gà bị mắc bệnh trên đường hô hấp 52
Chương 5 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 63
Trang 7v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chương trình chiếu sáng 32
Bảng 2.2 Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng 33
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp 34
Bảng 2.4 Chương trình sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà 35
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm……… 43
Bảng 4.1 Kết quả tỷ lệ nuôi sống của đàn gà Hyline Brown qua các tuần tuổi 45
Bảng 4.2 Kết quả theo dõi số gà có triệu chứng bệnh đường hô hấp 47
Bảng 4.3 Biểu hiện lâm sàng điển hình của gà mắc bệnh hô hấp 48
Bảng 4.4 Phác đồ điều trị một số bệnh trên đường hô hấp 50
Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh hô hấp trên gà Hyline brown 52
Bảng 4.6 Kết quả bệnh tích chủ yếu gà bị mắc bệnh đường hô hấp 53
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 4.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà Hyline Brown qua các tuần tuổi 44
Trang 91
Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm là một trong những nghề sản xuất truyền thống lâu đời
và mang lại hiệu quả thu nhập cao đối với người nông dân Việt Nam hiện nay
Ngành chăn nuôi gia cầm gần đây có những bước phát triển mạnh Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn gia cầm cả nước có 385,2 triệu con, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2016 Do nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống của người dân càng cao con người càng trú trọng đến các sản phẩm gia cầm Nhu cầu sử dụng sản phẩm gia cầm của nước ta cũng ngày càng tăng mà nguồn sản phẩm gia cầm trong nước không đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng của xã hội cũng như thị hiếu của khách hàng Năm 2012, sản lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người là 8,3 kg/người/năm, trứng là 83 quả/người/năm, với số liệu này so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn rất thấp (Hải Phương, 2013) Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, vấn đề đặt
ra là phải lựa chọn những giống gà tốt, cho năng suất cao trong thời gian ngắn
Trong những năm qua, nước ta đã nhập một số giống gà cao sản như: Leghorn, Pologi, Goldline, Hyline Brown, Đặc biệt trong các giống gà nhập có giống gà Hyline Brown là giống gà siêu trứng có nguồn gốc từ Mỹ, lông màu nâu, mào đơn, chân và da màu vàng, tỷ lệ sống cao, hiệu quả sử dụng thức ăn tối ưu, năng suất trứng cao, dễ nuôi, thích nghi nhanh với điều kiện môi trường khí hậu Việt Nam nên đây là một giống gà phù hợp cho người chăn nuôi với mục đích thu trứng thương phẩm nhưng ở nước ta giống gà này vẫn chưa được người chăn nuôi biết đến nhiều Từ năm 1995 giống gà này đã được nhập vào Việt Nam nuôi ở một số tỉnh phía Bắc, qua quá trình thích ứng và phát triển được người chăn nuôi
và nhiều công ty lựa chọn Tuy nhiên vào thời điểm này ở Việt Nam vẫn có rất ít công ty, doanh nghiệp có đủ điều kiện để phát triển với quy mô lớn
Trang 102
Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ là đơn vị thành viên của Công ty Cổ phần ĐTK, vận hành Nhà máy sản xuất trứng gà sạch với công nghệ được chuyển giao
100% từ Tập đoàn ISE Foods, Nhật Bản - Thương hiệu số 1 thế giới về trứng gà
sạch ĐTK Phú thọ là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam đầu tư 100% các con giống chất lượng từ những thương hiệu uy tín trên thế giới như: tập đoàn Hyline Mỹ, tập đoàn hàng đầu thế giới về giống gà đẻ trứng, cung cấp giống cho hơn 130 nước với thị phần gà giống trứng tại Mỹ chiếm trên 70%, hơn 60% tại Trung Quốc và trên 50% tại 10 thị trường lớn nhất toàn cầu Tại nhà máy giống gà này được chăm sóc nuôi dưỡng trong điều kiện lý tưởng, với hệ thống lồng nuôi thiết bị điều khiển nhiệt độ, độ ẩm lưu lượng gió, hệ thống làm sạch nước của Nhật Bản
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi còn có rất nhiều khó khăn Giống gà Hyline Brown nói riêng và các giống gà trên thế giới nói chung trong suốt giai đoạn nuôi không tránh khỏi được sự rủi ro, bệnh tật, kém năng suất, không thích nghi được với điều kiện ngoại cảnh, môi trường Theo các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bình và cs, 1999, Lê Hồng Mận và cs, 1999, Bùi Thị Tho, 2003 [1] thì miền Bắc và miền Trung nước ta, thời tiết lạnh, khi ấm lên thì độ ẩm tăng cao (trời
“nồm”) nên gia cầm rất dễ mắc một số bệnh trên đường hô hấp Tại Thừa Thiên Huế, khảo sát trên 6700 gà thịt và 5000 gà đẻ tại hai cơ sở chăn nuôi tập trung tại
xã Quảng Vinh, Quảng Điền năm 2015 cho kết quả gà mắc HCHH là 10,44% (gà thịt) và 12,4% (gà đẻ) (Nguyễn Đức Hưng và cộng sự, 2015) Bệnh thường xảy ra trong những tháng mùa đông (tháng 9, 10, 11, 12) và đầu xuân (1, 2) khi mà thời tiết khí hậu lạnh cộng với gió và mưa làm giảm sức đề kháng của gà Đây chính
là những vấn đề khó khăn đặt ra cho người chăn nuôi hiện nay Xuất phát từ
những thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi tỷ lệ nhiễm một số
bệnh đường hô hấp trên gà hyline brown nuôi tại công ty TNHH ĐTK Phú Thọ
và biện pháp phòng trị bệnh”
Trang 113
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Tiếp cận kỹ thuật chăn nuôi hiện đại tại công ty THHH ĐTK Phú Thọ
- Hoàn thiện kĩ năng chuyên môn của bản thân
- Đánh giá được tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp trên gà Hyline Brown
- Đánh giá hiệu quả của thuốc Doxy gold sử dụng trong quá trình điều trị
- Xác định được tỷ lệ nhiễm một số bệnh đường hô hấp trên gà Hyline
Brown tại công ty TNHH ĐTK Phú Thọ
- Cung cấp dẫn liệu cho các nghiên cứu khác
- Là cơ sở để xác định được lịch phòng và điều trị bệnh hô hấp trên gà nói
chung và bệnh hô hấp trên gà Hyline Brown nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Áp dụng các biện pháp phòng và phác đồ điều trị bệnh đường hô hấp
Trang 124
Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ là đơn vị thành viên của công ty cổ phần
ĐTK Hiện chi nhánh đang hoạt động trên địa bàn khu 1 xã Tề Lễ - huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ
- Điều kiện khí hậu thủy văn:
Xã Tề Lễ nằm trong vùng khí hậu chung của miền núi phía Bắc Việt Nam, nên khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông, khí hậu lạnh, khô hanh, độ ẩm thấp Mùa hè khí hậu nóng ẩm mưa nhiều Dao động nhiệt
độ và độ ẩm trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
+ Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21- 36 o
C,
độ ẩm từ 80 - 86%, lượng mưa trung bình 150mm/ tháng và tập trung nhiều vào
Trang 135
tháng 6, 7, 8 Nhìn chung khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên trong chăn nuôi những tháng này cần phải chú ý đến công tác tiêm phòng để phòng dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản xuất
+ Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 dến tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu thường lạnh, khô hanh sự dao động nhiệt độ trong ngày lớn (từ 13,7 0
C - 24 0C),
có ngày giảm xuống còn 8 - 10 0C, độ ẩm trung bình 76 - 78% Ngoài ra trong
mùa đông còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, giá rét và sương muối kéo
dài từ 6-10 ngày gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sức chống
đỡ bệnh tật của cây trồng, vật nuôi
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong xã có trạm y tế xã luôn làm tốt các công tác dự phòng, các trương trình y tế Quốc Gia Duy trì và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các dịch bệnh có nguy cơ xảy ra trên địa bàn, duy trì công tác tiêm chủng và cho trẻ em uống Vitamin đạt 100% Tỷ lệ người sử dụng nước sạch bằng 73% Tổ chức khám sức khỏe cho các đối tương chính sách, tổ chức tập huấn VSATTP
và khám định kỳ cho các đối tượng kinh doanh
- Về giáo dục
Có nhiều cơ quan trường học đóng trên địa bàn xã Các trường luôn thực hiện nghiêm túc quy định của nghành giáo dục, góp phần xây dựng nền giáo dục lành mạnh, điều kiện học sinh học tập ngày càng tốt hơn Làm tốt công tác khuyến học khuyến tài
- Về an ninh chính trị
Xã Tề Lễ có đội ngũ dân quân, an ninh từng bước nâng cao về chất lượng Đẩy mạnh công tác phối hợp giữa hai lực lượng trong việc tuần tra canh gác, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, duy trì chế độ trực ban Lập và làm kế hoạch hoạt động ký kết giữa hai lực lượng về đảm bảo an ninh trật tự
Trang 146
giữa Công an và Quân sự Nói chung tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định
- Tình hình kinh tế
Xã Tề Lễ có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt
động: nông - Công nghiệp, Lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ hữu cơ
hỗ trợ thúc đẩy nhau Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm hơn 50% bao gồm: cả ngành trồng trọt và chăn nuôi Trong những năm gần đây, cơ sơ hạ tầng của xã được chú ý đầu tư phát triển, đặc biệt là hệ thống giao thông thủy lợi tạo điều kiện nhân dân đi lại, làm ăn… thúc đẩy kinh tế của xã phát triển
- Tình hình sản xuất
+ Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng là nguồn thu chủ yếu của nhân dân Do vậy sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn của xã Ngoài ra còn có một số cây khác được trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, ngô, đậu tương… và một số rau màu khác được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông
Người dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống mới vào sản xuất
+ Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của xã chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình, tận dụng các phụ phẩm của ngành trồng trọt là chủ yếu
Chăn nuôi trâu bò
Tổng đàn trâu bò của xã năm 2013 khoảng 145 con, trong đó chủ yếu là trâu Hình thức chăn nuôi trâu bò chủ yếu là tận dụng bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho trâu bò chưa thật đầy đủ cả về số lượng và chất lượng
Chăn nuôi lợn
Trang 157
Việc chăn nuôi lợn chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình với số lượng ít Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như: ngô, khoai, sắn… vì vậy năng suất chăn nuôi lợn chưa cao Tuy nhiên có một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn cho chăn nuôi, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như công tác thú y vào chăn nuôi như: sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời gian chăn nuôi cũng như tăng năng suất, chú trọng hơn vào công tác vệ sinh, chọn giống cũng như phòng bệnh cho vật nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Chăn nuôi gia cầm
Nhìn chung chăn nuôi gia cầm ở xã Tề Lễ khá phát triển, chủ yếu là chăn nuôi gà theo hình thức chăn thả tự nhiên Bên cạnh đó có một số hộ gia
đình đã đầu tư vốn xây dựng trang trại quy mô từ 3.000 - 8.000 gà thịt/ lứa, sử
dụng thức ăn hỗn hợp của một số công ty như: C.P, Dabaco… áp dụng lịch tiêm phòng vaccine phòng bệnh nghiêm ngặt, ngoài ra còn áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng suất lên cao Trong năm
2013 Xã đã thực hiện tiêm phòng cúm cho đàn gia cầm Tổ chức phun thuốc khử trùng tiêu độc trên địa bàn toàn xã, khống chế các loại dịch bệnh, không
để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn
- Công tác thú y
Công tác thú y có vai trò quan trọng đến việc chăn nuôi, nó quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt trong điều kiện nuôi quảng canh Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân Vì vậy công tác thú y luôn được ban lãnh đạo xã quan tâm, chú trọng
Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây ngành chăn nuôi của xã phát triển mạnh, đảm bảo an toàn
- Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Trang 168
Cơ khí - dịch vụ duy trì và hoạt động chủ yếu là các cơ sở xóm dọc trục
đường quốc lộ tăng thu nhập cho nhân dân
Các doanh nghiệp tích cực đầu tư xây dựng cơ bản phát triển sản xuất
- Nhận xét chung
+ Thuận lợi:
Có nguồn nhân lực dồi dào
Đất đai rộng thuận lợi cho trồng rừng và chăn nuôi phát triển
Hàng hóa lưu thông giữa các tỉnh, giao thoa nền văn hóa giữa các dân tộc Thu hút vốn đầu tư lớn do có nguồn khoáng sản phong phú như đá vôi,
mỏ quặng
+ Khó khăn
Địa hình đồi núi đá vôi là chủ yếu gây khó khăn trong trồng trọt
Làm chậm quá trình vận chuyển hàng hóa
Khó khăn trong kiểm soát dịch bệnh khi dịch bệnh xảy ra
2.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập tại công ty TNHH ĐTK Phú Thọ
Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ là đơn vị thành viên của Công ty Cổ phần ĐTK, vận hành Nhà máy sản xuất trứng gà sạch với công nghệ được chuyển giao
100% từ Tập đoàn ISE Foods, Nhật Bản - Thương hiệu số 1 thế giới về trứng gà
sạch với hơn 100 năm lịch sử hình thành và phát triển Nhà máy đi vào hoạt động góp phần tạo ra lợi ích kinh tế cho chủ đầu tư, giải quyết được các vấn đề về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đang được xã hội quan tâm
- Lịch sử phát triển
Khởi nghiệp từ Kinh doanh thuốc thuốc thú y năm 1988, khi ngành chăn nuôi còn chưa phát triển, đến năm 2000 trở thành Công ty TNHH Thương mại ĐTK chính thức được thành lập và mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực nguyên liệu thức ăn chăn nuôi Với sự tăng trưởng không ngừng, năm 2009 ĐTK
đã chuyển đổi mô hình sang Công ty Cổ phần để thích ứng với yêu cầu kinh doanh hiện đại, quy mô lớn, đẩy mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản và
Trang 179
cung ứng đầu vào cho ngành chăn nuôi Năm 2013 và 2014, ĐTK liên tục là một trong những đơn vị nhập khẩu thương mại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lớn nhất Việt Nam, là nhà cung cấp truyền thống cho hầu hết các Nhà máy Sản xuất Thức
ăn Chăn nuôi trên toàn quốc Đồng thời, ĐTK đã vươn lên Top 5 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam Năm 2015, bên cạnh việc duy trì hoạt động thương mại, ĐTK đẩy mạnh đầu tư phát triển chuỗi giá trị khép kín của ngành
chăn nuôi, chế biến thực phẩm 3F (Feed - Farm - Food) và chính thức tham gia
vào tất cả các khâu của chuỗi, từ cung ứng nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, sản xuất con giống, chăn nuôi, đến chế biến thực phẩm ĐTK tự hào đứng thứ 58 trong Top 500 Doanh nghiệp Tư nhân lớn nhất Việt Nam Hiện nay, Công ty Cổ phần ĐTK có trụ sở chính tại Hà Nội và có các Văn phòng đại diện tại Tp Hồ Chí Minh và Tp Buôn Mê Thuột Nhà máy Trứng gà sạch của ĐTK Phú Thọ ứng dụng công nghệ xanh hàng đầu thế giới:
+ Dây chuyền công nghệ hoàn toàn tự động và khép kín
+ Kiểm soát và cách ly tối đa với môi trường bên ngoài
+ Đảm bảo tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩm
+ Chất lượng tiêu chuẩn Nhật Bản Sản phẩm phong phú và đa dạng: Organic, Vitamin D, Vitamin E,
- Cấu trúc công ty
Gần 30 năm đồng hành cùng ngành chăn nuôi Việt Nam đến nay, ĐTK đã trở thành một doanh nghiệp có uy tín và bề dày kinh nghiệm, được đối tác, khách hàng tín nhiệm Hiện nay, ĐTK sở hữu 8 đơn vị thành viên Mỗi đơn vị đóng vai trò là một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong chuỗi sản xuất chăn nuôi khép kín 3F3C của ĐTK để tạo ra những sản phẩm có chất lượng vượt trội, an toàn và đáng tin cậy
ĐTK sở hữu hệ thống các nhà máy, trang trại tọa lạc tại những vị trí đắc địa, có giao thông đi lại thuận lợi, có thổ nhưỡng tốt và khí hậu trong lành Đặc biệt, nguồn nước ngầm, hạ tầng điện lưới và khoảng cách an toàn
Trang 1810
sinh học (cách li với khu dân cư) đáp ứng tốt các yêu cầu khắt khe về điều kiện tiêu chuẩn cho ngành chăn nuôi tại Việt Nam Trong bối cảnh quỹ đất dành cho nông nghiệp còn rất ít, mặt bằng đủ điều kiện để chăn nuôi lớn rất hiếm hoi thì việc sở hữu một hệ thống nhà máy và trang trại có cơ sở hạ tầng, quy mô lớn như của ĐTK hiện nay được xem là một lợi thế cạnh tranh vượt trội, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững
- Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu của nhà máy được tổ chức và biên chế như sau:
+ Bộ phận chăn nuôi có 1 trong đó có: 1 quản lí khu, 2 tổ trưởng, 4 nhóm trưởng, 5 kĩ thuật chính, còn lại là hộ trợ kĩ thuật và công nhân hai khu
+ Bộ phận chất lượng, kĩ thuật thiết bị :1 phó trưởng phòng kĩ thuật, 1
tổ trưởng kĩ thuật, 7 nhân viên chất lượng, còn lại là kĩ sư, kĩ tuật viên chịu trách nhiệm bên thiết bị máy móc
+ Bộ phận hành chính nhân sự, kế toán ngoài ra còn lái xe, quản lí kho, bảo vệ, nhà bếp
Có thể nói đội ngũ cán bộ công nhân viên của trại là một đội ngũ trẻ có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, có kĩ thuật và trách nhiệm với công việc
- Cơ sở vật chất
Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ được đưa vào sản xuất ngày 16-6-2015
Với hệ thống lưới B40 bảo vệ xung quanh, không cho người bên ngoài ra vào, đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn sinh học, cách li hoàn toàn với khu vực bên ngoài Nhà máy với cơ sở hoàn thiện đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp trứng gà sạch
Cơ sở vật chất của nhà máy gồm có: 2 khu tách biệt
+ Khu gà hậu bị (khu A), khu gà đẻ (khu B) cách nhau 1km
+ Khu gà đẻ tổng có 12 hệ thống chuồng nuôi đã được đưa vào sử dụng
11 hệ thống chuồng với mô hình khép kín
+ Khu hậu bị gồm 4 hệ thống chuồng nuôi đã được đưa vào sử dụng toàn bộ
Trang 1911
+ Nhà hành chính (văn phòng làm việc): 1 dãy
+ Dãy nhà ở cho công nhân và trực kĩ thuật( kí túc xá): 2 dãy
+ Khu sản xuất trứng gà sạch
+ Khu sản xuất phân bón
Thiết bị máy móc, các trang thiết bị đảm bảo phục vụ đủ cho người chăn nuôi
- Lĩnh vực hoạt động chính:
+ Xuất khẩu nông sản
+ Nhập khẩu nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi
+ Công nghệ sinh học thú y
+ Sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi
+ Chăn nuôi gia súc, gia cầm
+ Sản xuất kinh doanh thực phẩm tươi sống và chế biến
+ Ngoài việc cung cấp trứng gà sạch, Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ đầu tư hệ thống sản xuất phân bón hữu cơ với công suất: 7.000 tấn/năm với công nghệ hoàn toàn mới, lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam:
+ Ủ men vi sinh công nghệ Nhật bản hoàn toàn từ phân gà tự nhiên + Thiết bị sản xuất bởi Chubu Ecotec
+ Chỉ cần một lượng nhỏ phân hữu cơ có thể cung cấp đầy đủ hàm lượng + Amino Acid giúp đẩy nhanh hoạt động của các vi sinh vật có lợi, cải thiện tình trạng đất khô cằn
Trang 20+ Khó khăn: do khí hậu một số tháng trong năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, khả năng sinh trưởng phát triển của vật nuôi còn bị hạn chế
2.3 Đặc điểm các bệnh hô hấp trên gà và giống gà Hyline Brown
2.3.1 Đặc điểm các bệnh hô hấp trên gà
- Đặc điểm cơ quan hô hấp trên gà
Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra) Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính Túi bên phải lớn hơn túi bên trái Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo
Trang 2113
vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả
với các xoang của những xương này
Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan
Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng
Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên
khí quản và thực quản Theo đường đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, toả vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim
Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích
của phổi 10 - 12 lần
Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, bảo
vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường
Gà hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai Tần số hô hấp ở gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giới tính, độ tuổi, khả năng sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển ) Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể
Trang 2214
Dung tích thở của phổi gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ
Ở gà dung tích này bằng 140 - 170cm3
Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại
Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuyếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng của các khí có trong không khí và trong máu gà Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: oxi 20,94%; CO2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli,
neon ) 79,93% Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5% oxi và
5 - 6,5% cacbonic Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng
lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2,
H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn
- Đặc điểm bệnh hô hấp ở gà
Bệnh hô hấp hay còn gọi là hội trứng hô hấp (HCHH) ở gia cầm là tên dùng chung chỉ các nhóm gia cầm mắc bệnh dẫn đến xuất hiện các triệu chứng, bệnh tích gây tổn thương trên đường hô hấp HCHH có thể từ nhiều loại bệnh do vi khuẩn, vi rút gây ra ở dạng độc lập hoặc kết hợp và thường xuất hiện khi có những yếu tố bất lợi của môi trường Trong tự nhiên các loài như gà, gà sao, vịt, ngỗng đều có thể mắc Gà nuôi theo phương thức công nghiệp bệnh phổ biến hơn gà nuôi theo phương thức tự nhiên do mật độ nuôi cao, các yếu tố nuôi dưỡng nhân tạo nên sức đề kháng của gia cầm thấp hơn trong tự nhiên
Gà mắc bệnh ở mọi lứa tuổi nhưng tập trung ở 4 - 8 tuần tuổi, gà đẻ có
biểu hiện bệnh khi tỷ lệ đẻ cao nhất, gà lớn, gà đẻ tỷ lệ mắc cao hơn gà con Trong thiên nhiên nguồn bệnh chủ yếu là các con vật mang bệnh Gia cầm mắc bệnh có thể ẩn tính và mang trùng thải mầm bệnh ra ngoài môi trường
Trang 2315
+ Tác nhân gây bệnh
Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD: Chronic Respiratory Disease) do
vi khuẩn Mycoplasma gây viêm xoang mặt, xoang mũi, phế quản và túi khí CRD thường là bệnh khởi đầu và kế phát là các bệnh khác gây nên HCHH ở gà Các bệnh khác đó là: Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB: Infectious Bronchitis) do vius thuộc nhóm Coronavirus gây ra ở gà mọi lứa tuổi với những biểu hiện đặc trưng của bệnh đường hô hấp Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT: Infectious Laryngotracheitis) do vius thuộc nhóm Herpes gây ra Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus cúm thuộc
họ Orthomyxoviridae gây ra Các bệnh truyền nhiễm khác trên gia cầm như Tụ huyết trùng (Fowl Cholera), bệnh bạch lỵ và thương hàn (Salmonellois), bệnh đậu
gà (Fowl Pox), bệnh Marex, bệnh dịch tả gà (Newcatsle Disease), bệnh do E.coli (Avian Colibacillosis), bệnh Gumboro (IBD: Infectious Bursal Disease) đều có các triệu chứng trên đường hô hấp ở mức độ nhiều ít khác nhau
Bệnh có thể độc lập ở thể nhẹ, nhưng nếu kế phát hoặc kết hợp các bệnh khác thì nặng hơn và gây tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi HCHH có thể xuất hiện và bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn, khí amoniac (NH3) trong chuồng nuôi quá cao thì bệnh càng nặng hơn Đặc biệt nếu ghép 3 bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (do virus), viêm phế quản truyền nhiễm (do virus) và bệnh cúm (do virus và vi
khuẩn haemophylus) thì bệnh càng trầm trọng kéo dài và không chữa trị được
Theo các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bình và cộng tác viên, 1999; Lê Hồng Mận và cộng tác viên, 1999; Bùi Thị Tho, 2003 [17] thì miền Bắc và miền Trung nước ta, thời tiết lạnh, khi ấm lên thì độ ẩm tăng cao (trời “nồm”) nên gia cầm rất dễ mắc bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (hội chứng viêm đường hô hấp
mãn tính hoặc CRD) hay còn gọi là bệnh “hen” Bệnh do Mycoplasma gây nên,
có thể xảy ra ở các giống gia cầm như gà, vịt, ngan, và chim bồ câu ở các lứa tuổi khác nhau Bệnh xảy ra quanh năm, đặc biệt nặng vào mùa mưa rét hoặc
Trang 2416
nóng ẩm đầu năm, thường xuyên tái phát khi sức khoẻ gia cầm giảm sút do thay đổi thời tiết hoặc chăm sóc, nuôi dưỡng kém Tỷ lệ mắc HCHH lên đến 30% tổng đàn Tại Thừa Thiên Huế, khảo sát trên 6700 gà thịt và 5000 gà đẻ tại hai cơ sở chăn nuôi tập trung tại xã Quảng Vinh, Quảng Điền năm 2015 cho kết quả gà mắc HCHH là 10,44% (gà thịt) và 12,4% (gà đẻ) (Nguyễn Đức Hưng và cộng sự, 2015) [8]
+ Dịch tễ học:
Động vật cảm thụ: Hầu hết các loại gia cầm đều mẫn cảm với bệnh này Đặc biệt ở gà nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao Bệnh xuất hiện ở tất cả các nước trên thế giới
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây nên Đây là
một loại vi khuẩn kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn các vi khuẩn thường thấy, nhưng lớn hơn các loại virus Nó ít mẫn cảm với các loại kháng sinh thông thường nên điều trị bệnh phải chọn kháng sinh đặc trị
Do có nhiều serotype khác nhau nên bệnh lý thay đổi không hoàn toàn giống nhau giữa các đàn gà bị nhiễm bệnh này Có loại bệnh tích gây viêm đường hô hấp, có loại gây viêm túi khí và có loại gây viêm khớp…
+ Phương thức truyền bệnh:
Lây qua trứng từ những đàn gà bố mẹ bị nhiễm bệnh.Vi khuẩn xâm nhập vào phôi và gây chết phôi Vi khuẩn có thể xâm nhập ngay trong lúc mới
nở do vi khuẩn có sẵn ở ngoài vỏ trứng vào gà con qua đường hô hấp
Lây nhiễm từ đàn gà khác có nhốt chung hoặc ở gần đó (vi khuẩn lây nhiễm từ đàn cũ qua đàn gà mới hoặc ngược lại)
Lây nhiễm qua các dụng cụ chăn nuôi và các cán bộ thú y đã qua vùng nhiễm bệnh đi qua lại, mầm bệnh lây nhiễm vào không khí, vào thức ăn nước uống
Khi gà con trưởng thành, con đường xâm nhập của vi khuẩn chủ yếu qua không khí vào đường hô hấp Từ đó các vi khuẩn khác lây nhiễm kế phát qua vết
Trang 2517
thương làm cho bệnh phát ra trầm trọng với nhiều triệu chứng và bệnh tích khác nhau gây khó chẩn đoán
Bệnh nếu chỉ có một mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ Nhưng nếu
kế phát thì nặng hơn Hoặc bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn, khí amoniac (NH3) trong chuồng nuôi quá cao thì bệnh sẽ phát nặng hơn Đặc biệt nếu ghép 3 bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (do virus) viêm phế quản truyền nhiễm (do virus) và bệnh cúm (do
virus + vi khuẩn haemophylus) thì bệnh càng trầm trọng kéo dài và không chữa
trị được
+ Triệu chứng:
Bệnh thường xảy ra trong những tháng mùa đông (tháng 9, 10, 11, 12) và đầu xuân (1, 2) khi mà thời tiết khí hậu lạnh cộng với gió và mưa làm giảm sức đề kháng của gà Bệnh xảy ra ở gà ở mọi lứa tuổi (cả gà con và gà lớn)
Triệu chứng ở gà con: Trong những ngày đầu nhiễm bệnh thấy nước dịch chảy ra ở mũi, mắt, lúc đầu trong và loãng sau đặc và nhầy trắng Gà ho hay thở
khò khè về ban đêm và sáng Gà ít ăn, chậm lớn chết ít (3-5%) Nếu kế phát với các bệnh khác mới chết cao (10-15%)
Triệu chứng ở gà lớn và gà đẻ: Gà lớn tăng trọng chậm và cũng thở khò khè Gà đẻ những ngày đầu thấy đẻ trứng giảm (tỷ lệ đẻ trong đàn có thể
giảm từ 5-50% tùy theo mức độ bệnh) Đôi khi cũng có con thở khò khè Trứng
đổi màu, vỏ xù xì Nếu có ghép bệnh E coli thì trứng méo mó và vỏ trứng có vệt màu đỏ lấm tấm Trứng đem ấp, tỷ lệ nở thấp do phôi thường bị chết và do trong trường hợp bị ứ nhớt trong đường khí quản nên không thở được
+ Chẩn đoán bệnh:
Chẩn đoán bệnh dựa vào: Dịch tễ, triệu trứng lâm sàng
Bệnh xảy ra mọi lứa tuổi, mùa vụ nhưng thường mắc khi thời tiết thay đổi đột ngột, gà chảy nhiều nước mắt, nước mũi, vươn cổ thở, vẩy mỏ, mổ khám thấy có màng trắc đục bao phủ cơ quan nội tạng
Trang 2618
Chuẩn đoán phân biệt với các bệnh khác
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB): Bệnh viêm phế quản truyển nhiễm ở gà (Infectious bronchitis viết tắt là: IB) là một trong những bệnh
truyền nhiễm rất nghiêm trọng trên gia cầm, bệnh do Coronavirus (ARN
virus) gây ra Bệnh gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho người chăn nuôi, do bệnh lây lan rất nhanh, tỉ lệ chết cao ở gà con và làm giảm đẻ, giảm chất lượng thịt
ở gà đẻ và gà thịt Bệnh xảy ra quanh năm trên tất cả các giống gà và mọi lứa tuổi nghiêm trọng nhất ở gà dưới 6 tuần tuổi Triệu chứng hô hấp ở gà bệnh không phải thể hiện ở phần trên mà thể hiện ở phần sâu hơn của đường hô hấp Gà thở hổn hển, ho và xuất huyết khí quản, gà chảy nước mũi Ở gà đẻ
giảm sản lượng trứng ban đầu giảm từ 5-10% sau đó giảm đến 50-70% sản
lượng trứng
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT): do virut thuộc nhóm
herpes gây viêm đường hô hấp chủ yếu là khí quản và thanh quản làm cho gà
khó thở, thở khò khè rồi chết, bệnh chỉ xảy ra khi gà trên 5 tháng tuổi do đó rất khó chẩn đoán dễ nhầm với bệnh CRD Khi bệnh ở thể nhẹ độc lực của virut yếu hay trung bình để chẩn đoán có thể kiểm tra tổ chức học bệnh tích niêm mạc khí quản để phát hiện, phân lập virut để xác định Tuy nhiên khi bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm không ghép với các bệnh khác thì không gây viêm các xoang hô hấp
Bệnh nấm phổi ở gà
Gà con: mệt mỏi, kém ăn, mắt lim dim, đứng tách đàn Gà thở khó, chảy nhiều nước mũi
Gà lớn: gầy yếu, giảm cân, khát nước, gà thở nặng nhọc, khó khăn, há mỏ
để thở Phổi và túi khí có những chấm tổn thương màu trắng, vàng, xanh lá
- Phòng và trị bệnh:
+ Phòng bệnh:
Trang 2719
Yêu cầu đầu tiên là chỉ nhập gà từ những đàn gà sạch bệnh Bệnh CRD liên quan chặt chẽ đến sức đề kháng của cơ thể, do đó luôn chú ý nâng cao sức đề kháng của cơ thể, như đảm bảo mật độ nuôi hợp lý, chuồng trại khô ráo, thông thoáng tốt Thức ăn đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, vitamin, khoáng, khẩu phần thức ăn cân đối Thức ăn, nước uống đảm bảo các chỉ tiêu
về vệ sinh: không có vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh, lượng aflatoxin trong thức
ăn ở mức độ cho phép Dùng đúng, đầy đủ lịch trình vacxin phòng các bệnh truyền nhiễm khác Khi sức đề kháng bị giảm sút (do tiêm phòng, chọn giống vận
chuyển, thời tiết thay đổi…), cần bổ sung kháng sinh, phòng Mycoplasma vào
thức ăn hoặc nước uống Đối với đàn gà giống, đảm bảo nghiêm túc việc kiểm tra định kì bằng phản ứng ngưng kết huyết thanh, kịp thời phát hiện và loại thải những gà mang bệnh Đặc biệt trước khi gà lên đẻ, kiểm tra 100% đàn và loại thải toàn bộ số gà dương tính với phản ứng ngưng kết Có thể phòng bệnh CRD bằng vacxin Hiện nay đã có một số vacxin phòng CRD ngoại (có được
tỷ lệ kháng thể cao) Cần phải kết hợp phương pháp vệ sinh chuồng trại, đảm bảo môi trường chăn nuôi sạch sẽ, thông thoáng, dùng kháng sinh cho uống
định kỳ cùng với việc dùng vắc - xin phòng bệnh
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [15] đã đưa ra biện pháp phòng bệnh
có hiệu quả như sau:
Ăn uống đảm bảo số lượng và vệ sinh tốt Cho uống bổ sung vitamin nhóm B định kỳ 2 lần/tháng
Chuồng nuôi sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp, thoáng khí vào mùa đông tránh gió lùa, đặc biệt đối với gà dưới 5 tuần tuổi
Kiểm tra hàng ngày để phát hiện gà bị bệnh, có biện pháp xử lý
Khử trùng vỏ trứng, nhà kho, trạm ấp
Không nhập gà, trứng giống từ đàn bố mẹ mắc CRD
Trang 2820
Kiểm tra kháng thể ở huyết thanh của đàn gà bố mẹ vào 42, 140, 308 ngày tuổi đối với gà giống thịt, còn đối với gà giống trứng vào lúc 63, 133, 266 ngày tuổi
Theo Trần Văn Bình (2008) [2] có thể giảm thiểu tác hại của bệnh bằng các cách sau:
Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, chuồng trại thông thoáng, mật độ thích hợp Sau khi xuất hết đàn, vệ sinh sát trùng kỹ mới nhập đàn mới về nuôi Nếu đàn gà đang bị bệnh CRD mà nhập đàn mới vào thì chắc chắn bệnh sẽ lây qua đường mới
Dùng vắc - xin phòng bệnh CRD cho đàn gà bố mẹ
Định kỳ vệ sinh sát trùng chuồng trại, đặc biệt tiêm phòng đầy đủ các loại
vắc - xin để hạn chế các vi khuẩn, virus cơ hội sẽ giảm thiểu tác hại của bệnh
Một biện pháp hạn chế bệnh xảy ra là định kỳ dùng kháng sinh phòng
bệnh CRD Dùng CRD - pharm phòng bệnh pha 1g/1 lít nước hoặc DTC - vit pha 2 g/ 1 lít nước, Phargentylo-F 10 ml/1 lít nước
Trong số kháng sinh và Sulphamid chỉ có 3 nhóm kháng sinh sau có
hiệu lực với Mycoplasma:
Nhóm Tetracycline gồm: Oxytetracycline, Doxycycline
Nhóm Macrolides gồm: Erythromycin, Tylosine, Lincomycin, Spiramycin, Tiamuline
Nhóm Quinolones (Fluoroquinolones) gồm: Norfloxacin, Enrofloxacin
Để việc phòng bằng kháng sinh có hiệu quả, nhất thiết phải lựa chọn kháng sinh phù hợp và nhạy cảm, đồng thời thực hiện tốt các vấn đề vệ sinh chuồng trại, quản lý tốt tiểu khí hậu, dinh dưỡng hợp lý và loại thải các gà nhiễm bệnh thường xuyên (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Đình, 2004)
Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [16] cho biết, việc dùng
kháng sinh như Dihydrostreptomycin, Erythomycin hoặc Tylosin để sát trùng trứng ấp đã đạt được một kết quả rất lớn trong việc khống chế truyền lây mầm
Trang 29nhúng vào nước lạnh 1,7 - 4,40
C có hòa với kháng sinh Tylosin hoặc
Tetracyline nồng độ 400 - 1000 ppm, trong vòng 15 - 20 phút Do chênh lệch
nhiệt độ nên thuốc kháng sinh có thể thẩm thấu qua vỏ trứng vào bên trong Nhìn chung, phương pháp này đã giảm được đáng kể quá trình lây lan bệnh qua trứng, nhưng không thể khống chế hoàn toàn việc lây truyền của MG
Tiêm trứng: Việc tiêm Lincomycin và Spectinomycin vào trong túi khí của trứng đang ấp là một phương pháp hiệu quả nhất để khống chế bệnh lây truyền qua đường ấp nở, nhưng rất tốn công và cũng không giải quyết được triệt để sự lây lan của MG
Hoàng Hà (2009) [34] cho biết, ngoài các phương pháp nhúng trứng và tiêm trứng, người ta còn dùng phương pháp đun nóng trứng Trứng ở nhiệt độ phòng sau đó được đưa lên tới 460C, Mycoplasma có thể chết ở nhiệt độ này,
thời gian đạt được nhiệt độ trên kéo dài từ từ trong khoảng 12 - 14 giờ
Phương pháp này có thể làm giảm tử lệ nở đến 12%
- Trị bệnh:
Trước tiên, loại thải ngay những gà mắc bệnh này Cần tìm hiểu nguyên nhân làm giảm sức đề kháng của gà Để điều trị bệnh, có thể dùng Tylosin, Tiamulin, Morfloxin, Spiramicin, các chế phẩm đặc trị CRD của các xí nghiệp thuốc thú y trong nước hoặc các hãng nước ngoài Cần nhớ rằng việc điều trị không loại trừ được trạng thái mang trùng ở đàn bị bệnh, mới chỉ làm giảm việc thải mầm bệnh ở chất dịch đường hô hấp và trứng Với gà con nở
từ các đàn bố mẹ bị bệnh, điều trị với kháng sinh thích hợp ngay từ những
ngày tuổi đầu (2-3 ngày sau khi nở) Việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
Trang 3022
nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đã và đang khó kiểm soát Sử dụng kháng sinh không đúng cách đã không mang lại hiệu quả trong phòng, trị bệnh do vi khuẩn kháng thuốc, mặt khác lượng kháng sinh tồn dư trong sản phẩm gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng
Gần đây các nghiên cứu sử dụng các chế phẩm thảo dược (CPTD) trong nước để phòng và trị HCHH trên gà đã được thực hiện tại một số cơ sở chăn nuôi gà thịt và gà đẻ tại Thừa Thiên Huế cho hiệu quả tốt (tương đương
và cao hơn so với dùng kháng sinh) Sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc thảo dược có thể thay thế cho việc dùng kháng sinh mở ra triển vọng giảm dần và ngừng hẳn việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi gà, tránh tồn dư kháng sinh, độc hại trong sản phẩm (thịt, trứng) đảm bảo an toàn thực phẩm
và sức khỏe người tiêu dùng
2.3.2 Đặc điểm giống gà Hyline Brown
Giống gà đẻ trứng Hyline Brown của tập đoàn Hyline internationl, Hyline là một giống gà công nghiệp hướng trứng có nguồn gốc Mỹ Với đặc tính sống khỏe, tỉ lệ sống rất cao, hiệu quả sử dụng thức ăn tối ưu, dễ nuôi, chất lượng trứng đảm bảo, màu trứng nâu đẹp đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, tiêu thụ lượng thức ăn thấp hơn so với các giống gà
đẻ thương phẩm hiện nay
Gà Hyline được nhà nước Việt Nam công nhận là một giống vật nuôi nhập nội được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
Một số chỉ tiêu theo tiêu chuẩn của hãng Hyline International:
Giai đoạn hậu bị (1 - 17 tuần tuổi)
+ Tỷ lệ nuôi sống: 98%
+ Lượng thức ăn thu nhận: 5,75 - 6,13kg
+ Trọng lượng tại thời điểm 17 tuần tuổi: 1,4 - 1,48kg
Giai đoạn đẻ
+ Đẻ đỉnh điểm: 95 - 96%
Trang 3123
+ Tỷ lệ nuôi sống tới tuần 60 là 97%, tuần 90 là 93%
+ Khối lượng gà ở tuần 32: 1,85 - 1,97 kg
+ Khối lượng gà ở tuần 70: 1,91 - 2,03 kg
+ Giai đoạn đẻ đỉnh điểm: 95 - 96%
+ Số lượng trứng tới tuần 60 là: 257 - 266 quả,
tuần 90 là: 419 - 432 quả + Khối lượng gà ở tuần 32: 1,85 - 1,97 kg
tuần 70: 1,91 - 2,03 kg + Khối lượng trứng ở tuần 26: 57,3 - 59,7 g/quả
tuần 32: 60,1 - 62,5 g/quả tuần 70: 62,9 - 65,5 g/quả + Tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng (20 - 60 tuần tuổi): 1,18 - 1,22 kg + Tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng (20 - 90 tuần tuổi): 1,26 - 1,29 kg
Giống gà Hyline Brown đã được nghiên cứu, đưa vào nuôi và phát triển rộng rãi trong các trang trại ở nước ta Đây là một giống gà có thể mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh hô hấp trên gà
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc lưu thông hàng hoá giữa các nước, đặc biệt là xuất, nhập khẩu trứng và gà giống đã tạo điều kiện cho các bệnh hô hấp trên gà lây lan mạnh Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [4] cho biết, năm 1898, E.Nocard và cs lần
đầu tiên phân lập được Mycoplasma từ bò bị bệnh viêm phổi màng phổi
truyền nhiễm Khi đó được gọi là vi sinh vật viêm phổi màng phổi (PPO: Pleuropneumonia organism) Về sau người ta tiếp tục phân lập được PPO từ các động vật khác và đổi tên là vi sinh vật loại viêm phổi màng phổi (PPLO: Pleuropneumonia like organism) Từ năm 1955, PPO và PPLO được chính thức đổi thành Mycoplasma
Trang 3224
Báo cáo về trình trạng nhiễm Mycoplasma ở Ai Cập và giá trị chẩn
đoán khác nhau, Saif - Edin (1997) [37] đã cho thấy :
- Tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma synoviae ở các trại
gà Ai Cập là 100% trên gà thịt, 66% trên gà đẻ và các đàn giống cha mẹ là 40%
- Về các thử nghiệm chẩn đoán, kỹ thuật PCR và nuôi cấy có giá trị
trong chẩn đoán Mycoplasma galisepticum và Mycoplasma synoviae
- Đối với kỹ thuật Elisa, HI chứng tỏ đặc hiệu hơn với các thử nghiệm
huyết thanh học khác
- Esendal (1997) [36] đã xác định kháng thể gà chống lại Mycoplasma
gallisepticum bằng các phản ứng huyết thanh học như: ngưng kết nhanh trên
phiến kính, HI, kết tủa khyếch tán trên thạch và Elisa cho thấy trong 900 mẫu
huyết thanh gà gồm gà thịt, gà giống, gà đẻ thì có tỷ lệ dương tính 20,2 % trên phản ứng ngưng kết nhanh, 14,2% trên phản ứng HI, 5,7% ở phản ứng kết tủa khếch tán trên thạch và 60,3% ở phản ứng Elisa
Để kiểm soát Mycoplasma gallisepticum trên gà thịt của Ai Cập Mousa
và cs (1997) [40] đã dùng hai loại vaccin sống chủng F được dùng lúc 1 ngày tuổi bằng cách nhỏ mắt, phun sương, nhúng mỏ hay uống và vaccin chết nhũ dầu, làm từ chủng có độc lực S6, tiêm dưới da cho gà 14 ngày tuổi, kết quả cho thấy gà đã được chủng ngừa được bảo vệ không bị viêm túi khí, sụt ký, tỷ
lệ sống sót cao và sự phối hợp hai loại vaccin này cho kết quả tốt nhất
Điều tra dịch tễ học bệnh gia cầm trên các trại giống thương phẩm ở
Zambia Hasegawa - M và cs (1999) [38] đã báo cáo xét nghiệm 228 mẫu
huyết thanh thu thập từ 7 trại thương phẩm ở Zambia để tìm kháng thể chống lại virut và vi khuẩn từ 9/1994 đến tháng 8/1995, kết quả như sau:
Kháng thể chống lại virut Gumnoro được tìm thấy trong tất cả các mẫu của 5 trại và 68%, 88% cho 2 trại còn lại
Hai mẫu dương tính với vi rút hội chứng giảm đẻ EDS - 76, sự hiện
diện của virut này lần đầu tiên được báo cáo ở Zambia Kháng thể chống lại
Trang 3325
Salmonella pullorum và S.gallinarum được xác định ở 3 trại lần lượt là 92%,
19%, 16%, các trại khác đều âm tính
Kháng thể chống lại M gallisepticum đã thấy ở tất cả các mẫu của 4
trại, tỷ lệ nhiễm M.synoviae thay đổi 8,3 - 100%
CRD được Dobb (người Hà Lan) phát hiện lần đầu tiên ở gà tây vào năm 1905 Đến năm 1935, J.B Nelson và Gibbs [41] đã phân lập được MG là loại vi khuẩn chủ yếu gây bệnh Năm 1952, bác sỹ Van Roekei [42] đã tiến hành nuôi cấy và tìm hiểu rõ về đặc tính của loại vi khuẩn này Tiếp đó là hai bác sỹ Adler và Yamoto [35] phát hiện ra vi khuẩn MG gây CRD cùng loại với Mycoplasma gây bệnh viêm xoang truyền nhiễm Họ cũng đã thấy mức
độ nghiêm trọng khi cùng một lúc gà nhiễm cả hai loại vi khuẩn này
Kojima và cs (1997) [39] đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện
mầm bệnh thuộc 9 loài mycoplasma của gia cầm trong vắc - xin sống tạo từ
phôi gà với độ nhạy cảm khá cao Tuy nhiên, chưa có một cặp mồi nào được khẳng định là đặc trưng cho toàn bộ lớp mollicus mà không nhân lên các loại
vi khuẩn khác
Woese và cs (1980) [43] đã phân tích, so sánh trình tự gen 16S rARN
của đại diện các giống Mycoplasma, Spiroplasma, Acholeaplasma và họ cho
rằng, các giống này được tiến hóa ngược từ một nhánh vi khuẩn yếm khí là tổ
tiên của họ Bacillus và Lactobacillus ngày nay
Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [16] cho biết, năm 1984
Glison và Kleven đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vắc - xin nhược độc và
vắc-xin chết nhằm khống chế lây truyền MG qua trứng
Cũng theo tác giả Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [16], đến tháng 5/1951 hội nghị tổ chức dịch tễ thế giới đã cho phép đổi tên bệnh viêm đường
hô hấp mãn tính thành Mycoplasmosis, gây ra do Mycoplasma gallisepticum
Trang 3426
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đào Thị Hảo và cs (2007) [9] cho biết, sử dụng phương pháp chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ đặc hiệu với MG1, MG2 có kết quả tốt trong việc chẩn đoán bệnh CRD Kháng huyết thanh được chế đạt tiêu chuẩn
đã giúp cho việc xác định được vi khuẩn Mycoplasma gây bệnh phân lập
được từ gà mắc bệnh CRD Việc chế tạo thành công kháng huyết thanh kháng
MG, MS trên thỏ, ngoài việc có giá trị lớn về mặt kinh tế, còn giúp cho công tác chẩn đoán bệnh CRD bằng phương pháp ngưng kết nhanh có độ tin cậy cao, có thể áp dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm
Đào Trọng Đạt và cs (1975) [5] đã điều tra tình trạng mang kháng thể chống Mycoplasma trên 5 cơ sở chăn nuôi gà tập trung và gà nuôi trong dân ở
một số tỉnh phía Bắc cho thấy tỷ lệ nhiễm Mycoplasma là 26,4% mà trong đó
gà dưới 2 tháng tuổi không bị nhiễm, 3 - 5 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 55%, 5 - 6
tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 66,6 % và gà trên 8 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 50%
Đồng thời tác giả cũng phát hiện được kháng thể Mycoplasma trong lòng đỏ
trứng gà ở các trại xác định có bệnh với tỷ lệ mẫu dương tính 12,5% và phân
lập được Mycoplasma từ các bệnh phẩm như khí quản, phổi, não, mắt và
xoang mắt của gà bệnh với tỷ lệ 44%
Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1985) [23] đã báo cáo về điều tra cơ bản bệnh hô hấp mãn tính của gà công nghiệp ở một số tỉnh phía nam như sau:
- Tỷ lệ nhiễm tại 8 cơ sở điều tra là 70,2%, Mycoplasma nhiễm cao ở
trên gà Plymouth và các giống con lai
- Bệnh thường xuất hiện vào thời gian chuyển tiếp giữa mùa mưa và mùa nắng tháng 4- 5 rồi giảm đi từ tháng 7- 8
- Gà dưới 2 tháng tuổi ít phát hiện thấy kháng thể, từ 3 tháng tuổi trở lên phát hiện thấy kháng thể nhiều hơn và cao nhất là 6 - 8 tháng tuổi
Nguyễn Kim Oanh và cs (1997) [22] khi điều tra về tỷ lệ nhiễm
Mycoplasma gallisepticum ở gà nuôi tại các xí nghiệp chăn nuôi gia cầm trên
Trang 3527
địa 7 bàn Hà Nội là khá cao (46%) Các giống gà khác nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau, cao nhất là giống gà Goldline và thấp nhất là Ross 208 Tỷ lệ nhiễm tăng dần và cao nhất ở gà trưởng thành Thời điểm bắt đầu đẻ (165 ngày) tỷ lệ nhiễm tới 72,5%, mặc dù các đàn gà này được phòng bệnh bằng thuốc như tylosin, tiamulin, syanovil, norflorxacin
Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1999) [20] đã công bố kết quả phân lập
Mycoplasma gây bệnh hô hấp mãn tính trên gà:
- Tỷ lệ phân lập trên môi trường canh trùng là 53,33% và môi trường
thạch là 40%
- Dùng chủng Mycoplasma phân lập được gây bệnh thí nghiệm, gà có
biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống như bệnh ngoài tự nhiên
Hoàng Xuân Nghinh và cs (2000) [21] đã nghiên cứu biến đổi bệnh lý
ở biểu mô khí quản của 72 gà thí nghiệm 28 ngày tuổi được gây nhiễm thực
nghiệm với Mycoplasma gallisepticum qua khí quản và xoang mũi Từ 2 - 4
tuần sau khi gây bệnh, biểu mô khí quản gà bệnh chết được kiểm tra bằng kính hiển vi thường và kính hiển vi điện tử cho thấy:
- Bề mặt khí quản tổn thương rõ, xuất hiện ổ loét sâu và lớn, quá trình
viêm cấp tính ảnh hưởng đến cấu trúc bề mặt tế bào của biểu mô khí quản
- Sự hồi phục của biểu mô khí quản rất nhanh sau quá trình viêm loét, từ
màng đáy sau đến lớp tế bào biểu mô và lớp nhung mao của tế bào biểu mô
- Sự tăng sinh không định hướng của nhung mao tế bào biểu mô chứng
tỏ bệnh đã chuyển sang giai đoạn mãn tính
Phạm Văn Đông, Vũ Đạt (2001) [6] điều tra tình hình nhiễm CRD ở 4 trại gà thường phẩm nuôi công nghiệp cho thấy:
- Gà từ 1 - 60 ngày tuổi nhiễm 16,55%, gà 60 - 140 ngày tuổi nhiễm 41,21%, gà 140 - 260 ngày tuổi nhiễm 56,17%, tỷ lệ nhiễm chung là 38,27%, vậy
cường độ nhiễm cũng tăng theo lứa tuổi
Trang 3628
- Kết quả mổ khám cho thấy bệnh tích chủ yếu ở các cơ quan phủ tạng
như mũi, thanh quản, phổi, túi khí và gan với tỷ lệ bệnh tích tương ứng là: 39,61%; 80,84%; 12,66%; 38,73; 34;80%
Trương Quang (2002) [24] nghiên cứu bệnh CRD liên quan đến một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của đàn gà Isa bố mẹ hướng thịt, kết quả cho thấy:
Trương Quang (2002) [25] sử dụng vaccin Nobivac - M.G để phòng
bệnh CRD cho đàn gà Isa bố mẹ hướng thịt cho thấy:
- Sau lần tiêm thứ nhất: 25,71% - 62,86% số gà kiểm tra có hiệu giá kháng thể 1/64; 17,14% - 54,29% số gà kiểm tra có hiệu giá kháng thể 1/128
- Sau lần tiêm thứ 2: 28,57% - 60,00% gà có hiệu giá kháng thể 1/128; 5,71% - 57,48% gà có hiệu giá kháng thể 1/256
- Gà con nở ra từ trứng của gà bố mẹ đã tiêm vaccin 2 lần có hiệu giá
kháng thể thụ động tương đối cao và tồn tại đến 3 tuần tuổi
Nhữ Văn Thụ và cs (2007) [27], sử dụng PCR và nested PCR để xác
định hiệu quả sử dụng kháng sinh phòng chống Mycoplasma trên gà cho thấy:
Tylosin và Erofloxacin được sử dụng với liều 50mg/kgP và 20mg/kgP x 3 ngày, sau khi sử dụng kháng sinh tỷ lệ bệnh giảm đáng kể, tuy nhiên thời gian
duy trì tỷ lệ thấp không được lâu M.gallisepticum nhạy cảm với kháng sinh hơn so với M synoviae, vì vậy giá trị ức chế tối thiểu của M.S cao hơn so với
M.G Mycoplasma có khả năng tái nhiễm hoặc phục hồi sau 3 tuần sử dụng,
sử dụng 9 hai loại thuốc nói trên với đàn gà đẻ bị nhiễm Mycoplasma có tác
dụng làm giảm khả năng tụt sản lượng trứng, tăng tỷ lệ gà loại 1
Trang 3729
Đào Thị Hảo và cs, 2007 [10], ứng dụng các phương pháp chẩn đoán khác
nhau (nuôi cấy, PCR, RPA, HI) được dùng để xác định sự nhiễm M.gallisepticum
ở gà từ 7 - 35 ngày sau gây nhiễm, gà được gây nhiễm lúc 6 tuần tuổi với các chủng phân lập M.G 1 (từ Hà Tây), M.G 2 (từ cơ sở 1- Hà Nội), M.G 3 (từ cơ sở 2- Hà Nội) và M.G S 6 (chủng chuẩn của Malaixia), kết quả cho thấy:
- Tỷ lệ mẫu dương tính ở các chủng phân lập cơ sở cao hơn chủng M.GS 6
trong phòng thí nghiệm, tỷ lệ các mẫu âm tính cao ở các mẫu đối chứng
- Dùng phương pháp huyết thanh học nhạy hơn phương pháp vi khuẩn học
- Hai chủng M.G 1 và M.G 2 có tính kháng nguyên điển hình và có hàm
lượng kháng thể cao
Đào Thị Hảo và cs (2008) [11], nghiên cứu quy trình chế tạo kháng nguyên
M.G (Mycoplasma gallisepticum) dùng để chẩn đoán bệnh viêm đường hô hấp
mãn tính (CRD) ở gà Trương Hà Thái và cs, 2009 [26], xác định tỷ lệ nhiễm
Mycoplasma gallisepticum ở hai giống gà hướng thịt Ross 308 và Isa màu nuôi
công nghiệp ở một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ nhiễm Mycoplasma
gallisepticum trung bình là: 37,83% và không có sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm giữa
hai giống gà, tỷ lệ nhiễm có xu hướng tăng theo tuần tuổi của gà
Nguyễn Thị Tình và cộng sự (2009) [29], nghiên cứu chế kháng thể lòng
đỏ dùng điều trị bệnh viêm hô hấp mãn tính (CRD) ở gà từ 3 quy trình gây tối miễn dịch cho biết kháng thể lòng đỏ thu được có hiệu giá ngưng kết cao (10log2)
ở cả 3 lô thí nghiệm Theo các tác giả, bằng phương pháp khuếch tán trên thạch giữa kháng nguyên đã dùng và kháng thể lòng đỏ thu được đều cho kết tủa rõ và
và không có phản ứng chéo với kháng nguyên M.S Kháng thể lòng đỏ đã chế đạt tiêu chuẩn được áp dụng điều trị bệnh CRD, mang hiệu quả cao trong sản xuất
Đào Thị Hảo và cộng sự (2010) [12], ứng dụng kháng nguyên Mycoplasma
gallisepticum tự chế xác định tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp mãn tính tại một số cơ sở
chăn nuôi gà công nghiệp, kết quả cho thấy khả năng gây ngưng kết và thời gian xuất hiện của phản ứng kháng nguyên tự chế đều cho kết quả tương tự với kháng