Ảnh hưởng của các mức bón phân trùn quế đến động thái tăng trưởng chiều cao của cây bắp cải trong thí nghiệm.. Phân giun quế là một trong những loại phân hữu cơ sinh học được sản xuất th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHÂN TRÙN QUẾ CHO CÂY BẮP CẢI
(BRASSICA OLERACEA) THEO HƯỚNG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Khoa học Cây trồng
Phú Thọ, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHÂN TRÙN QUẾ CHO CÂY BẮP CẢI
(BRASSICA OLERACEA) THEO HƯỚNG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ thí nghiệm, kết quả do chính tôi trực tiếp thực hiện Các kết quả và số liệu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trên bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan là các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đều được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đều được cảm ơn
Phú Thọ, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Thúy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy,
cô trong khoa Nông-Lâm-Ngư, đặc biệt các thầy cô và các cán bộ công nhân viên trong ngành Khoa học cây trồng đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ, chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý báu và có nhiều lời khuyên quý báu giúp tôi xây dựng và hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.Nguyễn Thị Cẩm Mỹ
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Thúy
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu 2
3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nguồn gốc và phân bố bắp cải 3
1.2 Phân loại: 3
1.3 Sinh trưởng và phát triển cây rau bắp cải 4
1.4 Yêu cầu ngoại cảnh 6
1.5 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây bắp cải 8
1.6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam 10
1.6.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới 10
2.6.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Việt Nam 11
1.7 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Việt Nam 15
1.8 Quy trình sản xuất phân trùn quế 18
1.9 Thành phần và tác dụng của phân trùn quế 19
1.10 Tình hình nghiên cứu phân bón hữu cơ trên thế giới và Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Phương pháp nghiên cứu 25
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu 25
Trang 72.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
2.3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm: 26
2.4 Quy trình kỹ thuật: 26
2.4.1 Làm đất: 26
2.4.2 Bón phân 27
2.4.3 Chăm sóc và xới vun: 27
2.4.4 Thu hoạch 27
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 27
2.5.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển 27
2.5.2 Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất 28
2.5.3 Chỉ tiêu chất lượng bắp 28
2.5.4 Mức độ chống chịu sâu bệnh hại (QCVN 01 – 169: 2014/BNNPTNT) 29
2.5.5 Sơ bộ tính hiệu quả kinh tế (trên 1 ha) 29
2.6 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân trùn quế tới sinh trưởng, phát triển và năng suất rau cải bắp 31
3.1.1 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây bắp cải 31
3.1.2 Ảnh hưởng của phân giun quế đến động thái ra lá của cây bắp cải 33
3.1.3.Ảnh hưởng của phân trùn quế đến động thái tăng trưởng chiều cao của cây bắp cải 35
3.1.4 Ảnh hưởng của phân giun quế đến động thái tăng trưởng đường kính tán của cây bắp cải 38
3.1.5.Ảnh hưởng của phân trùn quế đến động thái tăng trưởng đường kính bắp của cây bắp cải 40
3.1.6.Ảnh hưởng của phân trùn quế đến động thái tăng trưởng chiều cao bắp của cây bắp cải 42
Trang 83.1.7 Ảnh hưởng của các mức bón phân giun quế đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của quả bắp cải 44
3.2 Ảnh hưởng của mức bón phân giun quế đến chất lượng bắp cải 48
3.3 Ảnh hưởng của phân giun quế đến mức độ nhiễm sâu xanh của cây bắp cải50 3.4 Hạch toán hiệu quả kinh tế 51
KẾT LUẬN 53
ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g bắp cải ăn được 8
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng rau tươi trên thế giới (2012-2014)10 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất bắp cải trên thế giới 11
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam (2011-2014) 12
Bảng 1.5 Tình hình sản xuất cây bắp cải ở Việt Nam (2010-2014) 15
Bảng 1.6 Diện tích gieo trồng rau các tỉnh năm 2011-2012 17
Bảng 3.1 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây bắp cải trong các công thức thí nghiệm 32
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phân trùn quế đến tốc độ ra lá của cây bắp cải 34
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của phân trùn quế đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây bắp cải 36
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân trùn quế tới động thái tăng trưởng đường kính tán của cây bắp cải 38
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các mức bón phân trùn quế đến động thái tăng trưởng đường kính bắp của cây bắp cải 41
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân trùn quế tới động thái tăng trưởng chiều cao bắp cây bắp cải 43
Bảng 3.7.Ảnh hưởng của liều lượng bón phân trùn quế tới năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bắp cải tham gia thí nghiệm 45
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các mức bón phân giun quế đến độ chặt của bắp cải 48
Bảng 3.9 Đánh giá chất lượng cảm quan của bắp cải trong các công thức trong thí nghiệm 49
Bảng 3.10 Mật độ sâu xanh hại cây bắp cải 50
Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế của bắp cải trong các công thức thí nghiệm 51
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh hưởng của mức bón phân trùn quế đến động thá tăng trưởng số lá của cây bắp cải trong thí nghiệm 35 Hình 3.2 Ảnh hưởng của các mức bón phân trùn quế đến động thái tăng trưởng chiều cao của cây bắp cải trong thí nghiệm 37 Hình 3.3 Ảnh hưởng của mức bón phân trùn quế đến tốc độ tăng trưởng đường kính tán của cây bắp cải tham gia vào thí nghiệm 40 Hình 3.4 Ảnh hưởng của các mức bón trùn quế đến sự biến động về đường kính bắp của cây bắp cải trong thí nghiệm 42 Hình 3.5 Ảnh hưởng của các mức bón phân trùn quế đến sự biến động về chiều cao bắp của cây bắp cải trong thí nghiệm 44 Hình 3.6 Khối lượng bắp của các mức bón phân trùn quế khác nhau 46 Hình 3.7 Năng suất lý thuyết của cây bắp cải ở các mức bón phân giun quế 47 Hình 3.8 Năng suất thực thu của cây bắp cải ở các mức bón phân trùn quế khác nhau 47 Hình 3.9 Lãi suất của cây bắp cải ở các công thức 52
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại cây trồng có nhiều chất dinh dưỡng và là thực phẩm cần thiết không thể thiếu trong đời sống Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ
Bắp cải (Brassica oleracea) là một loại rau thuộc họ Cải, có nguồn gốc từ Địa Trung Hải Bắp cải là cây thân thảo, sống hai năm, và là một loài thực vật có hoa thuộc nhóm hai lá mầm với các lá tạo thành một cụm đặc hình gần như hình cầu đặc trưng Bắp cải là loại rau xanh giàu vitamin và có quanh năm Có nhiều loại bắp cải nhưng phổ biến là bắp cải xanh, được dùng chủ yếu trong nấu ăn
Hiện nay vấn đề rau sạch, an toàn đang là vấn đề được người tiêu dùng hết sức quan tâm, vì nó liên quan đến sức khỏe cộng đồng khi sử dụng nguồn thực phẩm này Sản xuất ra rau an toàn đang được đặc biệt quan tâm trên phạm
vi cả nước
Trong những năm gần đây có rất nhiều loại phân bón hữu cơ sinh học, các chế phẩm sinh học sản xuất với mục tiêu khai thác tối đa các nguồn hữu cơ có sẵn trong môi trường vào sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn và bảo vệ môi trường Phân giun quế là một trong những loại phân hữu cơ sinh học được sản xuất theo hướng như vậy
Phân trùn quế là một loại phân hữu cơ 100%, là loại phân thiên nhiên giàu dinh dưỡng nhất mà con người từng biết đến với các đặc tính sau: Phân trùn quế chứa các sinh vật có hoạt tính cao, giàu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước và chứa đựng hơn 50% chất mùn được tìm thấy trong lớp đất mặt Phân trùn quế cung cấp các chất khoáng cần thiết cho sự phát triển của cây và có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu cơ Phân trùn quế không chỉ kích thích tăng trưởng cây trồng mà còn tăng khả năng duy trì giữ nước trong đất và thậm chí còn có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ…Trên cơ sở đó tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu sử dụng phân trùn quế cho cây bắp cải (Brassica oleracea)
theo hướng sản xuất rau an toàn tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”
Trang 12Là cơ sở để áp dụng sản xuất bắp cải an toàn phù hợp với điều kiện thành phố Việt Trì-Phú Thọ
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nguồn gốc và phân bố bắp cải
Bắp cải có nguồn gốc từ Địa Trung Hải từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại Bắp cải được phát triển từ lựa chọn nhân tạo diễn ra liên tục để ngăn chặn chiều dài các giống Một số nghiên cứu đã mô tả bắp cải hoang dại là bố mẹ của bắp cải đang được trồng hiện nay Nó là cây lâu năm, thân phân nhánh, các lá dưới
có cuống, các lá trên không có cuống, không hình thành bắp
Bắp cải được giới thiệu ở Việt Nam từ thế kỷ XVIII Nó có thể được di thực từ Trung Quốc và được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam Bắp cải được trồng trong vụ đông Xuân ở các tỉnh phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên Bắp cải có nguồn gốc ôn đới, nhiệt độ xuân hóa là 1- 10°C trong khoảng 15- 30 ngày tùy thời gian sinh trưởng của giống Do đặc điểm như vậy nên sản xuất hạt bắp cải
ở Việt Nam là rất khó khăn Trừ những giống chịu nhiệt có thể để giống trên các vùng núi cao như Sapa, Sin Hồ
Diện tích bắp cải chiếm 12,6% tổng diện tích rau ( Hồ Hữu An), cải bắp
1.2 Phân loại:
Bắp cải được có hệ thống phân loại thực vật như sau:
Giới (regnum): Plantae
Trang 14Loài (species): B.oleracea
Nhóm (group): Capitata
Bắp cải (Brassica oleracea var Capitata L.; n=9) Bắp cải có 3 loại:
Bắp cải trắng: Loại này rất có giá trị ở Châu Âu và các nước Châu Á, được dùng trong sản xuất với diện tích lớn, loại này thường có thời gian sinh trưởng ngắn, cuốn bắp sớm, chất lượng ngon
Bắp cải đỏ: loại này mới được trồng ở Việt Nam, ở các nước nó được dùng
để làm xalat, thời gian sinh trưởng dài
Ngoài ra còn loại bắp cải dùng cho chế biến: thích hợp với các vùng núi cao, tuy nhiên ở Việt nam chưa được chú trọng trồng loại giống này
Bắp cải xoăn: Loại này chưa được trồng ở Việt Nam Lá của loại này thường xoăn, xốp và nổi gờ (Trần Khắc Thi, Nguyễn Văn Thắng (2001))
1.3 Sinh trưởng và phát triển cây rau bắp cải
Về sinh trưởng và phát triển của bắp cải có thể chia làm 4 thời kỳ:
*Thời kỳ cây con
Cây con bắp cải nằm trọn trong thời gian ở vườn ươm Thời gian ở vườn ươm tốt nhất nên chiếm khoảng 1/3 tổng thời gian sinh trưởng, không nên kéo dài hơn Cây giống già làm ảnh hưởng đến năng suất từ 15- 20% Sau khi gieo được 25- 30 ngày ở vụ chính hầu hết các cây giống đều đạt từ 5- 6 lá, một vài giống đạt 8- 9 lá Vào mùa sớm, nhiệt độ cao, cây sinh trưởng khó khăn nên thời gian vườn ươm từ 35- 40 ngày Khối lượng cây con ở thời kỳ này chiếm 1/100- 1/300 cây trưởng thành Sau khi gieo 3- 4 ngày, hầu hết các giống đều mọc khỏi mặt đất Sau khi gieo 7- 10 ngày có lá thật thứ nhất, sau khi gieo 15 ngày, hầu hết các giống có tốc độ ra lá lớn nhất, sự khác nhau phụ thuộc chủ yếu vào giống từ 0,38- 0,68 lá/ngày
*Thời kỳtrải lá (trải lá bàng)
Sau khi trồng được 30- 35 ngày, các giống đều trải lá; thời kỳ này vô cùng quan trọng đối với đời sống cây bắp cải Khi cây trải lá, số lá trên cây tăng lên không ngừng, diện tích ngoài tán lá cây không ngừng tăng trưởng
Trang 15Đây là thời kỳ tạo cơ sở vật chất cho bắp cuốn Thời kỳ trải lá, lá rộng, song song với mặt đất Tốc độ tăng diện tích lá nhanh nhất là sau khi trồng được 55- 60 ngày đây là thời điểm quan trọng trong kỹ thuật trồng trọt, cần chú ý tới
độ ẩm và chất dinh dưỡng
Những cây có đường kính tán to, đều, đường kính tán cây trung bình đạt từ 50- 70 cm là những giống tốt Thời gian trải lá từ 10- 15 ngày, trong thời kỳ này cây tiếp tục trải lá đồng thời với cuốn bắp
*Thời kỳ cuốn
Khi đường kinh tán cây và số lá ngoài đạt đến trị số cực đại thì cây bắt đầu cuốn Thời kỳ này quyết định năng suất cao hay thấp, nên người sản xuất đặc biệt quan tâm và tăng cường chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại Khi cuốn, lá ở đỉnh sinh trưởng cuộn vào phía trong, tạo thành khuôn bắp ban đầu, sau đó những đỉnh lá phía trong tiếp tục hình thành và lớn lên làm cho bắp lớn dần cho đến khi đạt tới tốc độ lớn của giống Sau trồng 55- 60 ngày, tốc độ ra lá, đường kính hoa thị không có sự sai khác lớn giữa các giống, khi đó các giống chín sớm bắt đầu cuốn
Các giống trung bình và giống muộn tiếp tục sinh trưởng một thời gian cho tới khi đường kính hoa thị đạt cực đại thì cuốn bắp Sau thời điểm cuốn bắp từ 10- 15 ngày, nếu gặp điều kiện thuận lợi thì khối lượng bắp có thể tăng 50- 70%
so với khối lượng vốn có của giống
Khi chín thương phẩm hình dạng bắp, kích cỡ bắp, khối lượng bắp khác nhau chủ yếu do giống và kỹ thuật trồng trọt
*Thời kỳ ra hoa kết quả
Bắp cải là cây 2 năm nên khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ và ánh sáng, cây qua giai đoạn xuân hóa và giai đoạn ánh sáng Sau khi cuốn bắp sang năm thứ hai, thân trong vươn cao làm nứt bắp (gọi là ngồng) thân chính tiếp tục vươn cao Trên thân chính và các nhánh đều có hoa, hoa quả tập trung vào các tháng 3,4 Nhiệt độ cho nụ hoa phát triển tốt trong khoảng 20oC vào tháng 5 quả chín và kết thúc thời kỳ sống từ hạt đến hạt của cây cải bắp [1]
Trang 161.4 Yêu cầu ngoại cảnh
* Nhiệt độ
Cây bắp cải có nguồn gốc từ vùng ôn đới, bắp cải ưa thích khí hậu mát
mẻ, là cây chịu rét, khả năng chịu nhiệt không cao.Nhiều tác giả cho rằng cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15-22 °C.Hạt bắp cải có thể nảy mầm ở nhiệt độ thấp (5 °C) nhưng chậm, hạt nảy mầm nhanh ở 15-20°C Cải bắp có khả năng chịu rét, ở thời kì 1-2 lá thật bắp cải có thể chịu nhiệt độ thấp (-2°C) đến (-3°C), cũng
có thể chịu được nhiệt độ thấp (-5°C) đến (-6°C) Những giống qua rèn luyện có thể chịu được (-10 °C) đến (-12o
C) Các giống thông qua giai đoạn xuân hóa nhanh ở nhiệt độ 3-5°C, cũng có nhiều giống thông qua ở nhiệt độ 10-12°C, thời gian 30-40 ngày Giống bắp cải
Hà Nội qua giai đoạn xuân hóa 14-15°C trong thời gian 20-25 ngày
Các thời kì yêu cầu nhiệt độ thay đổi, thời kì vườn ươm nhiệt độ thích hợp 16-18°C, thời khì trải lá 18-20°C, thời kì cuốn 17-18°C
Nhiệt độ trên 25°C cây sinh trưởng chậm, thời gian cuốn kéo dài, cây nhỏ, bắp nhỏ.Trên 35°C quá trình trao đổi chất bị rối loạn, chất nguyên sinh bị biến đổi, các hạt protein tan vỡ, quang hợp giảm, cây chóng già.Khi nhiệt độ dưới 10
Trong điều kiện vụ đông xuân của miền Bắc Việt Nam có thời gian chiếu sáng ngắn (8-10 giờ/ngày) nên cải bắp sinh trường tốt, nhiều khả năng đạt năng suất cao
Trang 17*Độ ẩm
Bắp cải là cây ưa ẩm, ưa tưới, không chịu hạn cũng không chịu úng Hệ rễ cạn, ăn nông, khả năng hút nước ở lớp đất dưới kém Bắp cải là cây có nhiều lá, diện tích lá lớn, lá không có lông do vậy thoát hơi nước qua lá là rất lớn.năng suất bắp cao, khối lượng thân lá lớn, hàm lượng nước trong lá cao Theo Recheva (1958) cường độ thoát hơi nước của bắp cải 10g/h/m2 lá.Vì vậy cây cải bắp yêu cầu độ ẩm đất và độ ẩm không khí cao trong suốt thời gian sinh trưởng
Độ ẩm đất thích hợp là từ 75 – 85%, độ ẩm không khí khoảng 80 – 90%.Đất quá ẩm (trên 90%) trong 2-3 ngày sẽ làm tổn thương rễ cây và gây hại toàn bộ ruộng cải bắp [1]
*Đất và dinh dưỡng
Cây bắp cải có khả năng thích nghi rộng rãi trên nhiều loại đất, nhưng đất trồng bắp cải tốt nhất là đất pha cát, đất thịt nhẹ và thịt trung bình, đủ ẩm Bắp cải sinh trưởng chậm trên đất nghèo dinh dưỡng và đất cát
Cây cải bắp thích hợp trên đất giàu dinh dưỡng, hàm lượng mùn cao, thoát nước tốt, đủ ẩm, độ pH từ 6 – 7
+ Đạm là thành phần quan trọng của diệp lục, có tác dụng làm tăng số lá, diện tích lá, tỉ lệ cuốn bắp, tăng khối lượng bắp do đó là yếu tố có tác dụng quyết định đến năng suất của bắp cải, nhưng thừa hoặc thiếu đạm đều không tốt đến sinh trưởng ding dưỡng của cây bắp cải Thiếu đạm cây sinh trưởng chậm, tán cây nhỏ, số lá giảm nghiêm trọng, cây còi cọc, thời gian cuốn kéo dài do đó năng suất và chất lượng giảm
+Lân là yếu tố cần thiết ở thời kì cây con, thúc đẩy sinh trưởng của cây, trải lá sớm, cuốn sớm, tăng tỉ lệ cuốn bắp, rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây Lân làm tăng chất lượng bắp, chất lượng hạt giống
+Kali làm tăng khả năng quang hợp, tăng quá trình vận chuyển trong cây Bắp cải được bón đầy đủ kali, bắp chắc từ đó tăng khả năng bảo quản và vận chuyển [1]
Trang 181.5 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây bắp cải
Người xưa có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc” Câu nói đó cho thấy rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, đặc biệt là đối với người Châu Á và người Việt Nam
Nguồn: Viện dinh dưỡng năm 2000
Các chất dinh dưỡng nói trên rất cần cho cơ thể con người Muốn tăng được hàm lượng các chất trên cần có sự tác động của con người như chọn tạo giống và kỹ thuật trồng trọt tốt
* Giá trị kinh tế và sử dụng
Bắp cải được coi là vị thuốc của người nghèo, nó đã được dùng để trị bệnh
Trang 19thiếu chất tươi, chậm tiêu, táo bón, loét dạ dày và các bệnh ngoài da như mụn nhọt, ngay cả bệnh giời leo (zonna)
Tác dụng trị bệnh đau dạ dày của bắp cải đã được khoa học hiện đại nghiên cứu và xác nhận Các cuộc khảo sát cho thấy kết quả trị loét dạ dày - tá tràng bằng nước ép bắp cải là hơn một nửa số ca khỏi bệnh sau 3 tuần điều trị
Hoạt chất trị lành vết loét dạ dày là sinh tố U, một hợp chất có lưu huỳnh, methylmethiomin sulfomium Chất này được đưa vào công nghiệp trong những năm thế kỷ XX, dưới tên đặc chế Epadyn U Ngày nay người ta đã tổng hợp được chất này mà không cần chiết xuất từ bắp cải nữa Đối với người Việt Nam chúng ta, bắp cải tươi có sẵn quanh năm nên việc ép nước không khó khăn, có thể tự làm lấy dễ dàng
Một vài thử nghiệm khác cho thấy, bắp cải làm giảm quá trình đồng hóa glucid và làm giảm lượng đường huyết Ngoài ra bắp cải có ít chất đường nên có thể dùng cho người bị bệnh đái tháo đường
Bắp cải có khả năng sinh nhiệt thấp, lại có axit tartronic, một chất dùng để trị bệnh béo phì
Người xưa thường lấy lá bắp cải, bỏ xương lá và làm dập nát rồi đắp vào mụn nhọt, vết thương Nhờ vậy vết thương không làm độc và hết mủ Người ta cũng dùng lá giã nát để đắp lên vết giời leo
Theo giáo sư Paul Talaluy (trường đại học Hopkin- Mỹ) thì trong cơ thể
có 2 loại enzim Loại thứ nhất có tính kích thích tế bào cảm ứng với tác nhân gây ung thư Loại thứ 2 ức chế tác nhân gây ung thư làm cho chúng không còn độc tính Trong cơ thể khỏe mạnh có sự quân bình giữa hai loại enzim này Ông cũng tìm thấy chất sulfographan trong một số cây thuộc họ cải (cruciferal): bắp cải, su hào, xà lách, cải xông Sulfographan ngăn cản phát triển khối u bằng cách hoạt hóa các enzim loại thứ 2 Người bệnh ung bướu nên dùng bắp cải (Sơn,
Hô, Thanh, Thái, Bui Thi and Moustier, Paul (2003))
Tại Trung Quốc, bệnh ung thư vú rất hiếm thấy ở những vùng dân cư ăn nhiều rau cải Trong phòng thí nghiệm, những con vật ăn nhiều rau cải bị cố tình gây ung thư vẫn khỏe mạnh và không mắc bệnh
Trang 201.6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Rau là cây trồng ngắn ngày, có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao, nên đã được trồng và sử dụng từ lâu đời.Tình hình sản xuất rau trên thế giới hiện nay có những biến động nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Nhu cầu tiêu thụ rau của người dân ngày càng cao, do đó diện tích cũng như sản lượng rau ngày càng tăng[16]
Số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương Thế giới cho thấy: Châu Á vẫn
là châu lục đứng đầu về diện tích trồng rau trên thế giới, diện tích này không ngừng gia tăng trong những năm gần đây, từ 13,97 triệu ha năm 2008 đã tăng thêm 1,43 triệu ha năm 2012, năm 2012 diện tích trồng rau đạt 15,4 triệu ha và tăng thêm vào năm 2014 đã đạt tới 16,17 triệu ha Châu Mỹ là châu lục có diện tích trồng rau nhỏ nhất, năm 2014 diện tích mới chỉ đạt 0,55 triệu ha (FAOSAT, 2017)
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng rau tươi trên thế giới
(2012-2014)
Khu vực
Diện tích (triệu/ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
2012 2013 2014 2012 2013 2014 2012 2013 2014 Châu Á 15,39 15,94 16,17 154,62 152,25 155,09 238,08 242,64 250,79 Châu Âu 0,67 0,68 0,68 163,15 166,81 163,12 11,07 11,36 11,21 Châu Phi 2,54 2,58 2,66 71,97 71,09 72,96 18,26 18,36 19,43 Châu Mỹ 0,56 0,55 0,55 133,11 133,09 139,08 7,4 7,38 7,75 Thế giới 19,21 19,79 20,12 143,27 141,61 144,05 275,3 280,3 289,7
(FAOSTAT,2017)
Trong những năm gần đây, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, các loại rau năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng bệnh được đưa vào sản xuất phổ biến Việc áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho năng suất rau của nhiều nước trên thế giới tăng đáng kể Một số nước có diện tích trồng rau
Trang 21năm 2012 không lớn nhưng lại tạo ra một tiềm năng năng suất rau rất cao như Hàn Quốc 71833 ha (năng suất 460,51tạ/ha), Đức 11711 ha (năng suất 281,31tạ/ha), Hoa Kỳ 10673 ha (năng suất 778,71tạ/ha) Ở Việt Nam, năng suất rau cũng tương đối cao so với các nước trên thế giới, đạt 175,35 tạ/ha (FAOSTAT, 2017)
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bắp cải trên thế giới
Bắp cải hiện nay được trồng nhiều trên thế giới chủ yếu là giống cải bắp trắng, và trở thành loại rau chính của nhiều nước Các nước trồng nhiều bắp cải như Liên Xô, Trung Quốc, Bungari, Pháp, Italia, Nhật Bản, Mỹ và Anh Quốc [23]
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất bắp cải trên thế giới Chỉ tiêu
Năm Diện tích (ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(tấn)
2.6.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Việt Nam
Nghề trồng rau của nước ta gắn liền với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua nhiều thời đại Người lao động đã không ngừng đấu tranh với thiên nhiên, tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất, thuần hóa và bồi dục nhiều chủng loại rau phong phú, đa dạng Nhờ vậy mà ngày nay trên đất nước ta từ Bắc chí Nam mùa nào rau ấy đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và đời sống xã hội
Tập quán và kỹ thuật sản xuất hạt giống rau được hình thành và tích lũy trong quá trình sản xuất.Trong lĩnh vực này, người nông dân đúc rút được nhiều kinh nghiệm quý báu.Thời kỳ đất nước có chiến tranh thì sản xuất rau chủ yếu là
tự cung tự cấp Từ khi hòa bình lặp lại đến nay, các vùng trồng rau được hình thành và phát triển ở các thành phố, khu công nghiệp, thị trấn, thị xã… Vì vậy,
Trang 22năng suất, sản lượng và chất lượng của nhiều chủng loại rau tăng lên không ngừng [3]
Hiện nay trong thời kỳ đổi mới, nước ta đã và đang hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Nhiều chương trình và dự án phục vụ cho công tác nghiên cứu, sản xuất, chọn tạo giống mới, những công nghệ tiên tiến đang được thực thi trên nhiều vùng chuyên canh rau ở nước ta
Những vùng sản xuất rau mới cũng được quy hoạch nhằm cung cấp đầy
đủ rau xanh cho người tiêu dùng Nhu cầu của người dân thành phố đối với rau xanh ngày càng cao về chủng loại, chất lượng và đặc biệt là độ an toàn Theo số liệu của Tổng cụ Thống kê, với dân số trên 90 triệu dân thì việc đảm bảo nhu cầu về lương thực và thực phẩm hàng ngày của nước ta là vô cùng bức xúc Sản xuất rau có xu hướng ngày càng mở rộng về diện tích và sản lượng tăng đồng thuận
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam (2011-2014)
Năm Diện tích (ngàn
ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn/ha)
Nước ta có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa
và có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt… có điều
Trang 23kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau Việt Nam có thể trồng được trên
120 loại rau có nhuồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với tiến độ khoa họa kỹ thuật công nghệ, các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Đặc biệt vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ có mùa đông lạnh rất thích hợp cho những cây rau mùa lạnh sinh trưởng như: cải bắp, su hào, súp lơ, cải bao, cà rốt, cải củ, đậu Hà Lan…[12]
Sản lượng rau ở nước ta tăng chủ yếu do tăng diện tích Vì vây cần tập trung nhiều biện pháp để tăng nhanh năng suất trên đơn vị diện tích Đất chuyên canh rau thường tập trung ở vùng ven các thành phố lớn, các đô thị và khu công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt Chủng loại rau
ở các vùng này rất đa dạng và phong phú, cho năng suất cao và chất lượng tốt Ở đây cũng tập trung nhiều người sản xuất rau giỏi
Một số vùng còn có thế mạnh trong sản xuất rau hàng hóa tham gia vào thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời còn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Đà Lạt, Tiền Giang… Trong quá trình xây dung và phát triển đất nước, nước ta đã hình thành nhiều vùng chuyên canh rau truyền thống và những vùng sản xuất rau quan trọng Đó là:
Vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ: Vùng này có mùa đông thích hợp với nhiều chủng loại rau có nguồn gốc ở xứ lạnh như: bắp cải, su hào… Nơi đây
có thể sản xuất rau trên diện tích lớn Sản lượng hàng hóa chiếm tỷ trọng cao trong cả nước Đặc biệt vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng có diện tích rau lớn nhất so với các vùng sinh thái còn lại (99 ngàn ha) Khả năng xuất khẩu rau của vùng đồng bằng sông Hồng rất lớn, ngoài thỏa mãn nhu cầu tại chỗ còn có thể lưu thông hàng hóa ra ngoài vùng
- Vùng rau Lâm Đồng: Vùng sản xuất rau hàng hoa tập trung chủ yếu ở
Đà Lạt
- Vùng rau thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
Trang 24- Vùng đồng bằng sông Cửu Long: là vùng rau quan trọng trong cả nước, hiện có thới 40 chủng loại rau, một năm gieo trồng tới 5-6 vụ Rau ở đây đã xuất khẩu sang thị trường Singapore, Philippin, Nhật Bản và Hông Kông
Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: sản xuất hàng hóa và tự cung tự cấp, trong đó rau hàng hóa tập trung chính ở 2 khu vực:
Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân
cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao
Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với một số loại cây mầu Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng, phục vụ
ăn tươi cho cư dân trong và ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà mái che nilon không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, nhân giống
và sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính Israel
có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường
Các vùng sản xuất rau hàng hóa lớn: đồng bằng sông Hồng, một số tỉnh trung du, vùng Lâm Đồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long… Bên cạnh đó còn có các vùng sản xuất rau phục vụ cho nhu cầu tại chỗ như: miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, duyên hải miền Trung và một số tỉnh Tây Nguyên
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bắp cải ở Việt Nam
Ở Việt Nam bắp cả được thống kê cùng với các cây họ cải khác như cải
củ, súp lơ, cải xanh, su hào… Diện tích bắp cải và các loại rau khác năm 2014 đạt 36020 ha, với năng suất 251.723 tạ/ha
Trang 25Bảng 1.5 Tình hình sản xuất cây bắp cải ở Việt Nam (2010-2014)
1.7 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Việt Nam
Sản lượng rau an toàn qua các năm ngày càng tăng do nhu cầu tiêu dùng
và khả năng sản xuất rau ngay càng tăng Đã xuất hiện các thương hiệu RAT trên thị trường như: Văn Đức, Năm Sao, Bảo Hà, Yên MỹẦẦsản phẩm RAT đang dần đi vào cuộc sống thường ngày của người tiêu dùng Vấn đề đầu tư kết cấu hạ tầng đã và đang được từng bước quan tâm, hệ thống nhà lưới nhà kắnh đã được đầu tư để nâng cao chất lượng và sản phẩm RAT Kim ngạch xuất khẩu rau ở việt nam cũng có xu hướng tăng trong nhữn năm tới [3]
Các chắnh sách của đảng và nhà nước đã đóng góp một phần quan trọng vào thành tựu của đất nước nói chung và lĩnh vực sản xuất RAT nói riêng Nhìn chung những chắnh sách khuyến khắch phát triển sản xuất đã tác động tắch cực đến nghành nông nghiệp trong đó có ngành rau quả và tạo nên những bước biến đổi lớn Có thể đánh giá những thành tựu đạt được đói với một số chắnh sách như sau: chắnh sách về đất đai có tác động lớn đến giải phóng sức sản xuất đồng thời phát huy quyền làm chủ trong phát triển sản xuất, kinh doanh Khuyến khắch người đầu tư phát triển lâu dài phát huy hiệu quả sử dụng đất đai: thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng khai
Trang 26thác lợi thế sinh thái từng vùng, từng bước hình thành các vùng sản xuất RAT[13]
Nhiều mô hình sản xuất rau hiện nay đạt hiệu quả kinh tế cao, giá trị thu nhập đạt 400 – 500 triệu VND/ha/năm và cao hơn Tuy nhiên sản xuất rau, nhất
là rau an toàn ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn và bất cập: công tác quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức; việc áp dụng các biệp pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuất chưa được hỗ trợ giải quyết thỏa đáng; thị trường, xúc tiến thương mại, khuyến khích hỗ trợ hoạt động xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức Đặc biệt là chất lượng RAT khi phân tích vẫn còn dư lượng Nitrate, thuốc trừ sâu và các vi sinh vật gây hại còn khá cao Việc quản lý, sản xuất RAT cần phải được quan tâm đặc biệt và cũng là những vấn đề cần được giải quyết ngay trong thời gian hiện nay và những năm tiếp theo [3]
Sản xuất rau an toàn vừa là nhu cầu vừa là mục tiêu và định hướng của sản xuất rau cả nước Rau an toàn được hiểu với nhiều khái niệm, nhiều hạng bậc khác nhau, trong phạm vi bài viết này, rau an toàn được hiểu là rau đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Theo số liệu từ Sở NN & PTNT năm 2012
Diện tích trồng rau cả nước ước đạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất ước đạt 170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng ước đạt 14,0 triệu tấn (tăng 106% so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357,5 nghìn ha, năng suất ước đạt 160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích ước đạt 466,2 nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 8,3 triệu tấn
Trang 27Bảng 1.6 Diện tích gieo trồng rau các tỉnh năm 2011-2012
(Theo số liệu từ Sở NN & PTNT năm 2012)
Qua tập hợp báo cáo của 46 Sở Nông nghiệp và PTNT đến hết tháng 9/2012:
- Số diện tích đã được Sở Nông nghiệp và PTNT cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/ 10/ 2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn là 6310,9 ha
- Số diện tích rau sản xuất theo hướng an toàn (nông dân đã áp dụng quy trình sản xuất an toàn nhưng chưa được chứng nhận) là 16.796,71 ha
- Số diện tích đã được 20 tỉnh quy hoạch sản xuất rau an toàn là 7.996,035 ha Cũng qua tập hợp báo cáo của 46 Sở Nông nghiệp và PTNT và 12 tổ chức chứng nhận VietGAP đến hết tháng 9/2012 số diện tích rau được cấp Giấy chứng nhận VietGAP và các GAP khác (GlobalGAP, MetroGAP) là 491,19ha
Trang 28Trong năm 2012, Cục Trồng trọt thành lập 3 Đoàn kiểm tra điều kiện sản xuất rau đảm bảo an toàn thực phẩm tại 22 tỉnh, thành phố (An Giang, Sóc Trăng, Bình Định, Gia Lai, Ninh Thuận, Tây Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Bình,
Hà Tĩnh, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hòa Bình, Lạng Sơn, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Hà Giang)
1.8 Quy trình sản xuất phân trùn quế
Con giun quế được nuôi bằng phân bò tươi Đến thời gian thu hoạch con giun quế tươi sẽ được tách ra để làm giống hoặc sản xuất thành bột giun quế, dịch giun quế, mắm giun quế Còn lại môi trường dùng để nuôi giun quế sẽ qua sàng lọc tạp chất, giảm độ ẩm trở thành phân giun quế nguyên chất
Trong quá trình sinh trưởng, giun quế ăn phân bò và thải ra lượng mùn hữu cơ giúp cho cây mọc rễ nhanh, các chất hữu cơ trong phân đều là chất hữu
cơ đã được phân hủy nên rất dễ hấp thu giúp cây phát triển tốt nhất Không giống như các loại phân vô cơ, phân hữu cơ có tác dụng lâu dài với đất và còn mãi trong đất
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất phân trùn quế
Chất nền: Là yếu tố quan trọng cho trùn trong thời gian đầu sinh sống, là nơi trú ẩn khi trùn tiếp xúc với môi trường mới và phải đạt các yếu tố sau: tơi xốp, sạch, giàu dinh dưỡng…
Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp nhất cho trùn phát triển là từ 20 – 20o
C (đối với bà con một số khu vực ở khu vực phía Bắc cần chú ý: vào mùa đông nhiệt
độ xuống thấp, lúc này chúng ta cần che chắn kỹ, thắp đèn điện vào ban đêm sao cho luôn giữ nhiệt độ ở mức thích hợp, tránh trường hợp trùn bị ngủ đông)
Độ ẩm: Nước là thành phần quan trọng nhất của cơ thể trùn, chúng chiếm khoảng 65 – 80% trọng lượng cơ thể trùn nên chúng ta phải thường xuyên tưới nước cho trùn (ít nhất 2 lần/ ngày) Để nhận biết độ ẩm thích hợp bằng cách: Lấy tay nắm phần sinh khối trong chuồng sau đó thả ra, nếu thấy phần sinh khối còn giữ nguyên và tay ta chỉ ướt là đủ, nhưng nếu thấy nước chảy ra hoặc phần sinh khối bị vỡ và rơi xuống như vậy là quá ướt hoặc quá khô
Trang 29Ánh sáng: Trùn rất sợ ánh nắng nên ta cần phải che chắn chuồng thật kỹ vào ban ngày để tránh tia tử ngoại lọt vào chuồng Tuy nhiên cần phải giữ cho chuồng thoáng mát
Không khí: Khí CO2, H2S, SO3, NH4 là kẻ thù của trùn nên ta phải chắc chắn rằng thức ăn của trùn phải sạch và không có các thành phần hóa học gây bất lợi cho trùn, chuồng trại
Độ PH: 5-7
Trùn quế có thể tiêu hóa được nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, nhưng nguồn nguyên liệu đầu vào là phân bò sữa tươi, là nguyên liệu tốt nhất để cho ra sản phẩm phân trùn quế có chất lượng sạch và tốt nhất
1.9 Thành phần và tác dụng của phân trùn quế
Phân giun quế nguyên chất dùng để cải tạo đất giúp đất tơi xốp, tăng độ phì, bổ sung các thành phần hữu cơ cần thiết cho đất
Là một trong những loại phân đứng đầu về chất lượng chất hữu cơ Trong phân trùn có vi sinh vật sống vì thế nó có công dụng cải tạo đất, được tạo ra do trùn quế tiêu thụ phân trâu bò thải ra phân, vì thế phân trùn quế là tinh chất của phân trâu bò, loại bỏ được hoàn toàn mầm cỏ dại, kiểm soát được mầm bệnh
Trong phân trùn có các acid amin: Acid Aspatic 0,4%, Threonin 0,19%, Serin 0,2%, alanine 0,26%, Acid glutamic 0,44%, Glycin 0,28%, Valin 0,38%, Methionin 0,12%, Isoleusin 0,36%, Leusin 0,24%, Tyrosin 0,08%, Phenylalanine 0,22%, Lysine 0,16%, Hitidin 0,05%, Prolin 0,19%, Xystin 0,11%, Tryptophan 0,25%, Arginin 0,09% mà các phân hữu cơ khác không có
Độ pH: 6,5-7 làm cho cây hấp thụ dinh dưỡng tốt nhất
Có Acid Humic ở trạng thái phân bổ về mặt ion, kích thích sự phát triển
Trang 30Đặc biệt trong phân trùn còn là một lượng trứng trùn và trùn con đáng kể, sau một thời gian trứng nở, trùn con tiếp tục về với thiên nhiên làm nhiệm vụ
“Cải tạo đất”
Phân trùn quế là loại phân bón thiên nhiên giàu dinh dưỡng có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng Không giống như phân chuồng, phân trùn được hấp thụ ngay một cách dễ dàng bởi cây trồng Phân trùn quế không chỉ kích thích tăng trưởng của cây trồng mà còn tăng khả năng duy trì giữ nước trong đất và thậm chí còn có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ…
Phân trùn quế chứa một số sinh vật có hoạt tính cao như vi khuẩn, nấm mốc, đặc biệt là hệ vi khuẩn cố định đạm tự do (Azotobacter), vi khuẩn phân giải lân, phân giải cellulose và chất xúc tác sinh học Vì thế hoạt động của các sinh vật lại tiếp tục phát triển trong đất
Phân trùn quế giàu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước và chứa đựng hơn 50% chất mùn được tìm thấy trong lớp đất mặt Không như phân động vật, phân trùn có thể được cây trồng sử dụng ngay
Phân trùn quế cung cấp các chất khoáng cần thiết cho sự phát triển của cây trồng như đạm, lân, kali, canxi, magie Nó cũng chứa mangan, đồng, kẽm, coban, borat, sắt… Sự hữu dụng nhất là các chất này có thể được cây hấp thụ ngay không như các phân hữu cơ khác phải được phân hủy trong đất trước khi cây hấp thụ Sẽ không có bất cứ rủi ro, cháy cây nào xảy ra khi bón phân giun quế
Chất mùn trong phân loại trừ được độc tố, nấm hại và vi khuẩn có hại trong đất nên nó có thể đẩy lùi những bệnh của cây trồng Do vậy, phân trùn quế hạn chế khả năng gây hại cho cây trồng
Phân trùn quế có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu
cơ Điều này ngăn ngừa cây hấp thụ nhiều phức hợp khoáng hơn nhu cầu của chúng
Phân trùn quế có pH=7 nên nó hoạt động như một rào cản, giúp cây phát triển trong đất ở độ pH quá cao hay quá thấp
Trang 31Acid Humic trong phân trùn quế kích thích sự phát triển của cây trồng, thậm chí ngay cả nồng độ thấp Trong phân trùn quế, Acid Humic cũng kích thích sự phát triển của vi khuẩn trong đất
Phân trùn quế tăng khả năng giữ nước của đất vì phân trùn quế có dạng hình khối, nó là những cụm khoáng chất kết hợp theo cách mà chúng có thể để chống sự xói mòn và sự va chạm cũng như khả năng giữ nước góp phần làm cho đất tơi xốp và giữ ẩm được lâu
Phân trùn quế làm giảm hàm lượng Acid carbon trong đất và gia tăng nồng độ Nito trong một trạng thái cây trồng có thể hấp thụ được [11]
1.10 Tình hình nghiên cứu phân bón hữu cơ trên thế giới và Việt Nam
Phân hữu cơ là các loại chất hữu cơ khi vùi vào đất sau khi phân giải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.Quan trọng là phân hữu cơ có khả năng cải tạo đất rất lớn
Phân hữu cơ bao gồm: Phân bắc, nước giải, phân gia súc, gia cầm, rác thải
đô thị sau khi được ủ thành phân ủ các phế phẩm của công nghiệp thực phẩm (đồ hộp và kỹ nghệ dầu thực vât) và các tàn thể thực vật khi được vùi trực tiếp vaò đất cũng được xem là phân hữu cơ (Vũ Hữu Yêm, 1998)
Phân hữu cơ sinh học là phân hữu cơ được sản xuất có nguồn gốc từ các nguồn nguyên liệu là các chất hữu cơ (than bùn, phế phụ phẩm nông nghiệp…) được xử lý và lên men theo quy trình công nghiệp với sự tham gia của một hay nhiều chủng vi sinh vật
Phân hữu cơ vi sinh
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) chỉ ra rằng: Phân hữu cơ vi sinh là loại sản phẩm phân bón được tạo thành thông quá quá trình lên men vi sinh vật có ích
Đó là vi khuẩn cố định nitơ nội sinh (Azotobactor, Azosprrillum), vi khuẩn nắm phân giải photphat khó tan (Bacillus Poluaixa, Pseudomonas striata, Aspergillus awamori…) Ngoài ra còn bổ sung các nguyên tố đa lượng phốt pho, nitơ, kali
và vi lượng
Trang 32Nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ có thể kể đến là phế thải người, động vật, gia súc, gia cầm, phế thải chế biến thủy hải sản, tồn dư cây trồng nông lâm ngư (thân, lá, rễ, cành), than bùn…
Phân hữu cơ có vai trò lớn:
- Cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
- Đảm bảo cung cấp đầy đủ, hợp lý các tập đoàn vi sinh vật hữu ích, giúp cải tạo lý, hóa tính và tăng độ phì nhiêu cho đất
- Quá trình trao đổi chất giữa các cation Fe, Ca, Mg, Al, Bo… thông qua axit humic, các hợp chất humat, giúp phân giải các dinh dưỡng bị cố định trong đất như lân, kali, canxi làm cho nó trở nên hữu dụng, tăng hiệu lực phân khoáng
- Đẩy nhanh tốc độ phân giải xenlulo, tăng hữu cơ, bồi dưỡng, kiến tạo và làm tăng hàm lượng mùn cho đất Làm giảm độ cứng, vón cục, tăng tính thấm
và giữ ẩm cho đất
- Kích thích sự tạo thành và hoạt động của các men xúc tác trong cây, tăng cường hình thành chất diệp lục, tăng hiệu suất quang hợp, tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng
- Đảm bảo khai thác cây trồng nhiều vụ, cho nông sản sạch và không gây ô nhiễm môi trường
Nghiên cứu phân hữu cơ cho cây trồng
- Sử dụng phân hữu cơ vi sinh vừa có tác dụng nâng cao năng suất chất lượng nông sản cải tạo đất góp phần bảo vệ môi trường (Suichi Yoshida, 1985)
- Kết quả nghiên cứu của Phạm Tiến Dũng và Nguyễn Thị Nga (2013) tại trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội cho thấy bón phân giun quế cho su hào trồng trong hộp xốp rất phù hợp với mô hình trồng rau đô thị hiện nay Chi phí không cao mà lại thu được sản phẩm rau an toàn tuyệt đối và chất lượng cao cho gia đình [9]
- Bón phân hữu cơ vi sinh có tác dụng cải tạo đất bạc màu tại Sóc Sơn làm hàm lượng mùn tăng từ 0,12-0,18% ở vụ xuân, 0,05-0,15% ở vụ mùa Đạm tăng
từ 0,01-0,03% ở vụ xuân và 0,01-0,02% ở vụ mùa P2O5 dễ tiêu 0,7-3,7% ở vụ
Trang 33xuân,0,6-3,1% ở vụ mùa, K2O dễ tiêu 0,2% ở vụ xuân, 0,1-0,8% ở vụ mùa (Nguyễn Ngọc Tân, 2005) [14]
- Hiệu quả kinh tế của bón phân hữu cơ vi sinh cho lãi thuần từ 1,07-2,33 triệu đồng/ha vụ xuân, 0,88-2,25 triệu đồng/ha vụ mùa
Việc nghiên cứu và ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong sản xuất lúa dù bước đầu thực hiện nhưng đã đạt được những kết quả khả quan
- Trong sản xuất lúa hữu cơ, ngoài việc sử dụng các loại phân hữu cơ bón vào đất như phân chuồng hoai mục, phân hữu cơ vi sinh sông Gianh, việc bổ sung thêm dinh dưỡng hữu cơ qua lá có vai trò quan trọng cho sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa Phun thêm dinh dưỡng qua lá đã làm cho năng suất tăng
có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế tăng từ 28% đến 80% tùy theo mỗi loại dinh dưỡng so với đối chứng không phun (Phạm Tiến Dũng, 2011) [7]
Trong những năm gần đây, nhu cầu về sản phẩm hữu cơ không ngừng tăng lên Do vậy hiện nay có rất nhiều mô hình nghiên cứu và các dự án địa phương mang đến kết quả đáng được ghi nhận, góp phần vạch ra hướng đi mới cho nghành sản xuất nông nghiệp hữu cơ Một số nghiên cứu tiêu biểu như:
- Ảnh hưởng của phân giun quế đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa ĐTL2 trong vụ xuân sản xuất theo hướng hữu cơ tại Gia Lâm, Hà Nội cho thấy việc bón phân giun quế có ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất lúa [4]
- Nghiên cứu hiệu quả của phân bón lá hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Bắc Thơm số 7 được sản xuất theo hướng hữu cơ tại Gia Lâm, Hà
Trang 34nhau đến chỉ tiêu sinh trưởng của cây Trong sản xuất su hào theo xu hướng hữu
cơ trong hộp xốp là 0,6kg/hộp/0,15m2
thì năng suất su hào đạt tối ưu [11]
- Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón sinh học đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây su hào sản xuất theo hướng hữu cơ tại huyện Ba Vì – Hà Nội của Phạm Trung Thành (2013) cho thấy: Sử dụng cácloại phân sinh học làm giảm được hàm lượng NO3- trong củ su hào, tạo ra các sản phẩm rau theo hướng sản xuất rau hữu cơ, vừa đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng và vừa đảm bảo lợi nhuận cho người dân trồng rau [11]
- Ảnh hưởng của liều lương phân Compost và một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dưa chuột sản xuất theo hướng hữu cơ trên đất Gia Lâm - Hà Nội cho thấy: Mức phân Compost và loại phân hữu cơ vi sinh khác nhau có ảnh hưởng khác nhau tới chiều cao cây và số lá cuối cùng Kết quả cho thấy công thức sử dụng 30 tấn Compost và 2,5 tấn phân vi sinh Sông Gianh/ha cho chiều cao cây và số lá cuối cùng lớn nhất [8]
Trang 35CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại Trung tâm thực nghiệm trường đại học Hùng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Thời gian nghiên cứu: vụ đông 2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân trùn quế tới sinh trưởng, phát triển và năng suất rau cải bắp
- Xác định sự ảnh hưởng của phân trùn quế tới chất lượng rau bắp cải sau thu hoạch
- Đánh giá ảnh hưởng của phân trùn quế đến khả năng chịu sâu bệnh hại của cây bắp cải
Trang 36- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Diện tích thí nghiệm mỗi ô: 10m2
- Bố trí thí nghiệm: Theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần nhắc lại, lấy Công thức 1 làm đối chứng Sơ đồ bố trí như sau:
Nhắc lại 1 Nhắc lại 2 Nhắc lại 3
Trang 37- Mật độ trồng: 27000-30000 cây/ hatương ứng với khoảng cách: 60 cm x 50 cm
- Ra ngôi khi cây có 5-6 lá thật, cây con được 25-30 ngày tuổi, phiến lá tròn, đốt xít, mập, lùn
2.4.2 Bón phân
- Cách bón:
Ngoài ruộng sản xuất:
+ Bón lót: Phân giun quế + phân lân
+ Bón thúc: Đạm chia ra bón thành 3 lần khi cây bén rễ hồi xanh (30%), trải lá bàng (30%) và khi cây bắt đầu cuốn bắp (40%) Kali chia làm 2 lần để tưới thúc khi cây trải lá bàng (50%) và khi cây bắt đầu cuốn bắp (50%)
2.4.3 Chăm sóc và xới vun:
- Tưới nước: Sau trồng phải tưới nước ngay Sau đó tưới 2 lần vào buổi sớm và chiều mát Tưới sao giữ được độ ẩm cho đất trong suốt thời gian sinh trưởng
- Vun xới: Xới xáo kết hợp với bón thúc, cắt tỉa lá già, sâu bệnh tạo điều kiện thông thoáng cho cây sinh trưởng và phát triển, không bị sâu bệnh
- Sâu bệnh: Bắp cải là một loại cây trồng nhiễm nhiều loại sâu bệnh nên phải chú ý một số sâu bệnh chính: Sâu xanh, sâu tơ, bọ nhảy… Nên áp dụng biện pháp phòng trừ IPM, tránh dùng thuốc độc hại
2.4.4 Thu hoạch
Khi quả bắp cải đạt kích thước tối đa, bắp cuốn chắc thì tiến hành thu hoạch ngay, loại bỏ lá gốc, lá bị bệnh, không ngâm nước Không làm dập nát, xây xư0ớc quả trong quá trình bảo quản và tiêu thụ
Bắp cải bảo quản ở nhiệt độ 0-2o
C, độ ẩm 92-95% trong 4-8 ngày [13]
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
2.5.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển
- Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây bắp cải
- Thời gian từ trồng đến bén rễ hồi xanh (ngày), trải lá bàng, hình thành bắp, đạt kích thước thu hoạch
Trang 38Theo dõi 5 cây/1 lần nhắc lại, sau đó lấy trung bình 3 lần nhắc lại, thời gian đo đếm 7 ngày/lần
- Chiều cao cây: Đo từ gốc sát mặt đất tới chỗ cao nhất của cây, bắt đầu từ ngày thứ 10 sau trồng Theo dõi cho đến khi cây cuốn bắp
- Động thái ra lá, số lá: Đếm số lá trên các cây đã đo chiều cao từ ngày thứ 10 sau trồng cho đến khi cây cuốn bắp
- Đường kính tán: Đo phần rộng nhất của tán cây Theo dõi 5 cây/1 lần nhắc lại, sau đó lấy trung bình 3 lần nhắc lại, thời gian đo đếm 7 ngày/lần đến khi cây cuốn bắp
- Tốc độ sinh trưởng bắp (đường kính bắp): Đo ở phần đường kính to nhất của bắp và chiều cao của bắp
2.5.2 Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất
- Khối lượng cây (kg): nhổ cả rễ, rũ bỏ đất, giữ nguyên cả gốc và lá già đem cân
- Khối lượng thương phẩm (kg): khi bắp đã cuốn chặt, chặt phần bắp, loại bỏ lá già, lá không ăn được rồi đem cân (Cân 5 cây/ô, rồi lấy trung bình 3 lần nhắc lại.)
-Tỷ lệ bắp bị nứt (%) = số bắp bị nứt/ tổng số củ điều tra
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = Năng suất TB bắp x mật độ x 10000m2
- Năng suất thực tế (tấn/ha) = (Năng suất ô thí nghiệm x 10000m2)/10m2
2.5.3 Chỉ tiêu chất lượng bắp
- Độ chặt của bắp: Tính theo công thức: P = G / (H x D2 x 0,523)
Trong đó: P là độ chặt của bắp ( P càng cao bắp càng chặt)
Trang 39Tính mật độ sâu hại theo công thức:
Tổng số sâu điều tra
Tổng số m2
điều tra
- Bệnh hại
+ Bệnh Thối nhũn + Bệnh lở cổ rễ Tính theo công thức:
[(N1 x 1) + (N2 x 2) + + (Nn x n)]
N x 9 Trong đó: N1 là số lá bị bệnh cấp 1
N2 là số lá bị bệnh cấp 2
Nn là số lá bị bệnh cấp n
9 là cấp bệnh cao nhất
+ Bệnh lở cổ rễ Tính theo công thức:
Số cây bị bệnh
Tỷ lệ bệnh (%) = x 100
Tổng số cây điều tra
2.5.5 Sơ bộ tính hiệu quả kinh tế (trên 1 ha)
- Tổng chi = chi phí vật tƣ + tiền công lao động + các chi phí khác
- Giá sản xuất = Tổng chi/năng suất
- Tổng thu = năng xuất * đơn giá
Trang 40- Lãi thuần = tổng thu - tổng chi
2.6 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu
Số liệu được sử lý thống kê sinh học theo chương trình EXCEL 2013 và IRRISSTART 5.0