Đại diện là một chế định truyền thong của Luật Dân sự, thể hiện tính linh hoạt mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch dân sự của các chủ thế .Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
Trang 1Loi mo dau
Trong doi sống dân sự diễn ra hàng ngày hàng giờ, hầu hết các trường hợp chủ thể quan hệ pháp luật dân sự đều tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự từ khi cam kết, thỏa thuận và thực hiện những quyên nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự Tuy nhiên do tính chất phong phú, đa dạng của giao lưu dân sự cũng như đo vài lý đo khách quan, chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật dân sựmà
trong những trường hợp nhất định chủ thể xác lập thực hiện giao dịch dân sự cần
có sự giúp đỡ của người khác, phải thông qua hành vi của một người khác Vì thé dé dam bao cho moi chủ thể có thể tham gia quan hệ pháp luât dân sự và
khác phục điều trên mà chế độ đại diện đã ra đời Nội dung của chế độ đại diện
này được quy định cụ thé chi tiét trong BLDS 2005.Nhận thay vẫn đề Đại diện là
một chế định truyền thong và quan trọng của Luật dân sự nên em xin phép được chọn đề tài số 5 cho bài tập lớn học kì này
Đê 5 : Dại diện trong quan hệ pháp luật dân sự
Vì kiến thức và sự hiểu biết của em còn vô cùng hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót nên em mong thây cô thông cảm và giúp đỡ để em có thể hoàn
thiện hơn kiến thức của mình
Trang 2Noi Dung
1) Khai niém va phan loai Dai diéne
1)Khái niệm
Đại diện là một chế định truyền thong của Luật Dân sự, thể hiện tính linh hoạt
mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch dân sự của các chủ thế Chủ thể
của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng, ngoài cá nhân còn có pháp nhân, hộ gia đình , tô hợp tác , , nhà nước CHXHCN Việt Nam Đỗi với các chủ thê
mang quyên lợi có tính cộng đồng thì việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự bắt
buộc phải thông qua hành vi của người đại diện Đối với cá nhân, bên cạnh việc
có thê tự mình trực tiếp tham gia ký kết vào những giao dịch dân sự thì các chủ thể còn có thể tham gia một cách gián tiếp và được hưởng lợi ích cũng như có nghĩa vụ từ các giao dịch đó thông qua một người khác, gọi là người đại diện .Chế định này còn là phương tiện pháp lý hữu ích đối với các cá nhân mà theo quy định của pháp luật không thê trực tiếp tham gia giao dịch dân sự ( Như người mất năng lực hành vi , bị tòa tuyên bố mất năng lực hành vi, vv )
Theo Khoản 1 điều 139 BLDS 2005 quy định : “ Đại diện là việc một ngudi (
sau đây gọi là người đại diện ) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây
gọi là người được đại diện ) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm v1 thầm quyền đại diện”
Tóm lại , Đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là
bên đại diện và bên được đại diện Quan hệ đại diện là căn cứ để làm phát sinh
thêm một quan hệ ( giao dịch dân sự ) tiếp theo là quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba theo ý chí của người được đại diện và vì lợi ích của người được đại điện Mọi cá nhân đều được pháp luật bảo vệ quyên tham gia xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người khác Tuy nhiên cá nhân không được người khác đại diện cho mình nêu pháp luật quy
định họ phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó VD: không công nhận cho
cá nhân ủy quyền cho người khác thay mặt đến văn phòng công chứng, vv
2) Đặc điểm của quan hệ Đại diện
Ngoài các đặc điểm cảu quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ đại diện
có những đặc điểm riêng sau đây :
- Đại điện làm phát sinh hai mỗi quan hệ cùng tồn tại song song đó là quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài Quan hệ bên trong là quan hệ giữa người đại
Trang 3dién va người được đại diện , quan hệ bên ngoài là mỗi quan hệ giữa người đại diện và người thứ ba Thực tế còn tồn tại một mỗi quan hệ về lợi ích và trách
nhiệm g1ữa người được đại diện và người thứ ba ( còn gọi là mỗi quan hệ gián
tiếp)
-Người đại điện xác lập quan hệ với người thứ ba là nhân danh người được đại
diện chứ không phải nhân danh chính họ.Do vậy người đại diện phải giới thiệu
tư cách pháp lý của mình với người thứ ba để người này hiểu được hai vấn đề trước khi xác lập giao dịch đó là : thứ nhất, ai là người người trao đổi lợi ích hay chịu trách nhiệm về hậu quả của giao dịch với họ ; thứ hai là thâm quyền của
người đại điện đến đâu và đưa ra cơ sở chứng minh như hợp đồng ủy quyền hay các bằng chứng khác vv
- Mục đích người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của
người được đại điện Lợi ích và quyên lợi trong quan hệ với người thứ ba được
chuyển cho người được đại diện Vậy người đại điện có được lợi ích gì ?
Trong quan hệ đại diện theo ủy quyền , có thể họ được hưởng thù lao, tiền công
theo thỏa thuận Còn với đại diện theo pháp luật thì chỉ có nghĩa vụ theo pháp
luật chứ người đại diện không được hưởng lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ này -Người đại diện là nhân danh người được đại diện và thâm quyên của họ bị giới hạn trong phạm vị đại diện theo thỏa thuận hay theo quy định của pháp luật
nhưng họ vẫn có sự chủ động trong khi tiến hành công việc cần thiết để đạt được
mục đích là vì lợi ích của người được đại diện
3) Các hình thức Đại diện
Đại diện có hai hình thức trong pháp luật dân sự là :
+ đại diện theo pháp luật
+ đại diện theo ủy quyên
3.1) Đại diện theo pháp luật
Điều 140 , BLDS 2005 quy định : “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp
luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước quyết định”
Căn cứ đề hình thành quân hệ đại diện này là do ý chí nhà nước Pháp luật quy định mối quan hệ đại diện được xác lập dựa trên các mỗi quan hệ tồn tại sẵn có
chứ không phụ thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể
Các chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật có thể là cá nhân , hộ gia đình ,
tổ hợp tác hoặc pháp nhân , bao gồm :người chưa thành niên , người được giám
hộ , người bị hạn chế năng lực hành vi , pháp nhân , hộ gia đình , tổ hợp tác tương ứng với đó có những người đại diện lân lượt là cha , mẹ ; người giám hộ :người được tòa án chỉ định ; người đứng đầu pháp nhân ; chủ hộ: : tô trưởng
Trang 4Theo em, các chủ thể được đại diện theo pháp luật có 2 loại Thứ nhất ,là cá
nhân thì cá nhân đó phải là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ ,
chưa đủ tuôi theo quy định của pháp luật , người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh
khác ma không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình , người bị tòa án ra quyết định tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Do là đối tượng cân được pháp luật bảo vệ bởi bản thân họ không thể trực tiếp tham gia vào các giao dịch nên pháp luật phải quy định sẵn những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ
quyền lợi cho họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự Thứ hai là
các chủ thê mang tính quyên lợi công đồng, là những tổ chức nên khi tham gia
vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện cụ thê
Người đại diện phải là người có năng lực hành vi dân sự đây đủ
Các quan hệ trên có tính bên vững và ôn định được dựa trên mỗi quan hệ huyết thống như cha, mẹ với con chưa thành niên hay dựa trên mối quan hệ pháp lý được ghi nhận như quan hệ giám hộ hoặc dựa trên tính tôn tại ôn định của các chủ thể là tổ hợp tác , pháp nhân, hộ gia đình
3.2) Đại diện theo ủy quyền
Khoản 1 diéu 142 BLDS quy dinh : “ Dai dién theo ty quyén la dai dién duoc
xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”
Hai bên chủ thể của quan hệ đại diện theo ủy quyền đều có năng lực hành vi dân
sự đây đủ trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều 143BLDS 2005 : người từ đủ
15 tuổi đến chưa đú 18 tuổi có thể là người đai diện theo ủy quyền trừ trường hợp pháp luật có quy đinh giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện
Đại diện theo ủy quyên có hai loại : Đại diện theo ủy quyên của cá nhân và đại diện theo ủy quyên của tổ chức ( pháp nhân, tô hợp tác , hộ gia đình , vv)
Đại diện theo ủy quyền của cá nhân, cá nhân có thể thống qua người khác dé xác lập giao dịch dân sự Người khác ở đây được hiểu là có thể là cá nhân khác hoặc pháp nhân khác VD: A ủy quyền cho 1 người khác là B hay A có thể ủy quyên cho 1 công ty đứng ra đề thực hiện xác lập giao dịch dân sự cho mình Đại diện theo ủy quyên của pháp nhân là người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân đó ủy quyền cho người khác xác lập thực hiện giao dịch dân sự
Trong vấn đê đại diện theo ủy quyền của tổ chức được quy định trong từng
trường hợp khác nhau
Khoản 1 Điều 107 BLDS2005 quy định về đại diện theo ủy quyên của hộ gia
đình : “ Chủ hộ có thê ủy quyên cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện
cho hộ trong quan hệ dân sự” Đại điện theo ủy quyền của tổ hợp tác là : “ Tổ
Trang 5trưởng tô hợp tác có thê ủy quyên cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cân thiết cho tổ” Như vậy đôi với đại diện theo ủy quyên của tô hợp tác và
hộ gia đình thì người được ủy quyên chỉ có thể là thành viên trong hộ gia đình hay tổ hợp tác mà thôi.Còn với pháp nhân thì bộ luật dân sự không chỉ rõ phạm
vi những người được ủy quyền Nên về pháp nhân vẫn đề này sẽ được điều chỉnh
trong điêu lệ của pháp nhân đó
Khoản 2, Điều 142 , BLDS 2005 quy định : “ Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phái được lập
thành văn bản”
Pháp luật tôn trọng ý chí của các bên trong việc lựa chọn hình thức tồn tại của quan hệ ủy quyên Tuy nhiên hợp đồng ủy quyên hoặc giây ủy quyên dưới hình thức viết tay hay có công chứng , chứng thực sẽ có nhiều lợi ích , đó là cơ sở để
người đại diện có thé thé giới thiệu tư cách pháp lý của mình với người thứ ba,
hay khi có xảy ra tranh chấp thì đó sẽ là bằng chứng, cớ sở để có thể giải quyết
và bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể Nếu quan hệ ủy quyền xác lập thông qua hình thức miệng thì khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khó có cơ sở và chứng cứ để giải quyết Như vậy can cu phap lý để nhận biết quan hệ ủy quyền là hợp đồng ủ uy quyên hoặc giây ủy quyên có công chứng , chứng thực có thể do pháp luật quy định , nếu pháp luật không quy định các bên có thê tự thỏa thuận đưa ra hình thức công chứng , chứng thực cho hợp đồng ủy quyên của mình
3.3) So sánh 2 loại đại diện : giữa đại diện theo ủy quyên và đại diện theo pháp luật
Trước hết đại diện theo pháp luật (Điều 140 BLDS 2005: Đại điện theo
pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thầm
quyền quyết định) và đại diện theo ủy quyên (Khoản 1,Diéu 142 BLDS 2005: Đại diện theo ủy quyên là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện) đều có những điểm giống nhau cơ bản của chế độ
đại diện, đó là:
1 Hai loại đại diện đều là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện
2 Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền đều có khung pháp lý chung: Căn cứ xác lập, người nào là đại diện, phạm vi đại diện, chấm dứt
đại diện
3 Hậu quả giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập thực
hiện hoặc do người xác lập thực hiện vượt quá phạm vi đại diện của đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyên đều không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Diéu 145, 146 BLDS 2005)
Trang 64 Mặc dù người đại diện (theo pháp luật hay theo ủy quyên) giao dich dan
sự trực tiếp vời người thứ 3 nhưng quan hệ pháp luật dân sự không phải xác lập giữa người đại diện và người thứ 3 mà là g1ữa người được đại diện với người thứ 3
5 Người đại diện: phải thông báo cho người thứ 3 trong giao dịch dân sự
biết về phạm vi đại diện của mình; không được xác lập thực hiện các giao
dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ 3 mà mình cũng là đai diện cho người đó trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Khoản 4,5 Điều
144 BLDS 2005)
6 Đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyên đều chấm dứt đối với
cá nhân khi việc ủy quyên không còn cần thiết hoặc việc uy quyén không tiếp tục thực hiện được, đối với pháp nhân khi pháp nhân chấm dứt; người
đại diện hoặc người được đại diện chết (Điều 147,148 BLDS 2005)
Sau đó đặc biệt quan trong la nhitng can cứ phán biệt giữa đại diện theo
pháp luật và đại diện theo ủy quyên (nói cách khác là điểm khác nhau gữa
chúng); chúng ta sẽ cùng xem xét từng tiêu chí của hai loại đại diện này:
Tiéuchi | DAI DIEN THEO PHÁP| ĐẠI DIEN THEO ỦY
1Can cứ |- Được xác lập do quy định của |- Được xác lập theo sự ủy
xác lập | pháp luật hoặc cơ quan nhà quyền,theo thỏa thuận ý chí
quan hệ đại
diện nước có thâm quyên quyết định
(Điều 140 BLDS 2005)
- VD: Bộ trưởng Bộ GDDT có thể quyết định một trong các
phó hiệu trưởng cán bộ trường đại học làm quyền hiệu trưởng
giữa người đại diện và người
được đại diện (Điều 142 BLDS
2005)
- VD: Ba A ủy quyền cho chị gái mình bà B tới cơ quan nhận tiền lương tháng hộ
2,Người đạidiện | lực hành vi dân sự đầy đủ - Người đại diện phải có năng |- Người đại điện không nhât - VD: Cha, mẹ đối với con | dân sự day du thiết phải có năng lực hành vi
chưa thành niên; người giám |- CM: Tại khoản 2 Điều 143
hộ đối với người được giám | BLDS 2005 có quy định người hd; (Diéu 141 BLDS 2005) | từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18
tudi có thể là người đai diện
theo ủy quyển trừ trường hợp pháp luật có quy đinh giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuôi trở lên xác lập
3,Hình - Pháp luật quy định hoặc cơ |- Hình thức ủy quyên do các
Trang 7
thức
diện đại quan nhà nước có thâm quyên
quyết định bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy
quyền phải được lập thành văn
bản.(Khoản 2 Điều 143 BLDS
2005 điều này đã được sửa đôi
so với BLDS 1995)
- Tùy vào từng trường hợp mà hợp đồng có thể giản đơn hay phức tạp: bằng miệng hoặc văn bán đơn phương- -giây Ủy quyền; hợp đồng ủy quyén- hành vi pháp lý đa phương (HDUQ': mục 12 chương XVIII BLDS 2005)
4,Pham vi
dai dién - Người đại diện theo pháp luật
có quyền thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của ngừo1 được đại diện được pháp luật thừa nhận, không làm ảnh
hưởng tới lợi ích của ngừoI
được đại diện trừ trường hợp pháp luật hoặc cơ quan nhà
nước có thâm quyền có quy
định khác.(Khoản 1 Điều 144
lập theo sự ủy quyên (Khoản 3
Điều 144 BLDS 2005), người đại diện theo ủy quyền chỉ được xác lập trong khuôn khổ
phạm vị đã được xác lập
- Ngoài ra người đại diện theo
ủy quyền còn phái tuân theo nội dung giao dịch (công việc
Ủy quyền) và thời hạn ủy quyền”
=> Phạm vi đại diện của đại diện theo pháp luật rộng hơn phạm
vi đai diện theo ủy quyền
5 Châm dứt
đại diện Đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyên nói chung
đều chấm dứt khi việc đại diện không còn cần thiết hoặc không
thê thực hiên được như đã trình bày ở trên Tuy nhiên chúng vẫn
có những nét khác nhau riêng nổi bật ở đại diện theo ủy quyên
+ Các bên của đại diện
theo ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt quan hệ đại
diện.(Điểm b, Khoản 2 Điều
147 BLDS 2005: Người ủy
Trang 8
quyên hủy bỏ việc ủy quyên hoặc người được ủy quyên từ chối việc uy quyén va diém b khoản 2 Điều 148 cũng tương
tự như vậy)
+ Việc ủy quyền con cham
dứt khi người ủy quyền (hoặc
pháp nhân) hoặc người được
ủy quyền bị Tòa án tuyên bố
mất năng lực hành vi dân sự,
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã
chết.(Điểm c, Khoản 2 Điều
147 BLDS 2005 và Điểm c khoản 2 Điều 148:BLDS
2005)
+ Hậu quả pháp lý phát
sinh sau khi chấm dứt đại diện
theo ủy quyền: người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa
vụ tài sản với người được đại
diện (hoặc pháp nhân ủy quyên) hoặc với người thừa kế của người được đại diện (hoặc pháp nhân thừa kế).( Điểm c, Khoản 2 Điều 147 và Điểm c khoản 2 Điều 148:BLDS
Bồ sung thêm 1 phần khác nhau đó là các chủ thể của đại diện theo ủy quyên thì đêu là người có đây đủ năng lực dân sự ( cả người đại diện và được đại diện ) chỉ trừ trường hợp đặc biệt đã trình bày ở trên
II) Pham vỉ đại diện
1)Phạm vỉ đại diện
“ Phạm vi đại điện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việc
nhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch với người thứ ba”
Việc xác định phạm vi đại diện có những ý nghĩa pháp lý quan trọng sau đây :
Trang 9+Thứ nhất , về nguyên tắc “ người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự
trong phạm vi đại diện”( khoản 3, điều 1444, BLDS 2005) và qua đó mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện và người thứ ba Thậm chí, nêu người đại diện có lỗi trong khi thực hiện việc đại diện nhưng trong phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm vân thuộc vê người đại diện Người đại diện có lỗi trong phạm vi đại diện sẽ phảo chịu trách nhiệm độc lập với người được đại diện ( trường hợp này khác với người đại diện vượt quá phạm vi đại diện hoặc không có thâm quyên đại diện )
+Người thứ ba phải biết rõ về phạm vi thâm quyên đại diện bởi họ đang xác lập,
thực hiện giao dịch một cách gián tiêp với chủ thê phía bên kia trong quan hệ
+ Thứ ba, phạm vị đại diện còn là căn cứ dé xem xét tính hiệu lực của một số giao dịch do người đại diện xác lập , thực hiện
Khoản 5 Điều 144 quy định : “ Người đại diện không được xác lập , thực hiện
giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người
đại diện của người đó , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” VD: Ông A
uy quyén cho B mua oto cho A va ông B lại chính là người bán oto, vậy một mình B sẽ đứng về hai phía trong một quan hệ
Liên quan đến vẫn đề này thì trường hợp đối với những cá nhân không có đủ
năng lực hành vi, bi tam thần , không có khả năng nhận thức va điều chỉnh hành
vi được pháp luật quy định người giám hộ ( là đại diện cho người được giảm hộ )
có quy định để đảm bảo quyền lợi cho người được giám hộ Tại khoản 3, điều
69, BLDS2005 quy định : “ Các giao dịch dân sự g1ữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan tới tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu , trừ trường hợp giao dịch dược thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự
đồng ý của của người giám sát việc giám hộ”
- Phạm vi đại diện được xác định tùy theo từng hình thức đại diện :
+ Đối với đại diện theo pháp luật :
Khoản 1 Điều 144 BLDS 2005 : “Người đại diện theo pháp luật có quyền xác
lập , thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện” Như vậy
pháp luật cho phép người đại diện theo pháp luật có quyền chủ động tối đa trong
việc chủ động lựa chọn, xác lập và thực hiện các giao dịch lien quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích của người được đại diện Như vậy,
có nghĩa là khi có bất kì khiếu kiện thì người đại diện phải chứng minh được giao dịch đó là vì lời ích của người đại diện Nếu có chứng minh về sự lạm
Trang 10quyên gây thiệt hại cho người được đại diện thì giao dịch đã xác lập bị tuyên vô hiệu
Trường hợp đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, thâm quyền của người đại diện theo pháp luật chỉ là “ đông ý” hay “ không đông ý” cho phép
người bị hạn chê năng lực hành vi tự họ xác lập và thực hiện các giao dịch dân
SỰ
+ Đôi với đại diện theo ủy quyên :
Khoản 2 Điều 144 BLDS 2005 quy định: “ phạm vi đại diện theo ủy quyền được
xác lập theo sự ủy quyền”
Như vậy, thâm quyên của người đại diện được giới hạn bởi nội dung ghi trong hợp đồng ủy quyên hay giấy ủy quyên ( Phụ thuộc vào ý chí của người được đại diện cho phép, giới hạn trong một phạm vị )
Nếu được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện có thể Ủy quyền
lại cho người khác
2) Trường hợp không có thầm quyền đại diện và vượt quá phạm vỉ thầm
quyền đại diện
Về nguyên tắc , giao dich dan sy do người đại diện xác lập thực hiện chỉ làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện nếu trong phạm vi đại diện , VÌ piao dịch được thực hiện phù hợp với ý chí và lợi ích của người được đại diện
Nếu giao dich dân sự do người không có thầm quyền đại diện xác lập , thực hiện
thì sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện Tuy
nhiên , nếu sau đó người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý chấp nhận
giao dịch đó thì vẫn mang lại quyền và nghĩa vụ của giao dịch Người đã giao dịch với người không có thầm quyền đại diện phải thông báo cho người được đại
diện hoặc người đại diện của người đó dé trả lời trong thời hạn ân định Nếu hết thời hạn ẫn định mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện
Trong trường hợp người được đại diện hay người đại diện của người này không chấp nhận hợp dong giao dich do người không có thâm quyên đại diện ký kết thì mặc dù hợp đồng đó không có giá trị đối với người được đại diện nhưng gia tr] của hợp đồng đã ký kết có giá trị thi hành hay không lại phụ thuộc vào quyên quyết định của người đã ký kết giao dịch với người không có thâm quyền đại diện Nếu người đã giao dịch có căn cứ để biết và phải biết về việc không có thâm quyên đại diện thì trường hợp này giao dịch sẽ bị vô hiệu ( bởi đó là sự cô
ý của cả 2 bên ) còn nếu người đã giao dịch không có căn cứ đề biết và không