i TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA NÔNG – LÂM – NGƯ --- VY HÙNG CƯỜNG KHẢO SÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GÃY XƯƠNG TRÊN CHÓ TẠI PHÒNG KHÁM THÚ Y FUNPET HÀ NỘI VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA NÔNG – LÂM – NGƯ
-
VY HÙNG CƯỜNG
KHẢO SÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
GÃY XƯƠNG TRÊN CHÓ TẠI PHÒNG KHÁM THÚ Y FUNPET HÀ NỘI
VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Thú y
Phú Thọ, 2018
Trang 2i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA NÔNG – LÂM – NGƯ
-
VY HÙNG CƯỜNG
KHẢO SÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
GÃY XƯƠNG TRÊN CHÓ TẠI PHÒNG KHÁM THÚ Y FUNPET HÀ NỘI
VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Thú y
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ QUYÊN
Phú Thọ, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Hùng Vương, được sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo trong trường đã giúp em trưởng thành nhiều hơn, không những học được những kiến thức bổ ích qua các giờ học mà còn thu được lượng kiến thức qua các quá trình sinh hoạt, rèn luyện phát huy khả năng chủ động bản thân trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Qua đây em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu và các thầy cô giáo trong khoa Nông – Lâm – Ngư trường Đại học Hùng Vương
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Quyên đã dạy dỗ chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các bác sĩ tại phòng khám Thú y Funpet thuộc số 34, ngõ 310, Nghi Tàm, quận Tây Hồ, Hà Nội đã tận tình quan tâm, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại phòng khám
Cuối cùng là lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè, những người đã cổ vũ tinh thần, quan tâm, lo lắng và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và làm việc Trong quá trình làm bài không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót, em rất mong được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô giáo để bài báo cáo tốt nghiệp của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Vy Hùng Cường
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
KÝ HIỆU, VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ vii
CHƯƠNG I 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG II 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Một số giống chó được nuôi phổ biến tại địa bàn thành phố Hà Nội 3 2.1.2 Tập tính của chó 7
2.1.3 Một số chỉ tiêu lâm sàng chung của chó 7
2.1.4 Giới thiệu hệ xương 8
2.1.5 X – Quang trên hệ xương 13
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15
CHƯƠNG III 18
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.3.1 Tổng hợp, phân loại bệnh của chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám 18
3.3.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương đến khám tại phòng khám 18
3.3.3 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bị gãy xương 18
Trang 53.3.4 Khảo sát các nguyên nhân, vị trí gãy xương và tính chất vết gãy trên
chó theo dõi 18
3.3.5 Các biện pháp can thiệp ngoại khoa và thử nghiệm biện pháp điều trị 18
3.3.6 Đánh giá mức độ hồi phục của một số phác đồ điều trị 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, phân loại bệnh của chó bị bệnh mang đến khám và điều trị tại phòng khám 19
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán chó bị gãy xương 19
3.4.3 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bệnh 21
3.4.4 Khảo sát nguyên nhân, vị trí gãy xương và tính chất vết gãy 21
3.4.5 Điều trị chó bị gãy xương 22
3.4.6 Thử nghiệm phác đồ điều trị và đánh giá mức độ hồi phục 24
3.5 Xử lý số liệu 26
CHƯƠNG IV 27
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Tổng hợp, phân loại bệnh của chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám 27 4.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương đến khám tại phòng khám 29
4.2.1 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương theo giống 29
4.2.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt 31
4.2.3 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương theo tuổi 32
4.3 Nghiên cứu một số biểu hiện lâm sàng trên chó bị gãy xương 34
4.4 Khảo sát các nguyên nhân, vị trí gãy xương và tính chất vết gãy trên chó đến điều trị 35
4.4.1 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo các nguyên nhân 35
4.4.2 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo vị trí gãy và tính chất của vết gãy 36
4.5 Các biện pháp can thiệp ngoại khoa và điều trị 37
4.5.1 Tỷ lệ chó phải điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa 37
4.5.2 Nghiên cứu các biện pháp điều trị gãy xương tại phòng khám 38
4.6 Đánh giá mức độ hồi phục của một số phác đồ điều trị 39
4.6.1 Đánh giá khả năng hồi phục của chó 39
4.6.2 Thử nghiệm khả năng hồi phục của hai phác đồ điều trị 40
CHƯƠNG V 42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
Trang 65.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC 47
Trang 7
KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Phác đồ điều trị 1 24
Bảng 3.2 Phác đồ điều trị 2 25
Bảng 4.1 Phân loại bệnh của chó đến khám tại phòng khám 27
Bảng 4.2 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo giống đến khám tại phòng khám 30
Bảng 4.3 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt 31
Bảng 4.4 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo lứa tuổi 33
Bảng 4 5 Biểu hiện lâm sàng của chó bị gãy xương 34
Bảng 4.6 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo các nguyên nhân 35
Bảng 4.7 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo vị trí và tính chất vết gãy 36
Bảng 4.8 Tỷ lệ chó phải điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa 37
Bảng 4.9 Các biện pháp điều trị gãy xương tại phòng khám 38
Bảng 4.10 Khả năng hồi phục của chó bị gãy xương 39
Bảng 4.11 Khả năng hồi phục của hai phác đồ điều trị 40
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Hình 4.1 Biểu đồ phân loại bệnh chó đến khám tại phòng khám 27
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt 32
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ chó bị gãy xương theo lứa tuổi 33
Hình 4.4 Tỷ lệ chó bị gãy xương theo các nguyên nhân 35
Hình 4.5 Các biện pháp điều trị gãy xương 38
Hình 4.6 Khả năng hồi phục của chó bị gãy xương 39
Hình 4.7 Khả năng hồi phục của hai phác đồ điều trị 41
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 1 Chó Phú Quốc bị gãy 1/3 giữa xương đùi 47
Hình 2 Ảnh X - Quang Phốc sóc bị gãy xương cẳng tay 48
Hình 3 Chó ta gãy xương chậu trước và sau điều trị 49
Hình 4 Poodle gãy xương cẳng tay kiểm tra lại sau 3 tuần điều trị 50
Hình 5 Vị trí vết gãy xương cẳng tay đã hồi phục hoàn toàn trên 51
Hình 6 Đóng đinh nội tủy trên Pug bị gãy xương đùi và 51
Hình 7 Điều trị bằng đinh nội tủy trên Poodle 51
Hình 8 Đinh cố định ngoài trước và sau khi được tháo ra khỏi chó điều trị 51
Hình 9 Chó sau khi được điều trị bằng đinh cố định ngoài 51
Hình 11 Hệ thống X - Quang kỹ thuật số được sử dụng tại phòng khám 51
Hình 10 Chuẩn bị trước ca mổ 51
Trang 9CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chó là loài động vật rất gần gũi và thân thiết với con người Từ xa xưa chó đã được con người thuần dưỡng, nuôi với nhiều mục đích khác nhau như làm cảnh, trông nhà, chăn gia súc, bảo vệ, kéo xe và tham gia công tác săn bắt tội phạm bảo vệ
an ninh quốc phòng Ngày nay, khi đời sống con người ngày càng được nâng cao, nuôi chó không chỉ với mục đích thông thường mà chó đã trở thành con vật cưng được nhiều người yêu thích
Hiện nay, ở nước ta cuộc sống được nâng cao về mọi mặt thì nuôi chó cảnh trở nên phổ biến và phát triển mạnh, đa dạng cả về số chủng loại, màu sắc và chất lượng Đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… nhiều giống chó được nhập từ nhiều nơi trên thế giới khiến việc nuôi chó cảnh càng trở nên phong phú
Ngoài những bệnh trên hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ sinh dục, thì những chấn thương liên quan đến xương khớp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và đôi khi gây ra những biến chứng nguy hiểm trên chó Trong đó, những chấn thương dẫn đến gãy xương, vỡ xương chậu khá phổ biến khi mà việc nuôi thú cưng
đã phát triển nhưng chưa được quan tâm và chăm sóc đúng mức Phải nói rằng bên cạnh hệ tuần hoàn, tiêu hóa, hô hấp và một số các hệ cơ quan khác trong cơ thể thì hệ xương là một trong những hệ cơ quan vô cùng quan trọng mà chúng ta không thể không nhắc tới, hệ xương cùng với hệ cơ không những định hình, tạo khung cho cơ thể đặc trưng cho loài mà chúng còn là hệ vận động duy nhất giúp cho chó thích nghi với cuộc sống tự nhiên Vì vậy, việc phát hiện sớm các vấn đề về xương khớp trên chó giúp giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm và đưa ra những phác đồ điều trị hợp
lý, kịp thời, tiết kiệm chi phí cho người nuôi
Để góp phần làm tăng hiệu quả phòng trị bệnh, làm giảm thiệt hại trong nuôi chó đồng thời bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu về chó Chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài : “Khảo sát một số vấn đề liên quan đến gãy xương trên chó tại phòng
khám thú y Funpet Hà Nội và thử nghiệm biện pháp điều trị”
Trang 101.2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Trang 11CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số giống chó được nuôi phổ biến tại địa bàn thành phố Hà Nội
2.1.1.1 Các giống chó nội
Theo Vương Trung Hiếu (2006) [4] các giống chó nội có những đặc điểm sau
Chó Vàng: Là nòi chó săn, thường có màu vàng, khá tinh khôn và rất
trung thành, tầm vóc trung bình, cao 50 - 55 cm, nặng 12 - 18 kg Chó đực thành thục sinh dục khi được 16 - 18 tháng Chó cái thành thục sinh dục khi được 12 -
14 tháng Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung bình 5 con Chó được nuôi rộng khắp cả nước
Chó H’Mông: Được cho là loài chó cổ xưa và có lịch sửa lâu đời nhất
Việt Nam hiện nay, là một loài chó săn hay bảo vệ được nuôi bởi những người dân tộc H’Mông cho mục đích săn bắt hoặc trông giữ nhà cửa, chúng rất trung thành với chủ Chó có tầm vóc trung bình, toàn thân cơ bắp, đậm chắc, khung xương rộng, đầu to và ánh mắt biểu cảm linh hoạt Chó sinh ra đã cộc đuôi, đuôi rất ngắn chỉ khoảng 1 – 2 đốt đuôi hoặc không có đuôi, tai nhỏ và vểnh dựng đứng Chó cao 55 - 60 cm, nặng 18 - 20 kg Được nuôi nhiều ở các vùng núi Tây Bắc Hiện nay giống chó này đã được nhiều người chơi thú cảnh nhân giống và nuôi ở nhiều vùng trên cả nước
Chó Phú Quốc: hay còn gọi là chó xoáy Phú Quốc Là giống chó tinh
khôn, dũng cảm, chó Phú Quốc thường có bộ lông đen, vằn vện, vàng hay đỏ lửa, bụng thon, ngực nở sâu, lưng thẳng, lưỡi có đốm, mõm nhỏ và thuôn dài, có xoáy trên sống lưng, chân màng vịt, chó cao 50 - 60 cm, nặng 12 - 18 kg
2.1.1.2 Các giống chó nhập nội
Phốc sóc (Pomeranians):
Giống chó này được lai tạo tại vùng Pomerania (Đức) từ những cá thể có kích thước bé nhỏ thuộc giống German spitz Mõm nhọn và bộ lông dày điển hình của giống Spitz nói lên nguồn gốc từ Bắc Cực Ban đầu, Phốc sóc có kích thước lớn hơn và có màu lông sáng hơn hiện nay Cá thể lớn nhất có kích thước
Trang 12khoảng 13 kg và thường có màu lông trắng Chúng có thân hình thanh thoát với chiều cao cân đối với chiều dài Cổ ngắn linh hoạt, đầu dài, trán hơi lồi Về sau do quá trình tạo giống chọn tạo kích thước nhỏ đồng thời đã có thêm nhiều màu lông như kem, da cam, xám, nâu đen Khối lượng 1 - 3 kg Chiều cao 18 - 30 cm (Borge và cs (2011) [21])
Phốc sóc mặc dù có kích thước nhỏ bé, nhưng vẫn giữ nguyên tính tình dũng cảm của những con chó lớn Chúng sủa dai dẳng và rền vang, luôn cảnh giác cao độ làm cho chúng có thể trở thành giống chó canh gác, thậm chí có thể thay thế giống chó khác Đây cũng là giống chó có tính hiếu kì và có khả năng tiếp thu tốt khi được dạy những trò cần có sự khéo léo
Pug:
Hay còn gọi là Pug mặt xệ, có nguồn gốc từ Trung Quốc Là giống chó thân thiện, hiền lành và đặc biệt sống rất gần gũi và tình cảm, thường được nuôi trong nhà để làm thú vui
Thân hình Pug to ngang hay còn gọi là thân hình vuông Nặng khoảng 10kg, đầu lớn tròn hình bánh bao, tai lớn tròn và cụp, đôi mắt rất to tròn có màu nâu sẫm Miêng Pug rộng, hàm to và khỏe, hàm dưới thường dài hơn hàm trên nên thường nhô ra ngoài Da mặt chúng dày và chảy xệ xếp thành nhiều nếp nhăn Pug có khung xương rộng, xương vai rộng hơn hông Lông mỏng và sát da nên tốn rất ít công chải chuốt nhưng chúng thích lê la và nghịch bẩn (Vương Trung Hiếu (2006) [4])
và nặng 2 – 4kg Miniature Poodle có kích thước trung bình, cao khoảng 40cm
và nặng tối đa 9kg Standard Poodle có kích thước lớn nhất, chiều cao khi đứng đạt 50cm và có thể nặng tới 30kg (Encyclopedia Britannica (2011) [23])
Trang 13Poodle rất tinh nghịch và nổi tiếng bằng khả năng đi bằng hai chân nếu được huấn luyện bài bản Ngoài ra chúng rất vui vẻ, thông minh, biết nghe lời và
dễ huấn luyện Chúng rất thân thiện, gần gũi với con người và rất dễ nuôi
French Bulldog:
French Bulldog có xuất xứ từ Pháp, là kết quả của việc lai tạo giữa giống chó England Bulldog với giống có Sục của Pháp Chúng có tính khí trìu mến, hiền lành và lanh lợi, hoạt bát nhưng không quá hiếu động
Theo Leighton và Robert (1907) [26] thì French Bulldog có kích thước nhỏ nhưng trông cường tráng và cứng cáp Thân mình rất chắc chắn và gọn gàng, dáng đi thẳng thắn và rất nhẹ nhàng Chúng cao khoảng 12cm, con đực nặng khoảng 10 – 12kg, con cái có khối lượng khoảng 9 – 10 kg
Hình dáng chuẩn hình quả lê, mõm ngắn, miệng rộng, mũi tẹt hếch và mặt
có nếp nhăn Tai to và dựng đứng hình giống như tai dơi Lông thường có màu đen, đen đốm trắng, màu vàng hoặc màu vằn vện French Bulldog chịu nhiệt kém nên thích hợp với khí hậu mát mẻ
Alaska:
Hay còn được gọi là Alaska Malamute hoặc Mahlemuts, là một giống chó kéo xe ở Alaska Giống chó sói, người Eskimo đã nhận ra khả năng di chuyển và kéo xe của chúng nên đã cho lai với một số giống chó khác như chó Newfoundland hoặc St Bernard để có được giống chó to khỏe và có sức chịu đựng tốt hơn
Có ba loại chó Alaska được phân loại theo kích thước: Standard Alaska có kích thước tiêu chuẩn, Large Alaska có kích thước tiêu chuẩn lớn, Giant Alaska
có kích thước khổng lồ Alaska Malamute cao trung bình 63,5 cm có thể lên đến
68 cm, Giant Alaska có thể cao đến 70 cm và nặng 75 kg, chúng có thân hình cân đối, chắc khỏe Chúng có bộ lông dài và dày Tính cách trung thành, thân thiện với trẻ nhỏ và luôn nổi bật trong công việc do được huấn luyện chủ yếu để kéo xe nên bản tính săn mồi của chúng rất ít (Huson HJ và cs (2010) [25])
Trang 14Samoyed:
Samoyed là một giống chó săn có nguồn gốc từ vùng Siberia, đây là giống chó có bộ lông trắng tinh như tuyết cùng tính cách mang nhiều đặc điểm của chó sói Samoyed từng được nuôi để kéo xe trượt tuyết trước khi được huấn luyện để nuôi làm cảnh
Là một giống chó siêng năng, thông minh, ưa yên ổn nhưng có thể sủa bất
cứ lúc nào khi có vật tiếp cận nó Thân hình gọn gàng, mạnh mẽ Chó đực cao từ
53 – 60 cm, nặng 20 – 30 kg Chó cái cao khoảng 48 – 53 kg, nặng 16 – 20 kg Tuổi thọ khoảng 12 – 15 năm Chúng có bộ lông dày, bóng mượt, có màu trắng, kém hoặc hơi ngả vàng (Grodecki K và cs (1997) [24])
Malinois:
Malinois là một giống chó thuộc giống chó chăn cừu Bỉ có ngoại hình khá giống chó chăn cừu Đức và thường được gọi là Béc-giê mõm đen Là giống chó thông minh, dẻo dai, cảnh giác và tự tin nên giống chó này dễ dẫn dắt và thích hợp với nhiều mục tiêu đào tạo nhất là thành chó thể thao và chó nghiệp vụ
Con đực cao 61 – 66 cm, trọng lượng khoảng 25 – 30 kg Con cái cao từ 56 – 61 cm, nặng khoảng 20 – 25 kg Ngực sâu, lưng hơi thoải từ vai xuống, hộp sọ phẳng với độ dài và rộng tương đương nhau, mõm hơi nhọn và hơi gãy Cặp mắt nâu vừa phải màu quả hạnh nhân Đôi tai dựng hình tam giác, đuôi khỏe, bàn chân như chân mèo với móng đeo được gỡ bỏ (Leighton và Robert (1907) [26])
Pit Bull:
Theo Capp và cs (2004) [22], Pit Bull (America Pit Bull Terrier, America Bulldog, America Staffordshire Bull Terrier…) có nguồn gốc từ Anh và du nhập vào Mỹ từ khoảng thế kỷ 18 Đặc tính hung dữ và hiếu chiến, được mệnh danh là vua của các loài chó trọi với sức mạnh cơ thể, thần kinh tốt và hàm răng sắc nhọn, chúng sẽ chiến đấu tới hơi thở cuối cùng
Pitbull cao khoảng 45 – 55 cm, nặng khoảng 18 – 22 kg Bây giờ chúng
có thể cao trên 1 m khi đứng thẳng và nặng 50 – 55 kg Chúng có bộ xương chắc khỏe, thân hình cơ bắp, hệ tuần hoàn tốt với một trái tim to, chúng không hề sợ
Trang 15hãi trước kẻ thù Chúng được xếp vào 11 giống chó nguy hiểm nhất đối với con người trên tổng số 400 loài chó hiện nay
2.1.2 Tập tính của chó
Vương Trung Hiếu và cs (2006) [4] đã chỉ ra chó cũng như nhiều động vật khác, đời sống tập tính của nó có nhiều đặc thù Mỗi khi ngủ, nó dán tai xuống đất, bởi mặt đất truyền âm thanh vừa nhanh hơn không khí vừa nghe rõ ràng hơn, chỉ cần nghe thấy tiếng động gì là nó tỉnh ngay lập tức Ngoài ra nó còn thích lùng sục, săn bắt các loài thú nhỏ, nhất là các giống chó săn Chúng thường đánh dấu phạm vi lãnh thổ của mình Thường tấn công khi gặp mèo, thích tha đồ vật rồi giấu đi Đa số chúng dè dặt khi tới môi trường mới và tiếp xúc với người lạ
2.1.3 Một số chỉ tiêu lâm sàng chung của chó
Chó trưởng thành khoẻ mạnh có các chỉ tiêu sính lý không thay đổi như sau:
2.1.3.2 Thân nhiệt
Thân nhiệt ở chó cũng là một chỉ tiêu sinh lý không thay đổi, chúng dao động trong khoảng 37,5oC – 39,0oC Thân nhiệt này phụ thuộc vào cường độ hoạt động, thời tiết…
Mùa hè, thân nhiệt có thể tăng 0,2oC, mùa đông có thể giảm 0,2oC Khi hoạt động với cường độ cao thân nhiệt có thể tăng 0,5oC Khi ngừng hoạt động thân nhiệt lại bình thường (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [12])
Trang 162.1.3.3 Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở trong vòng một phút Mỗi lần thở vào và thở
ra được tính là một nhịp thở Tần số hô hấp phụ thuộc vào lứa tuổi, những con non sẽ có tần số hô hấp cao hơn để phục vụ cho việc trao đổi chất mạnh mẽ của
cơ thể và tần số hô hấp khoảng 20 – 22 lần/phút, chó trưởng thành khoảng 14 –
18 lần/phút Thời tiết khí hậu, cường độ vận động, tình trạng bệnh lý trong cơ thể… cũng ảnh hưởng trục tiếp tới tần số hô hấp
Mùa đông nhịp thở có thể giảm 5 lần/phút Mùa hè có thể tăng 10 lần/phút, khi hoạt động mạnh có thể tăng 10-15 lần/phút (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [12])
2.1.3.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu
Số lượng hồng cầu chó khoảng: 5-8 triệu/mm3 máu; số lượng bạch cầu khoảng: 7.000 – 10.000 nghìn/mm3 máu; hàm lượng huyết sắc tố khoảng: 13 - 18 g%; tỷ khối hồng cầu khoảng: 39 – 57% (Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [16])
2.1.4 Giới thiệu hệ xương
2.1.4.1 Cấu tạo của hệ xương
a Đại thể
Theo Nguyễn Bá Tiếp (2005) [15] mỗi xương có cấu tạo gồm ngoại cốt mạc ở bên ngoài và ở giữa là mô xương xốp, mô xương đặc, tủy xương và nội cốt mạc Mô xương chứa 80% khối lượng xương, có cấu tạo rắn chắc tạo nên sự vững chắc của xương Lớp nội cốt mạc và tủy xương có chức năng chuyển hóa chất khoáng, xương xốp ở đầu xương có nhiệm vụ truyền lực đến vỏ thân xương
Xương dài: Được chia làm 3 phần: Đầu xương, hành xương (đầu thân
xương) và thân xương
- Đầu xương: là một bao sụn nằm bọc lấy đầu của thân xương (hành xương) ở cả hai đầu, đầu xương chứa xương xốp
- Đầu thân xương (hành xương): nằm ngay dưới đĩa sụn tiếp hợp và giới hạn là thân xương Đầu thân xương chứa xương xốp
- Thân xương: là một ống dài ở giữa, bên trong chứa tủy xương
Cốt mạc: Gồm ngoại cốt mạc và nội cốt mạc
Trang 17- Xương được bao bọc bên ngoài bởi lớp màng xương ngoài Màng xương ngoài gồm 2 lớp: lớp ngoài là mô sợi, lớp trong là gồm các tế bào trung
mô có khả năng tạo xương còn gọi là tế bào gốc tạo xương
- Mặt trong của xương (ranh giới giữa mô xương và tủy xương) và mặt trong các khoang xương xốp được lót bởi một lớp tế bào trung mô được gọi là màng xương trong Màng xương trong cũng có khả năng tạo xương như lớp trong của màng xương ngoài, tuy mức độ ít hơn
b Vi thể
Mô xương đặc:
Là lớp xương mịn, rắn chắc, màu vàng nhạt, sắp sếp theo từng lớp mỏng gọi là các phiến xương Các phiến xương này bao quanh các hệ thống ống rất nhỏ chạy dọc theo trục xương gọi là các ống Havers Ngoài ra còn có các kênh Volkmann nhỏ hơn và thẳng gốc với trục xương Các kênh này thông với nhau
và chứa mạch máu, thần kinh và mô liên kết Ở vỏ xương, các phiến xương được định hướng theo đường sức Sự sắp xếp này nhằm tạo sức mạnh của xương và thích ứng theo sự thay đổi của các lực tác động lên xương
Mô xương xốp:
Ở mô xương này, các ống Havers và ống Volkmann không còn chạy dọc
và chạy ngang nữa mà hòa lẫn với nhau, đồng thời chúng tăng số lượng rất nhiều, làm cho xương có nhiều hốc nhỏ như bọt bể Do đó xương có độ xốp
Chất căn bản của xương:
Trên xương tươi chưa lấy tủy, thành phần hóa học được tìm thấy như sau: nước 50%, lipid 15,75%, protein 12,45%, các muối khoáng 21,8%
Trên xương đã lấy đi phần tủy và sấy khô (xương khô), người ta tìm thấy
có 1/3 chất hữu cơ (cốt giao 33,30%) là các protein có cấu trúc phân tử khá bền Phần còn lại khoảng 2/3 là chất vô cơ, bao gồm các muối khoáng như: Phosphate Canxi 57,35%, Carbonate Canxi 3,85%, Phosphate Magie 2,05%, Chlroride Canxi và Chlroride Natri 3,45% Nếu tách phần hữu cơ bằng nhiệt thì không làm biến đổi hình dạng của xương, thấy xương rất giòn, dễ gãy, nên có thể suy ra rằng chất hữu cơ làm xương có tính dẻo dai Nếu lấy đi phần muối
Trang 18khoáng, sẽ thấy xương trở nên mềm, dễ uốn cong Điều này cho thấy chất khoáng tạo nên độ rắn chắc cho xương
2.1.4.2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ xương
Sự hình thành và phát triển của xương là quá trình tạo xương và hủy xương Xương chứa hai loại tế bào chính là tạo cốt bào (osteoblast) và hủy cốt bào (osteoclast) Các tạo cốt bào của mô liên kết có tác dụng tổng hợp gelatin và nệm xương (osteoid), ngược lại hủy cốt bào là các tế bào đa nhân thuộc dòng đại thực bào, có chức năng hóa giáng xương thông qua sự phối hợp những men của lysosome và độ pH thấp Xương luôn được tái tạo của hai chức năng chủ yếu đó (Lê Văn Thọ (2009) [13])
Để tận dụng tối ưu khả năng cung cấp yếu tố, xương được tái tạo tùy theo mức độ các lực nén tác động lên nó
Sự tái tạo xương đóng một vai trò quan trọng trong cân bằng nội mô, nhất
là cân bằng Canxi và Magie Do đó, ngoài các lực cơ học, còn có các hormone và vitamin tham gia vào tạo và hủy xương, thí dụ như hormone cận giáp và giáp, vitamin D…
Ở thú đang phát triển và trưởng thành, việc tạo và hủy xương luôn cân bằng Ở thú già và thú sinh sản quá trình dị hóa sẽ trội hơn quá trình tổng hợp, dẫn tới các bệnh về xương như loãng xương, xốp xương…
2.1.4.3 Chức năng của hệ xương
Nguyễn Bá Tiếp (2005) [15] đã chỉ ra xương cũng như bộ xương đảm nhận vai trò trong việc tạo hình cơ thể, tạo các khoang chứa cơ quan nội tạng, bảo vệ các nội tạng bên trong, hỗ trợ quá trình vận động, là nơi sinh sản tế bào máu… Tóm lại xương có 3 chức năng chính:
a Chức năng cơ học (Nâng đỡ và vận động)
Hệ xương giúp nâng đỡ toàn bộ cơ thể, giữ cho cơ thể được tư thế đứng thẳng, tạo dáng và thực hiện các động tác Xương không thể cử động nhưng là nơi bám của các cơ nên được xem như một hệ đòn bẩy mà điểm tựa là các khớp, nhờ vào đó giúp cơ thể chuyển động
Trang 19b Chức năng bảo vệ
Hệ xương là bộ khung để bảo vệ nhiều cơ quan Hộp sọ bảo vệ não, cột sống bảo vệ tủy sống, lồng ngực che chở cho tim phổi và các mạch máu lớn, khung chậu che chở cho nhiều cơ quan nội tạng thuộc hệ tiết niệu và sinh dục Ngoài ra xương còn bảo vệ tủy xương là cơ quan tạo máu
c Chức năng chuyển hóa
Xương là nơi dự trữ một số ion, đặc biệt chứa 99% lượng Canxi và 85% phosphate của cơ thể dưới dạng tinh thể hydroxyapatite lắng đọng bên trong và bên ngoài sợi gelatin 1% còn lại ở trong máu, dịch ngoại bào hoặc các mô dưới dạng ion hóa hoặc kết hợp với protein và rất cần thiết cho các chức năng co cơ của thần kinh, nội tiết, đông máu,…15% phosphate còn lại ở trong acid nucleic, lipid phosphoryl hóa, protein Cùng với ruột và thận, xương góp phần duy trì nồng độ Canxi và Phosphate máu hằng định
2.1.4.4 Đặc điểm lành bệnh của xương
Theo Lê Văn Thọ (2009) [13] xương gãy có khả năng lành lại một cách tự nhiên Xương của thú sẽ cung cấp nhiều tế bào mới cho tất cả các vị trí xương bị gãy và các mạch máu nhỏ bé sẽ được tái tạo lại cho xương Những tế bào xương mới sản sinh này sẽ bao phủ lên cả hai đầu chỗ xương bị gãy và hàn gắn chặt lại chỗ xương bị gãy cho đến lúc xương rắn chắc như trước đây
Trong quá trình lành xương, phần hữu cơ sẽ được tái tạo trước, bao gồm các tế bào xương với hệ thống các sợi gelatin Sau đó, sự cốt hóa sẽ tiếp nối để được phần mô xương hoàn chỉnh Thời gian lành xương trung bình 8 – 12 tuần tùy cấu trúc của xương
2.1.4.5 Một số vấn đề liên quan đến hệ xương của chó
a Gãy xương, nứt xương
Bệnh lý này thường do té ngã hay do một số tai nạn tác động tới xương gây nên làm gãy hay nứt xương
Đường gãy có nhiều dạng đường gãy khác nhau: gãy ngang, gãy chéo, gãy xoắn, gãy lún, gãy thành nhiều mãnh Gãy một phần (nứt) hay hoàn toàn Gãy không hoàn toàn gọi là gãy cành tươi
Trang 20Gãy xương có thể thành góc, bị xoay biến dạng, phụ thuộc vào vị trí bị gãy Khi bị gãy hở, thì da và các phần mềm ở đó sẽ bị tổn thương, có thể lộ xương ra bên ngoài
b Bệnh loãng xương
Thường xuất hiện trên những thú trưởng thành và thú già
Bệnh xuất hiện trong một thời gian dài mất cân đối giữa nguồn cung cấp Canxi, Phospho so với nhu cầu sử dụng của cơ thể, kết quả là xương mềm, xốp,
dễ gãy
Các nguyên nhân gây bệnh: khẩu phần thiếu Canxi hoặc phospho, thiếu vitamin D, tỷ lệ Ca/P không cân đối trong khẩu phần ăn, thú mang thai cần nhiều Ca, P
Triệu chứng: đau khớp, yếu chân, khó đi lại, gầy ốm, dễ bị gãy xương khi
bị té ngã, hoặc bị tác động cơ học từ bên ngoài, thú dễ mắc các bệnh kế phát khác như bệnh tiêu hóa
c Bệnh còi xương
Bệnh xuất hiện trên thú đang trong giai đoạn tăng trưởng, sau giai đoạn cai sữa với những rối loạn về sự phát triển bộ xương Thường những con tăng trưởng nhanh trong đàn nhạy cảm với bệnh hơn
Nguyên nhân gây bệnh là do: thiếu hụt Canxi hoặc Phosphor trong thức
ăn, mất cân bằng tỷ lệ Ca/P ở giai đoạn sinh trưởng tỷ lệ này thay đổi trong khoảng 1,5 – 2 Nguyên nhân cũng có thể do thiếu vitamin D, vitamin A
Triệu chứng: thú thay đổi tập tính, thích cắn phá Đầu tiên, sụn đầu xương bắt đầu bẹt ra làm chổ khớp xương phình to dần, ngoài ra áp lực tại vùng khớp tăng nên thú vận động khó khăn, chân cứng Sau cùng, các xương bị vặn cong gây bị dị dạng nhất là ở xương chi, lưng thú bị uốn cong, lòng ngực xẹp xuống, xương ngực gồ lên, các nối sụn sườn phình to Thiếu máu, gầy ốm, thường hay rối loạn tiêu hóa và viêm phổi
d Bệnh u xương
Người ta thường phân loại gồm: U xương nguyên phát, thứ phát, u lành, u
ác, phân theo loại mô học Mỗi loại u thường xảy ra ở các lứa tuổi nhất định
Trang 21Nguyên nhân: là do di truyền hoặc rối loạn phát triển ở xương U xương thường gây sưng, nổi u, đau, nếu gần khớp sẽ gây sưng và đau khớp, có thể gãy xương bệnh lý và mất chức năng xương
Triệu chứng: đi lại khó khăn, sờ nắn có thể gây đau, có thể chẩn đoán bằng X- quang có lấm tấm các nốt vôi, phình vỏ xương trên đoạn xương tùy vào từng loại u xương
2.1.5 X – Quang trên hệ xương
2.1.5.1 Nguyên lý hoạt động của máy X – quang
Một bộ phận tạo tia X với bước sóng 0,1 – 0,2 nm được dẫn bằng một ống dẫn tia X, hướng chùm tia X vào vị trí cần chụp trên cơ thể thì chum tia X bị suy giảm do bị hấp thụ bởi các cấu trúc của cơ thể Sự suy giảm này phụ thuộc và độ dày, tính chất, cấu trúc, mật độ của cơ quan mà nó đi qua Cuối cùng chùm tia X tương tác với bộ phận thu nhận (film, detector, màn chiếu…) và xử lý hình ảnh để cho ra kết quả [28]
X – Quang là khả năng đâm xuyên qua các vật liệu không trong suốt với ánh sáng, nhờ đó tia X trợ giúp nhiều trong y học Các hình ảnh X-quang cho ta thấy được những bất thường trên xương, từ đó ta có thể chẩn đoán bệnh một cách chính xác nhất để đưa ra hướng điều trị
2.1.5.2 Cấu tạo của máy chụp X – quang và phòng chụp X – Quang tại phòng khám
Phòng khám sử dụng máy X – Quang kỹ thuật số gián tiếp (Computed Radiography – CR) trên người Máy gồm các bộ phận chính sau: Khối tạo tia X, khối tạo cao thế, bàn chụp, giá chụp, cột đỡ bóng, khối thu nhận
Máy X – Quang tại phòng khám là một máy kỹ thuật số gián tiếp nên khối thu nhận là một cảm biến CR (tấm thu nhận ảnh), một đầu đọc CR (CR Reader)
và một trạm máy tính xử lý hình ảnh (CR Station) Thú cưng sẽ được đặt trên cảm biến CR bên dưới ngay bóng chụp Khi chụp xong, cảm biến CR sẽ được kết nối với đầu đọc CR, các tín hiệu X – Quang sẽ được chuyển thành tín hiệu số
và hiển thị trên màn hình máy tính [28]
Trang 22Phòng X – Quang được phủ một lớp Barit dày trên 3 cm, tường được xây bằng gạch và các trụ bằng bê tông cốt thép đảm bảo các chỉ tiêu an toàn Người chụp được trang bị áo chì trong quá trình chụp
2.1.5.3 Sự tạo hình của ảnh chụp X – Quang
Theo Phạm Minh Thông (2012) [14] chùm tia X phát ra từ bóng đèn là đồng đều, chùm tia này xuyên qua cơ thể động vật và bị hấp thu một phần Phần này tỷ lệ thuận với chiều dày, tỷ trọng và số nguyên tử của phần bị xuyên qua Như vậy, chùm tia X suy giảm không đồng đều khi ra khỏi cơ thể và được ghi hình bằng tia X – Quang Một phim chụp X – Quang có một thang đậm độ khác nhau đi từ màu trắng tới màu đen Những đậm độ khác nhau này là kết quả của
sự hấp thu khác nhau của tia X khi xuyên qua các môi trường Với một chiều dày như nhau hiện tượng hấp thu phụ thuộc vào khối lượng nguyên tử và đậm
độ đặc của môi trường tia xuyên qua
Đậm độ kim loại: gồm các kim loại
Đậm độ Canxi: gồm xương và các thuốc cản quang như iod, BaSO4
Đậm độ mỡ: gồm mô tế bào dưới da và mô mỡ bao quanh các cơ quan Đậm độ nước: gồm nhu mô các phủ tạng, cơ, gân, dây chằng, màng xương, mạch máu, dịch não tủy, dịch mật…
Đậm độ khí: gồm các cấu trúc chứa không khí như khí quản, phế quản, phế nang, xoang mặt, một số đoạn của ống tiêu hóa
Đậm độ trong cơ thể được thể hiện như sau:
Mỡ Khí
Trắng (mờ)
Đen (sáng)
Trang 232.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Thị Huỳnh Hoa (2003) [2] đã khảo sát bệnh lý hệ xương bằng kĩ thuật X – Quang trên chó tại Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị Chi cục Thú Y Tp Hồ Chí Minh Ghi nhận 118 trường hợp bệnh lý hệ xương, chiếm tỷ
lệ 4,07%
Trần Trung Đông, 2006 [1] đã khảo sát các bệnh thường gặp trên chó tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Ghi nhận 12 trường hợp bệnh lý hệ xương, chiếm tỷ lệ 6,28%
Phan Châu Hải Triều (2007) [18] đã khảo sát các bệnh thường gặp trên chó tại Trạm Thú Y Quận 7 Tp HCM Ghi nhận 15 trường hợp bệnh lý hệ xương, chiếm tỷ lệ 2,83%
Năm 2014, Đoàn Văn Chuyên báo cáo 41 trường hợp điều trị gãy kín tầng xương đùi bằng đinh nội tủy có chốt mổ kín dưới màn tăng sáng, đạt kết quả liền xương 100%, bệnh nhân phục hồi rất tốt đạt 92,7% và tốt chiếm 7,3% (Nguyễn Tiến Linh (2018) [5])
Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [19] cho biết xương đòn là xương cốt hóa sớm trong bào thai, hay bị gãy khi lọt lòng, gãy xương đòn chiếm 5% tổng số gãy phần lớn ở trẻ em Xương đòn cong chữ S, 94% nguyên nhân gãy là do đánh trực tiếp từ trên xuống, gãy chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 ngoài; nguyên nhân gãy do ngã chống cánh tay xuống (6%) thường kèm theo tổn thương ở đầu, cột sống cổ
Sở y tế Hòa Bình năm 2007 cho biết thì gãy 2 xương cẳng chân là loại gãy xương thường gặp chiếm tỷ lệ khoảng 30% trong tổng số các loại gãy xương [29]
Tai nạn giao thông đứng đầu, chiếm khoảng 50% tổng số nguyên nhân gây gãy xương hở Đặc biệt có những tai nạn hàng loạt, nhiều bệnh nhân gãy cùng một lúc và gãy hở nhiều xương (Nguyễn Đức Phúc (2010) [19])
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1968, Kuntscher G giới thiệu loại đinh có chốt (Detensor Nail) dựa trên cơ sở đinh không có chốt năm 1940 Đinh chỉ định điều trị cho những gãy không vững thân xương nhờ chốt ngang chống lại được di lệch xoay và di lệch
Trang 24theo trục chi (trích Nguyễn Tiến Linh (2018) [5])
Năm 2006, Chi-Chuan Wu báo cáo 56 trường hợp điều trị gãy 2 tầng xương đùi bằng đinh nội tủy cho kết quả 44/56 trường hợp liền xương mà không cần động hóa sau 6 tháng, không có trường hợp nào nhiễm trùng sâu, di lệch xoay (>150), gập góc (>150) hay ngắn chi (>2cm) Nghiên cứu của C Ikem Innocent kết quả điều trị bằng đinh nội tủy có chốt không sử dụng màn tăng sáng cho thấy có 2,5% chốt sai, 5% chậm liền xương và 5% nhiễm khuẩn nông (trích Nguyễn Tiến Linh (2018) [5])
Theo Nguyễn Đức Phúc và cs (2013) [20], kỹ thuật đóng đinh nội tủy được Hey Groves làm từ đại chiến I song khó khăn về luyện kim khiến cho cơ thể không chấp nhận đinh được đưa vào cơ thể Năm 1940 Kuntscher phổ biến lại kỹ thuật điều trị xương bằng đinh nội tủy ở đại chiến II; dùng tốt cho gãy xương đùi ở 1/3 giữa, với màn tăng sáng, đóng kín dễ dàng Dùng đinh cỡ to, đóng kín bảo vệ được mạch máu ở màng ngoài xương, rất có lợi Mỗi đầu gãy tiếp xúc với đinh khoảng 5 cm
Theo Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [19] cho biết một thông báo 37 ca gãy do hỏa khí vào viện muộn, lúc vào 89% có vết thương bẩn, 22% bị liệt quay được xử lý như sau:
- 7 ca điều trị với cố định ngoài, bị khớp giả 71,5% mặc dù có 3 ca đã ghép xương
- 30 ca điều trị không mổ không cố định ngoài, bị khớp giả 14%
Mostafavi điều trị gãy hở thân xương cánh tay với cố định ngoài, 14/18 ca này là do hỏa khí, 4 ca là do tai nạn Cố định ngoài để khoảng 11 tuần Kết quả cho 12 ca có biến chứng (8 ca nhiễm trùng chân đinh, 1 ca chậm liền, 3 ca khớp giả) (trích Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [19]
Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [19] cũng cho biết Stewart có 107 ca điều trị gãy thân xương cánh tay với bột treo thì kết quả là 94% tốt và rất tốt Năm
1959, cơ sở chỉnh hình ở Pensylvania có 159 ca gãy thân xương cánh tay thì kết quả điều trị với bột treo là 96% hoàn hảo Năm 1961, Breeck có 174 bệnh nhân
bị gãy thân xương cánh tay cũng điều trị bằng bột treo cho kết quả tốt 95,4%
Trang 25Kauaherl có 75 bệnh nhân bị gãy đầu dưới nội khớp xương cánh tay thì sau
mổ kết hợp có 77% tốt, 16% khá và 7% xấu Pelto – Vasenins điều trị 57 bệnh nhân bị gãy đầu dưới xương cánh tay với đinh vít tiêu có 44 ca theo dõi được trong 4,6 năm; kết quả cho cơ năng tốt 81%, 16% nhiễm trùng, 25% bị nắn kém
về giải phẫu, 9% phản ứng với dị vật (trích Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [19])
Trang 26CHƯƠNG III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chó đến khám tại phòng khám thú y Funpet 34 – ngõ 310 – Nghi Tàm – Tây Hồ – Hà Nội
- Bệnh gãy xương trên chó
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Máy X – Quang kỹ thuật số CR
- Bột bó y tế thạch cao Noksan Cast
- Nẹp vít A.O
- Đinh Kirschner, đinh Rush
- Thuốc gây mê Ketamin 10 mg/ml, thuốc an thần Xylazin 2%
- Dao mổ, kìm gặm xương, kẹp tổ chức, kẹp mở vết thương, nạo xương, chỉ inox, bột thạch cao, khoan máy, khoan tay…
3.2 Phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi: chó trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận
- Địa điểm: Phòng khám thú y Funpet 34 – ngõ 310 – Nghi Tàm – Tây Hồ – Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2017 đến tháng 3/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tổng hợp, phân loại bệnh của chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám 3.3.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương đến khám tại phòng khám
- Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương theo giống
- Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt
- Nghiên cứu tỷ lệ chó bị gãy xương theo tuổi
3.3.3 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bị gãy xương
3.3.4 Khảo sát các nguyên nhân, vị trí gãy xương và tính chất vết gãy trên chó theo dõi
3.3.5 Các biện pháp can thiệp ngoại khoa và thử nghiệm biện pháp điều trị
Trang 27- Xác định tỷ lệ chó phải điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa
- Các phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được sử dụng để can thiệp gãy xương
3.3.6 Đánh giá mức độ hồi phục của một số phác đồ điều trị
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, phân loại bệnh của chó bị bệnh mang đến khám và điều trị tại phòng khám
Theo dõi trên 338 chó bị bệnh đến khám tại phòng khám thú y Funpet sau
đó tiến hành lập bệnh án và đồng thời thực hiện các bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu bệnh sử
Bước 2: Khám lâm sàng và ghi chép bệnh án
Bước 3: Chỉ định chụp X – Quang đối với các trường hợp nghi ngờ gãy
xương, trật khớp
Bước 4: Can thiệp điều trị
Dựa vào bệnh án để phân loại các bệnh của chó đến khám tại phòng khám theo các căn cứ về bệnh ngoại khoa của Lê Văn Thọ (2009) [13], bệnh nội khoa của Phạm Ngọc Thạch (2006) [10], bệnh truyền nhiễm của Nguyễn Bá Hiên (2007) [3], bệnh ký sinh trùng của Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [5]
Tất cả các bước đều được thực hiện tại phòng khám thú y Funpet 34 – ngõ
310 – Nghi Tàm – Tây Hồ
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán chó bị gãy xương
* Phương pháp chẩn đoán lâm sàng
Dựa và phương pháp chẩn đoán cơ bản của Chu Đức Thắng (2007) [11], trên cơ sở quan sát vận động, sờ nắn trên chó nghi có biểu hiện gãy xương
Nếu chó có biểu hiện: Tránh vận động vùng cơ hoặc xương, chân co lên,
đi tập tễnh thì nghi ngờ là bị gãy xương hoặc xương bị tổn thương
Nếu chó bị liệt hoàn toàn một phần, liệt chi… nghi ngờ có sự chèn ép của vết gãy lên các dây thần kinh
* Phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh X – Quang
Trên cơ sở kết quả chẩn đoán lâm sàng, chỉ định chụp X – Quang đối với chó nghi ngờ gãy xương để kết luận chính xác vị trí gãy, đặc điểm vết gãy
Trang 28Chụp X – Quang trên 46 chó bị nghi gãy xương theo trình tự các bước: Bước 1: Trước khi chụp X – Quang cần phải chuẩn bị thông tin về film
X – Quang trên máy tính gồm: Số thứ tự chụp, tên thú cưng, giới tính, chọn vị trí được chụp
Bước 2: Chuẩn bị chó được chụp X – Quang Chó phải chụp X – Quang cần được gây mê nông bằng thuốc mê Ketamin để việc chụp không gây nguy hiểm cho người chụp
Bước 3: Bật máy tăng áp cấp điện cho bóng chụp, đặt chó lên trên tấm thu thận tín hiệu ngay bên dưới đèn chụp, chỉnh đèn chụp chính giữa của tấm thu nhận tín hiệu
Bước 4: Khi các bước trên hoàn tất, đóng cửa phòng chụp, người chụp đứng bên ngoài nhấn giữ công tắc 2 – 3 giây là hoàn tất quá trình chụp
Bước 5: Sau khi chụp xong, tấm thu nhận tín hiệu sẽ kết nối với đầu đọc CR
đã được chuẩn bị từ trước đó, film chụp sẽ được hiển thị trên màn hình máy tính
Tỷ lệ chó bị gãy xương theo giống: được chia thành 2 nhóm giống là chó
nội và chó nhập nội với các giống khác nhau Tỷ lệ chó bị gãy xương theo giống (%) được tính bằng công thức:
- Tỷ lệ chó bị gãy xương theo giống (%) = Số chó gãy xương theo giống
Tổng số chó gãy xương x100
Tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt: dựa vào bệnh án đã ghi chép để xác
định số lượng chó đực và chó cái bị gãy xương Tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt (%) được tính theo công thức:
- Tỷ lệ chó gãy xương theo tính biệt (%) = Số chó gãy xương theo tính biệtTổng số chó gãy xương x100
Tỷ lệ chó gãy xương theo tuổi: Căn cứ vào các giai đoạn phát triển và phát
dục của chó, tôi chia độ tuổi của chó thành 4 giai đoạn, giai đoạn từ 0 – 1,5 tuổi, giai đoạn từ >1,5 – 3 tuổi, giai đoạn từ >3 – 4,5 tuổi và giai đoạn >4,5 tuổi Tỷ lệ chó gãy xương theo tuổi được tính theo công thức:
- Tỷ lệ chó gãy chân theo tuổi (%) = Số chó gãy xương theo tuổiTổng số chó gãy xương x 100
Trang 293.4.3 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bệnh
Tiến hành theo phương pháp chẩn đoán lâm sàng của Chu Đức Thắng (2007) [11] Hàng ngày quan sát, theo dõi các triệu chứng lâm sàng trên chó bị gãy xương, sau đó ghi chép lại số liệu, ghi lại những hình ảnh bất thường, các kết quả thu nhận được đều ghi vào bệnh án
- Đo nhiệt độ (oC): dùng nhiệt kế điện tử đặt vào trực tràng rồi bấm nút
đo, sau khoảng 2 – 3 phút nhiệt kế sẽ có tín hiệu kết thúc và đưa ra kết quả Đọc kết quả hiển thị trên nhiệt kế
- Tần số hô hấp (lần/phút): Dùng ống nghe, nghe vùng phổi, đếm số lần hít vào và thở ra của chó trong vòng 1 phút, mỗi lần hít vào và thở ra được tính
là một nhịp hoặc đếm số lần lên xuống của hõm hông trong vòng 1 phút
- Tần số tim mạch (lần/phút): Dùng ống nghe, nghe vùng tim rồi đếm số lần tim đập trong 1 phút
- Quan sát trạng thái thay đổi bất thường hoặc tiến triển có lợi cho điều trị theo thời gian: Quan sát tư thế đi lại, vị trí nghi ngờ gãy xương, các biểu hiện đau
Biểu hiện đau: để cho chó đi lại tự do dưới sàn kết hợp với sờ nắn tại vị trí vết gãy sau khi đã chụp X – Quang Quan sát biểu hiện đau của con vật: quay lại cắn, kêu la
Biểu hiện sưng: sờ nắn và quan sát vị trí gãy so với vị trí không gãy tương ứng thấy phần gãy có kích thước lớn hơn, chỗ sưng mềm hơn vị trí không gãy tương ứng
Bị hạn chế di chuyển: thả cho chó đi tự do dưới sàn nhà, chó có biểu hiện bất thường trong di chuyển như: đi tập tễnh, không thể di chuyển, di chuyển bằng 2 chân…
Sợ hãi: quan sát trực quan biểu hiện của con vật, con vật run sợ, ánh mắt coi chừng và trạng thái phòng vệ khi người lạ sờ vào người hoặc vết gãy
3.4.4 Khảo sát nguyên nhân, vị trí gãy xương và tính chất vết gãy
Khảo sát nguyên nhân: Khảo sát trên những chó bị gãy xương, dựa vào bệnh sử mà chủ vật nuôi cung cấp kết hợp với quan sát đặc điểm vết gãy chúng tôi chia các nguyên nhân dẫn đến gãy xương gồm: gãy xương do bị ngã, gãy
Trang 30xương do tai nạn giao thông, gãy xương do bị người tấn công và gãy xương do cắn nhau Các nguyên nhân này đều được ghi chép vào bệnh án
Khảo sát vị trí gãy xương: Dựa vào hình ảnh chụp X – Quang và vị trí giải phẫu trên cơ thể chó chúng tôi khảo sát các vị trí gãy sau: gãy các xương vùng đầu, xương cẳng tay, xương cánh tay, xương đùi, xương cẳng chân, xương chậu, xương cột sống Các vị trí gãy đều được ghi chép trong bệnh án
Khảo sát tính chất vết thương: Qua quan sát vị trí gãy và sau khi chụp X – Quang trên những chó bị gãy xương, chúng tôi chia tính chất vết gãy thành 2 loại; thứ nhất là loại gãy xương kín: là vết gãy không có vết thương chảy máu ra ngoài; thứ hai là loại gãy xương hở: là vết gãy có vết thương chảy máu ra ngoài
da, có khi thấy đầu xương trồi ra ngoài
3.4.5 Điều trị chó bị gãy xương
Gãy xương do nhiều nguyên nhân như cắn nhau, bị ngã, bị tai nạn giao thông… Mỗi nguyên nhân, cường độ lực tác động sẽ gây ra những vết gãy có đặc điểm và tính chất khác nhau, do đó sẽ ảnh hưởng tới phương pháp điều trị, phẫu thuật hoặc không phẫu thuật (Lê Văn Thọ (2009) [13])
Các phương pháp điều trị được áp dụng theo phương pháp điều trị gãy xương của Nguyễn Đức Phúc (2013) [20]
3.4.5.1 Phương pháp không phẫu thuật
Sử dụng phương pháp bó bột, trong các trường hợp gãy xương mà hai đầu xương vẫn được cố định chắc chắn bởi các tổ chức mà không xê dịch nhiều, các trường hợp rạn xương
từ đó đè ép gián tiếp lên mạch quản gây cản trở tuần hoàn
Trang 31Bước 4: Quấn dải bột xung quanh vị trí đã phủ bông lên, vòng sau cuốn đè lên 1/2 vòng trước Cuốn ít nhất 2 lớp bột xung quanh vị trị gãy Vòng bột không vượt quá chiều dài của bông để tránh trường hợp bột cứng lại cọ sát gây tổn thương da
Bước 5: Miết lõm tại 3 điểm, 1 điểm tại vết gãy, 2 điểm còn lại ở đầu trên
và đầu dưới của vết gãy theo nguyên tắc Charnley
Bước 6: Vẽ sơ đồ gãy, ngày bó, ngày tháo, tên người làm, hẹn kiểm tra
3.4.5.2 Phương pháp phẫu thuật
Đối với các trường hợp cần phải phẫu thuật cần tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Mang dọ mõm cho con vật, garo vết gãy
Bước 2: Tiêm kháng sinh Amoxycillin 15% liều 1ml/10kgTT; vittamin K liều 1ml/4kgTT trước phẫu thuật 1 – 2 tiếng
Bước 3: Gây mê bằng Ketamin 1% IV liều 1ml/20kgTT kết hợp với thuốc tiền mê Xylazin 2% IV liều 1ml/40kgTT
Bước 4: Cạo sạch lông, sát trùng vùng gãy, chuẩn bị dụng cụ phẫu thuật Bước 5: Tiến hành phẫu thuật cố định xương và chăm sóc hậu phẫu
Phương pháp phẫu thuật cố định xương:
- Đóng đinh tạo khung cố định: Sử dụng đinh Rush, cỡ 2 – 4 mm, dài 20 –
30 cm xuyên 4 – 6 cái cố định ngang thân xương, các đinh được chia đều về 2 phía của vị trí gãy, các đinh đóng đảm bảo so le với nhau để khi nắn tạo khung
sẽ có lực giữ 2 đầu xương Khi các xương đã vào đúng vị trí thì nắn khung bên ngoài cho các đầu đinh cố định lại với nhau tạo thành một khung chắc giữ 2 đầu xương ổn định
- Nẹp vít: Nẹp bằng nẹp AO/ASIF nhỏ, thẳng uốn theo xương, mỗi nẹp
khoảng 4 – 6 lỗ khoan để bắt vít Đặt nẹp mặt trên xương, khi khoan phải che phía dưới, tránh phạm vào mạch máu, thần kinh
- Đinh nội tủy: Sử dụng đinh Kirschner cỡ 2 mm đóng từ ổ gãy ra phía
ngoài xương rồi đóng ngược vào đầu trong, bẻ quặp đầu đinh rồi ghép xương xốp vào ổ gãy
Trang 323.4.6 Thử nghiệm phác đồ điều trị và đánh giá mức độ hồi phục
3.4.6.1 Thử nghiệm phác đồ điều trị
Dựa vào đặc điểm quá trình lành bệnh của xương, chúng tôi sử dụng phác
đồ điều trị sau phẫu thuật như sau:
Phác đồ 1:
Bảng 3.1 Phác đồ điều trị 1
Tên thuốc Liều lượng
Đường đưa thuốc
Số lần sử dụng trong ngày
Thời gian sử dụng
Canxi gluconate 28% 1ml/10kg
3 ngày liên tục sau phẫu thuật/nhắc lại mỗi 7 ngày trong 1 tháng
Dexamethasone 0,2% 1ml/5kg TT IV/IM 1 3 ngày
liên tục
Amoxycillin 15% 1ml/10kg
3 ngày liên tục
liên tục
Đến khi cắt chỉ/ tháo đinh