1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận luật đất đai tranh chấp quyền thừa kế sử dụng đất

14 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 497,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI o0o BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN LUẬT ĐẤT ĐAI Đề tài Hãy chỉ ra những tồn tại và vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất và đề xuất hướng khắc phục Họ tên Điêu Khánh Nam Lớp K7C MSSV 193801010166 SBD TKS000158 MSHP 010100003304 Hà Nội – Năm 2021 MỞ ĐẦU Thừa kế và để lại thừa kế là một quyền cơ bản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống Mặc khác, đất.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

………… o0o…………

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

MÔN: LUẬT ĐẤT ĐAI

Đề tài : Hãy chỉ ra những tồn tại và vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất và đề xuất hướng khắc phục

Họ tên : Điêu Khánh Nam

Lớp : K7C

MSSV : 193801010166

SBD :TKS000158

MSHP : 010100003304

Hà Nội – Năm 2021

MỞ ĐẦU

Thừa kế và để lại thừa kế là một quyền cơ bản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường

Trang 2

sống Mặc khác, đất đai còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được trong nông nghiệp, lâm nghiệp, là địa bàn phân bố các khu dân cư,

Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại trong bất kỳ một hình thái kinh tế-xã hội nào Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất là một dạng cụ thể của tranh chấp đất đai ra đời kể từ khi Luật đất đai 1993 được ban hành với các quy định về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất Do vậy những mâu thuẫn, bất cập và vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là điều khó tránh khỏi do các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất nằm rải rác ở các đạo luật khác nhau như Bộ luật Dân sự 2015, Luật đất đai 2014, Để khắc phục những yếu kém này, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu, chỉ ra-ahững tồn tại, bất cập cũng như đưa ra hướng khắc phục Với lý do trên, em lựa chọn đề tài số:

“5 Hãy chỉ ra những tồn tại và vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp về thừa kể quyền sử dụng đất và hướng khắc phục”.

Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn

NỘI DUNG

I. Khái quát về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

1.1. Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất

Trang 3

Thừa kế quyền sử dụng đất là một hình thức đặc biệt của chuyển quyền sở hữu đất đai Chỉ khác ở chỗ quan hệ này giới hạn phạm vi chủ thể thực hiện (người được hưởng thừa kế) Thường thì, chỉ những người có quan hệ thừa kế với nhau mới được thừa kế quyền sử dụng đất, trừ khi người chết có để lại di chúc muốn chuyển quyền sử dụng đất cho người ngoài (không có quan hệ thừa kế) Căn cứ theo pháp lý của Bộ Luật Dân sự 2015 về thừa kế và Quy định của Luật Đất đai Có thể hiểu thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết cho người được thừa kế theo di chúc để lại hoặc theo pháp luật Cũng theo quy định của Luật này, Quyền sử dụng đất được coi là di sản thừa kế (Mục II Nghị quyết số 02/2004)NQ-HĐTP)

1.2. Khái niệm về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp

quyền sử dụng đất

Theo Luật đất đai 2003 quy định: "Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ cùa người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai", Khái niệm này cũng được Luật đất đai 2013 tiếp tục ghi nhận tại Khoản

24 Điều 3

Pháp luật đất đai sử dụng khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nhưng lại không giải thích hiểu như thế nào về khái niệm này Chúng ta có thể đưa ra một cách giải thích về khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất như sau: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất

Bên cạnh các đặc điểm của tranh chấp đất đai nói chung, tranh chấp thừa

kế quyền sử dụng đất còn có một số đặc trưng cơ bản

Từ khái niệm về giải quyết đất đai nói chung, chúng ta có thể đưa ra quan niệm về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất như sau: giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc những người sử dụng đất với hộ gia đình, cá nhân khác trong việc xác định người có quyền thừa kế và xác định kỷ

Trang 4

phần thừa kế sử dụng đất được hưởng, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất

2. Vai trò của giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để giải quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương lượng, thỏa thuận với nhau Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà thôi Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như họ không có được

sự thống nhất Một khi đã có sự tham gia của cơ quan nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp là cần thiết, bởi lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và giải quyết theo trình tự, thủ tục gì Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai, trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với khu đất đang bị tranh chấp

Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

Những nguyên nhân cơ bản làm cho việc giải quyết tranh chấp đất

đai gặp khó khăn phức tạp

Một là do sự quản lý yếu kém kéo dài của cơ quan có thẩm quyền quảnlý nhà nước về đất đai được thể hiện trong việc việc lưu trữ, quản lý hồ sơ

về thửa đất không đày đủ, tình trạng hồ sơ bị thất lạc, đứt đoạn thông tin là không hiếm, không cập nhật được di biến động về thửa đất (do thực hiện các

Trang 5

giao dịch, chuyển từ đất tập đoàn, hợp tác xã sang cá nhân, hộ gia đình quản lý vv…); thông tin trong hồ sơ về thửa đất thiếu, không chính xác (không chính xác về kích thước, số đo, diện tích, hình thù thửa đất, trên đất có tài sản như các công trình xây dựng, nhà ở không được thể hiện trong giấy chứng nhận xuất phát từ quy định, cách làm không hợp lý của cơ quan quản lý về đất đai tạo nên

…); chậm hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, doanh nghiệp; nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như thửa đất của ông A nhưng giấy chứng nhận lại ghi ông B, đối với đất rừng khi giao không cụ thể trên thực địa, không rõ ranh giới, chồng lấn khi giao dẫn đến tranh chấp; giấy chứng nhận ghi cấp cho hộ gia đình nhưng chính cơ quan quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không biết những ai trong hộ

có quyền đối với diện tích đất này; nguồn gốc ban đầu là đất của thành viên trong hộ nhưng khi cấp giấy chứng nhận thì trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi hộ gia đình, song hồ sơ không thể hiện rõ việc chuyển từ đất của cá nhân thành đất của “hộ gia đình” Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy có trường hợp đất của cá nhân nhưng quá trình làm thủ tục cấp giấy cán bộ yêu cầu người xin cấp giấy chứng nhận phải ghi cả vợ hoặc chồng thì mới làm thủ tục cấp giấy nên phản ánh không đúng thực trạng …Bên cạnh đó việc cung cấp thông tin cho đương sự, cơ quan giải quyết tranh chấp không hiếm trường hợp cung cấp không kịp thời, thiếu chính xác

Khi hồ sơ về thửa đất không bảo đảm độ tin cậy, cơ quan quản lý không

cung cấp được những thông tin cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp hoặc cung cấp không chính xác là trở ngại rất lớn cho việc giải quyết nhanh và chính xác các vụ tranh chấp về đất đai

Hai là do chính sách pháp luật về đất đai thay đổi liên tục và nhanh

chóng trong một thời gian dài, nhưng mỗi lần thay đổi không có các quy định của pháp luật minh định rõ các quan hệ đất đai hình thành trên thực tế trong các thời đoạn đó, tạo ra những điểm mờ trong quan hệ về đất đai, phải nghiên cứu, xem xét nhiều quy định trong đó có cả loại văn bản thuộc về chính sách đất đai (trong mỗi thời kỳ) khi giải quyết một vụ tranh chấp

Trang 6

Từ chỗ đất đai không được coi là tài sản, không được công nhận là di

sản thừa kế nên người có quyền sử dụng đất không được để thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác, quyền sử dụng đất không phải là đối tượng của giao dịch dân sự (Điều 5 Luật đất đai năm 1987) dù thực tế người dân vẫn giao dịch

Từ quy định của Luật đất đai năm 1987 diện tích đất mà người có quyền sử dụng hợp pháp đã quản lý, khai thác trong nhiều năm, nhưng khi chủ thể này chết thì quyền sử dụng đất đó không được xử lý theo pháp luật thừa kế tài sản mà xử lý theo chính sách, pháp luật về đất đai do cơ quan quản lý đất đai thực hiện, và từng nơi xử lý vấn đề này rất khác nhau

Khi Luật đất đai năm 1993, Bộ luật dân sự năm 1995 được Quốc hội

thông qua dù đã có nhiều cởi mở, đã công nhận quyền sử dụng đất là di sản Tuy nhiên, quy định về thừa kế quyền sử dụng đất là di sản trong Bộ luật dân sự năm

1995 chủ yếu mang tính nguyên tắc nhiều hơn, còn trong thực tế rất nhiều diện tích đất thuộc quyền sử dụng đất do người chết để lại không trở thành di sản Sở

dĩ như vậy một phần xuất phát từ quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định trong Luật đất đai năm 1993

Theo khoản 3 điều 38 Luật đất đai năm 1993 thì chỉ “các tranh chấp

về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp và tài sản gắn liền với việc sử dụng đất

đó thì do tòa án giải quyết” Từ quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 1993 trên thực tế chỉ có một phần quyền sử dụng đất do người chết để lại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mới được coi là di sản và chia thừa kế nếu có tranh chấp, còn phần diện tích thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân không được xử

lý theo luật thừa kế mà theo chính sách đất đai Mặt khác, những quy định về chủ thể, điều kiện để được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất mà Bộ luật dân sự năm 1995 quy định đã tạo ra rào cản để phần lớn quyền sử dụng đất không trở thành di sản chia theo luật thừa kế Ví dụ nếu là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình, trong hộ gia đình có thành viên chết thì phần đất của họ không chia thừa kế mà thành viên khác trong hộ được

sử dụng, nếu trong hộ gia đình không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi

Trang 7

đất đó (Điều 744) Đối với những loại đất khác, chủ thể khác có quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đất có thể được coi là di sản nhưng thực tế việc để lại thừa

kế quyền sử dụng đất, hưởng thừa kế quyền sử dụng đất phải đáp ứng những điều kiện nhất định (được thể hiện tại các Điều 739, Điều 740, Điều 741, Điều

742, Điều 743 Bộ luật dân sự năm 1995, nếu không thỏa mãn điều kiện do Bộ luật quy định cũng không được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất

Đến khi Bộ luật dân sự năm 2005 được quốc hội thông qua đã bỏ các

quy định về điều kiện hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, nhưng theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Luật đất đai năm 2003[4] * thì dù đã mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho tòa án, song vẫn có một tỷ lệ quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án (đó là loại đất

mà người sử dụng đất mới đứng tên trong sổ mục kê, sổ dã ngoại…), điều đó cũng đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất của người chết để lại không được phân chia theo luật thừa kế Sự bất hợp lý này làm xuất hiện những quan điểm khác nhau về thời điểm tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế quyền sử dụng đất, dẫn đến việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất gặp khó khăn, thiếu thống nhất đã được tác giả trình bày trong bài “Thời hiệu khởi kiện vụ án thừa kế và thời điểm tính thời hiệu thừa kế quyền sử dụng đất” trang 256 cuốn

“Thời hiệu, thừa kế và thực tiễn xét xử” do Nhà xuất bản tư pháp ấn hành năm 2017

Ba là từ thời điểm mở thừa kế đến khi có tranh chấp, khởi kiện yêu

cầu chia di sản thừa kế thường có khoảng thời gian khá dài Trước khi Bộ luật dân sự năm 2015 được thông qua thì thời hiệu thừa kế chỉ mười năm nhưng trên thực tế tòa án phải thụ lý giải quyết các tranh chấp thừa kế mà tính từ thời điểm

mở thừa kế đến khi các bên tranh chấp khởi kiện ra tòa án cũng đã vài chục năm,

do xuất hiện những sự kiện mà thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện… Ví dụ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa

kế, Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20 tháng 8 năm 1998 và Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban thường vụ quốc hội, vv…

Trang 8

Hiện nay theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời

hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản có thời hạn là 30 năm

kể từ thời điểm mở thừa kế * Thực tế đã xuất hiện những trường hợp tính từ thời điểm mở thừa kế đến khi khởi kiện ra tòa án đã 50 hoặc 60 năm và đặc biệt

là quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-H ĐTP ngày 05 tháng

5 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì những trường hợp khi Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 còn hiệu lực tòa án

đã đình chỉ giải quyết với lý do hết thời hiệu khởi kiện, nay các thừa kế được quyền khởi kiện lại

Những trường hợp mà thời điểm mở thừa kế đã quá lâu theo quy định của

Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 do hết thời hiệu khởi kiện nên người dân không khởi kiện hoặc có trường hợp khởi kiện Tòa án căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện hoặc tòa án đã đình chỉ giải quyết theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm

2011 Sau khi tòa án trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết thì khối di sản thừa kế là nhà đất đất đã có nhiều biến động như có trường hợp cơ quan quản lý

về đất đai đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một hay một vài thừa

kế đang quản lý di sản, hoặc đã cấp toàn bộ hay một phần đất cho một chủ thể không phải là người thừa kế, hay thừa kế đang quản lý khối di sản là quyền sử dụng đất đã phân chia đất cho con, cháu và thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất di sản Có trường hợp việc chuyển nhượng không chỉ qua một chủ mà đã qua nhiều chủ, các bên đã được hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xác định tích chất của các quan hệ đó như thế nào vv

…Việc thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết là vô cùng khó khăn với tất cả các bên tham gia tố tụng; việc áp dụng pháp luật, lựa chọn đường lối giải quyết thế nào cho hợp lý là vô cùng nan giải

Mặt khác, khi Luật đất đai năm 2013 được thông qua tại Điều 202 đã quy

định về hòa giải tranh chấp đất đai là: “1 Nhà nước khuyến khích các bên tranh

Trang 9

chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở

cơ sở

1 Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi

đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải

2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải

tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai

3 Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có

xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp

xã nơi có đất tranh chấp

4 Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh

giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy

ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Tại Điều 203 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp như sau:

“Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

(1)Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong

các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

Trang 10

(2)Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không

có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm

quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp

luật về tố tụng dân sự;

(3)Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân

cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với

nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo,

người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

(4) Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này

phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”

Với các quy định tại điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì khi có tranh chấp

bắt buộc phải trải qua hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cơ quan thứ nhất làm nhiệm vụ hòa giải, nếu hòa giải không thành, không hòa giải được… thì mới được yêu cầu cơ quan thứ hai là Tòa dân sự giải quyết Những tầng nấc này làm cho vụ kiện kéo dài một bước, nhưng nó chỉ làm chậm việc kết thúc giải quyết

Ngày đăng: 07/07/2022, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w