A LỜI MỞ ĐẦU Ngày 2671960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố Luật tổ chức VKSND, đánh dấu sự ra đời của VKSND hệ thống cơ quan mới trong bộ máy nhà nước ta Cơ quan đã góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Ngày 28112013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 Trong bản Hiến pháp này, chế định VKS được tổ chức đánh giá và xây dựng trên quan điểm nhất quán của Đảng về phân công, phối hợp và kiểm soát các cơ quan lập pháp.
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố Luật tổ chứcVKSND, đánh dấu sự ra đời của VKSND - hệ thống cơ quan mới trong bộ máynhà nước ta Cơ quan đã góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển đấtnước
Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiếnpháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 Trong bản Hiến pháp này,chế định VKS được tổ chức đánh giá và xây dựng trên quan điểm nhất quán củaĐảng về phân công, phối hợp và kiểm soát các cơ quan lập pháp, hành pháp, tưpháp Theo quy định tại Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức VKSND 2014 thìVKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp củanước Cộng hòa XHCN Việt Nam Cùng với những chức năng đó, VKSND đã,đang và sẽ khẳng định vai trò vô cùng to lớn là một thiết chế hữu hiệu Chính vì
vậy, tôi xin chọn đề tài “Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công
tố với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật hiện hành Đánh giá thực tiễn thực hiện chức năng của VKSND ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận để làm sáng tỏ hơn vấn đề về chức năng của
VKSND cũng như tình hình thực hiện nó trong thời gian hiện nay ở Việt Nam
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về Viện Kiểm sát nhân dân
1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân
Vị trí của VKSND được xác lập trong Hiến pháp Vị trí của VKSND trong
Bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được thể hiện thông qua cácnguyên tắc tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam nói chung, và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của VKSND nói riêng.Theo Hiến pháp 2013, vị trí của VKSND được xác lập trên những cơ sở sau đây:
Thứ nhất, trên cơ sở quy định Viện trưởng VKSND tối cao do Quốc hội
bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, Khoản 2 Điều 108
1
Trang 2Hiến pháp 2013 đã quy định về chế độ làm việc và trách nhiệm của người đứng
đầu ngành kiểm sát “Viện trưởng VKSND tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các VKS khác do luật định.”
Thứ hai, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ của bộ máy nhà nước,
VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo
Khoản 1 Điều 109 Hiến pháp 2013 “VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Viện
trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên Viện trưởng các VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao.”
Thứ ba, VKSND tổ chức độc lập theo hệ thống ngành dọc theo Khoản 2
Điều 107 Hiến pháp 2013 “VKSND gồm VKSND tối cao và các VKS khác do
luật định.”
Dựa trên những quy định của Hiến pháp 2013, Luật tổ chức VKSND 2014
đã quy định vị trí của VKSND như sau: “VKSND là cơ quan thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.”
Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp 2013 và Khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức VKSND
2014 cũng quy định nhiệm vụ của VKSND Theo đó, VKSND có nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp nhận nghiêm chỉnh vàthống nhất
Vậy, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do Hiến pháp quy định, có thể khẳngđịnh vị trí của VKSND là cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước CHXHCNViệt Nam
2. Hệ thống của Viện Kiểm sát nhân dân
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 “VKSND gồm
VKSND tối cao và các VKS khác do luật định.”
2
Trang 3Có thể thấy rằng, khác với các quy định của Hiến pháp 1992, Hiến pháp
2013 không quy định cụ thể về VKSND địa phương mà chỉ quy định cácVKSND khác do luật định như là một cách quy định mở cho việc thành lập hệthống VKSND khu vực tương thích với hệ thống TAND theo cấp xét xử theochủ trương được ghi nhận trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.Theo đó, tổ chức VKSND thành 4 cấp phù hợp với hệ thống TAND1 Địnhhướng xây dựng VKSND khu vực không phụ thuộc vào đơn vị hành chính -lãnh thổ được cho là có mục tiêu nâng cao sự độc lập, không phụ thuộc vào cơquan hành chính, để có điều kiện giải quyết khách quan, đúng đắn vụ việc tưpháp2
Theo đó, so với Luật tổ chức VKSND 2002, Luật tổ chức VKSND 2014cũng thay đổi, quy định thành 4 cấp VKS, tức là có quy định thêm VKSND cấpcao, bên cạnh đó, VKS quân sự các cấp vẫn được giữa nguyên như trước Điều
40 Luật tổ chức VKSND 2014 đã quy định hệ thống VKSND gồm: VKSND tốicao; VKSND cấp cao; VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đâygọi là VKSND cấp tỉnh); VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh vàtương đương (sau đây gọi là VKSND cấp huyện); VKS quân sự các cấp
3. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND
3.1 Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ Nó mang tínhđặc thù của ngành Kiểm sát, bảo đảm cho ngành tổ chức theo một chính thể vàhoạt động tập trung thống nhất theo chiều dọc từ người lãnh đạo cao nhất chođến các cấp, cán bộ của ngành Nội dung nguyên tắc được thể hiện như sau:
- Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành đề cao vai trò của
người đứng đầu ngành kiểm sát.
1 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 của Viện Chính sách Công và Pháp luật, Nxb Lao động
Xã hội, 532-533.
3
Trang 4Theo quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 109 Hiến pháp 2013 thì “VKSND do
Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên Viện trưởng các VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao.” Điều này cũng được thể hiện tại Khoản
tổ chức VKSND 2014)
Việc thực hiện nguyên tắc này bảo đảm cho các cấp kiểm sát hoạt động đồng
bộ, thống nhất, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát hoạt động tư pháp Đồng thời, đề cao trách nhiệm cá nhân của Việntrưởng
3.2 Nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp,
Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND
Đây là lần đầu tiên Hiến pháp 2013 quy định tại Khoản 2 Điều 109 đã ghinhận dưới dạng một nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của VKSND nói chung
và chế độ làm việc của Kiểm sát viên nói riêng Nguyên tắc này được đảm bảobằng việc nghiêm cấm hành vi can thiệp vào hoạt động nghiệp vụ của VKSND,trong đó có Kiểm sát viên (quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật tổ chức VKSND2014)
Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho Kiểm sát viên có đầy đủ điều kiện vàcăn cứ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
4
Trang 53.3 Nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với quyền thảo
luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát
Luật tổ chức VKSND 2014 quy định về Ủy ban kiểm sát trên cơ sở tổ chức
hệ thống bốn cấp VKS “Tại VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, VKS quân sự trung ương, VKS quân sự quân khu và tương đương thành lập Ủy ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo
đa số những vấn đề quan trọng, cho ý kiến về các vụ án, vụ việc trước khi Viện trưởng quyết định.”
Đối với các Ủy ban kiểm sát của VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh, VKSquân sự trung ương và quân khu và tương đương được quy định tại các Điều 45,
47, 53, 55 Luật tổ chức VKSND 2014, Ủy ban cho ý kiến về các vụ án hình sự,hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, laođộng phức tạp để Viện trưởng xem xét, quyết định Về nghị quyết của Ủy bankiểm sát cũng phải được quá nửa số thành viên biểu quyết tán thành, trường hợpbiểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng Nhưngnếu Viện trưởng không thống nhất ý kiến với đa số thành viên thì thực hiện theoquyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao
II Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố với chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật hiện hành
1 Chức năng thực hành quyền công tố
Về khái niệm:
Theo Từ điển Tiếng việt, quyền công tố quyền của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền (cơ quan công tố, xét xử, điều tra) dùng để điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án 3 Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nướcgiao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKSND) để phát hiện tội phạm vàtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơquan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc
3 Hoàng Phê (chủ biên): Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, tr.204.
5
Trang 6thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên
cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trướcphiên toà
Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố được quy định tại Khoản 1
Điều 3 Luật tổ chức VKSND 2014 “Thực hành quyền công tố là hoạt động của
VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự”.
Về đối tượng: Rút ra từ khái niệm trên, đối tượng của thực hành quyền công
tố là hành vi phạm tội, người phạm tội
Về phạm vi: Phạm vi của thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lựcpháp luật
Về mục đích: Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND 2014, thực hành
quyền công tố của VKSND nhằm mục đích bảo đảm: “a) Mọi hành vi phạm tội,
người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; b) Không để người nào bị khởi tố,
bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.”
Về nội dung: Tại Khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức VKSND 2014 quy định,
VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng các công tác sau:
- Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm;
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự;
6
Trang 7- Điều tra một số loại tội phạm;
- Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
Về nhiệm vụ, quyền hạn, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố,
VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo Khoản 3 Điều 3 Luật tổ chứcVKSND năm 2014
2 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
Về khái niệm:
Hoạt động tư pháp là hoạt động của cơ quan điều tra, VKSND, TAND, cơquan thi hành án trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình tiến hành giảiquyết công việc theo quy định của pháp luật
Theo Khoản 1 điều 4 Luật tổ chức VKSND 2014 “Kiểm sát hoạt động tư
pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.”
Về đối tượng: Từ khái niệm trên ta rút ra được đối tượng của kiểm sát hoạt
động tư pháp là tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong hoạt động tư pháp
Về phạm vi: Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi tiếp
nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốtquá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụviệc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại lao động; việc thihành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động
tư pháp khác theo quy định của pháp luật Như vậy, nó bắt đầu từ khi hoạt động
tư pháp xảy ra trong thực tế và kết thúc khi bản án, quyết định giải quyết vụ án,
vụ việc của Tòa án nhân dân được thi hành xong
7
Trang 8Về mục đích: Theo Khoản 2 Điều 4 Luật tổ chức VKSND, VKSND kiểm
sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo: “a) Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật; b) Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; c) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; d) Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.”
Về nội dung: Khoản 2 Điều 6 Luật tổ chức VKSND 2014 quy định VKSND
thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau:
- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
- Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố;
- Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự;
- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
- Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơquan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáotrong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền;
- Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp
8
Trang 9Về nhiệm vụ, quyền hạn, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư
pháp, VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo Khoản 3 Điều 4Luật Tổ chức VKSND năm 2014
3 Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND theo pháp luật hiện hành 3.1 Sự cần thiết quy định chức năng thực hành quyền công tố với chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND tại Hiến pháp năm 2013
Như đã phân tích ở trên, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định VKSNDthực hiện 2 chức năng đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tưpháp của VKSND (Khoản 1 Điều 107) Đây là thiết chế đặc thù của hệ thốngVKSND trong các nước XHCN trước đây, khác với thiết chế cơ quan công tố ởnhiều quốc gia trên thế giới, trong đó cơ quan công tố chỉ có chức năng thựchành quyền công tố Việc tiếp tục theo đuổi mô hình VKSND với hai chức năngnhư vậy được cho là vẫn cần thiết, phù hợp, hiệu quả trong bối cảnh cải cách tưpháp hiện nay ở Việt Nam, vì ngoài chức năng công tố, yêu cầu của Đảng, Quốc
hội và nhân dân cần đến “một thiết chế giám sát độc lập, hoạt động trực tiếp,
thường xuyên và có tính chuyên nghiệp cao như VKSND.” 4
Ngay từ Hiến pháp năm 1959, VKSND đã được ghi nhận tại Điều 105 với tưcách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hộiđồng chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước
và công dân (thường được gọi là kiểm sát chung) Khi đó, công tố là một chứcnăng phát sinh từ chức năng kiểm sát chung của VKSND Từ Hiến pháp năm
1980, tại Điều 1398 đã thể hiện rằng chức năng công tố của VKSND được táchkhỏi chức năng chung của VKSND Điều này nhằm mục tiêu xác định công tố làmột chức năng cơ bản có tính độc lập của VKSND Trong lần sửa đổi, bổ sungmột số điều của Hiến pháp năm 1992 (năm 2001), chức năng kiểm sát chung
4 Th.s Nguyễn Thị Thủy: Thiết chế VKSND trong Hiến pháp (sửa đổi),
doi.html
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/23287402-thiet-che-vien-kiem-sat-nhan-dan-trong-hien-phap-sua-9
Trang 10một lần nữa được rút gọn hơn thành kiểm sát hoạt động tư pháp (kiểm sát hoạthoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án) nhằm mục đích làm rõ sự phânđịnh thẩm quyền, chức năng kiểm sát của VKSND và các hoạt động kiểm tra,giám sát của các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là của các cơ quan thuộcnhánh hành pháp.
Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có 3 loại ý kiến liên quan đếnviệc đổi mới mô hình VKSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp5:
- Loại ý kiến thứ nhất tán thành tiếp tục quy định chức năng của VKS là thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Quy định như vậy là phù hợpvới mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước ta hiện nay
- Loại ý kiến thứ hai đề nghị bổ sung quy định VKSND có chức năng kiểm
sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm sát việc xử phạt vi phạmhành chính (kiểm sát chung) và thực hiện các hoạt động khác do luật định Đềxuất quay trở lại VKSND như trước đây với hai chức năng kiểm sát chung vàcông tố dựa trên thực tế là ở nước ta thiếu các cơ chế kiểm soát quyền lực nhànước một cách có hiệu quả, đặc biệt là kiểm soát quyền lực của nhánh hànhpháp
- Loại ý kiến thứ ba đề nghị quy định VKSND thực hiện chức năng công tố,
kiểm sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm sát việc xử phạt viphạm hành chính mà không quy định VKSND có chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp vì quy định như vậy là trái với quy định VKSND thực hành quyền công
tố (một bên tham gia tố tụng), không phù hợp với quy định Tòa án thực hiệnquyền tư pháp
Theo quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Ủy ban DTSĐHPnhận thấy, quy định VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tưpháp là bước điều chỉnh quan trọng nhằm thực hiện chủ trương tại Nghị quyếtĐại hội IX của Đảng và đây cũng là kết luận tại Hội nghị Trung ương 5 Hiếnpháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã bỏ chức năng kiểm sát chung
5 Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Báo cáo số 287/BC-UBDTSĐHP ngày 17-5-2013 “Về việc giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở lấy ý kiến Nhân dân.”
10
Trang 11của VKSND để cơ quan này tập trung thực hiện tốt chức năng thực hành quyềncông tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Hơn nữa, trong tổ chức bộ máy nhà nước
ta hiện nay đã có các thiết chế kiểm tra, thanh tra, giám sát việc ban hành vănbản quy phạm pháp luật và việc xử lý vi phạm hành chính Nếu quy định chứcnăng kiểm sát chung cho VKS thì sẽ gây chồng chéo về chức năng giữa các cơquan trong bộ máy nhà nước Hiến pháp cũng không nên quy định “thực hiệncác hoạt động khác” vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, chỉ quy định những vấn đềlớn, cơ bản còn các vấn đề khác để luật định6
Với quan điểm trên, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ủng hộ nhóm quanđiểm thứ nhất, tiếp tục quy định chức năng của VKSND là thực hành quyềncông tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Khác với quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong quá trìnhsửa đổi Hiến pháp năm 1992, quan điểm bỏ chức năng kiểm sát tư pháp đượcủng hộ khá mạnh mẽ Không chỉ thể hiện trong các tranh luận của giới thuậthọc, báo cáo của một cố cơ quan nhà nước cũng ủng hộ cho quan điểm khôngnên tiếp tục quy định VKSND thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp, thay vào
đó chuyển mô hình VKSND thành Viện công tố thực hiện quyền công tố7
Tuy nhiên, việc hình thành Viện công tố chỉ thực hiện quyền công tố cũngvấp phải những trở ngại lớn bắt nguồn từ thực trạng oan sai và thiếu kiểm soáttrong hoạt động xét xử Tình trạng này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nếu tiếptục cắt bỏ đi chức năng kiểm sát tư pháp của VKSND Xuất phát từ những quanngại đó, nhiều quan điểm cho rằng Hiến pháp mới cần tiếp tục quy địnhVKSND có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Theo đó, VKSND có quyềnnăng pháp lý quan trọng trong kiểm soát việc thực hiện quyền lực tư pháp, bảođảm hoạt động của các cơ quan tư pháp được tiến hành nghiêm chỉnh, kịp thời,theo đúng quy định của pháp luật; góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch,vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người, phục vụ
6 Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Báo cáo số 287/BC-UBDTSĐHP ngày 17-5-2013 “Về việc giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở lấy ý kiến Nhân dân.”
Chính trị Quốc gia, tr.335 - 336.
11