VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT Họ và tên Lớp MSSV Số báo danh Mông Đức Anh K6B 183801010286 TKS000015 Hà Nội, 2021 MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3 1 Lý luận chung về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự 3 1 1 Khái niệm người.
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
- -BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỀ BÀI :
PHÂN TÍCH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HÃY NÊU MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC
TIỄN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Họ và tên Lớp MSSV
Số báo danh
: Mông Đức Anh : K6B
: 183801010286
: TKS000015
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các vụ án Hình sự thì người bào chữa có vai trò vô cùng quan trọng đối với
bị can bị, bị cáo, đặc biệt là trong trường hợp bị can, bị cáo không thể tự bào chữa cho mình hoặc do họ bị hạn chế trong các giai đoạn tố tụng Người bào chữa giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý, kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan và đúng pháp luật Sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là cần thiết và khách quan, trước hết là thực hiện nguyên tắc "bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo" Sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy
đủ và chính xác Chính vì vậy có thể nói rằng, trong tố tụng hình sự, sự tham gia của người bào chữa là rất cần thiết, nó có cả ý nghĩa về pháp lý và ý nghĩa xã hội Xuất phát
từ điều này mà trong Hiến pháp, pháp luật của nước ta nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng luôn luôn có các quy định thể chế hoá quyền và nghĩa vụ của người bào chữa Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng thực tiễn vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc
Để làm rõ vấn đề trên, tôi chọn đề tài : “Phân tích quyền và nghĩa vụ của người bào
chữa theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết.”
Trang 4GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Lý luận chung về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự.
1.1 Khái niệm người bào chữa theo quy định của BLTTHS.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 72 BLTTHS 2015 thì người bào chữa được định nghĩa:
“Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”.[2]
Như vậy, có thể định nghĩa rằng người bào chữa trong tố tụng hình sự là người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, những người khác được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ủy quyền mời hay được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận để cử người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Khoản 2 Điều 72 [2]quy định người bào chữa có thể là:
Luật sư
Là người hoạt động chuyên nghiệp tham gia trong một đoàn luật sư theo quy định của pháp luật Điều 2 luật Luật sư năm 2006 cũng đưa định nghĩa: “Luật sư là người có
đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Để trở được công nhận là một luật sư thì cá nhân phải đáp ứng các điều kiện như: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư, đã được
Trang 5cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một đoàn luật sư.(Điều 10 và điều 11 luật Luật sư năm 2006).[3]
Người đại diện của người bị buộc tội
BLTTHS không quy định rõ thế nào là “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Tuy nhiên, có thể vận dụng Bộ Luật Dân sự về giám hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên để hiểu người đại diện hợp pháp là: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ
có yêu cầu Hoặc người đại diện theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ [1]
Bào chữa viên nhân dân
Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với
Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình [4]
Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý
Trợ giúp viên pháp lý hay còn gọi là Trợ giúp viên là một chức danh tại Việt Nam dùng để chỉ về những người thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý Trợ giúp viên pháp lý
là chức danh được quy định những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể theo Luật Trợ giúp pháp lý của Việt Nam, họ là viên chức nhà nước và làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
1.2 Những trường hợp không được bào chữa
Các trường hợp không được bào chữa được quy định như sau: [2]
Trang 6Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc
1.3 Ý nghĩa của người bào chữa trong quá trình tố tụng
Quyền bào chữa được xem như là phương tiện pháp lý cần thiết để những chủ thể nói trên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Thừa nhận quyền bào chữa là thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng - điều kiện không thể thiếu được cho việc xét
xử khách quan, công minh Càng mở rộng phạm vi quyền bào chữa bao nhiêu thì càng mở rộng tính tranh tụng bấy nhiêu và kết quả tương ứng là càng hạn chế khả năng làm oan sai người vô tội trong xét xử.[7]
Việc tham gia tố tụng của người bào chữa không chỉ bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.[6]
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự là những người chỉ bị tình nghi có hành vi vi phạm pháp luật hình sự chứ không phải là tội phạm Việc họ có phải là tội phạm hay không phải căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án Do đó, trong quá trình tòa án xét xử họ có quyền tự bào chữa và có quyền nhờ người khác bào chữa Người bào chữa có vai trò quan trọng
1.4 Quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự.
Trong hoạt động tố tụng, quyền của người bào chữa được quy định tại Khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015:[2]
Trang 7Gặp, hỏi người bị buộc tội Người bào chữa phải thường xuyên gặp gỡ trao đổi, tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để có thể nắm được đầy đủ các tình tiết cảu
vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm lý, tâm tư, nguyện vọng của người được bào chữa Trên cơ sở đó, người bào chữa mới thu được những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội
để bào chữa cho những người này Qua gặp gỡ, trao đổi, người bào chữa giải thích những vấn đề pháp luật và cũng có thể tác động đến người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làm cho họ
có thái độ khai báo tốt hơn để có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can.[5] Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Việc người bào chữa được quyền có mặt trong các hoạt động điều tra có ý nghĩa quan trọng Khi có mặt người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ổn định về mặt tâm lý hơn, những người tiến hành các hoạt động điều tra thận trọng, tuân thủ pháp luật hơn Người bào chữa theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ điều đó có ý nghĩa rất lớn cho việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiên tòa Người bào chữa có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ những tình tiết có lợi cho người bị tạm giữ, bị can Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền
Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
Trang 8Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;
Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa, tại phiên tòa xét xử vai trò của người bào chữa được thể hiện rõ nét nhất Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác
về những vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo Khi tranh luận, người bào chữa phải phân tích, lập luận, đưa ra những lý lẽ để bảo vệ bị cáo và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng;
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này
Trang 91.5 Nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự.
Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;
Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;
Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
2 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết
Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ
Trang 10luật này Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn có những vướng mắc cần tháo gỡ liên quan đến chế định người bào chữa.[10]
2.1 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn
Thứ nhất, Điều 114 BLTTHS 2015: “Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.” Như vậy, nếu trường hợp người bị bắt yêu cầu phải có người bào chữa tham gia trong quá trình lấy lời khai ban đầu nhưng thời hạn luật quy định chỉ cho phép tối đa là 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do Đây sẽ trở thành một khó khăn, vướng mắc cho cơ quan tiến hành tố tụng khi vừa thực hiện chức năng nhiệm vụ đồng thời vừa phải đảm bảo quyền được bào chữa của người bị bắt.[11]
Thứ hai, theo quy định tại khoản 5 Điều 72 “Một người bào chữa có thể bào chữa
cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau” Thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định quyền và lợi ích của các bị cáo có đối lập nhau hay không trong nhiều trường hợp không phải dễ dàng, khi mà các bị cáo có mối quan hệ thân thiết như cha mẹ với con cái, vợ đối với chồng, anh chị em đối với nhau nhưng quyền và lợi ích của họ vẫn đối lập nhau
Vì vậy khi xác định quyền và lợi ích của các bị cáo có đối lập nhau hay không cần phải căn cứ vào nhiều tình tiết của vụ án mà điều quan trọng nhất là đặt ra những giả thiết, nếu gỡ tội cho người này thì có buộc tội cho người khác không? Hoặc nếu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo này thì có làm tặng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khác mà mình cùng bào chữa hay không? Hay trong vụ án có đồng phạm, ban đầu các bị cáo thông đồng với nhau về lời khai nhằm trốn tránh trách nhiệm, nên các lời khai thể hiện không có sự mâu thuẩn, đối lập quyền lợi của nhau Khi các bị can này nhờ cùng một người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận, nhưng khi ra phiên tòa, qua xét hỏi của HĐXX thì các bị cáo phản cung, từ chối trách nhiệm, đổ tội cho nhau thì vấn đề
Trang 11người bào cho các bị can đó sẽ gặp nhiều khó khăn Vì lúc này, người bào chữa phải bảo
vệ quyền và lợi ích của các bị can mà mình đảm nhiệm.[11]
Thứ ba, thực tiễn cho thấy việc người bào chữa tham gia tố tụng ở giai đoạn từ khi
người bị bắt (trong trường hợp bắt khẩn cấp, bắt quả tang, truy nã) có mặt tại trụ sở CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ là rất hạn chế bới nhiều lý do khác nhau và ở giai đoạn kết thúc điều tra trong trường hợp cần giữ bí mật quốc gia thẩm quyền quyết định của Viện trưởng VKS
có thẩm quyền.[4]
Thứ tư, khó khăn trong việc gặp người bị buộc tội trong trại tạm giam Trên thực
tế, một số cơ sở tạm giam lấy lý do vụ án thuộc loại “nhạy cảm” như ma túy, xâm phạm
an ninh quốc gia…đang trong quá trình điều tra cần có sự giám sát của CQĐT đối với các buổi gặp nên không đồng ý làm thủ tục trích xuất người bị tạm giam, tạm giữ gặp người bào chữa.[4]
Thứ năm, Cơ quan Kiểm sát cần giám sát kỹ lưỡng đối với các vụ án mang tính
chất dư luận, nhạy cảm Khi cơ quan điều tra từ chối làm thủ tục trích xuất cần xem xét các lý do CQĐT không cho người bào chữa vào gặp thân chủ của mình để đưa ra giải pháp kịp thời.[5]
Thứ sáu , trong giai đoạn xét xử, Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và đã gửi các văn bản
tố tụng cho người bào chữa theo quy định của pháp luật Tại phiên tòa, người bào chữa lại
đề nghị hoãn phiên tòa với lý do chưa nghiên cứu kịp hồ sơ vụ án Theo quy tại Điều 79 BLTTHS:[2] Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp
lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 73 Bộ luật này không quy định cụ thể là phải thông báo cho người bào chữa nghiên cứu hồ sơ vụ án? Theo quan điểm của tôi, Tòa án đã thụ lý hồ sợ vụ án trong thời gian luật định và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều gửi cho người bào chữa để thực hiện quyền của mình Vậy