LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của quý thầy cô khoa Nông – Lâm- Ngư, Trường Đại Học Hùng Vương, sau gần bảy tháng thực tập em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp “Khảo sát một số vấn đề liê
Trang 1KHOA NÔNG- LÂM- NGƯ -
Trang 2KHOA NÔNG- LÂM- NGƯ -
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của quý thầy cô khoa Nông – Lâm- Ngư, Trường Đại Học Hùng Vương, sau gần bảy tháng thực tập em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp “Khảo sát một số vấn đề liên quan đến chấn thương xương ở chó tại phòng khám thú y 295 và kết quả điều trị.”
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, cô chú, anh chị tại phòng khám thú y
295 Em chân thành cảm ơn cô giáo – TS Nguyễn Thị Quyên, người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực tập Mặc dù cô bận công tác nhưng không ngần ngại chỉ dẫn em, định hướng đi cho em, để em hoàn thành tốt nhiệm vụ Một lần nữa em chân thành cảm ơn cô và chúc cô dồi dào sức khoẻ Xin cảm ơn tất cả các bạn bè, thư viện, doanh nghiệp, phòng khám đã giúp đỡ, dìu dắt em trong suốt thời gian qua mặc dù số lượng công việc của phòng khám ngày một tăng lên nhưng phòng khám vẫn dành thời gian để hướng dẫn em rất nhiệt tình
Việt Trì, tháng 05 năm 2020
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3 Mục đích của đề tài 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm cơ thể học của hệ xương 3
2.1.2 Sự hình thành và phát triển của xương 5
2.1.3 Quá trình lành của xương 6
2.1.4 Một số bất thường trên xương 7
2.1.5 Các phương pháp điều trị bệnh trên xương 8
2.1.6 Một số giống chó được nuôi phổ biến 11
2.1.7 Tập tính của chó 14
2.1.8 Một số chỉ tiêu lâm sàng chung của chó 14
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 16
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 18
3.3.1 Tổng hợp, phân loại bệnh của chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám 18
3.3.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương đến khám tại phòng khám 18
3.3.3 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bị chấn thương xương 19
3.3.4 Các biện pháp can thiệp ngoại khoa và thử nghiệm biện pháp điều trị 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, phân loại bệnh của chó bị bệnh mang đến khám và điều trị tại phòng khám 19
Trang 53.4.2 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bệnh 21
3.4.3 Điều trị chó bị chấn thương xương 22
3.5 Xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Tổng hợp, phân loại bệnh của chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám 25
4.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương đến khám tại phòng khám 27
4.2.1 Nghiên cứu tỷ lệ các tình trạng chấn thương xương (rạn, gãy) 27
4.2.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo giống 28
4.2.3 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo tính biệt 30
4.2.4 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo tuổi 31
4.3 Nghiên cứu một số biểu hiện lâm sàng trên chó bị gãy xương 33
4.4 Các biện pháp can thiệp ngoại khoa và điều trị 34
4.4.1 Tỷ lệ chó phải điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa 34
4.4.2 Nghiên cứu các biện pháp điều trị chấn thương xương tại phòng khám 35
4.5 Đánh giá mức độ hồi phục của một số phương pháp điều trị 36
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC
Trang 6KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Phân loại bệnh của chó đến khám tại phòng khám 25
Bảng 4.2 Tỷ lệ tình trạng chấn thương xương trên chó đến 27
khám và điều trị tại phòng khám thú y 295 27
Bảng 4.4 Tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo tính biệt 30
Bảng 4.5 Tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo lứa tuổi 32
Bảng 4.6 Biểu hiện lâm sàng của chó bị chấn thương xương 33
Bảng 4.7 Tỷ lệ chó phải điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa 34
Bảng 4.8 Các biện pháp định hướng điều trị chấn thương xương 35
tại phòng khám 35
Bảng 4.9 Khả năng hồi phục của chó bị chấn thương xương 36
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cấu tạo của một xương dài 3
Hình 2.2 Sự hình thành và phát triển của xương 5
Hình 4.1 Biểu đồ phân loại bệnh chó đến khám tại phòng khám 25
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tình trạng chấn thương xương trên chó đến 28
khám và điều trị tại phòng khám thú y 295 28
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ chó bị gãy xương theo tính biệt 31
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo lứa tuổi 32
Hình 4.5 Các biện pháp điều trị chấn thương xương 35
Hình 4.6 Khả năng hồi phục của chó bị chấn thương xương 36
Trang 9CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay chó vẫn được xem là một người bạn trung thành của con người Những chú chó được nuôi với nhiều mục đích khác nhau như: săn bắt, giữ nhà, làm bạn, một người dẫn dắt, một cảnh khuyển… Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội đặc biệt là các giống chó ngoại Chó được nuôi nhiều thì dịch bệnh sảy ra trên chó cũng ngày càng nhiều hơn Bên cạnh những nhóm dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Dại, Care, Parvo thì nhóm bệnh ngoại khoa xảy ra trên chó cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con vật trong đó có vấn đề liên quan đến chấn thương xương ở chó
Ở nước ta hình thức nuôi chủ yếu vẫn là thả rông do đó tình trạng chó bị tai nạn giao thông là không ít Đó cũng là một trong số nguyên nhân chủ yếu gây tổn thương xương và khớp gặp trên chó Hiện nay phương pháp điều trị phổ biến nhất
là bó bột, đây là phương pháp dễ thực hiện, chi phí thấp, hiệu quả điều trị khá cao Tuy nhiên, trong các trường hợp gãy xương phức tạp hơn (xương vỡ vụn, gãy nhiều đoạn) thì phương pháp này dường như không có hiệu quả, có thể dẫn đến việc phải tháo khớp, làm cho xương bị biến dạng, chó không đi đứng được như bình thường.… Để tránh những trường hợp đáng tiếc đó ta cần phát triển nhiều phương pháp mới mang lại hiệu quả cao hơn
Hiện nay trên thế giới đã phát triển nhiều phương pháp điều trị chấn thương xương cho hiệu quả điều trị cao, áp dụng được trong nhiều trường hợp gãy xương khác nhau, giảm được những biến chứng như: nẹp vít, đinh xuyên tủy, cố định ngoài Ở Việt Nam việc ứng dụng các phương pháp mới này còn khá hạn chế, chỉ mới xuất hiện ở vài bệnh viện thú y tương đối lớn và được trang bị tốt
Vì vậy, để làm rõ những thắc mắc trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát một số vấn đề liên quan đến chấn thương xương ở chó tại phòng khám thú y 295 và kết quả điều trị.”
Trang 101.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3 Mục đích của đề tài
- Xác định được tỷ lệ các vấn đề chấn thương xương tại phòng khám thú y 295
- Xác định được hiệu quả điều trị của các trường hợp chó chấn thương xương đến phòng khám tại phòng khám thú y 295
Trang 11
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm cơ thể học của hệ xương
2.1.1.1 Cấu tạo của xương
Theo tác giả Phan Quang Bá (2009) cấu tạo của hệ xương ở chó có đặc điểm như sau:
Hình 2.1 Cấu tạo của một xương dài
Cấu tạo đại thể của mỗi xương dài gồm: Ngoài cùng là lớp ngoại cốt mạc, lớp màng này không hiện diện ở các đầu khớp Kế tiếp là lớp mô xương đặc, rất dày ở thân xương, mỏng dần ở hai đầu xương Lớp mô xương xốp rất mỏng ở thân xương, dày ở hai đầu xương Riêng ở hai đầu xương, mô xương đặc biến mất, chỉ còn sự hiện diện của mô xương xốp Trong cùng là xoang tủy chứa tủy xương
Xương dài gồm 3 phần Đầu xương tăng trưởng (epiphysis) và là một bao sụn nằm bọc lấy đầu của thân xương ở cả hai đầu, đầu xương chứa xương xốp Hành xương (metaphysic) nằm ngay dưới đĩa sụn tăng trưởng và giới hạn là thân
Trang 12xương, hành xương chứa xương xốp Thân xương (diaphysis) là một ống dài ở giữa bên trong chứa tủy xương
Cốt mạc gồm ngoại cốt mạc và nội cốt mạc Xương được bao bọc bên ngoài bởi lớp màng xương ngoài Màng xương ngoài gồm hai lớp: lớp ngoài là mô sợi, lớp trong gồm các tế bào trung mô có khả năng tạo xương còn gọi là tế bào gốc tạo xương Mặt trong của xương (ranh giới giữa mô xương và tủy xương) và mặt trong các khoang xương xốp được lót một lớp tế bào trung mô gọi là màng xương trong Màng xương trong cũng có khả năng tạo xương như lớp trong của màng xương ngoài nhưng mức độ ít hơn
Về cấu tạo vi thể gồm có mô xương đặc là lớp xương mịn, rắn chắc, màu vàng nhạt, sắp xếp theo từng lớp mỏng gọi là các phiến xương Các phiến xương bao quanh hệ thống ống rất nhỏ chạy dọc theo trục xương gọi là các ống Havers Ngoài ra còn có kênh Volkmann nhỏ hơn và thẳng góc với trục xương Các kênh này thông với nhau và chứa mạch máu, thần kinh và mô liên kết Mô xương xốp có các ống Havers và các ống Volkmann hòa lẫn vào nhau, đồng thời tăng số lượng lên rất nhiều, làm xương có nhiều hốc nhỏ như bọt bể, do đó xương có độ xốp
Trên xương tươi chưa lấy tủy thành phần hóa học như sau: nước 50 %, lipid
16 %, protein 12 % và các muối khoáng 22 % Trên xương đã lấy đi phần tủy và sấy khô (xương khô) người ta tìm thấy có 1/3 chất hữu cơ (cốt giao 35 %) là các protein có cấu trúc phân tử khá bền Phần còn lại khoảng 2/3 (65%) là chất vô cơ gồm các muối khoáng: phosphate can - xi (57,3 %), carbonate can - xi (3,8 %), phosphate magie (2 %), chloride can - xi và chloride natri (3,5 %) Nếu tách phần hữu cơ bằng nhiệt thì không làm biến đổi hình dạng của xương, thấy xương rất giòn, dễ gãy nên có thể suy ra rằng chất hữu cơ làm xương có tính dẻo dai Nếu lấy
đi phần muối khoáng sẽ thấy xương mềm, dễ uốn cong Vậy chất khoáng tạo nên
độ rắn chắc của xương
2.1.1.2 Chức năng của xương
Các xương trong cơ thể có các nhiệm vụ quan trọng Các phần tử cứng rắn nhưng thụ động Sự vận động của nó nhờ vào các cơ (bắp thịt) tác động lên theo nguyên tắc đòn bẩy (chức năng vận động của xương) Làm thành bộ khung hoặc
Trang 13các xoang che chở các cơ quan có vai trò quan trọng hoặc dễ bị tổn thương như: não, tủy sống, các cơ quan của bộ máy tuần hoàn, bộ máy hô hấp… Giữ vai trò quan trọng trong việc dự trữ chất khoáng nhất là can - xi, photpho cho cơ thể Tủy xương tham gia vào việc tạo huyết
2.1.2 Sự hình thành và phát triển của xương
Theo tác giả Phan Quang Bá (2009), sự hình thành và phát triển của xương ở chó có đặc điểm như sau:
Hình 2.2 Sự hình thành và phát triển của xương
Phần lớn các xương được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn: đầu tiên hình thành màng rồi chuyển thành sụn, cuối cùng thành xương Bộ xương được phát triển từ trung mô Trong giai đoạn đầu, bộ xương của phôi gồm một dây sống Cũng vào thời điểm này, chất nhu mô xuất hiện ở nhiều nơi khác trong phôi để tạo nên bộ xương nguyên thủy gọi là xương màng Kế tiếp, màng biến thành sụn, rồi sụn được cốt hóa để thành xương Quá trình cốt hóa là sụn được hủy hoại và mô xương thay thế Trong những xương nguyên thủy, xuất hiện nhiều điểm cốt hóa Các điểm này lan dần ra và thay thế cho môi trường sụn Trong các xương dài, giữa thân xương và hai đầu xương còn tồn tại một lớp sụn trong một thời gian khá dài còn gọi là sụn tiếp hợp đầu xương Các tế bào của sụn này còn giữ khả năng sinh sản trong một thời gian, sau đó sẽ bị lấn dần bởi mô xương, sụn tiếp hợp biến mất hoàn toàn khi thú trưởng thành, khi đó xương hoàn toàn ngưng phát triển theo chiều dài Xương lớn lên về chiều dày nhờ lớp ngoại cốt mạc và cũng chấm dứt khi thú trưởng thành Các xương hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn gọi là sự hình
Trang 14thành xương thứ cấp
2.1.3 Quá trình lành của xương
Xương gãy có khả năng lành lại một cách tự nhiên Xương của chó sẽ cung cấp nhiều tế bào mới cho tất cả vị trí xương gãy và các mạch máu nhỏ bé sẽ được tái tạo lại cho xương Những tế bào xương mới sản sinh này sẽ bao phủ lên cả hai đầu chỗ xương bị gãy và hàn gắn chặt lại chỗ xương bị gãy cho tới lúc xương rắn chắc như trước đây Trong quá trình lành xương phần hữu cơ sẽ được tái tạo trước, bao gồm các tế bào xương với hệ thống các sợi gelatin Sau đó, sự cốt hóa sẽ nối tiếp để được phần mô xương hoàn chỉnh Thời gian lành xương trung bình 6 - 8 tuần sau khi bị tổn thương ban đầu Quá trình lành xương gãy gồm có 3 giai đoạn: giai đoạn viêm, giai đoạn sửa chữa, giai đoạn tái tạo và trưởng thành [13]
2.1.3.1 Giai đoạn viêm (Inflammatory phase)
Các tiểu cầu và bạch cầu có hạt cùng di chuyển đến ổ gãy, kích thích và phóng thích enzyme phá vỡ các mảnh vỡ tế bào Bạch cầu đơn nhân trở thành đại thực bào tại vị trí tổn thương, chúng thực hiện thực bào các tế bào hoại tử, mảnh
vỡ của tế bào Bạch cầu đơn nhân phóng thích các chất xúc tác biệt hóa các nguyên sợi bào Các lympho bào cũng tham gia đến chỗ viêm hoạt động hệ thống enzyme tiêu thể, sản xuất interferon, chất gây sốt, tổng hợp huyết khối ở mô và prostaglandin, chúng tham gia tiêu diệt các vật chất lạ từ vết thương, chống lại nhiễm trùng tạo huyết khối
2.1.3.2 Giai đoạn sửa chữa (Reparative phase)
Trong vài ngày khối tụ máu được tạo thành tại vùng gãy, các bạch cầu đơn nhân và nguyên sợi bào bắt đầu chuyển hóa các khối tụ huyết, các tế bào bắt đầu xâm lấn các cục máu đông, nhanh chóng sản xuất các mô như mô hạt, mô sẹo, mô sợi, mô sụn Đây là bước khởi đầu của quá trình sửa chữa Nếu có sự hiện diện của nhiễm khuẩn, các bạch cầu sẽ thực hiện chống nhiễm trùng Tiểu cầu và yếu tố tăng trưởng tăng nguyên sợi bào di chuyển đến vết thương Chúng tạo thành khối u sẹo bên ngoài bao quanh vị trí gãy do tế bào trung mô Chúng chuyển hóa thành u sụn mềm bắt đầu ngấm khoáng, chuyển hóa thành can - xi Các mao mạch bắt đầu hình thành từ bên ngoài, cung cấp máu cho nơi hóa sụn can - xi và cung cấp dưỡng
Trang 15chất cho vết thương Các mô hạt tại vùng gãy chuyển hóa thành trung mô và liên kết sợi rất nhiều collagen Chúng liên kết bắt cầu nối hai vùng gãy lại với nhau và can - xi hóa bắt đầu chuyển từ ngoài vào trong Các tế bào mô xương bắt đầu tăng sinh chuyển hóa thành sụn, sau đó phát triển thành xương Mạch máu bên trong bắt đầu hình thành các mao mạch phát triển phân nhánh liên kết mạch máu hai bờ gãy với nhau
2.1.3.3 Giai đoạn tái tạo và trưởng thành
Là giai đoạn cuối cùng của quá trình lành xương gãy để phục hồi lại chức năng và chịu lực của xương Giai đoạn này chiếm 70% thời gian của quá trình lành xương, các mô sẹo tạo khối u bên ngoài từ từ chuyển hóa giảm dần và biến mất Các mô sẹo bên trong tiếp tục hình thành xoang tủy của thân xương Sự phát triển của mô sẹo từ mềm sang cứng tùy thuộc vào lượng máu cung cấp để đạt được sự chắc chắn liên kết của vùng gãy Sự ổn định của xương gãy và lưu lượng máu được cung cấp đến vị trí gãy sẽ quyết định quá trình lành xương
2.1.4 Một số bất thường trên xương
Chấn thương xương bao gồm các trường hợp như sau :
2.1.4.1 Gãy xương
Thường do ngã hay do một số tai nạn tác động tới xương làm gãy Có nhiều dạng đường gãy khác nhau như: gãy ngang, gãy chéo, gãy xoắn, gãy lún, gãy thành nhiều mảnh Gãy một phần (nứt) hay hoàn toàn Gãy xương có thể thành góc, bị xoay biến dạng, phụ thuộc vào vị trí bị gãy Khi bị gãy hở da và các phần mềm ở
đó sẽ bị tổn thương, có thể lộ xương ra bên ngoài
2.1.4.2 Rạn- nứt xương
Rạn, nứt xương thực chất là một dạng của gãy xương, tức là gãy xương kín, không có di lệch (xương chưa bị tách ra khỏi chiều dọc, chiều ngang hoặc chưa bị thòi ra ngoài da) Nứt xương có thể xảy ra ở bất kỳ xương nào của cơ thể khi có lực tác động mạnh từ bên ngoài vào xương Xương được bọc kiên cố với các tế bào canxi và có phần lõi tủy mềm, nơi các tế bào máu được sản sinh Một thanh xương
bị nứt - rạn khi có lực mạnh tác động quá sức chịu đựng của xương và đi kèm với
Trang 16xương là các bó cơ, gân, dây chằng, dây thần kinh và các mạch máu đều bị ảnh hưởng khi một đoạn xương gặp tai nạn rạn, nứt
2.1.5 Các phương pháp điều trị bệnh trên xương
Tùy theo kết quả chẩn đoán và tình trạng tổn thương mà ta có các phương pháp điều trị khác nhau
Chó bị tổn thương xương có thể do cắn nhau, té từ trên cao, tai nạn giao thông, bị đánh… Tùy vào mức độ nặng nhẹ ta có các biện pháp khác nhau: không phẫu thuật như băng cố định, bó bột và phẫu thuật (nẹp vít, đinh xuyên tủy và cố định ngoài)
2.1.5.1 Phương pháp không phẫu thuật
Phương pháp không phẫu thuật bao gồm phương pháp: Băng bó cố định và
bó bột thạch cao có thể kết hợp với nẹp
Chỉ định với các trường hợp xương gãy không hoàn toàn; xương gãy kín hoặc dạng gãy ngang đơn giản không có sự dịch chuyển; gãy một xương trên cặp xương đôi và gãy ở phần đầu xương
để giữ cố định lớp gòn đệm Sau cùng là một lớp băng dính hoặc băng thun dính ngoài cùng Có thể kết hợp đặt thêm nẹp giữa lớp băng thun và băng dính (hoặc băng thun dính Vetrap)
* Phương pháp bó bột:
- Dụng cụ: Băng thạch cao, bông gòn không thấm nước, gạc
- Dụng cụ để bó bột: cắt bột (dao, cưa), thau nước
- Thực hiện: Chuẩn bị và gây mê thú Cố định chân được bó ở tư thế bình thường Băng một lớp gạc mỏng từ ngón chân đến giữa xương đùi hoặc xương cánh tay (vẫn thấy ngón chân số 3 và 4) Băng lớp gòn không thấm nước lót đệm
Trang 17(băng dầy ở các khớp xương) Nhúng cuộn băng thạch cao vào nước 2 - 3 phút Băng các lớp thạch cao nhẹ nhàng khi chân thú ở tư thế bình thường Vuốt dọc theo chân thú để ép các lớp thạch cao và tạo dáng bình thường cho chân Nhưng tránh siết quá chặt tay sẽ làm bó chặt chân thú làm chèn ép hệ thống mạch máu, teo cơ… Có thể tạo thêm các nẹp bằng băng thạch cao để giữ chân được ổn định
2.1.5.2 Phương pháp phẫu thuật
* Phương pháp cố định nẹp và vít
Chỉ định: các trường hợp gãy ngang, gãy nhiều mảnh vỡ lớn, gãy kéo dài
- Dụng cụ phẫu thuật cơ bản: dao, kéo, kẹp kim, nhíp, kẹp mạch máu…
- Dụng cụ phẫu thuật xương: khoan xương, dụng cụ giữ và vặn vít, nẹp, vít, thước đo, kẹp giữ xương Kern…
- Thực hiện: Chuẩn bị và gây mê thú Dùng dao mổ qua da tới mô liên kết dưới da, tách lớp mô liên kết giữa các bó cơ làm lộ xương ra, dùng kiềm kẹp thân xương cố định và tiến hành nắn cho thẳng trục Dùng dụng cụ khoan một lỗ qua thân xương cách đầu gãy từ 1 - 2 cm Dùng dụng cụ tạo ren cho vít bắt qua xương Sau đó dùng thước đo đưa qua lỗ vừa khoan và tạo ren để đo độ sâu Với thân xương chọn vít có chiều dài hơn 2 mm so với độ sâu của lỗ khoan Đặt nẹp áp vào xương, dùng vít xiết đều tay và có độ chặt vừa phải Sau đó tiến hành khoan lỗ thứ hai nằm bờ bên kia của đường gãy xương, làm tương tự như vít đầu tiên Khi các vít xiết chặt thì nẹp sẽ nén hai đầu xương gãy khít lại với nhau Sau khi bắt hai vít
ở hai đầu xương gãy, các vít còn lại được thực hiện luân phiên giữa hai đầu vết gãy giúp cố định chắc chắn thẳng trục hai bờ gãy
* Phương pháp đinh xuyên tủy
Chỉ định: các trường hợp gãy ngang, gãy xéo, vỡ những mảnh lớn Các
trường hợp gãy ở xương đùi, xương ống quyển, xương cánh tay, xương trụ
- Dụng cụ phẫu thuật cơ bản: dao, kéo, kẹp kim, nhíp, kẹp mạch máu…
- Dụng cụ phẫu thuật chuyên biệt: dụng cụ khoan, đinh xuyên tủy (đinh Steinmann, đinh Kuntscher), chỉ kim loại, kẹp giữ xương Kern.…
- Thực hiện: Sát trùng sạch sẽ nơi tiến hành phẫu thuật, gây mê, cố định thú Dùng dao mổ qua da tại vị trí gãy từ 10 - 15 cm, tách các mô liên kết giữa các bó
Trang 18cơ, làm lộ xương tại vị trí gãy Dùng khoan gắn đinh xuyên tủy vào đưa từ phía đầu trên của xương xoay ½ vòng từ trái sang phải và ngược lại, đưa đinh từ đầu xương đến đầu gãy khoảng 1 cm, sau đó dùng kềm kẹp xương chỉnh đầu xương cho thẳng, đưa đinh qua đầu gãy thứ hai đến gần cuối đầu xương, buộc chỉ kim loại gần hai đầu xương gãy cách 1 - 2 cm giúp hai đầu xương không xoay Dùng kềm cắt đinh cắt sát đầu đinh còn lồi ra ngoài Có thể đưa đinh xuyên qua một đầu xương gãy đến hết chiều dài đinh, sau đó dùng dụng cụ gắn vào đầu đinh ở phía đầu xương và khoan ngược lại vào xương gãy còn lại
* Phương pháp cố định ngoài
Chỉ định: cố định ngoài cần vết thương kín để giữ các cục huyết khối tại vùng xương bị chấn thương và các mô mềm Có thể phẫu thuật sắp lại xương gãy nếu cần
- Dụng cụ phẫu thuật cơ bản: dao, kéo, kẹp kim, nhíp, kẹp mạch máu…
- Dụng cụ chuyên biệt: khoan xương, thanh nối, đinh, vít… Thực hiện: Chuẩn bị và gây mê thú Dùng dụng cụ khoan một lỗ làm đường dẫn vuông góc với thân xương, đưa đinh cố định xuyên qua phía trên hành tủy của chân thú Phía dưới hành xương cũng được đinh xuyên qua như phía trên Hai đinh cố đinh đặt song song nhau, lỗ khoan nhỏ hơn đường kính đinh 0,1 mm Thực hiện nắn xương cho thẳng trục gắn đinh vào các thanh nối Bắt vít nối thanh và đinh với nhau cho chắc chắn, đinh vuông góc với thanh nối Phía bên kia thực hiện tương tự Đưa đinh kế tiếp xuyên qua thân xương vào gần hai đầu ổ gãy bắt vít lại, kiểm tra các vít bắt cho chắc chắn
2.1.5.3 Chăm sóc hậu phẫu
- Tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng, tiêm B - complex từ 3 - 5 ngày
- Thay băng và chăm sóc vết mổ hàng ngày (trong 7 ngày đầu)
- Cắt chỉ may da từ 10 - 15 ngày sau phẫu thuật
- Kiểm tra tình trạng vết thương và tình trạng đau của thú
- Theo dõi quá trình lành xương bằng chụp X - quang vào 7, 14, 30, 60 và 90 ngày sau khi mổ, tình trạng vết thương ngoài da
Trang 192.1.6 Một số giống chó được nuôi phổ biến
2.1.6.1 Các giống chó nội
Theo Vương Trung Hiếu (2006) [5] các giống chó nội có những đặc điểm sau
Chó Vàng hay còn gọi là chó Ta: Là nòi chó săn, thường có màu vàng, khá
tinh khôn và rất trung thành, tầm vóc trung bình, cao 50 - 55 cm, nặng 12 - 18 kg Chó đực thành thục sinh dục khi được 16 - 18 tháng Chó cái thành thục sinh dục khi được 12 - 14 tháng Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung bình 5 con Chó được nuôi rộng khắp cả nước
Chó Phú Quốc: hay còn gọi là chó xoáy Phú Quốc Là giống chó tinh
khôn, dũng cảm, chó Phú Quốc thường có bộ lông đen, vằn vện, vàng hay đỏ lửa, bụng thon, ngực nở sâu, lưng thẳng, lưỡi có đốm, mõm nhỏ và thuôn dài, có xoáy trên sống lưng, chân màng vịt, chó cao 50 - 60 cm, nặng 12 - 18 kg
2.1.6.2 Các giống chó nhập nội
Fox sóc hay Phốc sóc (Pomeranians):
Giống chó này được lai tạo tại vùng Pomerania (Đức) từ những cá thể có kích thước bé nhỏ thuộc giống German spitz Mõm nhọn và bộ lông dày điển hình của giống Spitz nói lên nguồn gốc từ Bắc Cực Ban đầu, Phốc sóc có kích thước lớn hơn và có màu lông sáng hơn hiện nay Cá thể lớn nhất có kích thước khoảng 13 kg
và thường có màu lông trắng Chúng có thân hình thanh thoát với chiều cao cân đối với chiều dài Cổ ngắn linh hoạt, đầu dài, trán hơi lồi Về sau do quá trình tạo giống chọn tạo kích thước nhỏ đồng thời đã có thêm nhiều màu lông như kem, da cam, xám, nâu đen Khối lượng 1 - 3 kg Chiều cao 18 - 30 cm (Borge và cs (2011) [22])
Phốc sóc mặc dù có kích thước nhỏ bé, nhưng vẫn giữ nguyên tính tình dũng cảm của những con chó lớn Chúng sủa dai dẳng và rền vang, luôn cảnh giác cao
độ làm cho chúng có thể trở thành giống chó canh gác, thậm chí có thể thay thế giống chó khác Đây cũng là giống chó có tính hiếu kì và có khả năng tiếp thu tốt khi được dạy những trò cần có sự khéo léo
Pug:
Trang 20Hay còn gọi là Pug mặt xệ, có nguồn gốc từ Trung Quốc Là giống chó thân thiện, hiền lành và đặc biệt sống rất gần gũi và tình cảm, thường được nuôi trong nhà để làm thú vui
Thân hình Pug to ngang hay còn gọi là thân hình vuông Nặng khoảng 10kg, đầu lớn tròn hình bánh bao, tai lớn tròn và cụp, đôi mắt rất to tròn có màu nâu sẫm Miêng Pug rộng, hàm to và khỏe, hàm dưới thường dài hơn hàm trên nên thường nhô ra ngoài Da mặt chúng dày và chảy xệ xếp thành nhiều nếp nhăn Pug có khung xương rộng, xương vai rộng hơn hông Lông mỏng và sát da nên tốn rất ít công chải chuốt nhưng chúng thích lê la và nghịch bẩn (Vương Trung Hiếu (2006) [5])
Poodle rất tinh nghịch và nổi tiếng bằng khả năng đi bằng hai chân nếu được huấn luyện bài bản Ngoài ra chúng rất vui vẻ, thông minh, biết nghe lời và dễ huấn luyện Chúng rất thân thiện, gần gũi với con người và rất dễ nuôi
Malinois:
Malinois là một giống chó thuộc giống chó chăn cừu Bỉ có ngoại hình khá giống chó chăn cừu Đức và thường được gọi là Béc-giê mõm đen Là giống chó thông minh, dẻo dai, cảnh giác và tự tin nên giống chó này dễ dẫn dắt và thích hợp với nhiều mục tiêu đào tạo nhất là thành chó thể thao và chó nghiệp vụ
Con đực cao 61 – 66 cm, trọng lượng khoảng 25 – 30 kg Con cái cao từ 56 –
61 cm, nặng khoảng 20 – 25 kg Ngực sâu, lưng hơi thoải từ vai xuống, hộp sọ phẳng với độ dài và rộng tương đương nhau, mõm hơi nhọn và hơi gãy Cặp mắt nâu
Trang 21vừa phải màu quả hạnh nhân Đôi tai dựng hình tam giác, đuôi khỏe, bàn chân như chân mèo với móng đeo được gỡ bỏ (Leighton và Robert (1907) [27])
Pitbull cao khoảng 45 – 55 cm, nặng khoảng 18 – 22 kg Bây giờ chúng có thể cao trên 1 m khi đứng thẳng và nặng 50 – 55 kg Chúng có bộ xương chắc khỏe, thân hình cơ bắp, hệ tuần hoàn tốt với một trái tim to, chúng không hề sợ hãi trước kẻ thù Chúng được xếp vào 11 giống chó nguy hiểm nhất đối với con người trên tổng số 400 loài chó hiện nay
Phốc hươu (Fox hươu):
Chó phốc hươu và có tên tiếng anh là Miniature Pinscher Đây là một loài thú cưng có xuất xứ từ Đức Với những đặc tính di truyền của đời tổ tiên, chó phốc cũng được nuôi để săn bắt chuột vì chúng có thân hình khá nhỏ gọn và nhanh gọn Sau khi được nuôi giữ, những chú chó phốc đã trở nên gắn kết, thân thiết hơn con người và trở thành vật nuôi cưng trong mỗi gia đình Ngoài ra, Chó fox rất phù hợp đối với những gia đình có nhu cầu nuôi nhằm mục đích để canh gác, săn bắt các loài vật nhỏ, hoặc tham gia các cuộc thi yêu cầu đến sự nhanh nhẹn Chúng được người Việt Nam nuôi rất nhiều, bởi giống chó phốc dễ nuôi, phù hợp với những gia đình có không gian sống nhỏ, đặc biệt hơn đó chính là về giá cả của giống chó fox
ở Việt Nam rẻ hơn so với những loài chó cảnh khác
Corghi:
Giống chó Corgi đã có từ khá lâu rồi Người ta ước tính, chúng bắt đầu xuất hiện vào khoảng 3000 năm trước tại xứ Wales, nước Anh Corgi trong suốt hàng nghìn năm được sử dụng với mục đích chính là chó chăn gia súc và chó săn đuổi
Ưu điểm của giống chó này là chân lùn, mình dài nhưng cực kì nhanh nhẹn Điều
đó giúp chúng dễ dàng tránh được những cú đá hậu của một số con gia súc lớn
Trang 22Đồng thời, tiếng sủa của chó Corgi cực kì uy lực, có thể dằn mặt những con gia súc, khiến chúng khiếp sợ Tại Việt Nam, vào khoảng năm 2010, chó Corgi mới bắt đầu xuất hiện Chúng không hề bị lép vế so với các giống chó cảnh khác Mà ngay lập tức trở thành hiện tượng được nhiều người chơi chó quan tâm và săn lùng Chó Corghi hiện nay được lai tạo nhiều với giống chó khác, chủ yếu phổ biến nhất còn 2 loại Pembroke Corgi: chiều cao vào khoảng 25-30cm và cân nặng từ 9-13kg Giống chó này sẽ phát triển đầy đủ kích thước, cân nặng đạt tiêu chuẩn khi 9 tháng tuổi Tuy nhiên, Pembroke khá tham ăn, do đó rất dễ bị béo phì Cân nặng của chúng có thể lên đến 20kg nếu bạn cho ăn quá nhiều mà không thường xuyên tập thể dục Cardian Corgi: dòng chó này có kích thước nhỉnh hơn một chút so với Pembroke Chiều cao vào khoảng 30-35cm và cân nặng từ 12-15kg (giống chó Corgi thường không có nhiều sự khác biệt giữa con đực và con cái) Cũng giống như Pembroke, Cardigan rất dễ bị béo phì Bạn nên chú ý nhiều hơn đến khẩu phần
ăn và chế độ tập luyện của chúng
Giống chó Corgi thuần chủng có đặc điểm thân hình chung đó là thân dài và
4 chân ngắn Khác với các giống chó khác, chân chó Corgi càng ngắn, thân hình càng dài thì càng đẹp Theo đó, những chú Corgi có ngực sát đất giá sẽ rất cao Và
dù thân hình có phần hư cấu, mất cân đối thì những chú Corgi đó vẫn luôn được
săn đón nhiệt tình
2.1.7 Tập tính của chó
Vương Trung Hiếu và cs (2006) [5] đã chỉ ra chó cũng như nhiều động vật khác, đời sống tập tính của nó có nhiều đặc thù Mỗi khi ngủ, nó dán tai xuống đất, bởi mặt đất truyền âm thanh vừa nhanh hơn không khí vừa nghe rõ ràng hơn, chỉ cần nghe thấy tiếng động gì là nó tỉnh ngay lập tức Ngoài ra nó còn thích lùng sục, săn bắt các loài thú nhỏ, nhất là các giống chó săn Chúng thường đánh dấu phạm
vi lãnh thổ của mình Thường tấn công khi gặp mèo, thích tha đồ vật rồi giấu đi
Đa số chúng dè dặt khi tới môi trường mới và tiếp xúc với người lạ
2.1.8 Một số chỉ tiêu lâm sàng chung của chó
Chó trưởng thành khoẻ mạnh có các chỉ tiêu sính lý không thay đổi như sau:
2.1.8.1 Nhịp tim
Trang 23Nhịp tim được tính bằng số lần tim co bóp trong một phút, nhịp tim cũng thể hiện mức độ hoạt động trao đổi chất, tình trạng bệnh lý… của cơ thể Nhịp tim ở chó phụ thuộc vào lứa tuổi, kích thước của giống, mức độ hoạt động, tình trạng bệnh lý trong cơ thể, thời tiết… và nhịp tim trung bình ở chó con khoảng 110 – 120 lần/phút, chó lớn (giống nhỏ) khoảng 80 – 120 lần/phút, chó lớn (giống to) khoảng 70 – 90 lần/phút (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [14])
Mùa đông nhịp tim có thể giảm khoảng 5 nhịp khi thời tiết lạnh Mùa hè, nhịp tim tăng khoảng 5 nhịp Khi hoạt động mạnh, nhịp tim có thể tăng thêm 10 –
20 l/phút Khi ngừng hoạt động nhịp tim trở lại bình thường
2.1.8.2 Thân nhiệt
Thân nhiệt ở chó cũng là một chỉ tiêu sinh lý không thay đổi, chúng dao động trong khoảng 37,5oC – 39,0oC Thân nhiệt này phụ thuộc vào cường độ hoạt động, thời tiết…
Mùa hè, thân nhiệt có thể tăng 0,2oC, mùa đông có thể giảm 0,2oC Khi hoạt động với cường độ cao thân nhiệt có thể tăng 0,5oC Khi ngừng hoạt động thân nhiệt lại bình thường (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [14])
Mùa đông nhịp thở có thể giảm 5 lần/phút Mùa hè có thể tăng 10 lần/phút, khi hoạt động mạnh có thể tăng 10-15 lần/phút (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [14])
2.1.8.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu
Số lượng hồng cầu chó khoảng: 5-8 triệu/mm3 máu; số lượng bạch cầu khoảng: 7.000 – 10.000 nghìn/mm3 máu; hàm lượng huyết sắc tố khoảng: 13 - 18 g%; tỷ khối hồng cầu khoảng: 39 – 57% (Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [18])
Trang 242.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Thị Huỳnh Hoa (2003) [3] đã khảo sát bệnh lý hệ xương bằng kĩ thuật
X – Quang trên chó tại Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị Chi cục Thú Y
Tp Hồ Chí Minh Ghi nhận 118 trường hợp bệnh lý hệ xương, chiếm tỷ lệ 4,07%
Trần Trung Đông, 2006 [2] đã khảo sát các bệnh thường gặp trên chó tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Ghi nhận 12 trường hợp bệnh lý hệ xương, chiếm tỷ lệ 6,28%
Năm 2014, Đoàn Văn Chuyên báo cáo 41 trường hợp điều trị gãy kín tầng xương đùi bằng đinh nội tủy có chốt mổ kín dưới màn tăng sáng, đạt kết quả liền xương 100%, bệnh nhân phục hồi rất tốt đạt 92,7% và tốt chiếm 7,3% (Nguyễn Tiến Linh (2018) [8])
Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [21] cho biết xương đòn là xương cốt hóa sớm trong bào thai, hay bị gãy khi lọt lòng, gãy xương đòn chiếm 5% tổng số gãy phần lớn ở trẻ em Xương đòn cong chữ S, 94% nguyên nhân gãy là do đánh trực tiếp từ trên xuống, gãy chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 ngoài; nguyên nhân gãy do ngã chống cánh tay xuống (6%) thường kèm theo tổn thương ở đầu, cột sống cổ
Sở y tế Hòa Bình năm 2007 cho biết thì gãy 2 xương cẳng chân là loại gãy xương thường gặp chiếm tỷ lệ khoảng 30% trong tổng số các loại gãy xương
Tai nạn giao thông đứng đầu, chiếm khoảng 50% tổng số nguyên nhân gây gãy xương hở Đặc biệt có những tai nạn hàng loạt, nhiều bệnh nhân gãy cùng một lúc và gãy hở nhiều xương (Nguyễn Đức Phúc (2010) [21])
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1968, Kuntscher G giới thiệu loại đinh có chốt (Detensor Nail) dựa trên cơ sở đinh không có chốt năm 1940 Đinh chỉ định điều trị cho những gãy không vững thân xương nhờ chốt ngang chống lại được di lệch xoay và di lệch theo trục chi (trích Nguyễn Tiến Linh (2018) [8])
Năm 2006, Chi-Chuan Wu báo cáo 56 trường hợp điều trị gãy 2 tầng xương đùi bằng đinh nội tủy cho kết quả 44/56 trường hợp liền xương mà không cần động
Trang 25hóa sau 6 tháng, không có trường hợp nào nhiễm trùng sâu, di lệch xoay (>150), gập góc (>150) hay ngắn chi (>2cm) Nghiên cứu của C Ikem Innocent kết quả điều trị bằng đinh nội tủy có chốt không sử dụng màn tăng sáng cho thấy có 2,5% chốt sai, 5% chậm liền xương và 5% nhiễm khuẩn nông (trích Nguyễn Tiến Linh (2018) [8])
Theo Nguyễn Đức Phúc và cs (2013) [20], kỹ thuật đóng đinh nội tủy được Hey Groves làm từ đại chiến I song khó khăn về luyện kim khiến cho cơ thể không chấp nhận đinh được đưa vào cơ thể Năm 1940 Kuntscher phổ biến lại kỹ thuật điều trị xương bằng đinh nội tủy ở đại chiến II; dùng tốt cho gãy xương đùi ở 1/3 giữa, với màn tăng sáng, đóng kín dễ dàng Dùng đinh cỡ to, đóng kín bảo vệ được mạch máu ở màng ngoài xương, rất có lợi Mỗi đầu gãy tiếp xúc với đinh khoảng 5 cm
Theo Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [20] cho biết một thông báo 37 ca gãy
do hỏa khí vào viện muộn, lúc vào 89% có vết thương bẩn, 22% bị liệt quay được
xử lý như sau:
- 7 ca điều trị với cố định ngoài, bị khớp giả 71,5% mặc dù có 3 ca đã ghép xương
- 30 ca điều trị không mổ không cố định ngoài, bị khớp giả 14%
Mostafavi điều trị gãy hở thân xương cánh tay với cố định ngoài, 14/18 ca này là do hỏa khí, 4 ca là do tai nạn Cố định ngoài để khoảng 11 tuần Kết quả cho
12 ca có biến chứng (8 ca nhiễm trùng chân đinh, 1 ca chậm liền, 3 ca khớp giả) (trích Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [20]
Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [20] cũng cho biết Stewart có 107 ca điều trị gãy thân xương cánh tay với bột treo thì kết quả là 94% tốt và rất tốt Năm 1959,
cơ sở chỉnh hình ở Pensylvania có 159 ca gãy thân xương cánh tay thì kết quả điều trị với bột treo là 96% hoàn hảo Năm 1961, Breeck có 174 bệnh nhân bị gãy thân xương cánh tay cũng điều trị bằng bột treo cho kết quả tốt 95,4%
Kauaherl có 75 bệnh nhân bị gãy đầu dưới nội khớp xương cánh tay thì sau
mổ kết hợp có 77% tốt, 16% khá và 7% xấu Pelto – Vasenins điều trị 57 bệnh nhân
bị gãy đầu dưới xương cánh tay với đinh vít tiêu có 44 ca theo dõi được trong 4,6 năm; kết quả cho cơ năng tốt 81%, 16% nhiễm trùng, 25% bị nắn kém về giải phẫu, 9% phản ứng với dị vật (trích Nguyễn Đức Phúc và cs (2010) [20])
Trang 26CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chó đến khám tại phòng khám thú y 295- Hoàng Văn Thụ- thành phố Hòa Bình – tỉnh Hòa Bình
- Bệnh liên quan đến chấn thương xương trên chó
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Máy X – Quang
- Bột bó y tế thạch cao Noksan Cast
- Nẹp vít A.O
- Đinh Kirschner, đinh Rush
- Thuốc gây mê Ketamin 10 mg/ml, thuốc an thần Xylazin 2%
- Dao mổ, kìm gặm xương, kẹp tổ chức, kẹp mở vết thương, nạo xương, chỉ inox, bột thạch cao, khoan máy, khoan tay…
3.2 Phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi: Chó trên địa bàn thành phố Hòa Bình và một số tỉnh lân cận
- Địa điểm: Phòng khám thú y 295- Hoàng Văn Thụ- thành phố Hòa Bình – tỉnh Hòa Bình
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2019 đến tháng 05 /2020
3.3 Nội dung nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
3.3.1 Tổng hợp, phân loại bệnh của chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám 3.3.2 Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương đến khám tại phòng khám
- Nghiên cứu tỷ lệ các trường hợp chấn thương: gãy, rạn nứt xương (%)
- Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo giống chó
(%)
- Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo tính biệt (%)
- Nghiên cứu tỷ lệ chó bị chấn thương xương theo tuổi (%)
Trang 273.3.3 Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng trên chó bị chấn thương xương 3.3.4 Các biện pháp can thiệp ngoại khoa và thử nghiệm biện pháp điều trị
- Xác định tỷ lệ chó phải điều trị bằng phẫu thuật ngoại khoa
- Các phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được sử dụng để can thiệp chấn thương xương
- Đánh giá mức độ hồi phục của các phương pháp can thiệp điều trị
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, phân loại bệnh của chó bị bệnh mang đến khám và điều trị tại phòng khám
Bước 1: Tiếp nhâ ̣n
Bước 2: Tìm hiểu bệnh sử Khám lâm sàng, ghi chép sổ theo dõi sức khỏe,
ghi chép bệnh án
Bước 3: Phân loa ̣i bê ̣nh
Chỉ định các phương pháp khám câ ̣n lâm sàng đối với từng nhóm bê ̣nh được nghi vấn:
- Ngoại khoa: Chỉ định chụp X – Quang đối với các trường hợp nghi ngờ gãy xương, trật khớp Xét nghiệm chức năng Gan, thâ ̣n, các chỉ số sinh lí máu trước khi tiến hành phẫu thuâ ̣t
Bước 4: Đi ̣nh hướng điều tri ̣
Dựa trên các chẩn đoán, xét nghiê ̣m từ đó bác sĩ phụ trách ca bê ̣nh kết luâ ̣n
bệnh và tiến hành xây dựng phác đồ điều tri ̣
Hậu phẫu sau phẫu thuâ ̣t do chấn thương
Bước 5: Hạch toán chi phí khám, điều tri ̣ (Có thể làm thủ tu ̣c đă ̣t co ̣c với
trường hợp cấp cứu)
Bước 6: Can thiệp điều trị
Bước 7: Theo dõi hàng ngày
Tất cả các bước đều được thực hiện tại cơ sở 2- phòng khám thú y 295
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán chó bị chấn thương xương
Trang 28* Phương pháp chẩn đoán lâm sàng
Dựa và phương pháp chẩn đoán cơ bản của Chu Đức Thắng (2007) [12], trên cơ sở quan sát vận động, sờ nắn trên chó nghi có biểu hiện gãy xương
Nếu chó có biểu hiện: Tránh vận động vùng cơ hoặc xương, chân co lên, đi tập tễnh thì nghi ngờ là bị gãy xương hoặc xương bị tổn thương
Nếu chó bị liệt hoàn toàn một phần, liệt chi… nghi ngờ có sự chèn ép của vết gãy lên các dây thần kinh
* Phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh X – Quang
Trên cơ sở kết quả chẩn đoán lâm sàng, chỉ định chụp X – Quang đối với chó nghi ngờ gãy xương để kết luận chính xác vị trí gãy, đặc điểm vết gãy
Chụp X – Quang trên 46 chó bị nghi gãy xương theo trình tự các bước:
Bước 1: Trước khi chụp X – Quang cần phải chuẩn bị thông tin về film
X – Quang trên máy tính gồm: Số thứ tự chụp, tên thú cưng, giới tính, chọn vị trí được chụp
Bước 2: Chuẩn bị chó được chụp X – Quang Chó phải chụp X – Quang cần được gây mê nông bằng thuốc mê Ketamin để việc chụp không gây nguy hiểm cho người chụp
Bước 3: Bật máy tăng áp cấp điện cho bóng chụp, đặt chó lên trên tấm thu thận tín hiệu ngay bên dưới đèn chụp, chỉnh đèn chụp chính giữa của tấm thu nhận tín hiệu
Bước 4: Khi các bước trên hoàn tất, đóng cửa phòng chụp, người chụp đứng bên ngoài nhấn giữ công tắc 2 – 3 giây là hoàn tất quá trình chụp
Bước 5: Sau khi chụp xong, tấm thu nhận tín hiệu sẽ kết nối với đầu đọc CR đã được chuẩn bị từ trước đó, film chụp sẽ được hiển thị trên màn hình máy tính
Tỷ lệ các trường hợp chấn thương (rạn, gãy) dựa vào bệnh án đã ghi chép để
xác định số lượng chó bị rạn và chó bị gãy xương Tỷ lệ chó bị rạn và gãy xương (%) được tính theo công thức:
Số chó bị rạn xương Tổng số chó chấn thương xương