1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận điều ước quốc tế

18 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 37,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 I Khái quát chung về điều ước quốc tế với pháp luật Việt Nam 2 1 Khái niệm điều ước quốc tế 2 2 Ý ngĩa, vai trò của điều ước quốc tế 2 3 Điều ước quốc tế mà việt nam ký kết hoặc gia nhập 2 II Pháp luật về điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam 3 1 Vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam 3 2 Vị trí của điều ước quốc tế 3 3 Áp dụng điều ước quốc tế 5 4 Trình tự thực hiện điều ước quốc tế 7 III Các quan điểm cơ bản về mối quan hệ giữa ĐƯQT và.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

Để phù hợp với xu thế toàn cầu hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế việt nam đã tiến hành đổi mới trên nhiều lĩnh vực Đến nay, trải qua nhiều năm tiến hành hội nhập, nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào các hoạt động kinh

tế, văn hóa, chính trị quốc tế Trong quá trình đó, chúng ta đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương, đa phương Đặc biệt, với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 07/11/2006, dự báo sẽ có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, gia nhập Do vậy, trách nhiệm của chúng

ta là phải làm sao đảm bảo để các điều ước quốc tế được thực thi một cách tốt nhất Muốn vậy, trước hết cần phải tạo sự hài hòa giữa nội luật với luật pháp quốc tế, điều đó có nghĩa là ta phải làm rõ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai phạm trù pháp luật này Đây là một trong những đề tài gây ra nhiều tranh luận nhất trong giới luật gia Việt Nam hiện nay Những vấn đề thường được đặt ra đó

là Luật quốc gia và luật quốc tế nằm trong cùng một hệ thống pháp luật hay đó

là hai hệ thống pháp luật độc lập Vị trí của các điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam Vấn đề về chuyển hóa và thực thi Điều ước quốc tế ở Việt Nam hiện nay Từ đó để củng cố kiến thức cho bản thân và để mọi người hiểu rõ

Trang 2

hơn về các vấn đề trên em đã lựa chọn chủ đề bài tiểu luận của mình là “Vị trí của điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam”.

Dưới đây là nội dung nghiên cứu của em về đề tài “Vị trí của điều ước quốc

tế trong pháp luật Việt Nam” Mặc dù đã được thầy cô chỉ bảo nhưng do phạm

vi kiến thức còn hạn chế, bài làm khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thiện hơn kiến thức của mình

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về điều ước quốc tế với pháp luật Việt Nam.

1 Khái niệm điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế

ký kết giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là "một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì"

Như vậy, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc

tế với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp

lý bắt buộc gọi là những quy phạm luật quốc tế, để ấn định, thay đổi hoặc hủy

bỏ những quyền và nghĩa vụ đối với nhau

Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều ước quốc tế chủ yếu được trình bày dưới dạng thành văn, nhưng cũng một số điều ước quốc tế chỉ là thỏa thuận miệng Tuy nhiên, hiện nay các điều ước thỏa thuận miệng rất ít xuất hiện trong quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế

2 Ý ngĩa, vai trò của điều ước quốc tế

Xuất phát từ bản chất của điều ước là sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa:

- Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm luật quốc tế để xây dựng và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển

Trang 3

- Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan

hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể

- Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể LQT

- Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến hành hiệu quả việc pháp điển hóa luật quốc tế

3 Điều ước quốc tế mà việt nam ký kết hoặc gia nhập

Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác

II Vị trí và vai trò điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam

1 Vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế ở Việt Nam được quy định tại Luật số 41/2005/QH11 về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, Chủ tịch nước công bố ngày 24/6/2005 và Luật

có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (ban hành ngày 12/11/1996, được sửa đổi, bổ sung ngày 16/12/2002) Luật

ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 là văn bản luật điều chỉnh một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến công tác điều ước quốc tế của Việt Nam

Liên quan đến mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế, Luật quy định

về nguyên tắc, thứ bậc cũng như việc áp dụng điều ước quốc tế Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tuy chủ yếu điều chỉnh việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước, tuy nhiên cũng quy định việc soạn thảo văn bản quy

Trang 4

phạm pháp luật phải cân nhắc, tính toán đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam

đã ký kết hoặc gia nhập

2 Vị trí của điều ước quốc tế

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế (Khoản 1)

Do đó, các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia sẽ được thực thi kể cả trong trường hợp pháp luật Việt Nam còn chưa quy định đầy đủ Từ quy định này, có quan điểm cho rằng điều ước quốc

tế có vị trí sau Hiến pháp, trên các văn bản luật, pháp lệnh Luật ký kết, gia nhập

và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 Điều 6 Điều ước quốc tế và quy định của pháp luật trong nước

1 Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế

2 Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên có quy định về cùng một vấn đề

3 Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó

Bên cạnh đó, năm 2001 Việt Nam cũng đã gia nhập Công ước Viên năm

1969 về Luật điều ước Điều 26 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm

1969 quy định nguyên tắc Pacta sunt servand quy định "mọi điều ước đã có hiệu

Trang 5

lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành với thiện ý"

Nguyên tắc này đã được chuyển hoá vào quy định của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005: "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên" (Khoản 6 - Điều 3)

Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng đều thấy rõ giá trị ưu thế của điều ước quốc tế, chẳng hạn:

+ Theo Khoản 2 Điều 759 Bộ luật dân sự năm 2005 "trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Bộ luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó "

+ Theo Khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó."

+ Theo Điều 3 Luật di sản văn hoá: “Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.”

Có thể thấy rõ công thức chung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam là nếu pháp luật trong nước có quy định khác hoặc trái với điều ước quốc tế về quyền con người mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập, thì điều ước quốc tế có giá trị ưu tiên áp dụng Từ đó cho thấy, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có giá trị pháp lý ưu tiên hơn so với pháp luật trong nước

3 Vai trò của Điều ước quốc tế trong các quan hệ pháp luật ở Việt Nam

Ở Việt Nam Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, ĐƯQT là một trong nhữngcông cụ hiệu quả nhất mà các quốc gia có thể sử dụng để thiết lập các quan hệ đối ngoại Chính vì thế, trong pháp luật các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng, ĐƯQT đóng một vai trò quan trọng và thường được ưu

Trang 6

tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột giữa các quy định của văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về cùng một vấn đề

Ngay từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước, nguyên tắc ưu tiên áp dụng ĐƯQT so với nội luật đã được chính thức ghi nhận trong một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối ngoại của nước ta Dần dần, nó đã trở thành nội dung không thể thiếu trong các văn bản quy phạm pháp luật ở tất cả các cấp

độ luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật

Gần đây nhất, tại Khoản 1 Điều 6 của Luật Kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có quy định: “Trong trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐƯQT”

Từ đây có thể hiểu trong một chừng mực nhất định nào đó, Việt Nam thừa nhận luật pháp quốc tế như một nguồn luật nằm ngoài hệ thống pháp luật quốc gia, được ưu tiên bổ sung cho pháp luật quốc gia để giải quyết các vấn đề phát sinh trong tiến trình hội nhập, nhằm đảm bảo chuẩn mực quốc tế vẫn được tôn trọng một khi pháp luật quốc gia chưa thể tiếp cận pháp luật quốc tế

Điều này đã được tái khẳng định trong báo cáo của Bộ ngoại giao về dự thảo Luật kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT một trong những “mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010” là phải gắn kết được kế hoạch kí kết, gia nhập ĐƯQT với chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhằm có được một hệ thống pháp luật thống nhất, phát triển

4 Vấn đề xác định vị trí pháp lý của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Xu hướng chung của pháp luật hầu hết các nước là thừa nhận tính ưu thế

và ưu tiên thực hiện ĐƯQT, tuy nhiên không để bị phụ thuộc vào ĐƯQT để đảm bảo độc lập chủ quyền và các quyền dân tộc tự quyết khác Do đó, luật pháp một

số nước coi ĐƯQT có vị trí cao hơn luật và duới Hiến pháp

Vậy ở Việt Nam hiện nay, vị trí pháp lí của ĐƯQT được xác định như thế nào? Nhìn chung về hệ thống pháp luật Viêt Nam, hiện nay, địa vị pháp lý của

Trang 7

ĐƯQT mới chỉ được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật chứ chưa được xác định rõ trong Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) hay bất

kỳ văn bản pháp luật có hiệu lực cao nào

Về tương quan giữa ĐƯQT và luật, công thức chung của hầu hết các văn bản pháp luật trong thời gian gần đây đó là văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng cho mọi cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng “trong trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của ĐƯQT đó” Mặc dù các văn bản pháp luật quy định nguyên tắc “ưu tiên” áp dụng ĐƯQT khi có điều khoản khác quy định của nội luật nhưng đây chưa phải là điều khoản xác định vị trí của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Về mối tương quan của ĐƯQT so với Hiến pháp cũng chưa có quy định chính thức nào mà chỉ nêu: “ĐƯQT được ký kết, gia nhập và thực hiện trên cơ

sở tuân thủ những nguyên tắc sau: 2 Phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam…….” Do vậy, việc có một số ý kiến cho rằng “ ĐƯQT có vị trí dưới Hiến pháp và trên luật và các văn bản dưới luật”, theo ý kiến chủ quan của cá nhân tôi là chưa có đầy đủ căn cứ để đi đến kết luân

Tiếp tục đặt vấn đề xem xét vị trí của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam vào thời điểm hiện nay xem ra không phải là vấn đề cần thiết nhất và e rằng sẽ gây ra những tranh cãi không đáng có Bởi một khi Nhà nước đã ký kết các ĐƯQT tức là đã trải qua một quá trình thẩm định tính hợp hiến của nội dung điều ước đó rồi, cho nên sẽ phải bằng những phương tiện sẵn có của mình thực hiện các cam kết đã ký

Hơn nữa, với việc trở thành thành viên chính thức của Công ước Viên

1969 về Luật điều ước quốc tế ngày 10/10/2001, Việt Nam đã thừa nhận nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (tiếng la-tin là pacta sunt servanda) được quy định tại Điều 26 của Công ước này “Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành với thiện ý”

Trang 8

Đồng thời, tại Điều 27 của Công ước cũng nêu ra quy tắc tôn trọng các cam kết quốc tế của các quốc gia kết ước “Một bên kết ước không thể viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lí do để không thi hành một điều ước mà mình đã kí” Chỉ với quy tắc này, pháp luật quốc tế đã gần như mặc định các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia phải tự điều chỉnh để thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết Nên làm thế nào để hài hòa các quy định của hai hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế mới là vấn đề tối quan trọng trong thời điểm hiện nay

5 Áp dụng điều ước quốc tế

Khoản 3 Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước để thực hiện điều ước quốc tế đó

Quy định này thể hiện Việt Nam chấp nhận cả hai phương pháp thực hiện điều ước quốc tế: áp dụng trực tiếp và chuyển hoá điều ước vào văn bản quy phạm pháp luật quốc nội

Một ví dụ điển hình là việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó quyết định "2 Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác

về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài

Trang 9

liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm."

Việc nội luật hoá (hay chuyển hoá điều ước quốc tế) được thực hiện theo các phương thức phổ biến sau:

- Sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế Theo quy định tại khoản 10 Điều 14 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, cơ quan đề xuất ký kết có trách nhiệm Kiến nghị về việc áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế hoặc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc

tế

Như vậy, để thực hiện nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc

tế mà cần phải sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành, thì cơ quan đề xuất việc ký kết điều ước quốc tế phải chủ động phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc này

Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới là phải "không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên." Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ pháp

lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ nghiêm túc tại Việt Nam

- Tiến hành chuyển hoá quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn

đề chuyển hoá các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước

Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hoá là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế Nhà nước CHXHCN Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là một bên ký kết

Trang 10

Như vậy, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hoá thành pháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước

6 Trình tự thực hiện điều ước quốc tế.

Khi đề cập đến trình tự thực hiện điều ước quốc tế, vấn đề quan trọng đặt

ra đối với Việt Nam là làm cách nào để bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ điều ước Trên cơ sở quy định tại Chương VI của Luật ký kết, gia nhập

và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, có thể nêu lên một số nội dung quan trọng sau đây liên quan đến trình tự thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam, phù hợp với nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau:

- Kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế Theo quy định tại Điều 71 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, kế hoạch thực hiện điều ước quốc tế bao gồm những nội dung sau đây:

Lộ trình thực hiện điều ước quốc tế;

Dự kiến phân công trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện điều ước quốc tế;

Kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế;

Các biện pháp tổ chức, quản lý, tài chính và các biện pháp cần thiết khác

để thực hiện điều ước quốc tế;

Tuyên truyền, phổ biến điều ước quốc tế Việc thực hiện các điều ước quốc tế, trước hết phải xuất phát từ đặc điểm tình hình, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển

Do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đề ra tiến trình, các biện pháp tổ chức thực hiện điều ước trong từng giai đoạn, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước Đồng thời, phải hoàn thiện cơ chế quản lý việc thực hiện điều ước, quản lý nguồn tài chính, kể cả những đóng góp, tài trợ quốc tế cho việc thực hiện điều ước quốc tế cũng phải được vạch ra một cách cụ thể

- Xác định cơ quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế Nghĩa vụ thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, trước hết là thuộc về Nhà

Ngày đăng: 07/07/2022, 10:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w