1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ình luận về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo quy định của Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự và pháp luật Việt Nam

21 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 276,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI ((((( BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ 30 Bình luận về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo quy định của Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự và pháp luật Việt Nam Họ và tên Lớp MSSV SBD Lê Tự Hoàng Đức K7C 193801010068 TKS000030 MỤC LỤC 1ĐẶT VẤN ĐỀ 2GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ LÃNH SỰ VÀ CHỨC NĂNG LÃNH SỰ 21 Lý luận chung về quan hệ lãnh sự và luật lãnh sự 32 Khái niệm cơ quan đại diện lãnh s.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

- -BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ 30:

Bình luận về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo quy định của Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự và pháp luật Việt Nam

Họ và tên Lớp MSSV SBD

: Lê Tự Hoàng Đức : K7C

:193801010068

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ LÃNH SỰ VÀ CHỨC NĂNG LÃNH SỰ 2

1 Lý luận chung về quan hệ lãnh sự và luật lãnh sự 2

2 Khái niệm cơ quan đại diện lãnh sự và chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự 3

II BÌNH LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN LÃNH SỰ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1963 VỀ QUAN HỆ LÃNH SỰ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4

1 Quy định về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo Công ước Viên 1963 4

2 Quy định về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo pháp luật Việt Nam 10

III.MỘT SỐ KHÓ KHĂN, TỒN TẠI KHI ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG LÃNH SỰ CỦA VIỆT NAM TẠI NƯỚC NGOÀI VÀ KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC 14

1 Khó khăn, hạn chế khi áp dụng các quy định về chức năng lãnh sự của Việt Nam 14

2 Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả chức năng lãnh sự của cơ quan đại diện lãnh sự Việt Nam tại nước ngoài 15

KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thế kỷ XXI là thế kỷ ghi nhận xu thế toàn cầu hóa (globalization) nổi lênmột cách nhanh chóng, mạnh mẽ nhờ sự phát triển của nền tảng khoa học côngnghệ, thông tin truyền thông Toàn cầu hóa nghiễm nhiên trở thành tiến trình vậnđộng của thời đại, mang tính cách mạng và làm thay đổi những hiểu biết vốn có vềbiên giới quốc gia, tạo dựng nên một thế giới phẳng, kéo các quốc gia và vùng lãnhthổ, các tổ chức khu vực và toàn cầu lại với nhau Từ đó, quá trình này đã tạo nênnhững biến đổi về cấu trúc kinh tế - chính trị trong quan hệ liên quốc gia, đa quốcgia, kéo theo những biến đổi về đời sống văn hóa –xã hội, dân cư, hành chính củamỗi quốc gia đó

Không nằm ngoài quy luật chung của thế giới, Việt Nam hiện nay cũng

là một nước chịu hệ quả mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa Theo thống kê của Bộlao động, thương binh và xã hội, trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng số lao động ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài là 42.818 lao động, đạt 47,57% kế hoạch năm, hằngnăm bình quân có khoảng hơn 100.000 người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hình thức hợp đồng Cả nước hiện có khoảng 580 nghìn người ViệtNam đang lao động ở nước ngoài, tham gia thị trường lao động tại 43 quốc gia vàvùng lãnh thổ và ngày càng mở rộng Bên cạnh việc tổ chức công việc, đảm bảo đờisống của nhân dân tại nước ngoài, trong quá trình giao lưu quốc tế, Việt Nam còn

có nhu cầu xây dựng, tăng cường trao đổi văn hóa, giáo dục, kinh tế, ngoại giao và

ổn định, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thực thi chủ quyền đối với công dân

và quốc gia

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và thực hiệnpháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia về vấn đề chức năng của lãnh sự, vẫn cònmột bộ phận nhân dân và cơ quan chức năng có thẩm quyền nhầm lẫn, gây khókhăn cho việc các quyền, nghĩa vụ của bản thân mình trong quá trình thực hiện côngtác, học tập, sinh sống của công dân Việt Nam tại nước ngoài Do đó, bài tiểu luận

“Bình luận về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo quy định của Công ướcViên 1963 về quan hệ lãnh sự và pháp luật Việt Nam” sẽ đi sâu vào việc giải thíchthuật ngữ, khái niệm và bình luận về các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luậtquốc gia, từ đó đưa ra thực trạng áp dụng pháp luật cũng như kiến nghị giải phápkhắc phục về vấn đề này

Trang 4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ LÃNH SỰ VÀ CHỨC NĂNG LÃNH SỰ

1 Lý luận chung về quan hệ lãnh sự và luật lãnh sự

Về mặt lịch sử, quan hệ lãnh sự và chế định lãnh sự xuất hiện rất sớmtrong nền văn minh nhân loại, một số học giả nghiên cứu về quan hệ quốc tế còncho rằng quan hệ này còn xuất phát sơ khởi trước thời điểm tồn tại quan hệ ngoạigiao Quan hệ lãnh sự ngày nay là sản phẩm của sự phát triển lịch sự lâu dài mà tiềnthân của nó là mối bang giao về kinh tế, thương mại và loại hình giao thông vận tảibiển của các nhà nước cổ đại với cái tên Paetor Peregrinus, xuất hiện vào thế kỷ thứIII TCN ở Hy Lạp cổ đại Do vậy, thuật ngữ “lãnh sự” (gốc Latinh “Consul”) cũngxuất phát từ nền văn minh phương tây cổ đại với từ đồng nghĩa là “Proxenos”, làthương gia giàu có của thành – bang này nhưng có quan hệ kinh tế - xã hội vớithành – bang khác và là người thường giúp đỡ các thần dân của thành – bang kháckhi họ gặp những điều bất lợi tại thành – bang quê hương của “Proxenos”

Còn tại thời điểm hiện nay, với sự xuất hiện và gia tăng ngày càng nhiềucác mối quan hệ ngoại giao, trao đổi về kinh tế - văn hóa – xã hội, lao động, dân cưcác nước trên thế giới, thuật ngữ “lãnh sự” hiện đại cũng dần phát triển từ nguyêngốc và trở thành nghĩa là người đại diện ủy quyền của Nhà nước, được Nhà nướcgiao cho các trọng trách thực hiện chức năng lãnh sự trong giới hạn khu vực lãnh sựphù hợp của nước sở tại mà chủ yếu là nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích kinh tế,pháp lý của nước và công dân mà nước đó đại diện.1 Quan hệ lãnh sự trở thành mộtquan hệ đặc thù, gắn bó mật thiết với quan hệ ngoại giao và mang các đặc điểmkhác biệt, tồn tại độc lập nhất định với quan hệ ngoại giao Quan hệ lãnh sự thườngchủ yếu mang tính chất hành chính – pháp lý quốc tế, được thiết lập trong hoạt độngđối ngoại để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân một quốcgia trên lãnh thổ khác

Song song với tiến trình vận động của quan hệ lãnh sự, chế định về lãnh

sự cũng dần được phát triển dưới sự hình thành và hoàn thiện của pháp luật điều

1 Giáo trình Công pháp quốc tế, Đại học Kiểm sát Hà Nội, tr 383

Trang 5

chỉnh các quan hệ lãnh sự: hình thành các tập quán quốc tế, sự xuất hiện của phápluật quốc gia về lãnh sự, các điều ước quốc tế đa phương và song phương được kýkết Luật lãnh sự là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế nhằmđiều chỉnh trình tự thiết lập quan hệ chính thức giữa các quốc gia và chủ thể kháccủa luật quốc tế với nhau, trên cơ sở đó duy trì hoạt động của các cơ quan thực hiệnchức năng lãnh sự của Nhà nước để phục vụ sự phát triển hợp tác quốc tế của cácnhà nước hoặc tổ chức quốc tế liên chính phủ.

Nguồn của luật lãnh sự được duy trì và phát triển trên cơ sở các tập quánquốc tế và các văn kiện pháp lý quốc tế, trong đó có ba điều ước quốc tế trong lĩnhvực lãnh sự được quan tâm nghiên cứu là Công ước Caracat năm 1911 về các chứcnăng lãnh sự, Công ước La Havana năm 1928 về viên chức lãnh sự và Công ướcViên năm 1963 về quan hệ lãnh sự Đồng thời, pháp luật quốc gia Việt Nam cũng

có sự nội luật hóa và điều chỉnh các quy định về chế định lãnh sự rất sớm như trongpháp lệnh về lãnh sự năm 1990 và được thay thế tại các quy định của Luật cơ quanđại diện nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009, sửađổi bổ sung năm 2017

2 Khái niệm cơ quan đại diện lãnh sự và chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự

Dựa trên sự thỏa thuận của các nước, quan hệ lãnh sự giữa các quốc gia được thiết lập, thông thường nếu không có thỏa thuận nào khác thì việc thiết lập quan hệ ngoại giao bao hàm cả việc thiết lập quan hệ lãnh sự, đồng thời thỏa thuận

về việc mở cơ quan lãnh sự

Cơ quan lãnh sự là cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước ở nước ngoài, nhằm thực hiện chức năng lãnh sự trong một khu vực lãnh thổ nhất định của nước tiếp nhận, trên cơ sở thỏa thuận giữa hai nước hữu quan Khu vực lãnh thổ mà

cơ quan lãnh sự thực hiện chức năng của mình gọi là khu vực lãnh sự Khu vực lãnh

sự do hai nước hữu quan thỏa thuận, được xác định trong hiệp định lãnh sự hoặc trong biên bản thỏa thuận và được ghi trong bằng lãnh sự

Theo Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự có quy định bốn loại

Cơ quan đại diện lãnh sự bao gồm: Tổng lãnh sự quá; lãnh sự quán; Phó lãnh sựquán và Đại lý Lãnh sự quán Sau khi nội luật hóa, pháp luật Việt Nam quy định Cơ

Trang 6

quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài là Tổng Lãnh sự quán và Lãnh sựquán Cơ quan đại diện lãnh sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ cụ thể theo quyếtđịnh thành lập của Chính phủ, phù hợp với thỏa thuận giữa các nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận, phù hợp với pháp luật quốc tế.

Theo từ điển luật học, chức năng quản lý nhà nước là tổng thể các biệnpháp, phương pháp mà nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ xã hội nhằmbảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định,phòng ngừa và ngăn chặn các khuynh hướng phát triển lệch lạc2 Xuất phát từ đặcđiểm quan hệ lãnh sự, có thể nói, chức năng lãnh sự (hay chức năng quản lý nhànước trong quan hệ lãnh sự) là tổng thể các biện pháp, phương pháp mà cơ quan đạidiện lãnh sự thay mặt Nhà nước, được Nhà nước ủy quyền đại diện sử dụng để tácđộng lên các quan hệ xã hội (ở đây là quan hệ lãnh sự: giữa công dân với quốc gia,giữa quốc tịch với quốc gia, giữa cơ quan lãnh sự nước gửi với chính quyền địaphương của nước nhận) nhằm định hướng mục tiêu cho các quan hệ này và ngănchặn các khuynh hướng phát triển lệch lạc hoặc bị xâm hại, bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân của quốc gia mình trên lãnh thổ nướckhác

II BÌNH LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN LÃNH

SỰ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1963 VỀ QUAN HỆ LÃNH SỰ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1 Quy định về chức năng của cơ quan đại diện lãnh sự theo Công ước Viên 1963

Rất khó xác định phạm vi chính xác của nhiệm vụ và chức năng lãnh sựbởi chức năng lãnh sự không chỉ được quy định bởi luật quốc tế mà dựa trên tậpquán, điều ước, luật quốc gia và hướng dẫn lãnh sự Chức năng của lãnh sự có thểthay đổi tùy từng trường hợp dựa trên phạm vi không gian và thời gian từng trườnghợp Ví dụ, một viên chức lãnh sự có khả năng thực hiện nhiều quyền hạn rộng hơn

và có nhiều chức năng hơn ở một nơi mà chính phủ của người này không có cơquan đại diện ngoại giao Phạm vi chức năng của lãnh sự sẽ phụ thuộc phần lớn vàocác quy định của hiệp ước hoặc công ước lãnh sự điều chỉnh các mối quan hệ lãnh

2 Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Tr 98.

Trang 7

sự giữa quốc gia cư trú của người đó và quốc gia tiếp nhận Có thể thấy trong một

số công ước, chẳng hạn như Công ước Havana 1928, đã đưa ra định nghĩa về chứcnăng lãnh sự cho pháp luật địa phương trong khi những công ước khác, như Côngước Caracas 1911, có một định nghĩa đầy đủ về chức năng lãnh sự Đặc biệt, Điềuước quốc tế có giá trị pháp lý gần như toàn diện nhất về vấn đề chức năng lãnh sự làCông ước Viên về quan hệ lãnh sự đã cố gắng xác định toàn diện các chức nănglãnh sự bằng cách liệt kê một số nhiệm vụ và chức năng chính của lãnh sự, tuy chưathực sự hoàn chỉnh nhưng đã bao quát hầu hết công tác lãnh sự của các quốc gia

Theo quy định tại điểm a Điều 5 Công ước Viên 1963 quy định về chứcnăng lãnh sự: “Bảo vệ tại Nước tiếp nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhànước, pháp nhân và công dân Nước cử, trong phạm vi luật pháp quốc tế cho phép;”.Đây là chức năng cơ bản nhất của cơ quan đại diện lãnh sự, bao quát hầu hết cácchức năng còn lại, thể hiện vai trò bảo hộ công dân – bảo hộ lãnh sự đối với cácquyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước mà cơ quan đại diện lãnh sự ủy quyền thaymặt đại diện, đảm nhiệm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân, cơquan, tổ chức cá nhân là công dân, có quốc tịch của nước mình – phù hợp với việcquốc gia thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tiến hành các hoạt độngnhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài khi cácquyền và lợi ích này bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ở nước đó3 Quy địnhnày phù hợp với Điều 1 Dự thảo các điều khoản về bảo hộ công dân (do Uỷ ban luậtpháp quốc tế của Liên Hiệp Quốc soạn thảo): “Bảo hộ công dân bao gồm sự việndẫn của một quốc gia, thông qua các hoạt động ngoại giao hoặc các phương thứchòa bình thực hiện trách nhiệm của quốc gia mình, do có sự xâm hại được gây rabởi một hành vi trái pháp luật quốc tế của một quốc gia khác tới một người hoặcmột pháp nhân mang quốc tịch quốc gia đó4.” Tuy nhiên, giới hạn của các hành vibảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, pháp nhân và công dân của cơ quan đại diệnlãnh sự tại nước gửi phải phù hợp với phạm vi mà luật quốc tế cho phép chứ không

có sự áp dụng chức năng này một cách máy móc hoặc rập khuôn tùy tiện

3 ThS Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS Chu Mạnh Hùng (Đồng chủ biên), Giáo trình Luật Quốc Tế, Nxb GDVN, Hà Nội, 2010, tr.147

4 Draft Articles on Diplomatic Protection 2006, http://legal.un.org/docs/?path= /ilc/texts/instruments/english/ draft_articles/9_8_2006.pdf&lang=EF , truy cập ngày 5/12/2021

Trang 8

Điểm b và điểm c Điều 5 của Công ước này quy định chức năng lãnh sựcũng bao gồm: “ Phát triển quan hệ thương mại, kinh tế, văn hoá và khoa học giữaNước cử và Nước tiếp nhận cũng như thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước phùhợp với các quy định của Công ước này; Bằng mọi biện pháp hợp pháp, tìm hiểutình hình và diễn biến trong đời sống thương mại, kinh tế, văn hoá và khoa học củaNước tiếp nhận, báo cáo tình hình đó về Chính phủ Nước cử và cung cấp thông tincho những người quan tâm;”

Đây là nhóm các chức năng lãnh sự mang tính chất ngoại giao, tuy nhiên,khác với chức năng của các cơ quan đại diện ngoại giao, chức năng lãnh sự mặc dù

có điểm tương đồng và thông qua chức năng này có thể thực hiện chức năng ngoạigiao nhưng nó vẫn tồn tại độc lập nhằm xây dựng các mục tiêu trong các lĩnh vựcriêng Mục đích của việc thực hiện chức năng này là thiết lập mối quan hệ lãnh sựsong phương giữa hai quốc gia có thỏa thuận với nhau trên các lĩnh vực thương mại,kinh tế, văn hóa, khoa học, tạo thành cấu nối để giữa Nước cử và Nước tiếp nhận có

sự tăng cường hiểu biết sâu sắc lẫn nhau về các tình hình, diễn biến kinh tế - xã hội,trao đổi khoa học… Chức năng này là điều kiện cho việc phát triển mối quan hệhữu nghị giữa hai nước và đồng thời, còn phục vụ mục tiêu giao lưu, xúc tiến mậudịch về thương mại, cung cấp lao động, trao đổi giáo dục, văn hóa giữa hai quốcgia

Điểm c, điểm e của Công ước Viên cũng quy định chức năng của cơquan đại diện lãnh sự: “Cấp hộ chiếu và giấy tờ đi lại cho công dân Nước cử và cấpthị thực hoặc các giấy tờ thích hợp cho những người muốn đến Nước cử; Hoạt độngvới tư cách là công chứng viên và hộ tịch viên và thực hiện những chức năng tương

tự, cũng như thực hiện một số chức năng có tính chất hành chính, với điều kiệnkhông trái với luật và quy định của Nước tiếp nhận;”

Về bản chất, cơ quan đại diện lãnh sự vẫn là một cơ quan hành chính củaNhà nước, được Nhà nước trao thẩm quyền thực hiện một số hoạt động hành chínhđối ngoại tại nước ngoài Vì vậy, chủ thể này có quyền kiểm tra, giám sát ban hànhcác quyết định hành chính, hành vi hành chính như: Cấp hộ chiếu và giấy tờ đi lạicho công dân, giấy tờ thị thực hoặc thực hiện các chức năng có tính chất hành chínhnhư hộ tịch viên, công chứng viên… Đồng thời, các chức năng trên của cơ quan đại

Trang 9

diện lãnh sự nước Cử hướng đến đối tượng là cá nhân mang quốc tịch quốc gia.Quốc tịch là cơ sở tiền đề ban đầu để phát sinh mối quan hệ giữa cơ quan đại diệnlãnh sự nước Cử - công dân nước Cử cư trú và làm việc tại nơi có khu vực lãnh sự

và được hưởng các quyền bảo hộ lãnh sự từ quốc gia của mình Từ đó, họ có thểđược hưởng đầy đủ các quyền và Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện các chức năngbảo đảm cho dù sinh sống ở trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia, hướng tớiviệc hỗ trợ công dân của quốc gia mà ở đây là trong các lĩnh vực hành chính

Trong quá trình cư trú, học tập và làm việc tại nước sở tại, cơ quan, tổchức, cá nhân là công dân của nước Cử đôi khi cũng gặp một vài khó khăn trongcác lĩnh vực pháp lý, vì vậy, họ cần sự hỗ trợ, giúp đỡ đến từ phía các cơ quan đạidiện cho quốc gia của mình, vì vậy, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự cũnglường trước các trường hợp phải có sự bảo vệ, hỗ trợ, đại diện về mặt pháp luật đốivới công dân nước khác thông qua các chức năng sau: “Giúp đỡ công dân bao gồm

cả thể nhân và pháp nhân của Nước cử; Bảo vệ quyền lợi của công dân bao gồm cảthể nhân và pháp nhân của Nước cử trong trường hợp thừa kế di sản trên lãnh thổNước tiếp nhận, phù hợp với luật và quy định của Nước tiếp nhận; Trong phạm viluật và quy định của Nước tiếp nhận, bảo vệ quyền lợi của những vị thành niên vànhững người bị hạn chế năng lực hành vi là công dân Nước cử, đặc biệt trongtrường hợp cần bố trí sự giám hộ hoặc đỡ đầu cho những người này; Phù hợp vớithực tiễn và thủ tục hiện hành ở Nước tiếp nhận, đại diện hoặc thu xếp việc đại diệnthích hợp cho công dân Nước cử trước toàn án và các nhà chức trách khác của Nướctiếp nhận, nhằm đưa ra những biện pháp tạm thời phù hợp với luật và quy định củanước tiếp nhận để bảo vệ các quyền và lợi ích của các công dân đó, nếu vì vắng mặthoặc vì một lý do nào khác, họ không thể kịp thời bảo vệ các quyền và lợi ích củahọ; Chuyển giao các tài liệu tư pháp và không tư pháp, hoặc thực hiện các uỷ thác

tư pháp hoặc uỷ thác lấy lời khai cho các toà án ở Nước cử phù hợp với các điềuước quốc tế hiện hành, hoặc nếu không có những điều ước quốc tế như vậy thì theobất cứ cách nào khác phù hợp với luật và quy định của Nước tiếp nhận;”

Đặc biệt, các trường hợp được quy định trên đều có tính chất phức tạp vàkhó khăn, cần có một cơ quan tư vấn, hỗ trợ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân như trường hợp trong lĩnh vực thừa kế tài sản có yếu tố nước ngoài

Trang 10

Ví dụ: Cộng hoà Liên bang Đức, khoản 1 Điều 25 Luật mở đầu Bộ luậtdân sự Đức hiện hành có quy định chung về việc giải quyết các vấn đề thừa kế cóyếu tố nước ngoài Theo quy định của Luật này, “Luật của nước mà người để lại disản thừa kể có quốc tịch vào thời điểm chết’ (Lex patriae/Lex nationalist sẽ được ápdụng để giải quyết việc thừa kế có yếu tố nước ngoài Tuy vậy, khoản 2 Điều 25Luật mở đầu này có quy định các ngoại lệ đối với quy tắc trên trong trường hợp giảiquyết việc thừa kế di sản Mặt khác, pháp luật Liên bang Đức cũng cho phép ápdụng “dẫn chiếu ngược trở lại” (“Phản chí”) và “dẫn chiếu đến pháp luật nước thứba” (“Chuyển chí”) trong giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài.

Pháp luật nhiều nước khác (Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, nhiều nước thuộc

hệ thống pháp luật án lệ Anh - Hoa Kỳ, Pháp, Thụy Sỹ) giải quyết vân đề thừa kếnói chung theo quy tắc Lex domicilii Ví dụ, Điều 90 và Điều 91 Luật về tư phápquốc tế 1987 của Thụy Sỹ quy định, đối với người có nơi cư trú cuối cùng tại Thụy

Sỹ, việc thừa kế nói chung phải giải quyết theo pháp luật Thụy Sỹ Nhưng nếu nơi

cư trú cuối cùng của người đó là nước ngoài, thì áp dụng luật xung đột của nướcngoài đó để giải quyết, nếu pháp luật Thụy Sỹ dẫn chiếu đến luật nước ngoài đó

Có thể thấy, trong ví dụ trên, giữa pháp luật các quốc gia hoặc giữa các

hệ thống pháp luật có những khác biệt cơ bản về vấn đề giải quyết tranh chấp vềthừa kế tài sản có yếu tố nước ngoài, công dân của nước sở tại đôi khi không thể amhiểu, tường tận về pháp luật cả nội dung lẫn hình thức cũng như nắm bắt quyền lợi,nghĩa vụ của mình, do đó, rất cần cơ quan đại diện để thực hiện đầy đủ quy trình,thủ tục cũng như bảo vệ bản thân theo pháp luật nước sở tại khi tham gia xử lý tranhchấp

Trường hợp đại diện hoặc trở thành người giám hộ, giám sát những vịthành niên và những người bị hạn chế năng lực hành vi là công dân Nước cử vì đây

là nhóm người yếu thế, bị hạn chế khả năng nhận biết, hiểu biết pháp luật Trườnghợp nếu công dân của Nước cử vì một số lý do phải tham gia vào quá trình giảiquyết vụ án, vụ việc của Tòa án và các cơ quan chuyên trách của nước sở tại thì cơquan đại diện lãnh sự có trách nhiệm hỗ trợ tố tụng như: đại diện hoặc thu xếp việcđại diện thích hợp, Chuyển giao các tài liệu tư pháp và không tư pháp, hoặc thựchiện các uỷ thác tư pháp hoặc uỷ thác lấy lời khai cho các toà án ở Nước cử theo

Ngày đăng: 07/07/2022, 18:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Lê Thị Minh Phương (2018), “Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân Việt Nam di cư ra nước ngoài”, Tapchicongthuong.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân Việt Nam di cư ra nước ngoài
Tác giả: Lê Thị Minh Phương
Năm: 2018
10. Nguyễn Thị Hương Lan (2021), “Bảo hộ công dân Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động”, tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ công dân Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Lan
Năm: 2021
15. International Plan of Action to Prevent, Deter and Eliminate Illegal, Unreported and Unregulated Fishing. http://www.fao.org/3/a-y1224e.pdf Link
16. Draft Articles on Diplomatic Protection 2006, http://legal.un.org/docs/?path=../ilc/texts/instruments/english/draft_articles/9_8_2006.pdf&lang=EF Link
1. Quốc Hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Khác
3. Quốc Hội (2009), Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội Khác
4. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2018), Giáo trình Công pháp quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia sự thật Khác
5. Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb Công an nhân dân Khác
8. ThS Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS Chu Mạnh Hùng (Đồng chủ biên), Giáo trình Luật Quốc Tế, Nxb. GDVN, Hà Nội Khác
11. Hoàng Thế Liên (2011), “Công tác xây dựng pháp luật liên quan tới người Việt Nam ở nước ngoài, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ tư pháp số 1/2011 Khác
12. Trần Thị Thu Thủy (2014), Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội Khác
13. Sở ngoại vụ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2018), Tuyên truyền chính sách và pháp luật về Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài,sngv.thuathienhue.gov.vn Khác
14. Sen B. (1965) Consular Functions. In: A Diplomat’s Handbook of International Law and Practice. Springer, Dordrecht Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w