1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích quy định của bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử của tòa án một số khó khăn vướng mắc trong thực tiễn

20 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 680,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI  TIỂU LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Đề số 21 PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT Họ và tên Đinh Huỳnh Nhi Sinh viên lớp K6B MSSV 183801010096 Hà Nội – 2021 MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 3 B NỘI DUNG 4 I Khái niệm “Giới hạn xét xử của Tòa án” trong tố tụng hình sự 4 AI Quy định về giới hạn xét xử của Tòa án theo quy định của Bộ l.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ

NỘI 

TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Đề số 21:

PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Họ và tên: Đinh Huỳnh Nhi Sinh viên lớp: K6B

MSSV: 183801010096

Hà Nội – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 4

I Khái niệm “Giới hạn xét xử của Tòa án” trong tố tụng hình sự 4

II.Quy định về giới hạn xét xử của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 5 1 Giới hạn xét xử vụ án hình sự của Tòa án cấp sơ thẩm 5

1.1 Khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 5

1.2 Khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 7

1.3 Khoản 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 11

2 Giới hạn xét xử vụ án hình sự của Tòa án cấp phúc thẩm 11

2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử phúc thẩm 11

2.2 Nội dung về giới hạn xét xử phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 12 III Một số bất cập trong áp dụng vào thực tiễn quy định về giới hạn xét xử của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 14

IV Đề xuất hướng giải quyết những bất cập khi áp dụng vào thực tiễn quy định về giới hạn xét xử của Tòa án 16

C KẾT LUẬN 18

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp – ba mảng quyền lực mà tổng hòa của nó là cốt lõi cho sự vận động và phát triển của bộ máy nhà nước Việt Nam, đặt dưới

sự kiềm chế của luật pháp nhà nước Việt Nam Mỗi một nhánh quyền lực đều được quy định tỉ mỉ, cụ thể trong Hiến pháp Việt Nam nói chung và các môn luật chuyên ngành nói riêng Chỉ xét đến nhánh quyền tư pháp, chủ đạo thực hiện chức năng tư pháp ở Việt Nam là Tòa án – thể hiện qua công tác xét xử, và phối hợp cùng với một loạt các hoạt động bổ trợ khác như điều tra, truy tố, v.v của các cơ quan có thẩm quyền khác, mà nổi bật trong đó là Viện kiểm sát

Có thể nói, với tư cách là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam1 , không khó để có thể hiểu được vì sao cơ quan lập pháp Việt Nam lại tập trung xây dựng rất nhiều các điều luật nhằm hoàn thiện cơ chế hoạt động của Tòa

án Quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án trải dài trong các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, mà cụ thể ở đây đang cần được đề cập đến – đó là trong tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 trước đây và hiện nay là Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đang bao quát toàn bộ thẩm quyền của Tòa án trong công tác xét xử các vụ án hình sự, trình tự, thủ tục xét xử và quy định cả giới hạn xét xử của Tòa án Việt Nam Chính quy định về giới hạn xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự đã đảm bảo được tính định hướng cho các hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng, mà trọng điểm là xác định được phạm vi hoạt động của Tòa án trong công tác xét xử vụ án hình sự, tránh lạm quyền, cũng như đảm bảo được tính độc lập trong xét xử của hội đồng xét xử Tất nhiên,

sự vận động của thực tiễn luôn đặt ra rào cản và thách thức đòi hỏi sự linh hoạt khi áp dụng và cải tiến điều luật, và những quy định về giới hạn xét xử của Tòa án cũng đã và đang vấp phải những khí khăn như thế

Bài tiều luận này cốt lõi sẽ đề cập đến vấn đề “Phân tích quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự về giới hạn xét xử của Tòa án Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết.”

1 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.”

Trang 4

Danh mục các từ viết tắt

Viện kiểm sát nhân dân VKSND

Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS

B NỘI DUNG

I Khái niệm “Giới hạn xét xử của Tòa án” trong tố tụng hình sự

Theo từ điển Tiếng việt: “Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định không thể hoặc

không được phép vượt qua.” [8]

Theo từ điển Luật học: “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý

của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứngvới bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc.” [6]

Theo từ điển Luật học: “Giới hạn của việc xét xử hình sự là phạm vi Tòa án cấp sơ

thẩm được xem xét và giải quyết về vụ án.” [6]

Thực chất, pháp luật TTHS vẫn chưa đưa ra một định nghĩa chuẩn chỉnh về giới hạn xét xử của Tòa án trong TTHS Cho đến hiện tại, trong BLTTHS 2015 vẫn chưa có điều luật quy định về vấn đề này, mà chỉ cụ thể hóa qua các điều luật về “Giới hạn xét xử” (Điều 298) tại Chương XXI về Xét xử sơ thẩm, “Phạm vi xét xử phúc thẩm” (Điều 345), v.v Tuy nhiên, xuất phát từ việc nghiên cứu các khái niệm tách rời cũng như tham khảo

các văn bản pháp luật có liên quan, có thể rút ra một cách tương đối khái niệm giới hạn

xủa việc xét xử trong pháp luật TTHS như sau: Giới hạn của việc xét xử là phạm vi xét xử của Tòa án về người và tội phạm được BLTTHS năm 2015 quy định mà Tòa án không được vượt quá [1].

Trên nguyên tắc “thực hiện chế đố hai cấp xét xử của Tòa án” [4], việc nghiên cứu giới hạn xét xử sẽ tiến hành trên hai bình diện: Giới hạn xét xử sơ thẩm (Điều 298 BLTTHS 2015) và Phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 345 BLTTHS 2015)

Trang 5

II Quy định về giới hạn xét xử của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

1 Giới hạn xét xử vụ án hình sự của Tòa án cấp sơ thẩm

Điều 298 BLTTHS 2015 quy định về Giới hạn của việc xét xử Nhận định được

rằng, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật TTHS nói riêng đã “khoanh vùng” phạm vi xét xử sơ thẩm của Tòa án trong một giới hạn cụ thể Phân tích nội dung từng giới hạn cụ thể sau đây:

1.1 Khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Khoản 1 Điều 298 BLTTHS 2015 quy định: “Tòa án xét xử những bị cáo và những

hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.”

Đặt ra giới hạn này cho công tác xét xử của Tòa án có nghĩa là, Tòa án chỉ được xét

xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố trong bản cáo trạng và Tòa án đã có quyết định đưa vụ án đó ra xét xử

Điều 298 BLTTHS 2015 đã sửa đổi quy định này từ quy định tương ứng tại Điều

196 BLTTHS 2003, cụ thể đã bỏ từ “chỉ” trong cụm “Tòa án chỉ xét xử…” 2 , điều này

đang chỉ ra một vấn đề pháp lý cơ bản, Tòa án có thể xét xử một hoặc nhiều bị cáo, hơn

nữa, việc thay đổi này còn nhằm mở rộng quy định tại Khoản 3 Điều 298 BLTTHS 2015

mà tại điều luật tương ứng trong BLTTHS 2003 không có [12] Còn về cơ bản, điều khoản này vẫn ghi nhận lại quy định của Điều 196 BLTTHS 2003 cùng các văn bản hướng dân thi hành khác Quy định về giới hạn xét xử này chỉ ra Tòa án được xét xử các trường hợp thỏa mãn các điều kiện sau:

1.1.1 Chủ thể mà Tòa án đưa ra xét xử phải là bị cáo đã bị Viện kiểm sát truy tố

Như vậy điều kiện thứ nhất đề Tòa án đưa vụ án ra xét xử, đó là về mặt chủ thể, đối tượng phải là bị cáo đã bị VKS truy tố bằng một bản cáo trạng3

Cáo trạng là cơ sở pháp lý duy nhất để tiến hành phiên xét xử sơ thẩm, và bất kì một văn bản nào khác, dù có được ban hành cũng bởi VKS, chính quyền địa phương hay

2Điều 196 BLTTHS 2003 quy định: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.”

3Điều 243 BLTTHS 2015 quy định về Quyết định truy tố bị can: “Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động

cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.”

Trang 6

TAND cấp trên thì cũng không được xem là một văn bản pháp lý để Tòa án căn cứ tiến hành mở phiên tòa Và mặc dù cáo trạng là văn bản tố tụng thể hiện quan điểm chính thức của VKS về tội danh của bị can, tuy nhiên, quan điểm này không phải là không thể thay đổi Cả một quá trình xét xử vụ án hình sự bao gồm nhiều giai đoạn đòi hỏi phải liên tục nghiên cứu các vấn đề nảy sinh và giải quyết nó, và do vậy, sau khi ra quyết định truy tố, nếu thấy có một trong những căn cứ để thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hoặc khi có căn cứ miễn TNHS cho bị can, bị cáo thì VKS có quyền rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án

Giới hạn xét xử của Tòa án này được đặt ra còn đồng nghĩa với việc những người không bị VKS truy tố và những người đã bị VKS truy tố nhưng đã có quyết định rút quyết định truy tố theo Điều 285 BLTTHS 20154 hoặc đã có quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ theo Điều 2815 và Điều 282 BLTTHS 20156 thì không thuộc giới hạn xét xử của Tòa án [1]

1.1.2 Tòa án chỉ được xét xử các hành vi của bị cáo đã bị Viện kiểm sát truy tố

Tòa án chỉ được xét xử đối với các hành vi đã bị VKS truy tố bằng bản cáo trạng, những hành vi chưa bị VKS truy tố thì Tòa án không được xét xử

Hành vi phạm tội bị truy tố (bao gồm số lượng và tính chất của hành vi) không phải

là hành vi chung chung mà là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm được quy định trong BLHS Do đó, hành vi của bị cáo bị truy tố là những hành vi được quy định thành những tội danh cụ thể của BLHS [7]

1.1.3 Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán thấy rằng đã có nhưng căn cứ để đưa vụ án ra xét xử, xác định bị can là bị cáo và quyết định những việc cần thiết để tiến hành phiên

4Điều 285 BLTTHS 2015 quy định: “Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi

mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.”

5 Điều 281 BLTTHS 2015 quy định: “1 Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp: a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này; b) Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này; c) Chờ kết quả xử

lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị 2 Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo 3 Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi

rõ lý do tạm đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.”

6 Điều 282 BLTTHS 2015 quy định: “1 Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp: a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này; b) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

2 Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.”

Trang 7

tòa Hay nói cách khác, quyết định đưa vụ án ra xét xử là một trong bốn quyết định của thẩm phản chủ tọa phiên tòa7 sau thời gian nghiên cứu hồ sơ theo quy định của pháp luật Trường hợp VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với bị cáo thì rất đơn giản để xác định giới hạn xét xử của Tòa án vì tính đơn giản và rõ ràng của nó Tuy nhiên, trường hợp nếu đối tượng là hành vi của bị cáo thì việc xác định giới hạn xét

xử của Tòa án lại phức tạp hơn, xuất phát từ tính chất đặc thù của hành vi: Một (hay nhiều) người có thể thực hiện một (hay nhiều) hành vi khách quan Có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề thế nào là những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Một ví dụ có thể dẫn chứng là lập luận của tác giả Đinh Văn Quế đăng trên tạp chí kiểm sát số 04/20068 [9]

Nhìn chung, giới hạn xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm trong phạm vi này đặt ra kết luận: Những người không bị VKS truy tố và những người đã bị VKS truy tố nhưng đã có quyết định rút quyết định truy tố (Điều 285) hoặc đã có quyết định đình chỉ (Điều 282) hoặc tạm đình chỉ vụ án (Điều 281) thì không thuộc giới hạn xét xử của Tòa án

1.2 Khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

7 Bốn quyết định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa bao gồm: 1 Đưa vụ án ra xét xử; 2 Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; 3 Tạm đình chỉ vụ án; 4 Đình chỉ vụ án (Khoản 1 Điều 277 BLTTHS 2015)

8Một là, một người phạm tội thực hiện một hành vi khách quan thì việc xác định hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử sẽ căn cứ vào hành vi người phạm tội đó đã thực hiện được quy định trong BLHS Ví dụ: Phát hiện tại

địa điểm là thôn X, xã Y, thành phố Z, anh A có hành vi buôn bán một lô hàng là thuốc giảm đau Afferalgan, nhưng lô hàng này được xác định là hàng giả, chưa qua Bộ Y Tế kiểm duyệt và cấp phép VKS truy tố hành vi vi phạm pháp luật của anh A về “Tội buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” theo Khoản 1 Điều 194 BLHS 2015 và Tòa án cũng quyết định đưa anh A ra xét xử về

“Tội buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” theo Khoản 1 Điều 194 BLHS 2015.

Hai là, một người phạm tội thực hiện nhiều hành vi khách quan thì việc xác định hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án

quyết định đưa ra xét xử sẽ căn cứ vào hành vi nào được VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử để xác định giới hạn

xét xử của Tòa án Ví dụ: Anh B có hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và hành vi cản trở người thi hành

công vụ Nhưng VKS chỉ truy tố anh B về “Tội chống người thi hành công vụ” (Khoản 1 Điều 330 BLHS 2015) mà không truy

tố B về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” (Khoản 1 Điều 260 BLHS 2015) Trường hợp này Tòa án có thẩm quyền cũng chỉ được phép truy tố anh B về hành vi mà VKS đã truy tố (Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ) Tòa án có quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, hoặc kiến nghị trong bản án, kiến nghị bằng văn bản cho VKS mà không có quyền hạn trong việc xét xử thêm.

Ba là, một người phạm tội thực hiện nhiều hành vi khách quan mà tất cả những hành vi đó VKS chỉ truy tố về cùng một tội danh,

nhưng trong số đó có các hành vi cấu thành một tội khác, thì Tòa án được xét xử tất cả những hành vi mà VKS truy tố, nhưng không được kết án tất cả những hành vi đó về một tội danh và cũng không được kết án thêm tội danh khác mà VKS không truy

tố Ví dụ: Anh C bị VKS truy tố về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” (Điều 251 BLHS 2015) vì đã có hành vi mua bán trái

phép ma túy nhiều lần (7 lần) Nhưng Tòa án nhận thấy trong 7 lần thực hiện hành vi phạm tội đó thì chỉ có 5 lần là anh C thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, còn 2 lần khác anh C không mua bán mà dùng địa điểm là nhà ở của mình đề chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (“Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256 BLHS 2015) Trường hợp này Tòa án cũng xét xử về cả 7 lần thực hiện hành vi phạm tội của C, nhưng chỉ xét xử về tội danh tại Điều 251 BLHS về 5 lần thực hiện hành vi, mà không được kết án thêm về tội tại Điều 256.

Bốn là, nhiều người cùng thực hiện một hành vi phạm tội thì xác định giới hạn xét xử của Tòa án cũng tương tự trường hợp 1 Năm là, nhiều người cùng thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng đều bị VKS truy tố về một tội thì việc xác định giới hạn xét

xử của Tòa án phải thông qua hành vi của từng người phạm tội cụ thể và vai trò tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm, mà

không tách riêng hành vi phạm tội của mỗi người Ví dụ: Anh X, anh Y và anh Z bàn bạc với nhau vào đêm 4/5/2021 khoảng 22

– 23 giờ, tại con hẻm nhỏ đã bị hỏng đèn đường, sẽ thực hiện hành vi hiếp dâm đối với chị T (sinh viên đại học đang ở trọ cùng khu xóm với cả ba) khi T đang trên đường đi làm về Cả ba bàn bạc phân công nhau: X sẽ kiềm giữ chặt chị T trên đường và kéo vào khu nhà bỏ hoang gần đó, Y sẽ giữ hai chân và xé bỏ quần áo chị T còn Z sẽ thực hiện hành vi giao cấu trước, sau đó sẽ đổi chỗ cho nhau Hành vi của cả X, Y, Z đều bị VKS truy tố về tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS 2015) Trong quá trình xét xử, Tòa án phải căn cứ vào hành vi của từng người và vai trong của họ trong vụ án đồng phạm này mà không tách bạch từng hành vi của mỗi người thành riêng lẻ.

Sáu là, nhiều người trong cùng một vụ án bị truy tố về nhiều tội khác nhau thì phải căn cứ vào hành vi của từng người mà họ bị

VKS truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

Trang 8

Khoản 2 Điều 298 BLTTHS 2015 quy định: “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo

khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

Quy định này không có gì thay đổi so với quy định tương ứng tại Điều 196 BLTTHS 20039 Nội dung quy định này được hướng dẫn bởi tiểu mục 2, mục II trong

Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 hướng dẫn thi hành một số

quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của BLTTHS 2003:

1.2.1 Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật

Nghĩa là với những hành vi mà VKS truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản

“nặng” hơn hoặc theo khoản “nhẹ” hơn so với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật [5]

Ví dụ: VKS truy tố A về “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm

tội mà có” theo Khoản 3 Điều 323 BLHS 2015 Theo nội dung quy định trên, Tòa án có thể xét xử bị cáo A ngoài Khoản Điều 323 mà VKS đã truy tố, còn có thể xét xử theo Khoản 1, Khoản 2 hay Khoản 4 Điều 323 BLHS 2015

Lưu ý:

+ Đối với trường hợp Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn khoản

mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật, trường hợp nếu khoản nặng hơn đó được quy định là không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp đang thụ lý giải quyết10 thì phải hoãn phiên tòa, trả hồ sơ cho VKS cùng cấp chuyển lên cho VKS cấp trên trực tiếp

ra quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án có thẩm quyển xét xử; Hay trường hợp khoản khác nặng hơn đó đặt ra quy định có thể và cần có người bào chữa thì trước khi mở phiên tòa,Tòa án phải tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình theo quy định của pháp luật tố tụng; Hay trường hợp phải thực hiện các thủ tục thông báo cần thiết cho

9 Điều 196 BLTTHS 2003 quy định: “Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.”

10 Điều 268 BLTTHS 2015 quy định về Thẩm quyền xét xử của Tòa án: “1 Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân

sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm: a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369,

370, 371,

399 và 400 của Bộ luật hình sự; d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án: a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực; b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài; c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.”

Trang 9

bị cáo về việc Tòa án xét xử bị cáo về khoản khác nặng hơn khoản mà VKS đã truy tố [11]; v.v

+ Đặt ra câu hỏi: “Tòa án có quyền xét xử khoản khác nặng hơn với khoản mà

Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật Vậy trong quyết định đưa vụ án ra xét xử có phải ghi rõ khoản nặng hơn mà Tòa án sẽ xét xử không? Nếu không ghi rõ thì có bị xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo không?” Điều này đã được hướng dẫn tại Mục 2, Phần II Công văn số

01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 04 năm 2017 Giải đáp một số vấn đề nghiệp

vụ11[6]

1.2.2 Tòa án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố

Nghĩa là với những hành vi mà VKS truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố [5] Tội phạm khác “bằng” tội phạm mà VKS truy tố là trường hợp tội phạm mà BLHS quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) của các tội phạm đó là như nhau Ngược lại, tội phạm khác “nhẹ” hơn tội phạm mà VKS truy tố là trường hợp tội phạm mà BLHS quy định về trách nhiệm hình sư của tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà VKS đã truy tố

1.2.2.1 Tòa án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng tội mà Viện kiểm sát đã truy tố

Thực tế trường hợp này rất hiếm khi xảy ra, vì một tội bằng một tội khác vẫn có, nhưng không phải là nhiều và cũng không dễ bắt gặp Như vậy, để đánh giá xem trường hợp nào thì tội mà Tòa án muốn xét xử bằng với tội mà VKS đã truy tố, phải so sánh mức thấp nhất và mức cao nhất thuộc cùng một khung hình phạt của mội tội, cả mức trần và mức sàn đó bằng nhau thì trường hợp này mới xảy ra

Ví dụ: Anh A bị VKS truy tố về “Tội sản xuất trái phép chất ma túy” (Khoản 1 Điều

248 BLHS 2015) thì Tòa án có thể xét xử anh A về “Tội vận chuyển trái phép chất ma

11Mục 2, Phần II Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 04 năm 2017 Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ quy định:

“Trường hợp nêu trên, Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết Nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về khoản nặng hơn Trong trường hợp này, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ tội danh, điều, khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố và điều, khoản của Bộ luật hình sự mà Tòa án sẽ xét xử để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; nếu Quyết định đưa vụ

án ra xét xử không ghi rõ tội danh, điều, khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố và điều, khoản của Bộ luật hình sự

mà Tòa án sẽ xét xử là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Cần lưu ý thêm, theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “Trường hợp thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.” Do đó, khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án phải ghi rõ tội danh, điều, khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố và tội danh, điều, khoản của Bộ luật hình

sự mà Tòa án sẽ xét xử.”

Trang 10

túy” (Khoản 1 Điều 250 BLHS 2015) Cả hai tội danh đều có khung hình phạt quy định tại Khoản 1 điều luật tương ứng là từ 02 – 07 năm tù

1.2.2.2 Tòa án có thể xét xử bị cáo về một tội khác nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố

Cũng tương tự như tiểu mục 1.2.2.1, đánh giá khi nào thì được xem là một tội nhẹ hơn tội khác bao gồm các trường hợp sau:

Một là, xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy

định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn12

Hai là, trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội là

tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn13

Ba là, trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều

tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn14

Bốn là, trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều

là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn

Năm là, trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội

như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thì hình phạt

bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn

Lưu ý: Khi VKS truy tố bị cáo về nhiều tội với nhiều hành vi phạm tội, thì Tòa án

cũng có thể xét xử bị cáo về tội nhẹ nhất trong các tội mà VKS truy tố hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà VKS truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội đó [5]

12 Ví dụ: Đối với tội giết người (Điều 123 BLHS 2015), hình phạt nặng nhất là tử hình Đối với tội giết người trong trạng

thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS 2015), hình phạt nặng nhất là 07 năm tù giam Do vậy, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh “nhẹ hơn” tội giết người.

13Ví dụ: Đối với tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS 2015), mức hình phạt tù cao nhất là 05 năm Đối với tội hành hạ

người khác (Điều 140 BLHS 2015), mức hình phạt tù cao nhất là 03 năm Do vậy, tội hành hạ người khác “nhẹ hơn” tội làm nhục người khác.

14 Ví dụ: Đối với tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS 2015) và tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015) đều có mức hình

phạt cao nhất là tù chung thân Nhưng tội cướp giật tài sản có mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất là 01 năm tù (Khoản 1) còn tội cướp tài sản là 03 năm tù Do vậy, tội cướp giật tài sản “nhẹ hơn” tội cướp tài sản.

Ngày đăng: 07/07/2022, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Phạm Mạnh Hùng (2016), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: TS. Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2016
2. Bộ luật tố tụng hình sự, luật số 10/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
3. Bộ luật hình sự, luật số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự
4. Luật tổ chức Tòa án nhân dân, luật số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
5. Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của BLTTHS 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 05 tháng 11 năm 2004 "hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm
6. Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 04 năm 2017 Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 07 tháng 04 năm 2017
7. Mai Bộ (2008), Lại bàn về giới hạn của việc xét xử, Tòa án nhân dân 8. Từ điển Luật học (2006), Nxb Từ điển bách khoa – Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về giới hạn của việc xét xử," Tòa án nhân dân8."Từ điển Luật học
Tác giả: Mai Bộ (2008), Lại bàn về giới hạn của việc xét xử, Tòa án nhân dân 8. Từ điển Luật học
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa – Nxb Tư pháp
Năm: 2006
9. Đinh Văn Quế (2006), Một số vấn đề về giới hạn của việc xét xử, Tạp chí Kiểm sát số 4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giới hạn của việc xét xử
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2006
10. Trung tâm từ điển học (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm từ điển học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Thúy Hoàn (2011), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thúy Hoàn (2011), "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giới hạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Năm: 2011
12. Hoàng Đình Dũng (2020), Một số bất cập về quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tạp chí tòa án nhân dân điện tử (www.tapchitoaan.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Đình Dũng (2020), "Một số bất cập về quy định về giới hạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự
Tác giả: Hoàng Đình Dũng
Năm: 2020
13. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
14. Nguyễn Thái Phúc (2003), “Vấn đế Giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đế Giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự”
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2003
15. Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 08 tháng 12 năm 2005 "hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm
16. Hà Huy Cầu (2018), Giới hạn xét xử vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam tư thực tiễn tỉnh Ninh Thuận, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Huy Cầu (2018), "Giới hạn xét xử vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hìnhsự Việt Nam tư thực tiễn tỉnh Ninh Thuận
Tác giả: Hà Huy Cầu
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Đề số 21: - Phân tích quy định của bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử của tòa án một số khó khăn vướng mắc trong thực tiễn
s ố 21: (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w