1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền và nghĩa vụ của bị can theo bộ luật tố tụng hình sự

15 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 198,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CAN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT Họ và tên Văn Duy Anh Lớp K6B MSSV 183801010225 Số báo danh TKS000027 Mã LHP 010100007902 Hà Nội, 2021 MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2 I Những vấn đề chung về quyền và nghĩa vụ của bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng H.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

- -BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỀ BÀI:

PHÂN TÍCH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CAN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT.

Họ và tên: Văn Duy Anh Lớp: K6B

MSSV: 183801010225

Số báo danh: TKS000027

Mã LHP: 010100007902

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I Những vấn đề chung về quyền và nghĩa vụ của bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2

1 Khái niệm 2

2 Quyền và nghĩa vụ của bị can 2

3 Ý nghĩa quyền và nghĩa vụ của bị can 8

II Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết 8

1 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn 8

2 Hướng giải quyết 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự, là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự Do đó việc quy định và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự là một nội dung của nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, quyền con người trong tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng Hình sự (BLTTHS) 2015 đã có quy định

về các quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự tại Điều 60 Bộ luật này Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được trong việc thực hiện quy định tại Điều 60 Bộ luật này, còn tồn tại những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn thực hiện Từ đó, cần đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự Để làm rõ vấn đề này, em

xin chọn đề bài: “Phân tích quyền và nghĩa vụ của bị can theo quy định của

Bộ luật tố tụng Hình sự Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết.”

Trang 4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Những vấn đề chung về quyền và nghĩa vụ của bị can theo quy định của

Bộ luật Tố tụng Hình sự

1 Khái niệm

1.1 Bị can

Căn cứ khoản 1 Điều 60 BLTTHS 2015 quy định: “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự” Theo đó, bị can là người/ pháp nhân bị tình

nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi nguy hiểm cho xã hội đó phải được ghi nhận trong pháp luật hình sự; phải bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố; Quyết định khởi tố đó phải được Viện Kiểm sát phê chuẩn; phải chịu sự tác động về mặt pháp lý và có thể bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự.[3,4]

1.2 Quyền và nghĩa vụ của bị can

Quyền và nghĩa vụ của bị can là những đảm bảo của pháp luật tố tụng hình sự đối với người/ pháp nhân bị tình nghi phạm tội, nhằm bảo vệ và thực hiện các lợi ích hợp pháp của họ.[4]

2 Quyền và nghĩa vụ của bị can

Điều 60 BLTTHS 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của bị can như sau:

“…2 Bị can có quyền:

a) Được biết lý do mình bị khởi tố;

b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

Trang 5

d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;

k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3 Bị can có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng ”

2.1 Quyền của bị can

a, Được biết lí do mình bị khởi tố

Bị can cần phải được biết tội danh họ bị khởi tố Chỉ khi họ biết tội danh

mà mình đang bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội thì họ mới có thể đưa ra những chứng cứ, lí lẽ phủ nhận việc buộc tội đó Bị can được giao nhận quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố

bị can, quyết định này cũng phải giao cho bị can

Trang 6

b, Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ

Cùng với quyền được biết lý do mình bị khởi tố, bị can có quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ Khi giao quyết định khởi tố cho bị can,

cơ quan điều tra phải thông báo, giải thích cho bị can biết quyền và nghĩa vụ của

họ Không chỉ đơn thuần thông báo về các quyền và nghĩa vụ mà còn phải giải thích để bị can có thể hiểu rõ về các quyền và nghĩa vụ của mình, tạo điều kiện

để họ thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó

c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS

Bị can có quyền được nhận các quyết định tố tụng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình Quy định này nhằm tạo điều kiện cho bị can có thể thực hiện tốt quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình Đồng thời quyết định này cũng đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật, các quyết định phải được đưa ra dưới hình thức văn bản, có căn cứ và đúng pháp luật

d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

Bị can có quyền trình bày lời khai về những vấn đề liên quan đến vụ án

mà họ bị khởi tố, đây là quyền mà không phải nghĩa vụ của họ Bị can có thể trình bày lời khai có những tình tiết có lợi cho mình, hoặc từ chối không khai báo về hành vi của mình Trong trường hợp họ từ chối khai báo hoặc khai gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó.[3,4] Tuy nhiên, thái độ khai báo thánh khẩn của họ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ( điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ

Trang 7

sung 2017) Cơ quan điều tra cần phải tôn trọng quyền trình bày lời khai của bị can để có thể xác định sự thật một cách khách quan, không phiến diện, không được dùng các biện pháp trái pháp luật để buộc tội bị can phải khai báo, điều đó

là vi phạm quyền của bị can và có thể dẫn tới sai lầm trong kết quả điều tra

đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

Bị can có quyền cung cấp những chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, cơ quan có thẩm quyền điều tra khi nhận được các tài liệu, đồ vật do

bị can cung cấp phải tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách khách quan Bị can cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như yêu cầu đọc, ghi chép bản sao tài liệu của vụ án; yêu cầu điều tra lại khi không đồng ý với việc đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra theo quy định tại khoản 5, 6 Điều 157 BLTTHS

e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

Quy định tại điểm e là quy định mới hoàn toàn so với BLTTHS 2003, tại quy định này, sau khi đưa ra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, để có thể

tự gỡ tội cho mình hoặc dùng làm tình tiết giảm nhẹ, bị can có quyền trình bày ý kiến của mình về những nội dung đó Nếu cần thiết có thể yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá về tính xác thực, đúng đắn của những vật này.[7]

g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

Bị can có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định, định giá tài sản về những vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình

sự, quyền và lợi ích hợp pháp của mình; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, nếu không chấp nhận phải trả lời bằng văn bản và nói rõ lý

do Bên cạnh đó, bị can có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật nếu có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ; việc tham gia của

Trang 8

họ có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết yêu cầu của bị can nếu đề nghị đó là có căn cứ[3,4]

h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

Bị can có quyền tự bào chữa, bị can có thể dùng những lý lẽ và chứng cứ

để gỡ tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia tố tụng Quyền tự bào chữa không chỉ là một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị can, bị cáo mà có thể hiểu quyền bào chữa là tổng hòa các quyền của

bị can.[4,6] Ngoài việc đưa ra những lý lẽ biện hộ cho mình, bị can còn thực hiện quyền bào chữa qua các quyền khác như quyền trình bày lời khai, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu,… Các quyền khác của bị can cũng nhằm mục đích thực hiện việc gỡ tội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can Quy định này thể hiện sự công bằng với bị can, khi mà địa vị pháp lý của hai bên khác nhau, một bên là người bị buộc tội (thế yếu) với một bên là người đại diện mang quyền lực nhà nước Ngoài việc tự bào chữa, bị can có quyền nhờ người bào chữa cho mình Theo quy định tại Khoản 1 Điều 422 BLTTHS 2015 quy định người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;

Đây cũng là quyền mới của bị can so với quy định tại BLTTHS 2003[10] Đây là một trong những quyền quan trọng của bị can, đảm bảo cho bị can xem xét tất cả những tài liệu liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội cũng như việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra để cho bị can biết mình bị buộc tội gì và bằng những chứng cứ nào Từ đó mà bị can có thể thực hiện tốt quyền bào chữa của mình Bị can được xem xét tài liệu sẽ giúp khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra cúng như việc tiến hành điều tra được khách quan và toàn diện

Trang 9

k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bị can có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng Quyền này đòi hỏi các chủ thể nói trên phải tuân thủ pháp luật trong khi tiến hành tố tụng, phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết trong thời hạn luật định, kết quả xem xét giải quyết phải được thông báo bằng văn bản cho bị can biết[3]

2.2 Nghĩa vụ của bị can

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã

Sự thay đổi cụm từ “ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát” bằng cụm từ “ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” trong BLTTHS 2015 có nghĩa là bị can không những phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

mà còn phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tiến hành điều tra và Tòa án[5]

Trường hợp bị can được tại ngoại, khi cần triệu tập bị can để tiến hành các hoạt động điều tra hoặc các hoạt động tố tụng khác, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải triệu tập bị can bằng giấy triệu tập theo đúng thủ tục luật định, trong đó phải ghi rõ thời gian, địa điểm bị can phải có mặt Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông qua ban giám thị trại tạm giam Bị can có nghĩa

vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng

Trường hợp vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng

Đây là quy định mới về nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự so với BLTTHS 2003, bị can phải nghiêm túc chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ

Trang 10

quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Điều này đảm bảo cho quá trình tố tụng được thực hiện một cách hiệu quả, khách quan

3 Ý nghĩa quyền và nghĩa vụ của bị can

BLTTHS 2015 có nhiều sự thay đổi khi quy định về quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị can trong các giai đoạn tố tụng Bằng việc bổ sung các quyền, lợi ích hợp pháp của bị can trong BLTTHS 2015, tính minh bạch trong hoạt động tố tụng đã được đảm bảo hơn, bên cạnh đó cũng góp phần cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, thuận lợi

Quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự gắn liền với quyền con người, việc quy định các quyền và nghĩa vụ này dựa trên các cơ sở nhất định Dù đang là người bị tình nghi phạm tội nhưng các quyền cảu bị can vẫn phải được đảm bảo vì nó có ý nghĩa trong việc xác định sự thật khách quan của

vụ án, xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm

II Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết

1 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn

Trong quá trình tố tụng hình sự, đối với một số quyền của bị can như: quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu,… về cơ bản đã được bảo đảm, tuy nhiên thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định

Thứ nhất, một số bị can không được thông báo, giải thích về quyền và

nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng do pháp luật quy định thiếu tính thống nhất

Tại Khoản 5 Điều 179 BLTTHS 2015 chỉ quy định về thời điểm giải thích quyền và nghĩa vụ đối với bị can là khi cơ quan, người có thẩm quyền giao cho

họ quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can mà không quy định về việc thông báo quyền và nghĩa vụ cho bị can

Trong biên bản hỏi cung bị can đều ghi dòng “Bị can đã được giải thích quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự” Thực tế

Trang 11

việc giải thích quyền và nghĩa vụ được thực hiện một cách qua loa, không đầy

đủ, thậm chí còn có một số ít Điều tra viên không thực hiện việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can khi tiến hành tố tụng

Đối với công tác kiểm sát điều tra, thực tế cho thấy Kiểm sát viên tham tra kiểm sát điều tra không thường xuyên tham gia các buổi hỏi cung[5] Tuy theo quy định của BLTTHS 2015 có quy định các trường hợp yêu cầu Viện kiểm sát tham gia hỏi cung, tuy nhiên không bắt buộc việc tham gia hỏi cung của Viện kiểm sát trong tất cả các vụ án[11]

Thứ hai, đối với việc thực hiện quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào

chữa của bị can còn có những hạn chế nhất định

Trong Hội nghị tổng kết tổ chức Hoạt động năm 2020 của Liên đoàn Luật

sư Việt Nam, số lượng luật sư cả nước là 15.107 luật sư[8] Trong đó, có 4.506 luật sư thuộc Đoàn Luật sư Hà Nội, 6.154 luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố

Hồ Chí Minh[9], chiếm 2/3 tổng số luật sư cả nước Ở những tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư không đủ đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý của nhân dân, ngay cả các vụ án bắt buộc phải có luật sư tham gia cũng rất khó khăn Bên cạnh đó, tuy số lượng luật sư ngày càng phát triển nhưng số luật sư kiêm nhiệm nghề nghiệp hoặc vì lý do khác không hành nghề luật sư thường xuyên, không sống bằng nghề luật sư chiếm tỷ lệ đáng kể Do đó, quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị can bị ảnh hưởng không nhỏ

Thứ ba, quyền được nhận các thông báo, quyết định tố tụng của bị can

chưa được thực hiện nghiêm túc Việc pháp luật quy định quyền này để bị can thực hiện tốt quyền bào chữa và các quyền tố tụng khác của mình Các cơ quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ tiến hành đúng trình tự theo luật định Tuy nhiên trên thực tế ở một số nơi cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự đảm bảo quyền này cho bị can Nhiều trường hợp khi tống đạt các giấy tờ liên quan, Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên thường nhờ luôn cán bộ quản giáo vào trực tiếp buồng giam, cho bị can ký nhận Nhiều trường hợp bị can không được nghe đọc hoặc không được tự mình đọc các quyết định tố tụng

Ngày đăng: 07/07/2022, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w