Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết Họ và tên Chu Đức Anh Lớp K6B MSSV 183801010207 Số báo danh TKS000006 Mã LHP 010100007902 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Phân tích quy đ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
- -BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỀ BÀI:
Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự Hãy nêu một số khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết.
Họ và tên: Chu Đức Anh Lớp: K6B
MSSV: 183801010207
Số báo danh: TKS000006
Mã LHP: 010100007902
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự 1
1.1 Một số khái niệm liên quan 1
1.2 Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2
1.2.1 Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại 2
1.2.2 Về chủ thể có quyền khởi tố trong trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại 4
1.2.4 Rút yêu cầu khởi tố 5
II Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 7
2.1 Một số khó khăn, vướng mắc 7
2.1.1 Về các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu 7
2.1.2 Về vấn đề yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 9
2.1.3 Về việc không yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu khởi tố 9
2.1.4 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc nêu trên 10
2.2 Kiến nghị giải quyết khó khăn, vướng mắc trong khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 11
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong quy trình của tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng bởi đây là cơ sở để xác định các công việc cần làm ở các giai đoạn tiếp theo Thông thường, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thường được trao cho các cơ quan nhà nước như cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và một số cơ quan khác chứ không phải là các cá nhân, tổ chức tư nhân Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, có trường hợp mà cá nhân, tổ chức tư nhân có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự Chính bởi sự đặc biệt này nên em
quyết định chọn Đề bài số 13: “Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị
hại theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết.” làm bài tiểu luận kết thúc học phần
của mình
NỘI DUNG
I Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định của
Bộ luật tố tụng Hình sự
I.1 Một số khái niệm liên quan
Để làm rõ nội dung đề bài yêu cầu, trước hết cần hiểu rõ các khái niệm “ khởi tố vụ án hình sự”, “bị hại”
Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn
mở đầu Trong đó được hiểu là “giai đoạn các cơ quan có thẩm quyền xác định
sự việc xảy ra có hay không có dấu hiện tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.” Xét cho cùng, về bản chất, khởi tố vụ án hình sự là xác
định có sự việc phạm tội, có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hay không, Nếu có sẽ tiến hành ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, còn nếu không sẽ không khởi tố vụ án
Theo khoản 1 Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị hại được hiểu
“là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan,
tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.”
Đây là đối tượng bị ảnh hưởng tiêu cực từ các hành vi phạm tội, có thể là cá nhân hoặc cá nhân, tổ chức
Như vậy, khởi tố theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt của khởi tố
vụ án hình sự, áp dụng với một số tội phạm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân
Trang 4phẩm và một số quyền nhân thân của bị hại là cá nhân hoặc tài sản, uy tín của cơ quan, tổ chức, theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi xác định có dấu hiệu tội phạm chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có quyết định của bị hại.[4]
I.2 Phân tích quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định của
Bộ luật Tố tụng Hình sự
I.2.1 Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Hiện nay, theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, những cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, mặc dù phát hiện có dấu hiệu tội phạm nhưng các cơ quan kể trên cũng không được khởi tố Bởi vì phải có yêu cầu của bị hại thì mới được khởi tố vụ án hình sự Trường hợp này được quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể tại khoản 1 như sau:
“Điều 155 Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1 Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi
có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”
Các tội danh được nêu tại Khoản 1 Điều 155 bao gồm: Khoản 1 của các điều: Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 135 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 136 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Điều 138 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 139 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 141 Tội hiếp dâm; Điều 143 Tội cưỡng dâm; Điều 155 Tội làm nhục người khác; Điều 156 Tội vu khống; Điều 226 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Các tội phạm được nêu phía trên chỉ áp dụng khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại khi thuộc vào khoản 1 của các tội phạm đó được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 Bởi khoản 1 của các tội danh được phân loại vào nhóm
Trang 5tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội chưa quá nguy hiểm Còn nếu cũng là các tội danh đó nhưng không thuộc vào khoản 1 tức
là các tội được phân vào loại rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn được khởi tố vụ án mà không cần
có yêu cầu của bị hại Bởi đã là tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì mức độ gây hại cho xã hội lớn, cần trừng trị nhanh, kịp thời, tránh để đối tượng phạm tội có cơ hội phạm tội thêm hoặc lẩn trốn
Hơn nữa, việc khởi tố tội phạm theo yêu cầu của bị hại có mục đích là để các bên có cơ hội tự giải quyết vấn đề theo cách thỏa đáng, phù hợp với cả hai bên Mặc dù, trong thực tế, việc khởi tố vụ án hình sự không phụ thuộc vào bị hại có đồng ý và bất cứ tổ chức, cá nhân nào phạm tội mà không bị khởi tố Bởi vậy, trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị can rất đặc biệt Sở dĩ như vậy là vì không ít tường hợp tội phạm xảy ra gây thiệt hại cho bị hại không chỉ về lợi ích vật chất mà còn về uy tín Phần lớn các tội được nêu tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự đều là các tội xâm phạm sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác, chỉ có Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là xâm phạm đến trật tự kinh tế Nếu khởi tố vụ án hình sự theo nguyên tắc thông thường có thể gây nhiều hệ quả xấu, tổn thất khác cho bị hại Đôi khi, đưa vụ án ra xét xử công khai ảnh hưởng lớn đến danh dự, uy tín của bị hại Trong trường hợp đó, không khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thục hiện tội phạm
mà để cho các bên tự mình lựa chọn cách giải quyết sao cho vừa được đền bù một phần những mất mát vừa giữ được tình cảm xóm làng, họ hàng, anh em hoặc giữ kín được chuyện đời tư Bởi vậy, để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho bị hại, pháp luật quy định trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy
ra thì việc khởi tố vụ án hình sự còn dựa trên yêu cầu của bị hại Việc này giúp
bị hại được tự do lựa chọn cách giải quyết các sự việc gây thiệt hại cho mình một cách ổn thỏa
Do đó, trong thường hợp thuộc vào khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì các
cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án Nếu khởi tố, các cơ quan đã vượt quá thẩm quyền của mình
Muốn ra quyết định khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại, cơ quan có thẩm quyền cần xác định các yếu tố sau:
Thứ nhất, có dấu hiệu tội phạm Các hành vi gây thiệt hại phải thỏa mãn cấu thành tội phạm của các tội danh được liệt kê tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 Ví dụ: Bà Nguyễn Thị A có đơn yêu cầu khởi tố ông Trần
Trang 6Văn B vì đã có hành vi dùng gậy đánh khiến bà A bị gãy xương, tổn thương cơ thể là 15% Tuy nhiên, qua điều tra phát hiện thương tích đó là do bà A bị ngã nhưng do có hiềm khích với ông B nên đổ lỗi cho ông Như vậy, ở đây không có
hành vi “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”
theo cấu thành tội phạm của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nên dù có yêu cầu thì cơ quan điều tra cũng không có căn
cứ quyết định khởi tố vụ án hình sự
Thứ hai, cần xác minh yêu cầu của bị hại có chính đáng, khách quan hay không Đây là một trong các yêu cầu cần thiết vì nếu vội vàng ra quyết định khởi
tố ngay khi nhận được đơn yêu cầu nhưng đến quá trình điều tra mới phát hiện yêu cầu đó là bịa đặt sẽ gây mất thời gian, công sức, ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ giải quyết vụ án Việc xác minh cẩn thận giúp tiết kiệm thời gian, nhân lực, vật lực trong quá trình tố tụng
Qua đó, có thể thấy, việc xác minh trước khi ra quyết định khởi tố vụ án vô cùng quan trọng
1.2.2 Về chủ thể có quyền khởi tố trong trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Những người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án, theo căn cứ tại khoản 1 Điều
155 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì ngoài chính bản thân bị hại ra thì
những người có quyền yêu cầu là “người đại diện của bị hại là người dưới 18
tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.” Bị hại có
quyền yêu cầu khởi tố vụ án bởi đây là người có quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm hại Còn người đại diện của người 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc người đã chết- đây đều là những người không có đủ năng lực hành
vi dân sự để tự thực hiện các quyền của mình Bởi vậy, cần có người đại diện thay mặt họ để đòi hỏi sự bảo vệ của nhà nước, thực hiện các quyền chính đáng của mình
Yêu cầu khởi tố của người đại diện của bị hại là yêu cầu độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bị hại Việc người đại diện của bị hại yêu cầu khởi tố không loại trừ bị hại tự mình yêu cầu khởi tố [5]
1.2.3 Nội dung và hình thức khởi tố
Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định về nội dung yêu cầu khởi
tố vụ án hình sự Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng không ban hành mẫu đơn yêu cầu khởi tố nên gây khó khăn cho người yêu cầu khởi tố do không biết cách thể hiện ý chí của mình trong đơn.[4]
Trang 7Nội dung yêu cầu khởi tố là yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, xử lý sự việc có dấu hiệu tội pham Nếu chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc chỉ yêu cầu cải chính, xin lỗi thì không phải khởi tố vụ án hình sự.[6] Nội dung yêu cầu khởi tố chứa đựng thông tin về tội phạm nên đồng thời cũng là
tố giác tội phạm Tuy nhiên, cần lưu ý, yêu câù khởi tố chỉ là điều kiện chứ không phải căn cứ khởi tố vụ án hình sự bởi căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án hình sự chính là dấu hiệu tội phạm
Hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự là hình thức tài liệu phản ánh yêu cầu khởi tố của bị hại Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không yêu cầu
về hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nhưng tại Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Công an- Bộ Quốc phòng ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có quy định về vấn đề này tại khoản 5 Điều 7 như sau: Yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện theo pháp luật của bị hại thể hiện bằng đơn yêu cầu có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ, nếu trình bày trực tiếp tại cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố và yêu cầu họ ký hoặc điểm chỉ vào biên bản
1.2.4 Rút yêu cầu khởi tố
Người yêu cầu khởi tố cũng có quyền rút yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
“Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.”
Rút yêu cầu khởi tố cũng là quyền của người có yêu cầu khởi tố bởi những tội phạm được liệt kê tại khoản 1 Điều này xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm,
uy tín, sức khỏe của người bị hại nên nếu sau khi có quyết định khởi tố vụ án mà người yêu cầu và bên phạm tội đã đạt được thỏa thuận, giải quyết vụ việc trong phạm vi nội bộ với nhau thì người yêu cầu hoàn toàn có thể rút đơn Từ đó, tránh nhiều người biết đến vụ việc, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cả hai bên và cũng là để cho bên phạm tội có cơ hội sửa chữa, bù đắp cho người bị hại
Việc quy định người có yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu là điểm mới
so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã
Trang 8tiến bộ hơn khi mở rộng quyền rút yêu cầu của người bị hại là người bị hại được quyền rút yêu cầu bất cứ lúc nào trong suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử (Khoản 2 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định người bị hại chỉ được rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án mới được đình chỉ) Thực tiễn cho thấy, người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa sơ thẩm như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định dẫn đến việc hạn chế quyền của người bị hại, bởi vì thông qua hoạt động xét xử thì mới làm rõ được những tình tiết của vụ án Chẳng hạn, tại phần xét hỏi và tranh luận thì nhiều tình tiết của vụ án được làm rõ, đặc biệt là người bị hại được thỏa mãn những vấn đề ảnh hưởng đến yếu tố rút yêu cầu xử lý hình sự của họ mà các giai đoạn tố tụng trước họ chưa có ý định này thì nay họ thay đổi ý định nên muốn rút yêu cầu xử lý hình sự như vấn đề được thỏa thuận bồi thường thích đáng, người bị hại chứng kiến bị cáo thật sự ăn năn hối cải hoặc các yếu tố khác ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của người bị hại…làm họ thật sự muốn rút yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Thực tế cho thấy, tại phiên tòa nhiều vụ án khởi
tố theo yêu cầu của bị hại mà tại đó họ muốn rút yêu cầu khởi tố nhưng không được Hội đồng xét xử xem xét vì không đúng quy định tại Khoản 2, Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà Hội đồng xét xử chỉ có thể căn cứ vào Điểm c, Mục 5, Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999 và áp dụng Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để xem xét đó như là một tình tiết
giảm nhẹ (“người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo”) hoặc Hội đồng xét xử thảo luận và ra quyết định miễn
trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 hoặc miễn hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự 1999 hoặc Hội đồng xét xử sẽ tìm lý do nào đó để hoãn phiên toà, sau đó yêu cầu người bị hại gửi đơn đề nghị được rút yêu cầu khởi tố và Toà án ra quyết định đình chỉ vụ án
Do đó, Khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như trên đã
mở rộng quy định về quyền rút yêu cầu của người bị hại, người bị hại được rút yêu cầu khởi tố không chỉ trước khi mở phiên toà sơ thẩm, việc quy định như vậy là hợp lý và tôn trọng quyền của người bị hại
Hậu quả pháp lý của rút yêu cầu khởi tố là vụ án phải được đình chỉ Cụ thể
là đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, tùy theo giai đoạn tố tụng khi người có yêu cầu rút đơn yêu cầu
Trang 9Mặc dù ưu tiên quyền rút yêu cầu khởi kiện của người có yêu cầu nhưng trường hợp do bị cưỡng ép, bắt buộc vẫn được pháp luật bảo vệ, vụ án vẫn bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo như nguyện vọng ban đầu của người yêu cầu Nhưng trong thực tế, việc chứng minh có dấu hiệu cưỡng ép, bắt buộc là vấn đề khó do bản thân người rút đơn là người bị hại, việc tìm kiếm chứng cứ cũng bị hạn chế nếu bên bị hại đã bị uy hiếp, không dám hợp tác với cơ quan điều tra làm rõ vụ việc Từ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vẫn bị xâm phạm
Người yêu cầu khởi tố đã rút đơn yêu cầu thì không có quyền yêu cầu khởi
tố lại Sở dĩ có quy định này là vì:
1- Khi đã quyết định rút yêu cầu khởi tố tức là hai bên đã có thỏa thuận để giải quyết thiệt hại
2- Nhằm buộc người có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự có trách nhiệm với yêu cầu của mình Bởi khi tiếp nhận hồ sơ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử tốn nhiều thời gian và công sức của các cơ quan có thẩm quyền Nếu cứ yêu cầu sau
đó rút đơn yêu cầu và yêu cầu lại gây mất thời gian, công sức để giải quyết vụ án
Qua việc phân tích nội dung khởi tố theo yêu cầu của bị hại, có thể thấy mục đích chính của vấn đề này nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại Tuy nhiên, thực tế thực hiện vẫn bộc lộ những khó khăn, vướng mắc được thể hiện tại phần sau của bải viết
II Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
II.1 Một số khó khăn, vướng mắc
Qua thời gian thực hiện quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
bị hại đã có nhiều kết quả đạt được Theo thống kế của Cục Thống kê Tội phạm
và Công nghệ thông tin Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, tính từ ngày 01/01/2018 đến 31/08/2018 thì trong 10 tội quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì khởi tố theo yêu cầu của bị hại chủ yếu đối với các tội cố ý gây thương tích, hiếp dâm và làm nhục người khác, trong đó, tội cố ý gây thương tích chiếm tỷ lệ cao nhất (94,8% số vụ và 94,47% số bị can) [2] Tuy nhiên, những khó khăn, vướng mắc vẫn là tồn đọng cần giải quyết được thể hiện như sau:
Trang 102.1.1 Về các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu
Theo quy định hiện hành, có 10 tội thuộc vào khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại tập trung vào tội xâm phạm sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người và quyền sở hữu trí tuệ, hầu hết chỉ thuộc loại tội ít nghiêm trọng, chỉ có 2 trường hợp thuộc loại nghiêm trọng
Trong đó, tội cố ý gây thương tích gặp nhiều khó khăn trong khởi tố do bị hại từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố Nhiều trường hợp liên quan đến các nhóm xã hội đen, đâm thuê, chém mướn nhưng do người gây
án và người bị hại đã thỏa thuận, tự giảng hòa bồi thường hoặc do bị đe doạ, mua chuộc, lo sợ cho tính mạng của bản thân và gia đình nên đã không hợp tác với
Cơ quan điều tra, từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố Ví dụ trường hợp sau: Khoản 19 giờ 30 phút gày 10/06/2018 anh Quang cùng con trai là Nguyễn Ngọc Sơn sinh năm 1998 đi uống bia với anh Vũ Đình Châm sinh năm 1977 cũng ở huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội, anh Quang có nói là anh Lê Văn Dương mang người đến nhà dọa đánh anh Quang, thấy vậy, anh Châm đã về nhà lấy 01 khẩu súng hơi đưa cho anh Quang Sau đó, anh Quang gọi điện cho anh Dương hẹn ra quán bia ở cầu Kệ, Ninh Sở để nói chuyện Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Quang cùng con trai là Sơn mang súng đi về nhà sau đó Sơn cầm theo 01 con dao, Quang cầm 01 khẩu súng và 01 xe mô tô đi tìm đánh Dương, Khi Quang và Sơn, Dương và Phạm Văn Thương- người làm cùng công ty với Dương cầm dao đuổi chém anh Dương, Thương Hai người bỏ chạy vào nhà anh Bùi Việt Mạnh ở gần đó Anh Mạnh trong nhà nghe tiếng ồn ào chạy ra thì bị Sơn cầm dao chém vào vai trái Sau đó, anh Mạnh được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức Hậu quả, anh Mạnh bị 01 vết thương kích thước 10cm, mặt ngoài vai trái, một đoạn kích thước 4cm lộ cơ đenta Sau khi được Sơn bồi thường 40.000.000 đồng, Mạnh đã từ chối đi giám định và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Sơn.[2]
Ngoài ra, đối với một số tội phạm thuộc nhóm xâm phạm quyền sở hữu về tài sản, trong trường hợp tài sản bị xâm hại có giá trị không lớn cũng có thể xem xét đưa vào các tội khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như tội trộm cắp tài sản Ví dụ: Khoảng 22 giờ ngày 16/06/2017, Nguyễn Xuân Hùng đến nơi
ở của anh Lô Quang Sơn (sinh năm 1994 là cháu ruột, con chị gái của Hùng) tại tiểu khu 4, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn Tại đây Hùng có thấy 1 chiếc đồng hồ để trên nóc tủ lạnh ngay sát cửa ra vào Nhân lúc anh Sơn không