MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Đề bài số 03: “ Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để giải quyết tình huống trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm
Trang 1MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Đề bài số 03:
“ Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để giải quyết tình huống trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm người khởi kiện rút đơn khởi kiện, thực tiễn áp dụng và đề xuất, kiến nghị ?”
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI 2
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
I Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để giải quyết tình huống trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm người khởi kiện rút đơn khởi kiện 3
1 Giải quyết trong trường hợp người khởi kiện rút đơn kiện ở Tòa án cấp sơ thẩm 3
1.1 Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa sơ thẩm 3
1.2 Người khởi kiện rút đơn khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm 4
2 Giải quyết trong trường hợp người khởi kiện rút đơn kiện ở Tòa án cấp phúc thẩm 4
2.1 Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước phiên tòa phúc thẩm 5
2.2 Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm 5
II Đánh giá 5
III Thực tiễn áp dụng 5
IV Một số kiến nghị 6
KẾT LUẬN 6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 3DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI
Trang 4MỞ ĐẦU
Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, các quan hệ dân sự nói chung cũng như tố tụng dân sự phát sinh ngày càng nhiều Trên thực tế, có không ít trường hợp người khởi kiện sau khi khởi kiện thì lại có mong muốn rút đơn khởi kiện, điều này đòi hỏi pháp luật hiện hành cần phải có những cơ chế ưu việt, thuận tiện để giải quyết Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này,
em xin chọn đề: “Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
để giải quyết tình huống trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm người khởi kiện rút đơn khởi kiện, thực tiễn áp dụng và đề xuất, kiến nghị ?” làm bài luận kết thúc học phần
của mình
NỘI DUNG
I Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để giải quyết tình huống trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm người khởi kiện rút đơn khởi kiện
1 Giải quyết trong trường hợp người khởi kiện rút đơn kiện ở Tòa án cấp sơ thẩm
1.1 Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa sơ thẩm
Thứ nhất, giai đoạn trước khi thụ lý vụ án
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện khi xét thấy yêu cầu rút đơn của người khởi kiện (theo căn cứ tại điểm g khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015) Như vậy, trước khi thụ lý vụ kiện mà người khởi kiện rút đơn thì được trả lại đơn và trong trường hợp này do Thẩm phán được phân công thực hiện Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi khởi kiện đến trước khi thụ lý vụ án, Toà án
sẽ hỏi các bên có thể hoà giải ở trung tâm hoà giải của Toà (theo luật hoà giải đối thoại 2020) Trường hợp hòa giải thành công, người khởi kiện muốn rút đơn khởi kiện hợp pháp trước khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự ra quyết định trả lại đơn khởi kiện (theo căn cứ tại điểm g khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015)
Bên cạnh đó, khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu (theo căn cứ tại khoản 2 Điều 192 BLTTDS 2015)
Hậu quả pháp lý: Nếu đương sự muốn khởi kiện lại thì phải làm đơn và phải đáp ứng được quy định tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015
Thứ hai, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thì việc người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện sẽ được Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong giai đoạn trước phiên tòa sơ thẩm dân sự tùy từng trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện mà giải quyết như sau:
- Nếu không có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập thì Tòa án chấp nhận việc rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
- Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút
- Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án ra
Trang 5quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu phản tố của
bị đơn đã rút
- Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Tòa án sẽ
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu độc lập của người có quyền và lợi ích liên quan đã rút
- Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án dân sự
1.2 Người khởi kiện rút đơn khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm
Trong giai đoạn đang xét xử sơ thẩm, nếu người khởi kiện muốn rút đơn khởi kiện thì BLTTDS 2015 có quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 244 Tuy nhiên, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị giới hạn là không được vượt quá so với phạm vi yêu cầu ban đầu
Tùy từng trường hợp tại phiên tòa có đương sự rút đơn khởi kiện mà gải quyết khác nhau:
- Trường hợp 1: Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn (theo căn cứ tại khoản 1 Điều 245 của BLTTDS 2015) Lúc này, HĐXX ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn đã rút theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của BLTTDS 2015 và công bố việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự Theo đó, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình trở thành nguyên đơn; nguyên đơn đã rút toàn bộ yêu cầu của mình trở thành bị đơn
Ví dụ khi xét hỏi, chủ tọa hỏi nguyên đơn: “Đề nghị nguyên đơn cho biết nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không?” Giả sử nguyên đơn trả lời: “… tôi quyết định rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình” Để có cơ sở pháp
lý đúng nhằm xử lý yêu cầu của nguyên đơn, chủ tọa sẽ phải đặt tiếp câu hỏi với bị đơn, nếu trong vụ án này, bị đơn có yêu cầu phản tố: “… đề nghị bị đơn cho biết có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của mình hay không?” Bị đơn trả lời: “Tôi giữ nguyên toàn bộ yêu cầu phản tố của mình” Lúc này, phiên toà diễn ra theo quy định tại khoản
1 Điều 245 BLTTDS 2015, chủ tọa phiên tòa có thể thay mặt HĐXX tuyên bố: “Căn cứ Khoản
1 Điều 245, Toà tuyên bố, địa vị tố tụng của đương sự thay đổi như sau: Bắt đầu từ thời điểm này, nguyên đơn trở thành bị đơn, bị đơn trở thành nguyên đơn” Tuyên bố của chủ tọa được thư ký phiên tòa thể hiện trong biên bản phiên tòa Tình trạng bất ổn bắt đầu xuất hiện: phần đầu của biên bản ghi A là nguyên đơn, B là bị đơn, nhưng đoạn sau thì ngược lại, A lại trở thành bị đơn, B trở thành nguyên đơn
- Trường hợp 2: Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 217 và khoản 2 Điều 245 của BLTTDS 2015, thì HĐXX
ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, của bị đơn đã rút theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của BLTTDS 2015 và công bố công khai tại phiên toà việc thay đổi địa vị tố tụng tuỳ theo mối quan hệ giữa các đương sự liên quan đến yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Việc thay đổi địa vị tố tụng của đương sự phải được ghi vào biên bản phiên toàvà phải được ghi trong bản án
2 Giải quyết trong trường hợp người khởi kiện rút đơn kiện ở Tòa án cấp phúc thẩm
Căn cứ theo Điều 299 BLTTDS 2015 thì sẽ có 2 trường hợp xảy ra Cụ thể như sau:
Trang 62.1 Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước phiên tòa phúc thẩm
- Sau khi có bản án sơ thẩm của TAND có thẩm quyền, trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị không có đương sự nào kháng cáo, VKS không kháng nghị mà nguyên đơn muốn rút đơn khởi kiện, bị đơn không đồng ý thì việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận Lúc này,bản án sơ thẩm được coi là không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật
- Nếu bị đơn đồng ý thì Tòa án cấp sơ thẩm gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cùng văn bản rút đơn kiện cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm mở phiên tòa phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 311 của BLTTDS 2015
2.2 Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm
- Nếu bị đơn không đồng ý thì yêu cầu rút đơn khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận Khi đó, Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án dân sự
- Nếu bị đơn đồng ý thì HĐXX phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án
Như vậy, có thể thấy việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện đều dựa theo ý muốn đồng ý hay không đồng ý của bị đơn đối với việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện để tiếp tục tiến hành xét xử hay đình chỉ vụ án dân sự
II Đánh giá
Các quy định pháp luật hiện hành về cơ bản đã hoàn thiện hơn, khắc phục được những thiếu sót trong BLTTDS 2004 Ví dụ: Nếu như trong BLTTDS 2004 quy định về thủ tục nguyên đơn rút đơn khởi kiện còn chưa hợp lý, không có sự thống nhất giữa các cấp xét xử Trong giai đoạn XXST khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Tòa án có quyền chấp thuận mà không cần hỏi ý kiến của các đương sự khác Trong khi đó, ở cấp phúc thẩm, nguyên đơn chỉ
có thể rút đơn khởi kiện khi có sự đồng ý của bị đơn Mặc dù ở cả hai cấp xét xử các đương
sự, đặc biệt là Tòa án, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng Đến khi BLTTDS 2015 ra đời thì
đã khắc phục được vấn đề này
III Thực tiễn áp dụng
Từ khi BLTTDS 2015 đã cơ bản khắc phục được những hạn chế, vướng mắc trong các văn bản pháp luật cũ về giải quyết tình huống trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm người khởi kiện rút đơn khởi kiện Tuy nhiên trên thực tiễn áp dụng đã bộc lộ một số điểm bất cập Trong trường hợp HĐXX ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm b, khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015 thì nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại vụ
án theo thủ tục chung do BLTTDS 2015 quy định Tuy nhiên, trong thực tế đã có nhiều trường hợp do không biết pháp luật nên đã rút đơn khởi kiện và sau đó các nguyên đơn mất luôn quyền
khởi kiện của mình
Hiện nay, thực tiễn xét xử các vụ án TTDS, nếu bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì HĐXX
sẽ coi như cố tình từ bỏ quyền lợi của mình và xem xét trong vụ án có ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn hay các đương sự khác hay không, nếu như xét thấy không ảnh hưởng đến quyền
và nghĩa vụ của bị đơn hay của người liên quan khác thì HĐXX chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và sẽ ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Điều 299 BLTTDS 2015 cũng không quy định cụ thể việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt hay cố tình vắng mặt Chính vì vậy, dẫn đến tình trạng
áp dụng pháp luật khác nhau Đối với trường hợp, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét
xử vắng mặt hoặc có kháng cáo thì HĐXX phúc thẩm phải tạm dừng để hỏi ý kiến bị đơn và
Trang 7căn cứ vào các quy định của TTDS để giải quyết Đối với bị đơn vắng mặt không có lý do và không có kháng cáo thì tiến hành xét xử theo thủ tục chung
Ngoài ra, các quy định pháp luật hiện hành cũng còn một số bất cập trong việc xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm Ví dụ: Ông A khởi kiện tranh chấp chia thừa kế với ông B và yêu cầu ông B chia thừa kế là quyền sử dụng đất mà ông B đang quản lý canh tác, trong quá trình thu thập chứng cứ có đủ căn cứ không phải là tài sản của của cha, mẹ ông A và ông B để lại mà đã được cha, mẹ tặng cho ông B trước khi qua đời Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của ông A và thu án phí có giá ngạch 14.500.000 đồng (theo giá trị tài sản) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ông A kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm ông A rút đơn khởi kiện được bị đơn đồng
ý HĐXX phúc thẩm buộc nguyên đơn ông A chịu án phí 14.500.000 đồng và 150.000 đồng
án phí phúc thẩm Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015 và khoản
6 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Từ ví dụ trên sẽ dẫn đến 2 trường hợp:
- Trường hợp 1: Trường hợp án sơ thẩm quyết định sai về án phí thì cấp phúc thẩm vẫn thực hiện tuyên án phí theo quyết định án sơ thẩm đã tuyên buộc các đương sự chịu, điều luật trên không đề cập vấn đề Cấp phúc thẩm xác định án phí lại theo đúng quy định pháp luật cho các đương sự
- Trường hợp 2: HĐXX phúc thẩm vẫn được quyền sửa án phí sơ thẩm, nếu như ở quyết định án sơ thẩm xác định thu án phí của đương sự không đúng pháp luật, vì do cấp sơ thẩm xác định không đúng nghĩa vụ chịu án phí của các bên, sửa án phí trong trường hợp trên nhằm đảm bảo quyền lợi đương sự cũng như pháp luật được thống nhất, công bằng
Đối với trường hợp 1, Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ quy định Điều 299 BLTTDS năm
2015 và khoản 6 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 là hoàn toàn phù hợp, nhưng lại không phù hợp trong trường hợp cấp sơ thẩm thu án phí sai, còn trường hợp thứ 2, HĐXX sửa án phí sơ thẩm và có quyền xác định lại án phí theo khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015 sẽ dẫn đến một cách tùy tiện và thiếu căn cứ pháp luật
IV Một số kiến nghị
Thứ nhất, là đối với với trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì nên bổ sung thêm
quy định vào Điều 299 BLTTDS 2015 như sau: “Trường hợp, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa
có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc có kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải tạm dừng
để hỏi ý kiến bị đơn và căn cứ vào điểm a, b mà giải quyết Đối với bị đơn vắng mặt không có
lý do và không có kháng cáo thì tiến hành xét xử theo thủ tục chung”
Thứ hai, về vấn đề xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Cần phải sửa đổi điểm b khoản
1 Điều 299 BLTTDS năm 2015, theo đó bỏ cụm từ “…các đương sự vẫn phải chịu án phí dân
sự theo quyết định của Toà án cấp sơ thẩm ” mà thay vào đó là cụm từ “…các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử xác định lại án phí trong trường hợp quyết định của án phí sơ thẩm áp dụng không đúng pháp luật hoặc có thỏa thuận khác”
KẾT LUẬN
Thông qua việc làm bài luận kết thúc học phần nói riêng và quá trình được học tập dưới
sự hướng dẫn, giảng giải đầy tâm huyết của các thầy cô đã giúp em có thêm nhiều kiến thức
về pháp luật tố tụng dân sự Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô!