TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THỊ THU TRANG 17092311 NGHÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành MARKETING Mã chuyên ngành 52340115 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TH S HÀ TRỌNG QUANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021 1 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1 1 Bối cảnh và lý do chọn đề tài Hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển và từng bước hội nhập sâu vào n.
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THU TRANG
Trang 2CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Bối cảnh và lý do chọn đề tài
Hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển và từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì hệ thống an sinh xã hội (ASXH), nhất là BHXH phải được phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người lao động và của người dân Bảo đảm ASXH, trước hết là về BHXH là một trong những mục tiêu rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt của xã hội văn minh, phù hợp với xu thế chung của công đồng quốc tế
hướng tới một xã hội công bằng an toàn và phát triển
Mặt khác, đảm bảo quyền an sinh xã hội là một tiêu chí cần thiết để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia, dân tộc Luật BHXH ra đời có hiệu lực từ năm 2007, riêng chính sách BHXH tự nguyện được áp dụng chính thức từ năm 2008 Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam đã thể chế hóa ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về ASXH của con người (bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), trong
đó BHXH tự nguyện là chính sách an sinh áp dụng cho đối tượng là NLĐ không thuộc phạm vi tham gia BHXH bắt buộc Đến ngày 20/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 để sửa đổi bổ sung Luật BHXH năm 2006 quy định về chính sách BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 Theo đó, chính sách BHXH tự nguyện đã mở rộng về đối tượng tham gia, phương thức đóng, mức đóng và chế độ hưởng hằng năm mở rộng, nâng cao quyền tham gia, thụ hưởng chính sách cho đông đảo nhân dân lao động vì mục tiêu an sinh cho mọi người lao động khi về già Bên cạnh đó, đồng hành cùng với NLĐ từ ngày 01/01/2018, Nhà nước sẽ hỗ trợ tiền đóng cho nguời tham gia BHXH tự nguyện theo
tỉ lệ phần trăm (%)/ tháng đóng theo mức chung hộ nghèo của khu vực nông thôn Cụ thể, theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ quy định thì người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo được hỗ trợ 30% người thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ 25% và các đối tượng khác được hỗ trợ 10% mức chung hộ nghèo khu vực nông thôn
Trang 3Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội thành phố, tính đến ngày 31/07/2020, số người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp với 23.253 người, giảm 311 nguời so với năm
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ những mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho đề tài tương ứng là:
Trang 4Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định thạm gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Mỗi yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Những nhóm giải pháp giúp ngành bảo hiểm xã hội có thể tập trung thực hiện để tăng thêm ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ý định tham gia BHXH tự nguyện của nguời lao động tại TP HCM
Đối tượng khảo sát: NLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM bao gồm những nguời đã tham gia BHXH tự nguyện Cá nhân có đủ tỉnh táo và năng lực hành vi để để lời câu hỏi khảo sát
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Bài báo cáo được thực hiện dựa trên cơ sở các mô hình nghiên cứu có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia của người tiêu dùng do các học viên, các nhà khoa học đã công bố trong các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng và các tài liệu có liên quan khác
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2 phương pháp chính:
Trang 5• Phương pháp nghiên cứu định tính: mục đích của nghiên cứu này dùng để bổ sung
và hiệu chỉnh thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ tại TP HCM Cụ thể được thực hiện theo thứ tự sau: Tổng quan
lý thuyết của các công trình nghiên cứu trước về đề tài tương tự, từ đó đưa ra thang
đo sơ bộ cho đề; Bằng phương pháp phỏng vấn tay đôi và khảo sát sơ bộ, tác giả hiệu chỉnh thang đo cho các nhân tố tác động vào biến mục tiêu trong mô hình nghiên cứu từ đó, hình thành thang đo chính thức và thiết kế bản câu hỏi chính thức để thu thập dữ liệu từ đối tượng khảo sát
• Phương pháp nghiên cứu định lượng: mục đích là kiểm soát mô hình nghiên cứu
đã đề ra Số lượng mẫu dự kiến 270 mẫu Đề tài sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu như: kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), và các phép kiểm định t-Test, ANOVA, hồi quy tuyến tính với phần mềm
1.7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiển của đề tài được thể hiện qua mấy chiều cạnh sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu này cung cấp những thông tin, số liệu hữu ích liên quan đến nhu cầu, thực trạng và những rào cảng đối với việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động để giúp các nhà quản lý có thêm cơ sở hoàn thiện hơn hệ thống chính sách BHXH nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách này
Thứ hai, dựa trên những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra một số hàm ý quản trị thu hút sự quan tâm tham gia BHXH tự nguyện của lao động
1.8 Kết cấu đề tài khóa luận
Bài khóa luận tốt nghiệp gồm 5 chương:
Trang 6Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: chương này tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về BHXH và xác định các vấn đề cần nghiên cứu trong bài báo cáo, đưa ra mục tiêu nghiên cứu từ vấn đề được xác thực Các phương pháp nghiên cứu và tầm quan trọng của đề tài cũng được đề cập trong chương này
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu: chương này giải thích một
số khái niệm liên quan đến BHXH Ở chương 2, một số lý thuyết liên quan đến ý định mua của người tiêu dùng cũng được tìm hiểu và phân tích để có thể chọn lý thuyết thích hợp nhất để áp dụng trong cuộc khảo sát
Chương 3: Trình bày phương pháp để nghiên cứu đề tài Chương này trình bày các phương pháp áp dụng để thu thập và phân tích dữ liệu đồng thời cung cấp các cấu trúc
và đặc điểm khác nhau của cuộc khảo sát chẳng hạn như kích thước, bảng câu hỏi và mẫu
Chương 4: Phân tích dữ liệu đã thu thập được từ việc tiến hành khảo sát Sau khi khảo sát được tiến hành, kết quả phân tích dữ liệu được trình bày trong chương này bao gồm các đặc điểm nhân khẩu học của những đối tượng tham gia khảo sát, số liệu thống kê, mô tả của các biến và kết quả thử nghiệm giả thuyết
Chương 5: Giải pháp và đưa ra kết luận Với phát hiện đã thu được từ chương 4, chương 5 tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH và đưa ra một số hàm ý quản trị đối với nhà nước và ngành BHXH
Tóm tắt chương 1
Chương 1 giới thiệu đề tài nghiên cứu bằng cách trình bày nền tảng nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu và giải thích ý nghĩa của nghiên cứu Chương này cũng cung cấp tổng quan các vấn đề trong bài nghiên cứu như: phương pháp, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của đề tài nghiên cứu
Trang 7CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 “An sinh xã hội”
2.1.1 Khái niệm “An sinh xã hội”
“An sinh xã hội” (ASXH) là khái niệm được ra đời ở các nước công nghiệp phát triển
từ cuối thế kỷ XIX và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới ASXH là khái niệm có nội dung rộng và ngày càng được hoàn thiện về phạm vi, đối tượng và chức năng Theo một số tổ chức thế giới thì ASXH được hiểu như sau:
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biệc pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, cú sốc về kinh tế và xã hội là mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động hoặc tử vong Cung
cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có nạn nhân trẻ em” Định nghĩa nhấn
mạnh sự phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho đối tượng của BHXH Theo Ngân hàng Thế giới (WB); “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiếm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập” Định nghĩa nhấn mạnh đến các giải pháp hạn chế nguy cơ làm giảm thu nhập của cá nhân, gia đình và cộng đồng
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “ASXH là các chính sách, chương trình giảm nghèo và sự giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của nguời dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập” Định nghĩa nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động tiêu cực đến người dân
Ở Việt Nam, khái niệm ASXH cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau
GS.TS Mai Ngọc Cường trong công trình “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính
sách ASXH ở Việt Nam” lại cho rằng, để thấy rõ bản chất của ASXH cần phải nắm
bắt khái niệm này theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Trang 8Theo nghĩa rộng “ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được bình
an, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội” Còn khi hiểu ASXH theo nghĩa hẹp thì đó
“là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa”
Theo GS Hoàng Chí Bảo “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân
đến cộng đồng, taọ tiền đề và động lực phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một còn người và phát triển các sức mạnh bản chất người, từ là nhân tính trong hoạt động trong đời sống hiện thực của nó
như một chủ thể mang nhân cách”
Trong Chiến lược ASXH giai đoạn 2011-2020 do Bộ lao động, thương binh và xã hội
xây dựng thì: “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã
hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp
trước các nguy cơ, rủi ro dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”
Tóm lại, An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng cho bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ
cấp cho các gia đình động con
2.1.2 Bản chất và tính tất yếu của chính sách ASXH
Chính sách ASXH là hệ thống các chính sách do nhà nước ban hành để thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội
Theo các khái niệm ASXH ở trên, có thể thấy:
ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình Sự bảo
vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến thu nhập bị mất hoặc giảm
Trang 9Như vậy, có thể nói bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và tính nhân văn sâu sắc
Nội dung của ASXH rất lớn nhưng nó tập trung vào ba vấn đề chính:
Thứ nhất, BHXH là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự đảm bảo Có thể nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoảng thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoảng thu nhập bị giảm hoặc mất trong những bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm
Thứ hai, sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và các thành viên gia đình họ, nhằm bào đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, kể cả phát triển bản thân con người
Thứ ba, là các trợ cấp giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật ) cho những người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình, ASXH cũng khuyến khích, thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ đi lại
Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi
2.1.3 Vai trò của hệ thống “An sinh xã hội” đối với sự phát triển xã hội
• Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nền kinh tế thị trường
Với điều kiện chung, các chương trình bảo trợ xã hội phải trực tiếp tác động tĩnh về mặt giảm nghèo Ngoài ra, theo nghĩa gián tiếp và động, chúng mang lại lợi ích cho năng suất theo nhiều cách khác nhau: thứ nhất giảm bớt hoặc ngăn chặn sự loại trừ của xã hội; thứ hai là trao quyền cho phụ nữ và nam giới trong việc giảm bớt các ràng
Trang 10buộc thường ngăn cản phát triển các doanh nghiệp nhỏ hoặc cá thể; thứ ba cũng là cách quan trọng nhất là giúp tăng cường vốn con người và hỗ trợ lực lượng lao động lành mạnh và có trình độ học vấn Ngược lại, nhiều nghiên cứu đã xem xét các kênh
mà qua đó thiếu bảo trợ xã hội tác động đến hoạt động kinh tế, trong đó một tác động quan trọng đến thị trường vốn không hoàn hảo; cụ thể tín dụng hoặc các ràng buộc như vậy có thể là về bản chất tài chính, nhưng đều bao gồm các vấn đề không tiếp cận được với một số tài nguyên hoặc quy định Tóm lại, cho thấy một sự đồng thuận mạnh
mẽ đang xuất hiện rằng an sinh xã hội được thiết kế tốt hệ thống và hiệu suất kinh tế hợp lý có thể và cùng tồn tại Trên thực tế, nó ngày càng hiển nhiên rằng an sinh xã hội đầy đủ hoàn toàn không phải là hệ quả của kinh tế tăng trưởng – đó là điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng này
• Tạo điều kiện làm việc hiệu quả
Hệ thống ASXH đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện để làm việc hiệu quả Tuy nhiên, tác động của ASXH đối với việc làm, cụ thể là chủ đề của một cuộc tranh luận lâu dài Một trong những vấn đề được thảo luận nhiều nhất về mặt này đó là tác động của ASXH đối với hoạt động kinh tế của các cá nhân và sự tham gia của lực lượng lao động – và câu hỏi liệu ASXH có ngăn cản những nguời từ việc làm không Mục tiêu của hầu hết các phúc lợi an sinh xã hội là cung cấp thu nhập để ngăn chặn đói nghèo trong tình huống khi mọi người tạm thời (thất nghiệp, ốm đau, thai sản) hoặc vĩnh viễn (tàn tật, già yếu) không có khả năng lao động Thách thức là thiết kế các lợi ích và đảm bảo việc phân phối chúng thoe cách đảm bảo mà không khuyến khích lao động không mong muốn hành vi thị trường
• Ổn định nhu cầu và duy trì kinh tế và hòa bình xã hội trong thời kỳ khủng hoảng
Vai trò của hệ thống ASXH như một bộ ổn định tự động trong các cuộc khủng hoảng
đã được thừa nhận rộng rãi trong các cuộc suy thoái kinh tế và tài chính toàn cầu gần đây Nó có cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng các quốc gia có hệ thống ASXH hiệu quả có thể phản ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn với một cuộc khủng hoảng
Trang 11Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cũng cho thấy hiệu quả nhất các công cụ
an xinh xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng xã hội thoát khỏi khủng hoảng là sự ra đời hoặc gia hạn thời gian thất nghiệp hoặc trợ cấp thất nghiệp một phần Các phân tích của ILO có tiết lộ rằng việc gia tăng chi tiêu cho các hoạt động ổn định kinh tế và xã hội đã giúp tiết kiệm càng nhiều việc làm trên toàn thế giới như các gói kích thích đột xuất tùy ý Các chương trình Đảm bảo Việc làm, rất có thể có thể được tài trợ bằng một nửa chi phí nêu trên Một đặc điểm quan trọng của phản ứng của các chương trình
an sinh xã hội trong cuộc khủng hoảng là tính linh hoạt - ví dụ, thời gian hưởng lợi đã được tăng lên toàn bộ và một phần các chương trình thất nghiệp Trợ cấp thất nghiệp một phần ở Đức có đã giúp duy trì lực lượng lao động có tay nghề cao trong các doanh nghiệp Tính linh hoạt này tạo điều kiện cho tăng tốc sản xuất gần như ngay lập tức khi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng giảm bớt
Những năm 1970 và gần đây là sự ra đời của bảo hiểm thất nghiệp ở Cộng hòa Hàn Quốc sau cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997 An sinh xã hội vì công bằng xã hội và toàn cầu hóa công bằng Những kinh nghiệm này dẫn đến câu hỏi làm thế nào các hệ thống an sinh xã hội có thể được xem xét, và nếu cần được cải tổ, để đảm bảo rằng chúng hoàn thành vai trò kinh tế và chất ổn định xã hội một cách tối ưu trong quá trình phục hồi - và nếu điều tồi tệ hơn trở nên tồi tệ nhất, trong bất kỳ cuộc khủng hoảng nào trong tương lai
2.2 Bảo hiểm xã hội
2.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội và tình hình phát triển
“BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” (Từ điển Bách Khoa Việt Nam, 1995)
Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
Trang 12“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”
Đối tượng của BHXH là người lao động Có hai hình thức BHXH là BHXH tự nguyện
và BHXH bắt buộc
Đối với BHXH bắt buộc thường được thực hiện đối với người làm công ăn lương, vì
đó thường là những đối tượng có công việc, thu nhập và nơi làm việc tương đối ổn định Để bảo đảm thu chi cho quỹ BHXH cần nắm chắc số lượng và tình trạng của người phải đóng BHXH, số lượng tình trạng của người được bảo hiểm Hơn nữa, những đối tượng này được người sử dụng lao động đóng thêm phí BHXH cho họ Mức đóng góp thường quan hệ tỷ lệ thuận với tiền lương của người lao động
Đối với BHXH tự nguyện áp dụng đối với người lao động thuộc khu vực phi thể chế hóa, người lao động tự do, nông dân, những người này thường có công việc, thu nhập và nơi làm việc không ổn định, đặc biệt họ không được người sử dụng lao động (nếu có) đóng thêm phí BHXH cho mình Do vậy, việc ấn định mức phí đóng góp đối với những đối tượng này không hề đơn giản, đòi hỏi phải có những cân nhắc và tính toán kĩ, và chính việc hình thành quỹ BHXH tự nguyện sẽ ảnh hưởng đến việc cân đối quỹ BHXH
2.1.2 Các nội dung cơ bản về bảo hiểm xã hội
Khi bàn đến những nội dung cơ bản của bảo hiểm xã hội, câu hỏi được đặt ra là: nội dung của BHXH liên quan đến những vấn đề gì, đâu là xem nội dung cơ bản? Theo tác giả, những vấn đề được gọi là nội dung của BHXH là những vấn đề BHXH tác động tới trong hoạt động của hệ thống BHXH, bao gồm cả hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp BHXH Duwois đây là những nội dung cơ bản của BHXH
Trang 132.1.2.1 Đối tượng của BHXH
Nhiều người cho rằng, đối tượng của BHXH chính là người lao động, nhưng trên thực thế, với bản chất vốn có của mình, BHXH không “bảo hiểm” cho thu nhập của họ Khi thu nhập của người lao động tham gia BHXH bị giảm sút hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất đi khả năng lao động thì lúc đó họ mới được “bảo hiểm” Nói cách khác, BHXH với sứ mạng là “bù đắp” khoản thu nhập bị giảm hoặc mất của người lao động, nên đối tượng của BHXH là thu nhập Còn đối tượng tác động (hay đối tượng đảm bảo) của BHXH là người lao động và gia đình họ theo quy định của pháp luật BHXH của mỗi quốc gia
Do vậy, cần phải phân biệt được đối tượng BHXH, đối tượng tác động của BHXH; đối tượng thụ hưởng BHXH và đối tượng tham gia BHXH Đối tượng thụ hưởng BHXH là những người lao động và gia đình họ (theo quy định của pháp luật BHXH) khi có phát sinh BHXH, nghĩa là khi người lao động gặp các sự kiện bảo hiểm hoặc các rủi ro bảo hiểm thì mới được hưởng trợ cấp BHXH (theo quy định của pháp luật BHXH Việt Nam hiện hành, các sự kiện và các rủi ro được bảo hiểm gồm: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; thất nghiệp; hưu; chết) Đối tượng tham gia BHXH là người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước trong một số trường hợp Như vậy, người lao động có thể vừa là người tham gia BHXH, vừa là người thụ hưởng BHXH
2.1.2.2 Các chế độ BHXH
“Chế độ BHXH là hệ thống các quy định của nhà nước về mức hưởng, điều kiện hưởng; mức đóng, điều kiện đóng BHXH” Trong Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có quy định trợ cấp tối thiểu cho 9 nhánh chế độ BHXH là (1) chế
độ ốm đau; (2) chế độ thai sản; (3) chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; (4) chế độ bảo hiểm thất nghiệp; (5) chế độ chăm sóc y tế; (6) chế độ tàn tật (ở Việt Nam còn gọi là chế độ mất sức lao động, nhưng với nghĩa khác); (7) chế độ tử tuất; (8) chế
độ hưu trí, và (9) chế độ chăm sóc gia đình (cho những người đông con) Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước trong từng giai đoạn, để có thể xây dựng, áp dụng các quy định này
Trang 14Quy định các chế độ BHXH là những nội dung cốt lõi của bất kỳ hệ thống BHXH nào, trong đó quy định rõ ràng các quan hệ trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia BHXH; quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH
2.1.2.3 Các trợ cấp BHXH
Trợ cấp BHXH là khoản tiền người thụ hưởng BHXH nhận được từ quỹ BHXH khi người lao động có phát sinh các sự kiện bảo hiểm, hoặc các rủi ro được bảo hiểm, theo quy định của pháp luật BHXH Trợ cấp BHXH là trợ cấp bằng tiền Ở một số hệ thống BHXH, có những loại trợ cấp bằng hiện vật (ví dụ như cung cấp các đồ dùng cho trẻ sơ sinh; cung cấp các dụng cụ chỉnh hình cho người bị tai nạn lao động…) Tuy nhiên, hiện nay, chủ yếu là các trợ cấp bằng tiền Người lao động khi phát sinh các sự kiện hoặc các rủi ro được bảo hiểm theo quy định của pháp luật BHXH, thì người thụ hưởng BHXH (có thể là bản thân họ hoặc người thân trong gia đình) được
cơ quan BHXH chi trả các trợ cấp BHXH Trợ cấp BHXH có hai loại là trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng Ngoài ra, còn phân biệt trợ cấp ngắn hạn (cho các chế độ BHXH ngắn hạn, như ốm đau, thai sản) và trợ cấp dài hạn (cho các chế độ BHXH dài hạn, như hưu trí…) Việc xác định được mức trợ cấp BHXH cho từng chế độ BHXH
là một nội dung rất quan trọng của BHXH, có ý nghĩa rất lớn đối với người thụ hưởng BHXH và đối với quỹ BHXH Nếu xác định mức trợ cấp BHXH không khoa học, có thể dẫn đến hoặc quyền lợi của người thụ hưởng bị ảnh hưởng (nếu mức quá thấp), không có ý nghĩa “bù đắp thu nhập”, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ BHXH (nếu mức quá cao), có thể dẫn đến không cân đối được quỹ, gây vỡ quỹ BHXH
2.1.2.4 Quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hiểu là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH, bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác Những đóng góp và những khoản thu này hình thành một quỹ tiền
tệ tập trung được nhà nước quản lý (thông qua một tổ chức của Nhà nước) Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các trợ cấp BHXH và cho các chi phí quản lý Xét về
sự hình thành và mục đích sử dụng, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước; là điều kiện quan trọng nhất
để hệ thống BHXH tồn tại và phát triển Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra
Trang 15khả năng giải quyết được những nhu cầu phát sinh của người thụ hưởng BHXH khi có
sự kiện bảo hiểm hoặc gặp những rủi ro được bảo hiểm theo quy định của pháp luật, với tổng dự trữ thấp nhất, nhưng khả năng thanh toán cao nhất Mặc dù là quản lý tập trung, nhưng trong quỹ BHXH có thể hình thành các quỹ thành phần, gồm quỹ BHXH cho các chế độ BHXH ngắn hạn, quỹ hưu trí; quỹ BHTN…(việc quy định các quỹ thành phần phụ thuộc vào cơ chế quản lý BHXH của mỗi nước) Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Nguồn quan trọng nhất, cơ bản nhất là sự đóng góp của các bên tham gia BHXH (ở nước ta là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp), gọi là phí BHXH Phí BHXH được tính cho từng chế độ BHXH và phân chia tỷ lệ đóng góp giữa các bên tham gia BHXH Một nguồn thu khác cho quỹ BHXH là phần lãi thu được do các hoạt động đầu tư sinh lời từ phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH Vì như đã biết, trong hoạt động BHXH
có một bộ phận của quỹ được người lao động và người sử dụng lao động đóng góp nhưng chưa được sử dụng ngay (nhất là đối với các chế độ bảo hiểm dài hạn, như chế
độ hưu trí chẳng hạn) Phần này được đầu tư để vừa bảo tồn giá trị của quỹ BHXH, vừa làm tăng quy mô của quỹ, tăng khả năng chi trả của quỹ trong tương lai Phần thu này phụ thuộc vào khả năng quản lý quỹ của cơ quan BHXH trong từng thời kỳ Ngoài ra còn có một số nguồn thu khác của qủy BHXH và quỹ BHXH có thể có các khoản thu hợp pháp khác được pháp luật của mỗi nước quy định
2.1.2.5 Tổ chức quản lý BHXH
Quản lý BHXH được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng và khách thể quản lý trong các hoạt động của BHXH, nhằm đạt được mục tiêu đề ra với những nguyên tắc và phương pháp quản lý phù hợp với cơ chế quản lý chung của nền kinh
tế Quản lý BHXH được hiểu trên hai góc độ là quản lý nhà nước về BHXH (do các
cơ quan chính phủ đảm nhận) và quản lý các hoạt động sự nghiệp BHXH Hiện nay trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức quản lý BHXH khác nhau Có một số nước (chiếm số ít), chính phủ giao cho một bộ nào đó đảm nhận cả chức năng quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệp BHXH
Về tổ chức hoạt động sự nghiệp BHXH: Dù mô hình có thể được tổ chức khác nhau,
nhưng hoạt động sự nghiệp BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
Trang 16Thực hiện thu-chi BHXH: Thông quan bộ máy của mình và trên cơ sở pháp luật
BHXH của mỗi nước, các cơ quan BHXH tiến hành các nghiệp vụ thu tiền đóng BHXH của người sử dụng lao động và người lao động và triển khai chi trả các trợ cấp cho người thụ hưởng BHXH và các chi phí quản lý khác Thực hiện các nghiệp vụ kế toán-tài chính BHXH theo chính sách tài chính của mỗi nước
Quản lý đối tượng: Trong hoạt động BHXH có hai nhóm đối tượng, đó là nhóm đối
tượng tham gia BHXH và nhóm đối tượng thụ hưởng BHXH Nhóm đối tượng tham gia BHXH, bao gồm người sử dụng lao động và người lao động Khi tham gia BHXH, người sử dụng lao động và người lao động đều phải đóng phí BHXH Vì vậy để đảm bảo nguồn thu cho quỹ BHXH, các cơ quan BHXH phải nắm chắc được số lượng các đơn vị tham gia BHXH, những di biến động trên từng địa bàn và trong toàn quốc Đồng thời, cũng phải có được những thông tin đầy đủ về người lao động để xác định được nguồn thu và dự báo được các khoản chi trong tương lai Nhóm đối tượng thụ hưởng BHXH bao gồm người lao động và gia đình họ (theo qui định của từng nước)
Cơ quan BHXH cũng phải có đầy đủ các thông tin về người lao động khi thụ hưởng BHXH để chi đúng, chi đủ cho đối tượng và hạn chế những sự lạm dụng BHXH
Quản lý quỹ BHXH: Quản lý quỹ BHXH bao gồm quản lý công tác thu BHXH và
quản lý công tác chi BHXH, nhằm đảm bảo cho quỹ được an toàn và đảm bảo thu đúng, thu đủ; chi đúng, chi đủ cho đối tượng thụ hưởng BHXH; hạn chế tối đa sự thất thoát quỹ BHXH Xây dựng chiến lược tăng trưởng quỹ BHXH thông qua các hoạt động đầu tư Tham gia vào thị trường tài chính của quốc gia Đây là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan BHXH
Thực hiện thanh tra, kiểm tra: Tuỳ theo mô hình của từng nước mà nhiệm vụ thanh
tra, kiểm tra về BHXH có khác nhau Với những nước trao quyền tự chủ cao cho Hội đồng quản trị BHXH thì trong hệ thống sự nghiệp BHXH chức năng thanh tra, kiểm tra rất quan trọng Đối với những nước có quản lý nhà nước về BHXH riêng, thì chức năng thanh tra, kiểm tra hoạt động BHXH của các cơ quan quản lý nhà nước rất lớn Tuy nhiên, trong hệ thống BHXH vẫn có chức năng thanh tra, kiểm tra của mình nhằm bảo đảm các hoạt động BHXH đúng với các qui định của pháp luật./
Trang 172.1.3 Sự cần thiết khách quan của BHXH và tác động của BHXH đến đời sống kinh tế - xã hội
Bàn về sự cần thiết khách quan của BHXH, trước hết phải khẳng định BHXH là nhu cầu của người lao động Điều đó đựơc giải thích bởi việc người lao động luôn bị đe dọa bởi các rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu nhập, gây khó khăn cho cuộc sống của người lao động và gia đình họ Những rủi ro đó có thể do:
Quy luật “ sinh – bệnh – lão – tử” Theo quy luật , trong cuộc đời người lao động sẽ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ lao động; Lực lượng sản xuất phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho nguời lao động, mặt khác cũng vậy những hậu quả không nhỏ như: tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ;Ô nhiễm môi trường làm cho người lao động suy giảm sức khỏe, dễ mắc bệnh ; Môi trường kinh tế - xã hội: kinh tế khủng hoảng hoặc kém phát triển dẫn đến tình trang thất nghiệp, xã hội kém phát triển dẫn đến ốm đau bệnh tật,
Để khắc phục những rủi ro đó, ngay từ thời cổ đại, con người phải tự khắc phục bằng cách tự tiết kiệm, có sự cưu mang giúp đỡ của cộng đồng Tuy nhiên, sự tương trợ này chỉ mang tính tự phát trong phạm vi hẹp Chính vì vậy, nguồn tài chính để khắc phục rủi ro không chắc chắn
Đối với người lao động khi gặp rủi ro, thu nhập từ quỹ BHXH dưới hình thức BHXH trả thay tiền lương hoặc tiền công, được coi là nguồn thu nhập quan trọng ( có khi là chủ yếu) để sống, để khắc phục khó khăn Ngày nay, BHXH được pháp luật của nhiều nước ghi nhận, trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: “ Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH Quyền
đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”
Sự cần thiết khách quan của BHXH còn được thể hiện từ góc độ BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội
Trang 18Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản, liên quan đến quyền
và lợi ích của nguời lao động, có vai trò to lớn trong việc ổn định đời sống cho đại bộ phận dân cư, từ đó góp phần ổn định xã hội Chính vì vậy, nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định, bảo đảm việc thực hiện những quyền xã hội của người lao động
Việc quy định người lao động phải đóng BHXH có tác dụng quan trọng trong việc phân phối lại thu nhập theo chiều ngang được thực hiện giữa những người lao động trẻ, khỏe với những nguời lao động già, ốm yếu; giữa những người đang làm việc và những người đã về hưu Có thể là phân phối thu nhập theo chiều dọc được thực hiện giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp sự phân phối lại thu nhập thông qua BHXH có tác dụng góp phần thực hiện công bằng ổn định và tiến
bộ xã hội
BHXH xuất hiện và dần dần trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trong, có quan hệ chặt chẽ với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thông qua việc đóng BHXH, nền kinh tế huy động được một lượng tiền đáng kể để đầu tư cho phát triển Nguồn thu BHXH là một nguồn tiết kiệm nội bộ quan trọng vì các khoản chi trợ cấp, nhất là trợ cấp tuổi già, tử tuất cha thực hiện ngay Nguồn thu từ các khoản nhàn rỗi được tích tụ thành quỹ có quy mô ngày càng lớn, quỹ này được đầu tư để sinh lời Do phải bảo đảm an toàn, chi trả kịp thời, có ích với xã hội nên các khoản mục đầu tư thường do nhà nước xét duyệt nhà nước thường khuyến khích đầu tư vào phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục, Như vậy, chính sách BHXH đã góp phần vào thực hiện cách chính sách xã hội khác, thúc đẩy xã hội tiến bộ
2.3 Cơ sở lý thuyết về hành vi người tiêu dùng
2.3.1 Hành vi người tiêu dùng
Thuật ngữ hành vi tiêu dùng để chỉ hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ
Trang 19NTD là những người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho cá nhân họ, cho gia đình, cho người thân, bạn bè Cũng theo tác giả Trương Thị Phượng (2011), NTD được chia thành hai nhóm cơ bản:
“Ngươi tiêu dùng cá nhân” là những người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho cá nhân họ, cho gia đình, cho người thân, bạn bè
“Người tiêu dùng tổ chức” bao gồm các tổ chức kinh doanh, đơn vị hành chính sự nghiệp , họ là những người mua sản phẩm, dịch vụ phụ vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức Trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, chủ yếu thường tập trung vào NTD cá nhân, bởi vì tiêu dùng cuối cùng là yếu tố bao trùm lên tất cả các dạng khác nhau của hành vi NTD và liên quan đến mợi người với vai trò là người mua, NTD hoặc cả hai
Nghiên cứu tiêu dùng và hành vi NTD được ra đời từ nửa cuối thập niên 1960 là một lĩnh vực nghiên cứu khả mới mẻ và có tính ứng dụng thực tiễn cao Xuất phát từ những quan điểm của nhà quản lý của các nhà quản trị marketing muốn biết các nguyên nhân cụ thể của hành vi NTD, cũng như NTD làm như thế nào để tiếp nhận, lưu trữ và sử dụng các thông tin liên qua đến việc tiêu dùng để từ đó người ta có thể thiết kế được các chiến lược marketing nhằm tác động đến các quyết định tiêu dùng
Là một lĩnh vực mới nên nghiên cứu hành vi người tiêu dùng dựa trên việc sử dụng và
“vay mượn” rất nhiều thuật ngữ, khái niệm và mô hình nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác như tâm lý học, xã hội học Do đó hành vi NTD được coi như một môn khoa học liên nghành Cũng như bất kì ngành khoa học nào các lý thuyết hành vi NTD phải được kiểm chứng và xác nhận hay loại bỏ trước khi các kết luận được khái quát thành các nguyên tắc cơ bản có thể ứng dụng vào hoạt động marketing trong thực tiễn Ngay từ khi mới ra đời, nghiên cứu hành vi tiêu dùng đã phát triển mạnh mẽ và nhanh chống trở thành bộ phận cốt lõi của hầu hết các chương trình nghiên cứu marketing
2.3.2 Lý thuyết về thái độ
Thái độ là một sự biểu hiện về cảm giác tinh thần mà nó phản ánh những đánh giá tiêu cực hay tích cực đối với một đối tượng nào đó ( nhãn hiệu, sản phẩm, dịch vụ, ) Như
Trang 20là một kết quả của các quá trình tâm lý, thái độ không thể quan sát một cách trực tiếp nhưng nó có thể được suy ra từ những lời nói hoặc hành vi của con người (Ajzen & Fishbein, 1975)
Trong bài nghiên cứu này, đối tượng chính là dịch vụ BHXH tự nguyện Nhận thức là kiến thức hay sự hiểu biêt của khách hàng có được thông qua những kinh nghiệm đã
sử dụng qua dịch vụ hoặc từ việc tiếp nhận và phân tích những thông tin thu thập được
có liên quan đến dịch vụ BHXH tự nguyện Từ đó, người dân biểu lộ việc thích hay không thích đối với dịch vụ BHXH tự nguyện
Thái độ của khách hàng dối với một sản phẩm nào đó có thể nói lên phản ứng của họ đối với sản phẩm đó trong tương lai Chẳng hạn như, nếu một người không quan tâm đến dịch vụ BHXH tự nguyện thì chúng ta hoàn toàn cũng không mong đợi rằng người đó sẽ tham gia sử dụng dịch vụ BHXH tự nguyện đó Và ngược lại, nếu một khi
đã quan tâm đến dịch vụ BHXH tự nguyện thì người đó sẽ hình thành ý định tham gia dịch vụ này
Trong lý thuyết này gồm có: mô hình thái độ ba thành phần; mô hình thái độ đơn thành phần; mô hình thái độ đa thuộc tính
2.3.2.1 Mô hình thái độ 3 thành phần (Tricomponent attitude model)
Theo Schiffman và Kanuk (1987), thái độ được miêu tả gồm ba thành phần: nhận thức, cảm xúc (hay sự ưa thích) và xu hướng hành vi được trình bày như mô hình sau:
Nguồn: Schiffman và Kanuk, 1987
Thái độ
Xu hướng hành
vi
Cảm xúc (Sự ưa thích) Nhận thức
Hình 2.1 Mô hình thái độ ba thành phần
Trang 21Theo Schiffman và Kanuk (1987), thái độ được miêu tả gồm ba thành phần: Nhận thức (cognitive), cảm xúc hay sự ưa thích (affective) và xu hướng hành vi (conative) Thành phần nhận thức liên quan đến sự hiểu biết (knowledge) và niềm tin (belief) của một cá nhân về đối tượng Nhận thức dựa trên kiến thức hay sự hiểu biết của khách hàng về dịch vụ thông qua những thông tin nhận được liên quan đến dịch vụ và kinh nghiệm của khách hàng có được khi sử dụng dịch vụ, từ đó hình thành niềm tin của khách hàng đối với dịch vụ Ví dụ: dịch vụ bảo hiểm xã hội mang lại các lợi ích về giải quyết các vấn đề rủi ro về thu nhập của người lao động Thành phần cảm xúc hay
sự ưa thích đại diện cho cảm giác chung của khách hàng về việc thích hay không thích một đối tượng Thành phần này thể hiện sự ưa thích nói chung về đối tượng chứ không phân biệt từng thuộc tính của đối tượng Ví dụ: tôi thích tham gia BHXH tự nguyện Sự đánh giá một cách chung chung này có thể chỉ là mơ hồ, hoặc có thể chỉ là kết quả của việc đánh giá chung về sản phẩm dựa trên vài thuộc tính Thành phần xu hướng hành vi hay còn gọi là ý định mua được thể hiện qua xu hướng sử dụng của khách hàng Họ có thể có xu hướng sử dụng hay không sử dụng dịch vụ BHXH Xu hướng sử dụng là một yếu tố quyết định hành vi sử dụng dịch BHXH tự nguyện Ví dụ: tôi sẽ sử dụng dịch vụ BHXH tự nguyện Như vậy, thái độ của người tiêu dùng đối với dịch vụ BHXH tự nguyện bao gồm ba thành phần chính: nhận thức về dịch vụ, thích thú về dịch vụ và xu hướng tiêu dùng dịch vụ BHXH tự nguyện
2.3.2.2 Mô hình thái độ đơn thành phần (Single–component Attitude Models)
Mô hình thái độ đơn thành phần cho rằng cảm sự ưa thích của người tiêu dùng đối với dịch vụ thường được xem là thái độ của người tiêu dùng đối với dịch vụ đó Mô hình này có ưu điểm là tiết kiệm thời gian, thiết kế bảng câu hỏi đơn giản và thực hiện nghiên cứu không phức tạp Tuy nhiên, nhược điểm của nó là không cung cấp đầy đủ
và sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng đến sự đánh giá của khách hàng Chẳng hạn, có hai khách hàng đánh giá cùng một mức đo lường sự yêu thích dịch vụ tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện Tuy nhiên, khách hàng A thích dịch vụ vì nó mang lợi ích giải quyết vấn đề rủi ro về thu nhập còn khách hàng B thì thích dịch vụ vì nó mang lợi ích giúp nền kinh tế phát triển Do vậy, mô hình này chỉ cho thấy cả hai khách hàng đều thích dịch vụ BHXH tự nguyện nhưng không giải thích được các yếu tố tác động lên sự yêu
Trang 22thích đó Ngoài ra, mô hình thái độ đơn thành phần cũng không giải thích được mối quan hệ giữa sự ưa thích và xu hướng sử dụng dịch vụ của khách hàng Những nhược điểm của mô hình thái độ đơn thành phần được khắc phục bởi mô hình thái độ đa thuộc tính Mô hình này vẫn xem thành phần sự ưa thích là thái độ nhưng nó có mối liên kết với thành phần nhận thức và xu hướng mua - là những thành phần có ảnh hưởng quan trọng đến thành phần sự ưa thích
2.3.2.3 Mô hình thái độ đa thuộc tính (multi-attitude model)
Mô hình thái độ đa thuộc tính được Fishbein và Ajzen xây dựng năm 1975 Trong mô hình này, thái độ của khách hàng được định nghĩa như là việc đo lường nhận thức (hay còn gọi là niềm tin) của khách hàng đối với một dịch vụ đặc biệt hoặc đo lường nhận thức của khách hàng về các thuộc tính của dịch vụ Khách hàng có thái độ ưa thích nói chung đối với những dịch vụ mà họ đánh giá dương tính và họ có thái độ không thích đối với những dịch vụ mà họ đánh giá âm tính Mô hình này tập trung vào nhận thức của khách hàng đối với các thuộc tính của dịch vụ Mức độ nhận thức về dịch vụ nói lên khả năng người tiêu dùng có thể nhận biết và phân biệt đặc điểm các thuộc tính của dịch vụ Khi một người tiêu dùng quyết định tiêu dùng một dịch vụ nào
đó, trước tiên họ phải nhận biết được dịch vụ đó Nhận biết dịch vụ là điều cần thiết nhưng chưa đủ, người tiêu dùng còn thể hiện sự thích thú của mình đối với dịch vụ thông qua việc đánh giá các thuộc tính của dịch vụ Kết quả của sự đánh giá được thể hiện qua cảm xúc của con người như thích thú, cảm mến Mô hình thái độ đa thuộc tính của Ajzen và Fishbein đã làm sáng tỏ mối tương quan giữa nhận thức và sự thích thú Sự ưa thích về dịch vụ là kết quả của quá trình đo lường niềm tin của người tiêu dùng đối với các thuộc tính của dịch vụ Khi đó, họ thường có xu hướng tiêu dùng dịch vụ mà mình thích thú Mỗi một niềm tin gắn liền với một thuộc tính của sản phẩm Thái độ của khách hàng đối với dịch vụ tham gia BHXH tự nguyện sẽ phụ thuộc vào những niềm tin mà khách hàng có được đối với từng thuộc tính của dịch vụ tham gia BHXH tự nguyện Như vậy, nhận thức là thành phần đầu tiên của thái độ Nếu một người tiêu dùng thể hiện sự ưa thích đối với dịch vụ tham gia BHXH tự nguyện thì trước tiên họ phải nhận biết được dịch vụ tham gia BHXH tự nguyện và các thuộc tính cốt lõi của dịch vụ Sự ưa thích chính là kết quả các đánh giá dương
Trang 23tính của người tiêu dùng về các thuộc tính của dịch vụ tham gia BHXH tự nguyện của người lao động Từ đây sẽ hình thành xu hướng tiêu dùng dịch vụ, hay nói cách khác
họ sẽ tham gia BHXH trong thời gian tới Lợi ích của mô hình đa thuộc tính này là mô
tả được những điểm mạnh và điểm yếu của dịch vụ từ việc đánh giá những thuộc tính của dịch vụ Từ đó, đưa ra những thay đổi cụ thể đối với dịch vụ và hoạch định những chiến lược marketing để hỗ trợ nó
2.3.3 Thuyết hành động hợp lý TRA
Lý thuyết TRA được Fishbein và Ajzen đưa ra từ năm 1975 cho rằng: yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó Ý định thực hiện hành vi được được quyết định bới hai nhân tố: thái độ của một người
về hành vi và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi đó Kết quả của hai yếu tố này hình thành ý định thực hiện hành vi Nếu một cá nhân có thái độ tích cực đối với những kết quả dự báo của việc thực hiện hành vi thì sẽ càng có ý định thực hiện hành
vi này Trên thực thế, lý thuyết này tỏ ra rất hiệu quả khi dự báo những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người
Nguồn Fishbein và Ajzen
Niềm tin đối với những
thuộc tính sản phẩm Đo
lường niềm tin đói với
thuộc tính sản phẩm
Xu hướng mua
Hành vi mua
Chuẩn chủ quan
Niềm tin đối với những
Hình 2 2 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)
Trang 24Các thành phần trong mô hình TRA bao gồm:
Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng (Ajzen & Fishbein, 1975) được quyết định bởi ý định hành vi
Ý định hành vi (Behavioral intention) đo lường khả năng chủ quan của đối tượng sẽ thực hiện một hành vi và có thể được xem như một trường hợp đặc biệt của niềm tin (Ajzen & Fishbein, 1975) Được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành vi và chuẩn chủ quan
Thái độ (Attitudes) là thái độ đối với một hành động hoặc một hành vi (Attitude toward behavior), thể hiện những nhận thức tích cực hay tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành vi, có thể được đo lường bằng tổng hợp của sức mạnh niềm tin và đánh giá niềm tin này (Hale, Householder, & Greene, 2003)
Nếu kết quả mang lại lợi ích cá nhân, họ có thể có ý định tham gia vào hành vi (Ajzen
& Fishbein, 1975)
Chuẩn chủ quan (Subjective norms) được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện (Ajzen & Fishbein, 1975)
Chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan với người tiêu dùng, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việc mong đợi thực hiện hành
vi và động lực cá nhân thực hiện phù hợp với sự mong đợi đó (Ajzen & Fishbein, 1975)
Thuyết hành động hợp lí quan tâm đến hành vi của người tiêu dùng cũng như xác định khuynh hướng hành vi của họ, trong khuynh hướng hành vi là một phần của thái độ hướng tới hành vi (ví dụ cảm giác chung chung của sự ưa thích hay không ưa thích của họ sẽ dẫn đến hành vi) và một phần nữa là các chuẩn chủ quan (Sự tác động của người khác cũng dẫn tới thái độ của họ)
Trang 25Mô hình này tiên đoán và giải thích xu hướng để thực hiện hành vi bằng thái độ hướng đến hành vi của người tiêu dùng tốt hơn là thái độ của người tiêu dùng hướng đến sản phẩm hay dịch vụ (Mitra Karami, 2006)
2.3.4 Thuyết hành vi dự định TBP
Lý thuyết TPB là sự mở rộng của lý thuyết TRA để khắc phục hạn chế trong việc giải thích về những hành vi nằm ngoài kiểm soát Lý thuyết này đã được Ajzen bổ sung từ năm 1991 bằng việc đề ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức như là lòng tin của
cá nhân liên quan đến khả năng thực hiện hành vi khó hay dễ như thế nào Càng nhiều nguồn lực và cơ hội, họ nghĩ rằng sẽ càng có ít cản trở và việc kiểm soát nhận thức đối với hành vi sẽ càng lớn Yếu tố kiểm soát này có thể xuất phát từ bên trong của từng
cá nhân (sự quyết tâm, năng lực thực hiện…) hay bên ngoài đối với cá nhân (thời gian, cơ hội, điều kiện kinh tế…)
Nguồn (Ajzen, 1991)
Trong mô hình này, Fishbein và Ajzen cho rằng ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi thái
độ, chuẩn mực chủ quan và sự kiểm soát cảm nhận đối với hành vi Một số nhà nghiên cứu đã xem xét, bàn luận và kiểm định tác động trực tiếp của thái độ, ảnh hưởng xã hội, trách nhiệm đạo lý, cảm nhận tiêu cực(Scholderer & Grunert, 2001), kiểm soát hành vi cảm nhận, các điều kiện thuận lợi của thị trường, thói quen, cảm nhận hành vi
xã hội(Astrom & Rise, 2001); (Berg, Jonsson, & Conner, 2000) rủi ro cảm nhận, sự
Ý định hành vi
Hành
vi
Hình 2.3 Mô hình lý thuyết hành vi dự định
Trang 26tin tưởng (Lobb & cộng sự, 2007), tầm quan trọng của giá, cảm nhận tính sẵn có (Tarkiainen & Sundqvist, 2005) Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đối với sản phẩm BHXHTN trong điều kiện Việt Nam vẫn còn một số hạn chế
2.4 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để thực hiện nghiên cứu này, em đã tìm hiểu và kế thừa những cơ sở lý thuyết và nghiên cứu đi trước để làm cơ sở lý luận và nghiên cứu cho đề tài này Sau đây là tổng quan tài liệu được sử dụng cho đề tài nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu của Hoàng Thu Thuỷ, Bùi Hoàng Minh Thư ( 2018)
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018) luận văn nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân: Trường hợp địa bàn tỉnh Phú Yên” Nghiên cứu nhằm kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên có mô hình nghiên cứu như sau:
Các biến quan sát: giới tính, tuổi, thu nhập,
Ý định tham gia BHXH tự nguyện
Thái độ đối với việc tham
gia BHXH Kiểm soát hành vi
Tuyên truyền về BHXH
tự nguyện Ảnh hưởng từ gia đình
Trách nhiệm đạo lý Thủ tục tham gia
Cảm nhận rủi ro khi tham
gia BHXH tự nguyện
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thu Thuỷ, Bùi Hoàng Minh Thư ( 2018
Trang 27Nguồn: Hoàng Thu Thủy & Bùi Hoàng Minh Thư, 2018
Mẫu được khảo sát từ 325 hộ nông dân được rải đều đến 4 địa bàn của tỉnh Phú Yên Nghiên cứu đề xuất 07 nhân tố độc lập ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên Kết quả phân tích cho thấy 5 biến:
“Hiểu biết về chính sách BHXH tự nguyện”, “Thái độ đối với việc tham gia”, “Cảm nhận rủi ro”, “Thủ tục tham gia BHXH tự nguyện”, “Trách nhiệm đạo lý” có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân Với kết quả nghiên cứu, một số hàm ý chính sách được gợi ý nhằm gia tăng ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên, đó là việc đổi mới chất lượng tổ chức thực hiện chế độ BHXH tự nguyện; nâng cao nhận thức của người dân về sự cần thiết tham gia BHX tự nguyện; hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội
2.4.2 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh (2019)
Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh (2019) luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động trên địa bàn huyện thạch thất, thành phố Hà Nội” có mục tiêu cơ bản là xác định các yếu tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động trên địa bàn huyện Thạch Thất, TP Hà Nội
có mô hình như sau:
Ý định tham gia BHXH tự nguyện
Thu nhập Truyền thông
Nhận thức kiểm soát
hành vi Chuẩn chủ quan
Trang 28Nguồn: Nguyễn Thị Nguyệt Dung & Nguyễn Thị Sinh, 2019
Để thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả tiến hành phỏng vấn sâu đối với 9 khách hàng
để xây dựng mô hình nghiên cứu; thực hiện khảo sát 243 người lao động thuộc khu vực chưa chính thức trên địa bàn nghiên cứu Kết quả chỉ ra rằng, trong 6 yếu tố được
đề xuất, có đủ cơ sở để kết luận 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn huyện Thạch Thất, TP.Hà Nội, trong đó, yếu
tố ảnh hưởng mạnh nhất là “Hiểu biết về bảo hiểm xã hội tự nguyện”, tiếp đến là các yếu tố “Truyền thông”, “Nhận thức về sự hữu ích của bảo hiểm xã hội tự nguyện” và
“Thu nhập” Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm thu hút người lao động phi chính thức trên địa bàn huyện Thạch Thất, TP Hà Nội
2.4.3 Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tượng (2013)
Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tượng (2013) nghiên cứu “ Một số nhân tố ảnh hướng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” với mục đích khám phá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Nghệ An có mô hình nghiên cứu như sau:
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh
(2019)
Trang 29Nguồn: Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ & Hồ Huy Tựu, 2013
Qua quá trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 7 biến tác động có ý nghĩa thống kê lên sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với tầm quan trọng lần lượt là: Tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Ý thức sức khỏe, Kiến thức về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành vi Từ đây, tác giả đề xuất các hàm ý ứng dụng nhằm gia tăng sự quan tâm của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.4.4 Nghiên cứu của Trương Thị Phượng (2012)
Trương Thị Phượng (2012), luận văn thạc sĩ nghiên cứu “ Các nhân tố ảnh hưởng đến
ý định tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính
Thái độ đối với việc tham
tự nguyện
Các biến kiểm soát: giới tính, tuổi, thu nhập,học vấn,
H5(+)
Mô hình nghiê
n cứu của Nguy
ễn Thị Nguy
ệt Dung , Nguy
ễn Thị Sinh (2019 )
H6(+)
H7(+)
H4(+)
Mô hình nghiên cứu của Nguyễ
n Thị Nguyệ
t Dung, Nguyễ
n Thị Sinh (2019)
H3(+)
Mô hình nghiê
n cứu của Nguyễ
n Thị Nguyệ
t Dung, Nguyễ
n Thị Sinh (2019)
H2(+)
Mô hình nghiê
n cứu của Nguyễ
n Thị Nguyệ
t Dung, Nguyễ
n Thị Sinh (2019)
H1(+)
Mô hình nghiê
n cứu của Nguyễ
n Thị Nguyệ
t Dung, Nguyễ
n Thị Sinh (2019)
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ
Huy Tượng (2013)
Trang 30thức tại tỉnh Phú Yến” nhằm đánh giá mức độ tác dống của các nhân tố ảnh hưởng đến
ý định tham gia BHXH tự nguyện có mô hình nghiên cứu như sau:
Nguồn Trương Thị Phượng, 2012
3.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
Từ việc vận dụng, tham khảo và kế thừa những nghiên cứu trước đây về ý định hành
vi ở Việt Nam nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động tại TP HCM Cụ thể, tác giả đề xuất ý định tham gia BHXH tự nguyện được cấu thành bởi bảy nhân tố chính như hình dưới đây:
Thái độ
Ý định tham gia BHXH tự nguyện
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Trương Thị Phượng (2012)
Trang 31Nguồn: Đề xuất của tác giả
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2 tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến đề tài : ASXH, BHXH tự nguyện Đồng thời, chương 2 cũng làm rõ các mô hình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước được sử dụng là nền tảng lý thuyết và những kiến thức kế thừa cho đề tài này
Thủ tục tham gia BHXH tự nguyện
Kỳ vọng gia đình
Ý định tham gia BHXH tự nguyện
Các biến kiểm soát: giới tính,
độ tuổi, thu nhập,
Hình 2.8 Mô hình đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia
BHXH tự nguyện
Trang 32CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Bài báo cáo khóa luận sử dụng dữ liệu chính để tìm hiểu và dự đoán “Ý định tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động tại TP HCM” Trước khi tiến hành cuộc khảo sát, bài báo cáo có tham khảo các thông tin từ các nghiên cứu đi trước và các báo cáo như tạp chí, báo, Internet Những nguồn thông tin này được sử dụng làm tài liệu tham khảo
và cũng là cơ sở cho các cuộc khảo sát về sau
Dữ liệu chính được tạo ra thông qua việc thu thập thông tin từ một cuộc khảo sát khoảng 270 người tham gia Phân tích từ cuộc điều tra được thực hiện bằng phương pháp thống kê nhằm mục đích khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động tại TP HCM
• Phương pháp nghiên cứu định tính ( sơ bộ)
Cách thức: phỏng vấn tay đôi Số lượng phỏng vấn là 12 người
Tập trung tìm hiểu và thu thập thông tin các yếu tố tác động đến ý định tham gia bảo hiểm của người lao động thông qua việc trao đổi trực tiếp với các đối tượng trong mô hình nghiên cứu, từ đó xây dựng thang đo sơ bộ Tác giả thu thập lấy ý kiến của 50 người, sàn lọc dữ liệu và đưa vào phầm mềm spss 20.0 để xử lý dữ liệu và thực hiện các kiểm định cần thiết Các thang đo và biến quan sát phù hợp với tiêu chuẩn sẽ giữ lại để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo đồng thời hiệu chỉnh thang đo và các thuật ngữ liên quan
• Phương pháp nghiên cứu định lượng (chính thức)
Cách thức: Thu thập dữ liệu sơ cấp Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi nghiên cứu được soạn sẵn Trong đó khảo sát online: 270 đối tượng
Trang 333.1.2 Quy trình nghiên cứu
Xác định đề tài nghiên cứu: bao gồm xác định vấn đề cần nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đưa ra cơ cở lý thuyết: tìm hiểu những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu
để hiểu rõ hơn về đề tài, cùng với đó tìm hiểu các mô hình nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu sơ bộ: Từ việc kế thừa các mô hình nghiên cứu trước đây, tác giả xây dựng thang đo sơ bộ Tiến hành phỏng vấn tay đối với 12 đối tượng chuyên gia có kiến thức cơ bản về bảo hiểm xã hội, đã và đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bạn TP HCM nhằm phát hiện và thu thập các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động tại TP HCM Từ đó tác giả hiệu chỉnh
Nghiên cứu chính thức: Sau khi tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu trên 270 mẫu online, tác giả tiến hành nhập dữ vào phần mềm spss 20.0 và phân tích Cronbach’s Alpha, EFA, hồi quy đa biến, kiểm định T-test và kiểm định phương sai ANOVA Kết luận, kiến nghị: đây là bước cuối cùng của bài nghiên cứu Dựa vào kết quả đã phân tích, em đưa ra kết luận và những đề xuất có liên quan đến đề tài
Quy trình nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động tại TP HCM” được thực hiện theo hình vẽ :
Trang 34Nguồn tác giả
3.2 Xây dựng thang đo sơ bộ
3.2.1 Thang đo “Nhận thức về sự hữu ích”
Việc nhận thức được những lợi ích khi tham gia bảo hiểm xã hội như về già sẽ có khoản lương hưu hằng tháng và thẻ BHYT chăm sóc khi ốm đau sẽ tác động đến Ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động Mua BHXH là một kênh đầu tư tài chính, điểm đặc biệt của BHXH tự nguyện là vừa có tính bảo vệ, phòng ngừa rủi ro
và tiết kiệm Nếu người lao động cảm nhận được những lợi ích mà nó mang lại thì sẽ xem đây là một kênh đầu tư tốt thì ý định mua của họ càng cao
Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của Bagozzi và Warshaw (1989 Trích trong Chutter, M.Y., 2009, trang 10) đã chỉ ra rằng yếu tố “nhận thức sự hữu ích” có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi Đồng thời trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung,
mô hình lý thuyết
thảo luận tay đôi đôi: 12 người
Điều chỉnh thang
đo Thang đo nháp
Nghiên cứu định
lượng sơ bộ: khảo sát
sơ bộ 50 người
Kiểm định giả thuyết
Nghiên cứu định lượng chính thức
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu đề tài
Trang 35Nguyễn Thị Sinh (2019) cũng đề cập đến yếu tố sự hữu ích có tác động đến ý định tham gia BHXH Thông qua các nghiên cứu trên, tác giả có sự kế thừa giả thuyết sau:
Gỉa thuyết H1: “ Nhận thức về sự hữu ích có tác động tích cực đến ý định mua BHXH
tự nguyện”
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng thang đo cho trong mô hình nghiên cứu như sau: Bảng 3.1 Các thang đo trong mô hình nghiên cứu cho nhân tố “Nhận thức về sự hữu
ích”
Mã hóa Các biến quan sát Nguồn quan sát/tác giả
NTHI1 BHXH tự nguyện mang lại nhiều hữu
ích đối với tôi
Phỏng vấn chuyên gia
NTHI2 BHXH tự nguyện giúp bảo vệ tôi trước
những biến cố, những rủi ro xã hội
Phỏng vấn chuyên gia
NTHI3 BHXH tự nguyện giúp tôi có những
khoản lương hưu để ổn định cuộc sống khi về già
Phỏng vấn chuyên gia
NTHI4 BHXH tự nguyện giúp tôi không trở
thành gánh nặng của con cái khi về già
Phỏng vấn chuyên gia
Nguồn tác giả tự tổng hợp
3.2.2 Thang đo “Kiểm soát hành vi”
Ajzen (1991) đã tập trung vào khái niệm kiểm soát hành vi được cảm nhận như sự đánh của một người về sự thuận lợi hay bất lợi ra sao trong việc thực hiện một hành vi Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi càng được tán thành nhiều hơn, ý định của
cá nhân để thực hiện hành vi càng mạnh mẽ hơn Khi thái độ tích cực đối với việc tham gia BHXH tự nguyện tăng lên thì ý định tham gia BHXH tự nguyện cũng sẽ tăng lên
Trong mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu (2013) có đề cấp đến yếu tố kiểm soát hành vi có ảnh hướng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động Từ đó, tác giả có sự kế thừa giả thuyết sau:
Trang 36Giả thuyết H2: “Kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện”
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng thang đo cho trong mô hình nghiên cứu như sau: Bảng 3.2 Các thang đo trong mô hình nghiên cứu cho nhân tố “Kiểm soát hành vi”
Mã hóa Biến quan sát Nguồn quan sát/Tác giả
KSHV1 Tôi có thể dễ dàng đăng ký tham
gia BHXH tự nguyện
Phỏng vấn chuyên gia
KSHV2 Tôi đủ kiến thức và hiểu biết để
tham gia BHXH tự nguyện
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
KSHV3 Tôi cảm thấy việc tham gia BHXH
tự nguyện không có bất cứ cản trở nào
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
Nguồn tác giả tự tổng hợp
3.2.3 Thang đo “Thái độ”
Thái độ nói lên niềm tin tích cực hay tiêu cực của con người và sự đánh giá về hành vi của mình., là sự đánh giá của con người về kết quả của một hành vi (Ajzen, 1991) Trong phạm vi bài nghiên cứu này, thái độ nói lên cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực về việc tham gia BHXH tự nguyện
Nếu người lao động đánh giá việc tham gia BHXH tự nguyện là hữu ích đối với họ thì theo logic của lý thuyết TRA và TPB, mức độ quan tâm đối với BHXH tự nguyện sẽ lớn hơn
Trong mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu (2013) có đề cập đến yếu tố thái độ có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện Từ đó, tác giả có sự kế thừa giả thuyết sau:
Giả thuyết H3: “Thái độ đối với việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có tác động cùng chiều đến ý định tham gia BHXH tự nguyện”
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng thang đo cho mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 37Bảng 3.3 Các thang đo trong mô hình nghiên cứu cho nhân tố “Thái độ”
Nguồn tác giả tự tổng hợp
3.2.4 Thang đo “Thủ tục tham gia”
Thủ tục là các yêu cầu, điều kiện, hồ sơ, trình tự và cách thức thực hiện do cơ quan nhà nước quy định khi người dân tham gia BHXH tự nguyện Thủ tục đơn giản, dễ hiểu, thuận tiện khiến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người dân được tăng cao Trong nghiên cứu của Hoàng Thu Thuỷ, Bùi Hoàng Minh Thư ( 2018) và nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tượng (2013) cũng có đề cập đến yếu tố thủ tục tham gia có tác động đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người dân Cùng với sự kế thừa giả thuyết đó, tác giả đưa gia giả thuyết trong mô hình nghiên cứu như sau:
Giải thuyết H4: “Thủ tục tham gia BHXH có tác động cùng chiều đến ý định tham gia BHXH”
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng thang đo cho trong mô hình nghiên cứu như sau:
Mã hóa Biến quan sát Nguồn quan sát/tác giả
TD1 Tôi cảm thấy thích thú đối với việc
tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
TD2 Theo tôi việc tham gia BHXH tự
nguyện là vô cùng hữu ích
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
TD3 Tôi cảm thấy thoải mái tin tưởng vào
những quyền lợi mà BHXH tự nguyện mang lại
Phỏng vấn chuyên gia
TD4 Theo tôi việc tham gia BHXH là góp
phần đảm bảo ASXH và phát triển đất nước
Phỏng vấn chuyên gia
Trang 38Bảng 3.4 Các thang đo trong mô hình nghiên cứu cho nhân tố “Thủ tục tham gia”
Ký hiệu Biến quan sát Nguồn quan sát/tác giả
TTTG1 Tôi thấy việc tham gia BHXH tự
nguyện rất đơn giản, dễ hiểu
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
TTTG2 Việc tham gia BHXH tự nguyện
không mất quá nhiều thời gian của tôi
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
TTTG3 Thời gian hoàn tất hồ sơ nhanh gọn
TTTG5 Nhân viên cơ quan BHXH hỗ trợ
hết mình khi tôi làm thủ tục tham gia BHXH tự nguyện
Theo đó, trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tượng (2013) cũng có nói đến yếu tố sự kì vọng có tác động đến ý định tham gia BHXH của người lao động Từ đó, tác giả hình thành nên giả thuyết:
Giả thuyết H5: “Sự kì vọng gia đình có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tham gia
BHXH tự nguyện của NLĐ”
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng thang đo cho trong mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 39Bảng 3.5 Các thang đo trong mô hình nghiên cứu cho nhân tố “Sự kỳ vọng”
Ký hiệu Biến quan sát Nguồn quan sát/tác giả
SKV1 Người thân trong gia đình ủng hộ
việc tôi tham gia BHXH tự nguyện
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
SKV2 Người thân trong gia đình khuyến
khích tôi tham gia BHXH
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
SKV3 Người thân trong gia đình cảm thấy
việc tham gia BHXH tự nguyện là cần thiết
Hoàng Thu Thủy, Bùi Hoàng Minh Thư (2018)
Nguồn tác giả tự tổng hợp
3.2.6 Thang đo “Thu nhập”
Mức thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu bảo hiểm, khi thu nhập cao hơn họ càng muốn tham gia bảo hiểm (Horng J Chang, Lun P Hung, & Chia L Ho, 2007) Khi một người có thu nhập cao thì đồng nghĩa nhu cầu của họ cũng sẽ càng lớn, việc tham gia BHXH đối với những người có thu nhập ổn định như “ điểm tựa, cứu cánh” khi về già của họ Từ việc kế thừa nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh (2019) thu nhập có tác động đến ý định tham gia BHXH của NLĐ, tác giả đưa ra giả thuyết:
Giả thuyết H6: “Mức thu nhập có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tham gia BHXH
TN2 Nếu có thu nhập ổn định tôi nhất
định sẽ tham gia BHXH tự nguyện
Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh (2019) TN3 Nếu nhà nước hỗ trợ 1 phần chi phí
thì tôi sẽ làm tham BHXH
Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh (2019)
Nguồn tác giả tự tổng hợp
Trang 403.2.7 Thang đo “Ý định hành vi”
Ý định tham gia BHXH tự nguyện nói lên ý định tham gia hay không tham gia BHXH
tự nguyện của người lao động Ba quan sát được dùng để đo lường khái niệm này, ký hiệu từ YĐ1 đến YĐ3 Các biến quan sát này dựa vào thang đo của Yet Mee và cộng
sự (2010) Kết quả thang đo “Ý định hành vi” gồm các biến quan sát như sau:
Bảng 3.7 Các thang đo trong mô hình nghiên cứu cho nhân tố “Ý định hành vi”
YĐ1 Tôi có ý định tham gia BHXH tự
nguyện
Phỏng vấn chuyên gia
YĐ3 Tôi sẽ tham gia BHXH tự nguyện
ngay từ bây giờ
Phỏng vấn chuyên gia
Nguồn tác giả tự tổng hợp
3.3 Thiết kế bảng câu hỏi quan sát
Sau khi hoàn tất việc hiệu chỉnh và xây dựng các thang đo phù hợp với việc khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến “Ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động tại
TP HCM”, tác giả tiến hành thiết kế bảng câu hỏi khảo sát nhằm phục vụ cho việc thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi chính thức được sử dụng trong nghiên cứu định lượng gồm
3 phần:
❖ Thông tin tổng quát
Phần này ghi nhận thông tin người được phỏng vấn biết đến BHXH tự nguyện qua nguồn thông tin nào, và nghề nghiệp hiện tại của họ Đây là phần thông tin phục vụ cho phân tích mô tả, và cũng là thông tin giúp tác giả đánh giá được kênh thông tin nào có hiệu quả nhất đối với khách hàng
❖ Thông tin các phát biểu về BHXH
Ghi nhận mức độ đồng ý về các biến quan sát, được diễn tả bằng các phát biểu đo lường các khái niệm trong mô hình Các phát biểu được thiết kế dựa theo nhiều cơ sở
lý thuyết khác nhau trong chương 2