1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận hình sự tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm

15 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 196,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN LUẬT HÌNH SỰ 1 ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH CÁC DẤU HIỆU CỦA TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI Họ và tên Thảo mai Lớp e MSSV e Hà Nội, 2021 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật Hình sự PLHS Pháp luật hình sự CTTP Cấu thành tội phạm TNHS Trách nhiệm hình sự MỤC LỤC A LỜI MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 I VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 2 1 1 Khái niệm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 2 1 2 Ý nghĩ.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

- -BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 1

CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI

Họ và tên : Thảo mai

Lớp e :

MSSV e :

Trang 2

Hà Nội, 2021 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật Hình sự

PLHS Pháp luật hình sự

CTTP Cấu thành tội phạm

TNHS Trách nhiệm hình sự

Trang 3

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 2

1.1 Khái niệm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 2

1.2 Ý nghĩa của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 2

II DẤU HIỆU CỦA TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 2

1 Các dấu hiệu đặc trưng của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 2

2 Điều kiện về thời điểm phạm tội 5

3 TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 5

4 Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm 6

4.1 Khái niệm đồng phạm 6

4.2 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm 6

III HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 8

1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 8

2 Một số vấn đề cần làm rõ của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 8

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 4

A LỜI MỞ ĐẦU

Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là chế định có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Nó tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định TNHS của người phạm tội Đồng thời, nó khuyến khích người đang chuẩn bị phạm tội hoặc đã bắt tay vào thực hiện tội phạm sớm dừng lại để được hưởng chính sách khoan hồng Từ đó góp phần bảo vệ hơn nữa các quan hệ xã hội là khách thể của luật hình sự

Trên thực tế, không phải không có những trường hợp một người dù đã có ý định phạm tội, đã có hành vi chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng vẫn

tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Lí do người đó chọn cách xử sự trên thay vì tiếp tục thực hiện tội phạm đến cùng là bởi chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cho phép người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đó được hưởng khoan hồng và không phải chịu trách nhiệm hình sự

Thế nhưng, chế định này chưa được nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc về mặt lý luận; quy định của pháp luật còn những bất cập và thực tiễn cũng còn chưa thống nhất Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Phân tích các dấu hiệu của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”

Trang 5

B NỘI DUNG

I VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 1.1 Khái niệm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Đoạn 1 Điều 16 BLHS 2015 quy định: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”.

1.2 Ý nghĩa của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Việc quy định chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong khoa học lập pháp, thực tiễn xét xử, đặc biệt là đối với người phạm tội, đối với Nhà nước và xã hội Cụ thể:

Đối với khoa học lập pháp: Đây được coi là một bước tiến lớn trong khoa học lập

pháp của nước ta

Đối với thực tiễn xét xử: Có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình điều tra,

truy tố, xét xử Nó giải quyết được vấn đề thiếu cơ sở pháp lý để xác định TNHS khi người phạm tội tự nguyện dừng tội mà không có biện pháp ngăn chặn Đồng thời tạo sự đồng bộ của hệ thống tòa án trong việc áp dụng các quy định

Đối với người phạm tội: Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho những người đang

chuẩn bị phạm tội hoặc đã bắt đầu phạm tội có thể tự nguyện chấm dứt tội phạm

và được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước

Đối với Nhà nước và xã hội: thể hiện rõ chính sách hình sự nhân đạo của Đảng

và đất nước ta, phù hợp với mục đích, nhiệm vụ của PLHS, đặc biệt là mục đích trừng trị: phải trừng trị, nhưng cũng phải giáo dục trở thành một người có ích cho

xã hội

II DẤU HIỆU CỦA TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI

1 Các dấu hiệu đặc trưng của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Việc tự ý chấm dứt việc phạm tội có những điểm tương đồng so với quy định phạm tội chưa đạt về người phạm tội không mong muốn hậu quả mong muốn Tuy

2

Trang 6

nhiên hậu quả không xảy ra là xuất phát từ ý chí từ bỏ thực hiện hành vi của người phạm tội chứ không phải là do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như chế định phạm tội chưa đạt Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được quy định tại điều 16, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể:

“Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có

đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.

Theo luật hình sự Việt Nam, chỉ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi thỏa mãn những dấu hiệu sau:

đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành

Việc ngừng phạm tội phải xảy ra khi một người đã chuẩn bị hoặc bắt đầu thực hiện ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện đến cùng, tức là hành vi do người đó thực hiện không có đủ các điều kiện Khi một người đã có hành vi tìm kiếm, sửa soạn công

cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm hoặc khi một người đã bắt tay vào việc thực hiện ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm và tội phạm chưa hoàn thành mà người đó tự nguyên chấm dứt việc phạm tội thì sự chấm dứt

đó được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Khi tội phạm ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì cũng có nghĩa người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi mong muốn và do vậy không thể có tự ý dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm Tại thời điểm chưa đạt đã hoàn thành, hậu quả của tội phạm tuy chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra mà không cần người phạm tội phải có hành vi

gì tiếp nữa (theo ý thức chủ quan của chủ thể) Như vậy, việc chủ thể chỉ dừng lại không thực hiện tiếp rõ ràng không ngăn chặn được việc hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra

Trang 7

Khi tội phạm đã hoàn thành thì cũng không thể có tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được vì khi đó hành vi phạm tội đã có đầy đủ những đặc điểm thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện Do vậy, việc dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm ở thời điểm này không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã được thực hiện

khoát

Việc ngừng phạm tội phải xảy ra khi một người đã chuẩn bị hoặc bắt đầu thực hiện ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện đến cùng, tức là hành vi do người đó thực hiện không

có đủ các điều kiện Một dấu hiệu của một tội phạm cụ thể mà người đó dự định thực hiện

Để được coi là tự nguyện chấm dứt tội phạm, trước hết chủ thể phải ngừng tiếp tục tội phạm phải hoàn toàn do động cơ nội tại thúc đẩy chứ không phải do trở ngại khách quan (Trong thực tế, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể do những động cơ khác nhau thúc đẩy như hối hận, sợ hãi, sợ bị phát hiện, sợ bị trừng phạt…) Người phạm tội sau khi bị ngăn cản vẫn cho rằng hiện tại không có việc gì có thể ngăn chặn được nữa thì vẫn có thể phạm tội Hành vi ngăn chặn tội phạm phải tự nguyện và dứt khoát, tức là người thực hiện hành vi phải quyết định dừng tội phạm, kể

cả trường hợp không có gì ngăn cản người đó tiếp tục phạm tội và việc chấm dứt tội phạm phải tự nguyện Việc chấm dứt hợp đồng phải là sự từ bỏ hoàn toàn ý định phạm tội Việc dừng lại, không thực hiện tiếp tội phạm trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là sự thể hiện của việc từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải là thủ đoạn để tiếp tục thực hiện tội phạm

Việc từ bỏ dứt khoát, vĩnh viễn hay có sách báo còn gọi là từ bỏ hẳn ý định phạm tội là: “Chấm dứt hành vi phạm tội một cách triệt để, chứ không phải là tạm ngừng việc thực hiện tội phạm để chờ cơ hội thuận tiện hơn, chuẩn bị phương tiện tinh vi

4

Trang 8

hơn, thủ đoạn xảo quyệt hơn rồi tiếp tục phạm tội Sự chấm dứt đó được thể hiện ở xử

sự nhất định, không phải bằng lời nói của người bị phát hiện khi đang chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, mà thông thường bằng không hành động, và không nhất thiết phải báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc chấm dứt việc phạm tội, tự thú ”

 Như vậy khi tội phạm hoàn toàn kết thúc tội phạm thì tính nguy hiểm của tội phạm

đã mất đi Để thoả mãn điều kiện chủ quan là người phạm tội tự nguyện chấm dứt tội phạm, ngoài việc tự nguyện từ bỏ ý định tiếp tục phạm tội, người phạm tội còn phải từ bỏ ý định tiếp tục phạm tội một cách rõ ràng và vĩnh viễn bằng một cách nào đó chứ không phải tạm thời Tuy nhiên, nếu người phạm tội muốn được hưởng

sự đối xử khoan hồng của nhà nước và miễn TNHS về tội phạm thì anh ta cũng phải đáp ứng điều kiện thứ hai là thời điểm chấm dứt tội phạm Vì khi có đủ hai điều kiện trên thì tác hại của hành vi phạm tội đối với xã hội mới có thể được loại trừ

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định nhân đạo của PLHS Việt Nam, thể hiện sự tự nguyện dứt khoát của một người không thực hiện ý định hoặc hành vi phạm tội của mình đến cùng mặc dù họ có khả năng thực hiện và điều kiện khách quan không có gì ngăn cản Trong thực tế, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể do những động cơ khác nhau thúc đẩy sự hối hận, bị phát hiện, sợ bị trừng trị…

2 Điều kiện về thời điểm phạm tội

Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì ngoài việc chủ thể từ bỏ

ý định phạm tội đến cùng, còn đòi hỏi việc từ bỏ đó phải dứt khoát và vĩnh viễn Bằng

cách này, khi tội phạm hoàn toàn kết thúc tội phạm, tính nguy hiểm của tội phạm biến mất, và ý định phạm tội không còn nữa Nếu tội phạm dừng lại thì chắc chắn không phải là tạm dừng, thì tác hại cho xã hội vẫn còn, và chúng có thể thực hiện ý đồ của mình bất cứ lúc nào nếu có điều kiện Để đáp ứng điều kiện chủ quan là người phạm tội tự nguyện

chấm dứt tội phạm, ngoài việc người phạm tội tự nguyện từ bỏ ý định tiếp tục phạm tội, người phạm tội còn phải tự nguyện từ bỏ ý định tiếp tục

Trang 9

Khi người phạm tội tự nguyện chấm dứt tội phạm và rõ ràng đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc tội phạm chưa hoàn thành thì được coi là đã tự nguyện đình chỉ tội phạm Do đó, khi họ ở trong giai đoạn tội phạm chưa hoàn thành thì không được coi là thời điểm tự nguyện chấm dứt tội phạm Xét đến ý chí và bản chất hành vi phạm tội của tội phạm, họ đã hoàn thành mọi hành vi xét thấy cần thiết, tính chất nguy hiểm của tội phạm đã bộc lộ ra ngoài và hậu quả của tội phạm có xảy ra hay không không phải là vấn đề thời gian Không cần thực hiện bất kỳ hành động nào khác Khi người phạm tội dừng lại thì hậu quả vẫn xảy ra Nếu kết quả không xảy ra mà chỉ do tác động của nguyên nhân khách quan thì trường hợp đó là tội chưa đủ điều kiện, người phạm tội phải chịu TNHS về tội chưa đủ điều kiện

3 TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Đoạn 2 Điều 16 BLHS 2015 quy định: “Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc

phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội này”.

Theo quy định trên, việc tự nguyện chấm dứt tội phạm là một trong những biện pháp giúp ngăn ngừa hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nó cho phép người có ý định phạm tội và người đã chuẩn bị hoặc bắt đầu phạm tội vẫn có khả năng lựa chọn hành

vi của mình: một là tiếp tục phạm tội đến cùng thì mới có khả năng phạm tội; thứ hai, nếu tự mình ngăn chặn tội phạm thì được hưởng khoan hồng, không phải chịu TNHS Trong nhiều trường hợp, người có hành vi nguy hiểm cho xã hội chọn cách tiếp cận thứ hai, rõ ràng là giúp hạn chế thiệt hại nguy hiểm có thể gây ra cho xã hội

4 Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

4.1 Khái niệm đồng phạm

Theo quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015 “Đồng phạm là trường hợp có hai

người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm”

Đồng phạm là trường hợp phạm tội phức tạp có nhiều chủ thể tham gia và giữ các

vị trí khác nhau trong một vụ phạm tội Khi xác định TNHS cho họ cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định

6

Trang 10

4.2 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

Dựa vào vai trò của từng người phạm tội trong vụ đồng phạm, tại Điều 17 BLHS chia đồng phạm làm bốn loại người gồm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức Mỗi loại người đều có thể tham gia vào vụ đồng phạm ở những thời điểm và với mức độ khác nhau, có những hành vi khác nhau, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, giữ vai trò khác nhau trong vụ đồng phạm

Người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức được miễn trách nhiệm trong trường hợp họ ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm không xảy ra Nhưng nếu những việc họ đã làm không ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra, thì họ có thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình

sự Họ chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự (theo quy định tại Điều 29 BLHS

2015)

Theo Điều 16 BLHS năm 2015 về tội định phạm thì phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất: Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức phải tự ý nửa chừng

chấm dứt phạm tội trước khi người thực hành đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm

Điều kiện thứ hai: Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức phải có những hành

động tích cực nhằm ngăn chặn việc thực hiện tội phạm của người thực hành, làm mất tác dụng của những hành vi trước đó của mình Cụ thể:

+ Người giúp sức phải chấm dứt việc tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm nhưng không cung cấp công cụ, phương tiện phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho người thực hành…Nếu sự giúp sức đang được người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì người giúp sức cũng phải có hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm

+ Trong trường hợp có nhiều người cùng phạm tội, có người từ bỏ ý định phạm tội, có người không từ bỏ ý định phạm tội Từ bỏ ý chí không làm hoặc những việc bạn làm trước khi từ bỏ không giúp cho những người đồng phạm khác tiếp tục phạm tội Còn nếu những việc mà họ đã làm được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm thì họ cũng phải có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm đó

Trang 11

+ Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, người thực hành được miễn TNHS về tội phạm theo Điều 16 BLHS năm 2015 trong trường hợp họ ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm không xảy ra Nhưng nếu những việc đã làm của họ không ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra thì họ vẫn phải chịu TNHS; họ chỉ có thể miễn TNHS theo Điều 29 BLHS năm 2015 nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác mà họ tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm

Người thực hành, người giúp sức tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định phạm, nhưng có thể phải chịu TNHS về tội không tố giác tội phạm do người (hoặc những người) đồng phạm thực hiện không có sự giúp đỡ của họ

Ví dụ: Theo sự phân công của nhóm, M mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa Các

đối tượng hẹn nhau 1h đêm sẽ tập kết ở địa điểm gần nhà ông G Đến giờ hẹn, M đem thanh sắt đến địa điểm như đã thỏa thuận nhưng chờ mãi không thấy D và H đến nên

bỏ về nhà ngủ D và H do đến chỗ hẹn quá muộn nên không gặp được Minh, tuy nhiên

cả 2 vẫn quyết định đột nhập vào nhà ông Hùng theo kế hoạch và đã lấy được tài sản giá trị 80 triệu đồng Do không đi lấy tài sản nên Mi chỉ được D và H chia cho 5 triệu đồng, Minh chê ít không lấy và không với ai về vụ trộm 1 tháng sau vụ việc bị phát hiện.

 Giải quyết: Căn cứ nội dung vụ việc, có thể thấy hành vi của M không được coi là

tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội Thời điểm M bỏ về là thời điểm trước lúc M bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được phản ánh trong CTTP Tuy nhiên, việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải là tự nguyện và dứt khoát Nhưng ở đây M dừng hành vi phạm tội của mình là do đợi không thấy D và H nên

bỏ về Tức là nếu D và H đến đúng giờ thì giữa thỏa thuận giữa chúng vẫn thực hiện, chúng vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm, đồng nghĩa với việc M vẫn mong muốn cho hành vi phạm tội được diễn ra Hơn nữa, M biết là hành vi của D và H

có gây nguy hiểm cho xã hội nhưng M đã không ngăn cản hay tố giác hành vi đó

và để mặc hậu quả xảy ra Vì vậy, hành vi của M không phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

8

Ngày đăng: 07/07/2022, 14:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI - Tiểu luận hình sự tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI (Trang 1)
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 1 - Tiểu luận hình sự tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm
1 (Trang 1)
BLHS Bộ luật Hình sự - Tiểu luận hình sự tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm
lu ật Hình sự (Trang 2)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w