MỞ ĐẦU Mục đích ý nghĩa chọn đề tài Huế là mảnh đất nằm ở miền Trung Việt Nam, lưng dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông mênh mông Địa giới phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Trị ở sông Ô Lâu, phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng ở núi Hải Vân Với lịch sử hình thành và phát triển hơn 700 năm, Huế đã tích tụ cho mình một nền văn hóa sâu đậm và đặc trưng Huế là kinh đô của triều đại nhà Nguyễn chế độ phong kiến cuối cùng của Việt Nam nên những giá trị vật chất và tinh thần của Phong kiến vẫ.
Trang 1MỞ ĐẦU
• Mục đích ý nghĩa chọn đề tài
Huế là mảnh đất nằm ở miền Trung Việt Nam, lưng dựa vào dãyTrường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông mênh mông Địa giới phíaBắc giáp với tỉnh Quảng Trị ở sông Ô Lâu, phía Nam giáp Thành phố ĐàNẵng ở núi Hải Vân Với lịch sử hình thành và phát triển hơn 700 năm, Huế
đã tích tụ cho mình một nền văn hóa sâu đậm và đặc trưng
Huế là kinh đô của triều đại nhà Nguyễn - chế độ phong kiến cuốicùng của Việt Nam nên những giá trị vật chất và tinh thần của Phong kiếnvẫn hiện diện Hệ thống cung đình hoàng thành, hệ thống lăng tẩm của vuachúa, hệ thống chùa chiền xưa cổ… cùng với những khung hệ giá trị văn hóatinh thần đã làm nên diện mạo một vùng đất kinh kỳ đầm đà bản sắc Văn
hóa xứ Huế trở thành di sản chung của nhân loại Huế là thành phố có 5 danh hiệu UNESCO ở Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế vào năm 1993; Nhã nhạc cung đình Huế vào năm 2003; Mộc bản triều Nguyễn vào năm 2009; Châu bản triều Nguyễn vào năm 2014 và Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế vào năm 2016.
Đồng hành cùng với việc hình thành và phát triển vùng đất này, Phậtgiáo đã có đóng góp rất nhiều làm nên giá trị văn hóa của xứ Huế Ngay từthời còn thuộc đất Chăm, xứ này đã có Phật giáo của Chăm Đến khi lưu dânViệt vào khai hoang lập làng, rồi chúa Nguyễn cát cứ xây dựng chính quyềnriêng biệt cho đến khi trở thành kinh đô của triều Nguyễn, Phật giáo luônluôn được ưu tiên phát triển, là nền tảng tư tưởng bản lề cho kế sách pháttriển đất nước
Huế không những là nơi địa linh phát xuất nhân kiệt mà còn là nơi lưudấu ấn Phật giáo từ thế kỷ 14 cho đến nay Nếu văn hóa được định nghĩa như
là đỉnh cao của những thành tựu cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, thìPhật giáo khởi sinh và hội tụ trên đất Huế chính là suối nguồn đóng gópnhững thành tựu của văn hóa Huế
Từ buổi đầu du nhập, Phật Giáo đã nhanh chóng hòa mình vào tínngưỡng dân gian, lan rộng và ảnh hưởng sâu xa trong mọi tầng lớp, từ thànhthị đến làng quê, từ tầng lớp nông phu cho đến hàng quý tộc Dù là lúc rực
rỡ huy hoàng hay là lúc ngã nghiêng suy yếu, Phật giáo Huế vẫn luôn sánhbước kề vai đi cùng phát triển xã hội và văn hóa miền đất xứ Huế, là bộ phậnvăn hóa bất khả phân ly của nền “văn hóa Huế” Nó đã trở thành sức mạnh
Trang 2tâm linh để bảo vệ, che chở, phụng sự cho nhiều thế hệ Cũng chính nhờ sựhài hòa vững chắc giữa đạo pháp và dân tộc mà ngày nay, Huế được xem lànơi cổ kính với bao thuần phong mỹ tục Do vậy nói đến Huế người tathường nói là “vùng đất Phật”, “xứ sở của những ngôi chùa”, chính bởi sựhiện diện mật tập của số lượng lớn chùa chiền trên một diện tích khiêm tốn.Người Huế khi sinh ra đã sớm tập quen với tiếng chuông chùa, với câu kinhtiếng kệ, một ngày hai buổi công phu sớm chiều Tiếng chuông âm vang nơithâm sơn cùng cốc, vọng xuống dòng sông, đi sâu vào lòng mỗi người, xuađuổi mọi tạp niệm.
Thiết nghĩ, bản thân là người gốc xứ Huế cũng là người xuất gia theoPhật giáo Trong quá trình sinh sống và tu học tại Huế, bản thân cảm nhận
Phật giáo ảnh hưởng rất sâu đậm đến văn hóa xứ Huế Phật giáo đóng vai trò
quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Huế Con người xứ Huếsống ung dung, bình đạm, trầm lặng nhưng hiền hòa và đời sống nội tâm rấtphong phú Phong cách này có phần do môi trường, thổ nhưỡng, khí hậu
nhưng một phần lớn là ảnh hưởng Phật giáo Với mong muốn đóng góp một
phần nhỏ bé của mình vào việc tôn vinh văn hóa Phật giáo Huế, người viết
đã chọn đề tài Vai trò của Phật giáo trong văn hóa xứ Huế làm đề tài nghiên
cứu cho Luận văn thạc sĩ của mình
• Giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ giá trị củaPhật giáo trong văn hóa Việt Nam Một cách trực tiếp, đề tài góp phần xâydựng cơ sở đánh giá vai trò của Phật giáo trong văn hóa xứ Huế
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tham khảohữu ích, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Phật giáo và vai trò của Phật giáo đốivới con người xứ Huế
• Lịch sử vấn đề
Phật giáo và văn hóa Phật giáo là thành tố có ảnh hưởng sâu đậmtrong văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Huế nói riêng Việc nghiêncứu Phật giáo Huế cũng như văn hóa Phật giáo Huế là chủ đề của nhiềuchuyên luận, bài nghiên cứu công phu từ trước đến nay
Trước hết là vấn đề nghiên cứu văn hóa Huế Huế có một nền văn hóa
đa dạng và nhiều đặc trưng nên đã thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu vănhóa quan tâm và tìm hiểu Chẳng hạn những công trình của Nguyễn Đắc
Xuân với Văn hóa cố đô, Nxb Thuận Hóa năm 1997; Hồ Vĩnh với Dấu tích văn hóa thời Nguyễn, Nxb Thuận Hóa năm 1998… Đặc biệt các nhà nghiên
Trang 3cứu người Huế như Phan Thuận An, Nguyễn Hữu Thông, Trần Đức AnhSơn, Trần Đại Vinh, Trần Đình Hằng, Hoàng Ngọc Vĩnh với hàng loạt côngtrình đồ sộ Ở đây chúng tôi nghiên cứu Phật giáo ảnh hưởng đến văn hóaHuế nên sẽ quan tâm các công trình liên quan đến Phật giáo và văn hóa Phậtgiáo
Đầu tiên có thể kể đến công trình tiêu biểu như Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức do Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
phát hành năm 1995, trình bày về quá trình du nhập, hình thành và phát triểncủa Phật giáo vào Đàng Trong Việt Nam
Chi tiết hơn về Phật giáo xứ Huế có cuốn Lịch sử Phật giáo xứ Huế của Thích Hải Ấn – Hà Xuân Liêm, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006; Những chùa tháp Phật giáo ở Huế của Hà Xuân Liêm, Nxb Văn hóa thông tin, 2007; Chư tôn thiền đức Phật giáo Thuận Hóa của Thích Trung Hậu- Thích Hải
Ấn, Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2010… đã khái quát quá trình du nhập và phát
triển của Phật giáo xứ Huế Các tác giả phân tích và khẳng định những giátrị nổi bật cùng sự phát triển của Phật giáo xứ Huế cũng như những ảnhhưởng đến đời sống tâm linh người dân xứ Huế
Liên quan đến việc nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sốngcủa người dân Huế cũng như những đặc trưng của Phật giáo Huế đã có cácLuận văn của Tăng Ni sinh viên tại Học viện Phật giáo như tác giả Thích Nữ
Từ Tịnh làm đề tài “Những nét đặc trưng của Phật giáo Huế” vào năm 2005;
Thích Nữ Liên Minh với đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống người dân xứ Huế” vào năm 2001; Thích Nữ Nguyên Hải với đề tài Một vài nét đẹp trong lịch sử Phật giáo Thuận Hóa năm 2001; Thích Thiện Trì với
đề tài “Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo qua các lễ hội xứ Huế” năm
2009… Tuy nhiên những công trình này chưa đi sâu phân tích cũng nhưchưa hệ thống một cách khoa học về sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với vănhóa Huế
Từ góc độ ảnh hưởng của Phật giáo đến kiến trúc xứ Huế có thể thấy
những công trình của Nguyễn Hữu Thông với tựa đề Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí, Nxb Thuận Hóa 2001; công trình của Phan Thuận An có tựa đề Kiến trúc cố đô Huế, Nxb Đà Nẵng 2006 … đã chỉ
ra những nét đặc trưng của kiến trúc xứ Huế, đặc biệt chỉ ra được những ảnhhưởng tương quan giữa kiến trúc Huế với kiến trúc Phật giáo Huế Bên cạnh
đó còn nhiều bài viết liên quan trực tiếp đến kiến trúc chùa Huế được tuyển
đăng trên Tạp chí Liễu Quán số 15 tháng 8/2018 như “Chùa Huế trong
Trang 4nguồn mạch đời sống văn hóa-tâm linh xứ Huế” của Nguyễn Hữu Thông-LêThọ Quốc; “Đặc trưng biểu tượng trang trí tại các ngôi chùa Huế” của ĐặngVinh Dự; “Kiến trúc chùa Huế-giá trị của một di sản giữa lòng thành phố disản của Nguyễn Phước Bảo Đàn; “Một vài đặc điểm vườn chùa Huế truyềnthống” của Lê Anh Tuấn; “Kiến trúc, cảnh qua chùa làng vùng Thuận Hóa:Khảo sát chùa Giác Lương” của Lê Đình Hùng – Nguyễn Thăng Long; “Đặctrưng kiến trúc chùa Khuôn hội ở Huế” của Lê Thị Như Khuê…
Nghiên cứu về mộc bản Phật giáo Huế vẫn còn là mảng đất hiếmngười tìm Người khởi đầu cho việc nghiên cứu mộc bản Phật giáo Huếchính là chủ trương của ban văn hóa Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế Những
kết quả bước đầu được công bố trên Tạp chí Liễu Quán số 6 tháng 8/2015.
Trong đó có các bài nổi bật như “Bước đầu khảo sát di sản mộc bản Phậtgiáo Huế” của Thích Không Nhiên; “Mộc bản kinh Phật từ thời chúaNguyễn đến đầu triều Gia Long” của Võ Vinh Quang-Đỗ Minh Điền…
Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo trong ẩm thực Huế phải kể đến
công trình của Bùi Minh Đức với tựa đề Văn hóa ẩm thực Huế, Nxb Văn
hóa văn nghệ năm 2011 Đây là công trình giá trị đã đánh giá những nét đặctrưng của ẩm thực xứ Huế Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến ẩmthực chay, một nét đặc sắc của ẩm thực Huế
Đa số các công trình nghiên cứu văn hóa Huế đều có đề cập đến sựảnh hưởng của Phật giáo Phật giáo như một tiền đề, một bản lề quan trọngtrong việc sinh thành, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa vật chất cũng nhưtinh thần xứ Huế Tuy nhiên vẫn chưa chỉ ra những biểu hiện của sự ảnhhưởng Phật giáo trong các giá trị văn hóa Huế một cách chi tiết Tất cả cáccông trình kể trên vẫn chỉ là những công trình nổi bật mà chúng tôi tiếp cậnđược, ngoài ra còn nhiều công trình giá trị khác chúng tôi vẫn chưa có cơ hội
để tìm hiểu Song với những thành tựu như vừa nêu là rất đáng quý, tất cả làchỗ dựa, là những gợi ý quan trọng để chúng tôi suy nghĩ, tiếp thu và triểnkhai nội dung, ý tưởng khi thực hiện đề tài
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Phật giáo trong văn hóa
Phạm vi nghiên cứu: Ở Huế
Phạm vi thời gian: Từ khi Phật giáo xuất hiện ở Huế cho đến nay
• Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện dựa trên sự phối hợp của nhiều phươngpháp nghiên cứu
Trang 5- Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp này được thực hiệnbằng việc thu thập thông tin từ thư viện, hiệu sách, v.v.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, tư liệu thu thập được
- Phương pháp logic và lịch sử: Tìm hiểu tiến trình lịch sử Phật giáotruyền vào xứ Huế
• Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này chúng tôi mong muốn góp phần trong việc tìmhiểu sự du nhập và thấm sâu của Phật giáo trong đời sống cư dân xứ Huế Từ
đó tìm hiểu vai trò của Phật giáo trong việc tạo thành văn hóa xứ Huế gồmvăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Qua việc phân tích hai khía cạnh vănhóa vật chất và văn hóa tinh thần cư dân xứ Huế sẽ xác lập hệ giá trị đónggóp của Phật giáo
Luận văn còn khẳng định thêm giá trị văn hóa xứ Huế, góp phần tạonên giá trị văn hóa của Việt Nam
Luận văn sẽ là tư liệu cho các chuyên ngành liên quan đến văn hóaViệt Nam, lịch sử và Phật giáo Việt Nam tham khảo
• Câu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chínhcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam vàtruyền bá Phật giáo vào Huế
Chương 2: Vai trò của Phật giáo trong văn hóa vật chất xứ Huế
Chương 3: Vai trò của Phật giáo trong văn hóa tinh thần của người dân
xứ Huế
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO
VIỆT NAM VÀ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO VÀO HUẾ
• Phật giáo và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
• Sự hình thành Phật giáo
Phật giáo là một hệ thống tư tưởng triết lý hình thành ở Ấn Độ do đứcPhật Thích Ca Mâu Ni sáng lập vào năm 533 trước Tây Lịch Ngay từ khi rađời Phật giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tư tưởng văn hóa Ấn Độ
Trang 6Với quan điểm bình đẳng và khả năng thành Phật, Đức Phật đã xóa bỏ sựphân chia giai cấp - một điều cố hữu của Ấn Độ phục vụ quyền lợi của mộtthành phần xã hội Phật giáo nhanh chóng lan truyền ra các nước xungquanh và cả trên thế giới
Bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật là bài Tứ diệu đế (bốn chân lý
vi diệu) gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế Với bài thuyết pháp này,đức Phật dạy cho chúng sanh thấy rõ được nỗi khổ của cuộc đời, nguyênnhân của nỗi khổ, quả vị giải thoát và con đường đưa đến giải thoát Những
tư tưởng khác còn được trình bày trong Thập Nhị nhân duyên, Bát Chánhđạo, Nhân quả, Tánh Không, Sắc Danh…
Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Phật giáo chia thành hai bộ phái làĐại thừa (cổ xe lớn - chở được nhiều người) và Tiểu thừa (cổ xe nhỏ - chởđược ít người) Hai bộ phái này truyền đi theo hai hướng, Đại thừa theohướng Bắc gọi là Bắc tông, phổ biến ở các nước Trung Quốc, Triều Tiên,Nhật Bản; Tiểu thừa theo hướng Nam gọi là Nam Tông, phổ biến ở các nướcSrilanka, Lào, Thái, Campuchia…
Hệ thống tư tưởng triết lý của Phật giáo gói gọn trong Tam tạng Kinhđiển gồm Kinh, Luật và Luận Tạng Kinh ghi lại lời thuyết pháp, lời dạy củaĐức Phật Thích Ca Mâu Ni đối với chúng đệ tử; Tạng Luật ghi lại giới luậtphải chấp hành của Tăng đoàn; Tạng Luận là những lời luận giải của các vị
Tổ sư Cao tăng luận bàn chi tiết lời dạy của Phật
Trong quá trình phát triển, Phật giáo chia thành nhiều tông phái khácnhau như Tịnh độ tông, Thiền tông, Mật tông, Hoa Nghiêm tông… Mỗi tôngphái được các vị Tổ sư phát triển theo một tư tưởng cụ thể nhằm tùy căn cơtrình độ tiếp nhận của chúng sanh để giúp chúng sanh giải thoát khổ đau,chứng quả giải thoát Thiền tông ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn hóa
và văn học của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Theo lịch sử Thiềntông thì Thiền bắt đầu hình thành từ sự kiện “niêm hoa vi tiếu” được thuật
lại trong Đại Phạm Thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh Tương truyền,
Phạm Thiên vương cúng dường Phật một cành hoa và thỉnh Phật thuyếtpháp Phật chỉ cầm hoa và im lặng mỉm cười Chẳng ai trong hội chúng hiểuđược điều này, chỉ có ngài Ma ha Ca diếp hiểu được thâm ý của Phật và mỉmcười lĩnh hội Đức Phật liền nói: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết bàndiệu tâm, thật tướng không tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáongoại biệt truyền, nay trao lại cho Ma ha Ca diếp”[52; tr 302] Như vậy, Ma
ha Ca Diếp được suy tôn là sơ tổ của Thiền tông Các Tổ truyền nhau đến
Trang 7đời thứ 27 là tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc để truyền đạo Tại đây,Thiền tông trở thành một tông phái vững mạnh, phát triển rực rỡ Đến thờiLục tổ Huệ Năng, Thiền tông phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc Để phù hợpvới tâm lý con người và xã hội, Thiền chia làm hai phái là Nam tông và Bắctông Nam tông chủ trương “đốn ngộ” - “ngộ bất thình lình, ngộ ngay bâygiờ” [52; tr.153] do ngài Huệ Năng đề xướng Bắc tông do ngài Thần Túkhởi xướng lại chủ trương “tiệm ngộ” - “ngộ từ từ, theo từng cấp bậc” [52;tr.429] Đến thời Đường, Minh, Nguyên, Thiền tông phát triển rực rỡ ởTrung Quốc và dần dần ảnh hưởng đến Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc vàmang đậm dấu ấn đặc sắc của mỗi dân tộc.
• Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam
Phật giáo truyền vào Việt Nam bằng hai con đường: Một là con đườngbiển từ phương Nam Ấn Độ trực tiếp truyền sang gọi là Nam truyền; Hai làcon đường bộ từ phương Bắc truyền xuống gọi là Bắc truyền Ban đầu Phậtgiáo Việt Nam tiếp nhận trực tiếp từ Phật giáo Ấn Độ, sau đó truyền quaTrung Quốc Nhưng sau đó, Phật giáo ở Trung Quốc đạt đến đỉnh cao, có cáiriêng của mình, đã ảnh hưởng trở lại Việt Nam
Ðạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch Trong
Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang cho rằng: “Các tài liệu như Hậu
Hán Thư trong đó có câu chuyện Sở Vương Anh theo Phật Giáo, sách LýHoặc Luận của Mâu tử viết tại Việt Nam vào hạ bán thế kỷ thứ hai, kinh TứThập Nhị Chương và một số tài liệu khác, có tính cách lặt vặt hơn, cho tathấy rằng trong đời Hậu Hán (thế kỷ thứ nhất và thứ hai) ngoài hai trung tâmPhật Giáo ở Trung Hoa, còn có một trung tâm Phật Giáo rất quan trong khác
ở Giao Chỉ, tưc Việt Nam, lúc bấy giờ đang nội thuộc Trung Quốc là trungtâm Phật giáo Luy Lâu (hiện nay thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)”[44; tr.23]
Phật giáo lúc mới truyền bá vào nước ta, chỉ là tín ngưỡng bình dân,chưa có kinh điển phiên dịch, chưa có tăng sĩ và tự viện Nhân dân ta tiếpthu đạo Phật một cách tự nhiên, không gặp bất kỳ phản ứng và trở ngại gì,bởi lẽ tư tưởng Phật giáo vốn rất gần gũi với tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Những nhà truyền đạo đầu tiên vào nước ta hầu hết là các tăng sĩngười Ấn Độ như Ma ha Kỳ vực, Khương Tăng Hội… Điều đó chứng tỏPhật giáo trước khi ảnh hưởng đến Trung Quốc, đã phát triển tại Giao Châu
Giao Châu lúc bấy giờ là nơi giao lưu các tín ngưỡng – truyền thống
Trang 8Vệ đà từ Ấn Độ và truyền thống Hán học từ Trung Quốc, một bên hướng tới
vũ trụ siêu nhiên, một bên hướng vào xã hội thực tiễn Trải qua quá trình dunhập, thâu hóa, các dòng tư tưởng đó đã kết tinh thành nền văn hóa mangtinh thần riêng của dân tộc Việt Nam
Theo “tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật được Mâu Tử viết tại GiaoChâu, Khương Tăng Hội (cuối thế kỷ thứ II) được xem là tăng sĩ đầu tiêncủa Việt Nam” [52; tr.332]
Sang thế kỷ III, tại Giao Châu có “khoảng 500 vị tăng sĩ và lưu hành ítnhất 15 bộ kinh”[52; tr.332] thời gian này Thiền Đại thừa Phật giáo đã dunhập vào Việt Nam và “Khương Tăng Hội được xem là Khai tổ của Thiềnhọc Việt Nam ”[52; tr.332]
Thế kỷ V, ở Giao Châu có những Thiền sư tiếng tăm như Đạt ma Đề
bà, Huệ Thắng, Pháp Thiên… được giới trí thức Trung Hoa ngưỡng mộ
Ở Việt Nam, mỗi thời kỳ có một tông phái trở thành chủ đạo ThờiBắc thuộc, tông phái Phật giáo chủ yếu là Mật tông Các nhà sư lớn từ cuốiBắc thuộc đến đầu nhà Lý như Nguyễn Minh Không, Từ Đạo Hạnh… đềurất giỏi pháp thuật Khi nước nhà giành độc lập tự chủ, và nhất là từ thời LýTrần, Phật giáo thiền tông phát triển một cách rực rỡ Dưới thời Lý Trần,Phật giáo được xem là quốc giáo, có đóng góp rất lớn trong việc khẳng địnhchủ quyền độc lập dân tộc và ổn định phát triển đất nước Sang thời Lê sơ,Phật giáo mất dần địa vị trên chính trường, lùi dần vào đời sống sinh hoạtdân gian, nhường vị trí ấy cho Nho giáo Tuy nhiên, Phật giáo vẫn phát triển,ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, cách nghĩ, nếp sống sinh hoạt của quầnchúng nhân dân Trải qua các triều đại khác nhau, Phật giáo vẫn là nền tảng
tư tưởng cốt yếu của dân tộc Việt Nam
• Các thiền phái Phật giáo ở Việt Nam
Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam là thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi doTỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) thành lập năm 580 Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi
đã vân du tham học thiền ở Ấn Độ nhiều năm, sau đó mới qua Trung quốcgặp Tổ sư Tăng Xán Sau khi được Tổ sư Tăng Xán truyền tâm ấn, Sư lại vềchùa Chế Chỉ hoằng hóa và dịch kinh Tượng đầu Tinh xá (Tinh xá Đầu Voi).Đến Việt Nam, thiền sư Tỳ ni đa lưu chi gặp và truyền pháp cho thiền sưPháp Hiền và Quán Duyên Đây là Thiền phái đầu tiên có hệ thống truyềnthừa, kế tục được 19 đời, từ Thiền sư Pháp Hiền đến Thiền sư Y Sơn, kếtthúc cuối thời Lý
Thiền phái thứ hai là thiền phái Vô Ngôn Thông do thiền sư Vô Ngôn
Trang 9Thông (người Trung Quốc) sáng lập Thiền sư nhận yếu chỉ Thiền tông từThiền sư Bách Trượng Hoài Hải sang nước ta du hóa vào năm 820 DòngThiền này kế tục được 17 thế hệ, đến đầu thời Trần thì thất truyền.
Thiền phái thứ ba là thiền phái Thảo Đường do thiền sư Thảo Đườngsáng lập từ cuối thế kỷ XI Trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm 1096,vua Lý Thánh Tông đã mang về Đại Việt một số tù nhân, trong đó có Thiền
sư Thảo Đường – vốn là môn đệ của Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển, là pháichủ trương dung hợp giữa Phật giáo và Nho giáo tại Trung Quốc DòngThiền Thảo Đường duy trì được 6 thế hệ
Cả ba thiền phái này đều là người ngoại quốc khai phát tông phái và
có những thế hệ truyền thừa trên đất Đại Việt
Đầu thế kỷ XIII, nhà Trần lên ngôi vẫn tiếp tục chính sách ủng hộPhật giáo Chính vì thế mà Phật giáo dưới thời Trần rất phát triển Xu hướnglúc bấy giờ là “ba Thiền phái Tì ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đườngdần dần nhập lại một” [52; tr.333] Trên cơ sở đó, Trần Nhân Tông, vị vuathứ 3 của nhà Trần đã sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Thiền pháinày được xem là sự tổng hợp của ba dòng Thiền trên và mở đầu cho nềnThiền học mang bản sắc Việt Nam “Thiền phái Trúc Lâm chủ trương niệmPhật, thụ giới, tọa Thiền Ngồi Thiền để tĩnh tâm, ngăn ác hướng thiện NiệmPhật là cách tự giáo dục, tự ức chế để miệng và tâm thanh tịnh Thụ giới làcách răn giữ bản thân theo giới luật để thân trong sạch và không làm điềuác”[48; tr.100] Đây chính là biểu hiện nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm.Chính điều này đã tạo nên một nhân sinh quan “gần gũi với đời, trở về vớicuộc sống trần thế”[48; tr.101] mà Thiền phái này đã tạo dựng – nó chính làbiểu hiện cho tinh thần và bản sắc Đại Việt
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử truyền qua ba đời, Sơ tổ Phật HoàngTrần Nhân Tông, nhị Tổ Pháp Loa và tam Tổ Huyền Quang Có lẽ vì nhàTrần mất ngôi nên sau 3 đời truyền thừa thì thiền phái này không còn thưtịch nào ghi rõ về sự truyền thừa nữa Mặc dù vậy tư tưởng thiền phái này lạiảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa xã hội và để lại nhiều dấu ấn
Phật giáo dưới thời Lý Trần được xem là Quốc giáo, có ảnh hưởngtoàn diện trong đời sống xã hội lúc bấy giờ
Thiền phái thứ năm là thiền phái Tào Động do thiền sư Động SơnLương Giới và Tào Sơn Bản Tịch sáng lập tại Trung Quốc Thiền phái nàytruyền vào Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII do thiền sư Thông Giác ThủyNguyệt truyền ở Đàng Ngoài và thiền sư Thạch Liêm Thích Đạn Sán truyền
Trang 10ở Đàng Trong.
Thiền phái thứ sáu là thiền phái Lâm Tế Thiền phái này xuất phát từTrung Quốc do thiền sư Lâm Tế sáng lập Vào thế kỷ XVII, đệ tử đời thứ 33của thiền phái này là thiền sư Nguyên Thiều đã sang du hóa tạo Đàng Trong.Phật giáo Đàng Trong được sự ủng hộ nhiệt tình của chúa Nguyễn đã pháttriển rực rỡ Từ dòng thiền này lại xuất phát thành hai dòng thiền khác làdòng thiền Lâm Tế Liễu Quán và dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh Trong đó,thiền phái Lâm Tế Liễu Quán do thiền sư Liễu Quán người Phú Yên sáng lập
là dòng thiền thuần Việt thứ 2 của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng đượcchấp nhận và bám rễ sâu vào đời sống văn hóa của dân tộc Phật giáo ngay
từ đầu đã thực hiện lý tưởng đồng hành cùng dân tộc, tạo nên bản sắc vănhóa sâu đậm để từ đó cố kết nhân tâm thành sức mạnh vững vàng, chống lạingoại xâm, xây dựng đất nước Phật giáo trở thành lối sống, nếp nghĩ củadân tộc Việt
• Phật giáo xứ Huế - quá trình du nhập và những đặc điểm
• Từ Ô Châu Ô Rí đến Thuận Hóa-Phú Xuân- Huế
Huế là địa danh thuộc miền Trung Việt Nam Có nhiều tài liệu giảithích tên Huế khác nhau Trang Wikipedia đã tổng hợp lại như sau:
“Vua 33134Lê Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên nói đến địa danhHuế trong bài văn nôm 1193411141Thập giới cô hồn quốc ngữ văn Trong
đó có câu: "Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vạy then" Những tài liệu sử học cũ ngoại
trừ 11333111Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu khi nói tới Huế, đều dùng cái
tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng tên Huế.
Bộ 116013Việt Nam Sử Lược của 1718Trần Trọng Kim là bộ sử đầu tiêncủa Việt Nam viết bằng 11chữ quốc ngữ, ngoài nguồn sử liệu truyền thống,tác giả đã sử dụng nguồn sử liệu của phương Tây, và tên Huế xuất hiện.Trong hồi ký của Pierre Poivre, một thương nhân 31Pháp đến Phú Xuân vàonăm 1749, cái tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué.Năm 1787, Le Floch de la Carrière đã vẽ bản đồ duyên hải 430ĐàngTrong cho Bộ Hải Quân Pháp, trong đó bản đồ đô thành Huế được vẽ mộtcách khá rõ và cái tên Huế đã được ghi như cách người Pháp thường viết vềsau: HUÉ Trong một lá thư viết tại 30113Sài Gòn ngày 31715 tháng
7 năm 1789 của Olivvier de Puynamel gởi cho Létodal ở Macao, hai lần cái
tên Hué được nhắc đến khi nói về tình hình nơi này”.
Trang 11Đa số người dân Huế cho rằng từ Huế là đọc từ chữ Hóa trong từ
Thuận Hóa, bởi Huế trước đây là vùng đất có tên là Thuận Hóa
Vào năm 1306, vua Chiêm dâng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt để cướicông chúa Huyền Trân Từ đó châu Ô châu Lý thuộc về người Việt và đượcđặt lại tên là Thuận Châu và Hóa Châu Năm 1558, Nguyễn Hoàng xin chínhquyền Lê Trịnh vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa, thực hiện công cuộc khaihoang, lập làng lập ấp Chúa Nguyễn chọn Phú Xuân làm kinh đô ĐàngTrong, thực hiện công cuộc ly khai với chính quyền Lê Trịnh ở Đàng Ngoài.Đến đời vua Nguyễn vẫn tiếp tục chọn Phú Xuân làm kinh đô Năm 1945,chế độ phong kiến Việt Nam khai tử, địa bạ hành chính Việt Nam được thayđổi với sự lãnh đạo của chính phủ Việt Nam
Thuận Hóa-Phú Xuân-Huế kể từ khi có dấu chân người Việt đến hômnay đã trải qua hơn 700 năm Xứ Huế mang đặc trưng văn hóa đặc sắc riêngbiệt, tạo thành một dấu ấn của văn hóa Việt Nam
• Thuận Hóa buổi đầu và quá trình du nhập Phật giáo
Thuận Hóa trước khi thuộc về người Việt thì đây là vùng đất củaChăm pa Vùng đất này có một nền văn hóa Chăm pa đặc sắc lâu đời, chịuảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Phật giáo từng đóng một vị trí khá quantrọng trong đời sống tinh thần của người Chăm, tồn tại và phát triển songsong với đạo Bà la môn Sau khi giao đất cho người Việt hai châu Ô Rí,người Chăm đi lùi dần về phía Nam thế nhưng những ảnh hưởng của vănhóa Chăm vẫn tồn tại trên vùng đất này
Những lưu dân Việt đầu tiên đến đây là những người bị tội đày, trốnchính quyền Lê Trịnh Đây là vùng phên dậu, rừng thiêng nước độc, cư dânlại đa dạng thành phần Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm xứ ThuậnHóa đã có những chính sách phù hợp nên Thuận Hóa phát triển một cáchnhanh chóng, trở thành một trung tâm kinh tế chính trị đủ sức để đối trọnglại với chính quyền Đàng Ngoài
Đứng trước tình hình cư dân Thuận Hóa đa thành phần, trình độ nhậnthức cũng khác nhau, hơn nữa, trong tình cảnh chúa Nguyễn là người lykhai, đi trái tư tưởng trung quân của nhà Nho nên chúa Nguyễn cần sự lựachọn tư tưởng để phát triển vương quyền Thuận Hóa buổi đầu chưa thật sựphát triển nhưng cư dân ở đây hầu như đã biết đến đạo Phật, gồm: đạo Phật
của người Chăm để lại và đạo Phật của người Việt di dân đến đây Trong Ô Châu cận lục, Dương Văn An đã ghi chép lại những ngôi chùa xuất hiện ở
đây như chùa Thiên Mụ, chùa Sùng Hóa… Nhân dân đã có những lễ hội,
Trang 12“vào ngày Tết hoặc lễ nghi thì các quan ở tam ty, các nha môn và vệ sở đềuđến, áo mũ lễ nhạc tụ tập như mây” [1; tr.94].
Phật giáo Thuận Hóa-Huế trước hết là Phật giáo từ Đàng Ngoài theochân những di dân vào đây khai hoang lập ấp Đến với vùng rừng thiêngnước độc (Ở đây đất nước lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũngkinh) khiến họ mang niềm tin cầu nguyện từ Phật giáo Hình ảnh đức Bụt,
Bồ tát là hình ảnh từ bi, giúp họ thoát khỏi những tai ương, bệnh tật Họ đếnđâu lập chùa đến đấy, tạo dựng niềm tin để chống lại thiên nhiên và thú dữ
Sự lựa chọn tư tưởng để là kế sách kết nối và xây dựng tư tưởng cho
cư dân là điều hết sức quan trọng Đứng trước tình hình này, chúa Nguyễn
đã chọn Phật giáo làm tư tưởng bản lề để phát triển Thuận Hóa Litana đãnhận xét rằng:
“Trong tình hình mới này, các nhà lãnh đạo họ Nguyễn cảm thấy cầnphải đưa ra một cái gì khác với tín ngưỡng của người Chăm để củng cố các
di dân người Việt về mặt tinh thần và tâm lý.Không thể sử dụng Khổng giáo
vì những khẳng định cơ bản của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trícủa họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối với triều đình.Tuy nhiên, họ Nguyễn lại không dám đi quá xa và không dám tìm ra mộtgiải pháp hoàn toàn khác biệt với truyền thống người Việt ở phía Bắc Trongnhững hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại thừa đã cung cấp một giải pháp đáp ứngnhu cầu của họ Nguyễn Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc củangười Việt và mặt khác, làm lắng đọng các mối lo âu của người di dân màkhông đặt lại vấn đề tính hợp pháp của những người cai trị” [60; tr.222]
Như đã nói ở trên, Phật giáo đã có mặt tại Thuận Hóa từ sớm nhưngphải đến khi chúa Nguyễn trấn nhậm, ly khai thì Phật giáo mới bắt đầu pháttriển vượt trội
Thuận Hóa bước sang thế kỷ XVII, Phật giáo phát triển rực rỡ bởichính sách ưu tiên của chúa Nguyễn Chính quyền chúa Nguyễn đã có nhiềuđộng thái tích cực trong việc phát triển Phật giáo như cho xây dựng lại chùaThiên Mụ trên đồi Hà Khê vào năm 1601, chùa Sùng Hóa năm 1602… mởcác lễ hội Phật đản, Vu Lan tại các chùa này, người đi dự lễ đông như trẩyhội Thời kỳ này có nhiều thiền sư nổi tiếng như thiền sư Viên Khoan, ViênCảnh, Hương Hải… Chúa Nguyễn cùng hoàng tộc, quan lại đều là những đệ
tử thọ giới với các thiền sư
Đặc biệt, chúa Nguyễn cho thỉnh mời các vị cao tăng từ Trung Quốcsang hoằng hóa Thiền sư Nguyên Thiều, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 33 sang
Trang 13Đàng Trong hoằng hóa vào năm 1677 Lúc đầu sang ở phủ Quy Ninh (BìnhĐịnh), lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau đó được chúa mời ra Thuận Hóa đểhoằng hóa Thiền sư là người đầu tiên truyền thiền phái Lâm Tế vào ĐàngTrong
Năm 1694, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho người sang mời thiền sưThạch Liêm Thích Đại Sán sang Thuận Hóa hoằng hóa Thiền sư thuộc pháiTào Động, đời thứ 29 Nhận lời mời của Chúa, Thiền sư Thạch Liêm cùngcác vị cao tăng khác sang mở giới đàn tại chùa Thiền Lâm và truyền giới chohơn 1400 giới tử Chúa Nguyễn Phúc Chu thọ giới với thiền sư, có phápdanh là Hưng Long
Thời kỳ này, Phật giáo Thuận Hóa còn có nhiều cao tăng khác cũng từTrung Quốc sang hoằng hóa như thiền sư Giác Phong khai sơn chùa BáoQuốc trên núi Hàm Long, thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, thiền sưMinh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn Từ Đàm…
Phật giáo Thuận Hóa thật sự hưng thịnh và lan tỏa vào tận Nam Bộkhi xuất hiện dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán do thiền sư Thiệt Diệu LiễuQuán sáng lập
• Các dòng thiền có mặt tại Thuận Hóa
Như đã nói, Phật giáo có mặt từ rất sớm trên đất Thuận Hóa Thời kỳđầu ảnh hưởng của Phật giáo Chăm pa, sau đó là Phật giáo Đại Việt từ ĐàngNgoài theo chân các lưu dân vào Sau nữa là các dòng thiền du nhập từTrung Quốc Trong Vòng hai thế kỷ XVII, XVIII, tại Thuận Hóa xuất hiện 4dòng thiền lớn, khẳng định sự phát triển của Phật giáo Thuận Hóa
Đầu tiên là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Thiền phái này xuất hiện từthời Trần, truyền thừa qua 3 đời thì không thấy thư tịch ghi chép rõ ràng sựtruyền thừa này nữa Nhưng đến thế kỷ XVII, xuất hiện các thiền sư đượccho là thuộc thiền phái này với công lao phục dựng lại thiền phái Trúc LâmYên Tử như thiền sư Chân Nguyên, Hương Hải Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử có mặt tại Thuận Hóa từ thế kỷ XIV với sự kiện Phật hoàng Trần NhânTông du hóa tại Chăm pa vào năm 1301 Sau này, các lưu dân đã mang tưtưởng của thiền phái này tiếp tục đến với Thuận Hóa, làm nền móng tưtưởng của vùng đất này Thiền phái này thật sự được phục hưng tại ThuậnHóa bởi công lao của thiền sư Hương Hải Tuy nhiên vào năm 1682, vì mốinghi ngờ của chúa Nguyễn nên thiền sư đã cùng với đệ tử bỏ ra Đàng Ngoài,chấm dứt sự hiện diện của thiền phái này tại Thuận Hóa Mặc dù vậy, tưtưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong
Trang 14đời sống cư dân Thuận Hóa.
Thiền phái thứ hai là thiền phái Lâm Tế do thiền sư Nguyên Thiều(Trung Quốc) truyền sang
Thiền phái thứ ba là thiền phái Tào Động do thiền sư Thạch LiêmThích Đại Sán (Trung Quốc) truyền sang
Thiền phái thứ tư là thiền phái Liễu Quán do thiền sư Thiệt Diệu LiễuQuán (người Phú Yên) sáng lập Thiền sư Liễu Quán (1667-1742), đượcthiền sư Minh Hoằng Tử Dung ấn chứng tâm pháp với công án “Vạn phápquy nhất, nhất quy hà xứ” (Muôn pháp về một, một đi về đâu?) Sau khiđược ấn chứng, thiền sư vân du đây đó giáo hóa độ sinh Năm 1722, Thiền
sư lên núi Thiên Thai dựng thảo am (chùa Thiền Tôn ngày nay) tu tập, thunhận đệ tử và xuất kệ biệt phái thành Lâm Tế Liễu Quán
“Thiệt tế đại đạo
Tháng 11 năm 1742, thiền sư viên tịch và để lại bài kệ:
“Thất thập dư niên thế giới trungKhông không sắc sắc diệc dung thôngKim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà tất bôn man vấn tổ tông”
(Tuổi đời đã quá bảy mươi niên,Không không sắc sắc chẳng ưu phiền
Hôm nay mãn nguyện về quê cũ,
Hà tất lăng xăng hỏi Tổ Tông)Thiền sư được chúa Nguyễn Phúc Khoát sắc lập văn bia và ban thụy
là Chánh Giác Viên Ngộ hòa thượng.
Trang 15Thiền sư có rất nhiều đệ tử đắc pháp và trở thành những cao tăng cócông lớn trong việc hoằng hóa khắp xứ Đàng Trong Theo thiền sư ThíchNhất Hạnh thì “hiện bây giờ 95% các thầy, các sư cô, các Phật tử ở ThừaThiên và các tỉnh lân cận đều là con cháu của Tổ Liễu Quán”[82].
Phật giáo Huế có vị trí quan trọng trong diễn trình lịch sử Phật giáoViệt Nam Trên phương diện đồng đại, thế kỷ XVIII với sự phục hưng trở lạicủa Phật giáo Việt Nam thì Phật giáo Huế có nhiều thành tựu hơn hết khixuất hiện dòng Liễu Quán là dòng thiền thuần Việt So với Đàng Ngoài thìPhật giáo Huế dù xuất hiện muộn hơn nhưng lại có nhiều thành tựu nổi bậthơn So với phía Nam tổ quốc thì Phật giáo Huế vừa là sự chuyển tiếp Phậtgiáo từ Đàng Ngoài vừa là cội nguồn truyền hóa Phật giáo vào phía Nam,giúp cho Phật giáo ở đây phát triển Trên phương diện lịch đại, Phật giáoHuế từ khi xuất hiện đến nay đều có nhiều hoạt động nổi bật hơn hết Nhữngnăm đầu thế kỷ XX, Phật giáo Huế là xuất phát điểm cho các phong tràochấn hưng Phật giáo Việt Nam qua sự thành lập hội An Nam Phật học(1932), Đoàn Phật học Đức Dục (1942), Gia đình Phật tử hóa phổ (1944),cuộc đấu tranh Phật giáo 1963…
Phật giáo Huế có đặc trưng riêng biệt, khẳng định vị trí của mìnhtrong dòng chảy của Phật giáo Việt Nam Với hệ thống kiến trúc, tổ chức thờ
tự của chùa Huế; nếp sống của chùa Huế, hệ thống pháp phái truyền thừa,thái độ tu hành, và tổ chức giáo dục, hoằng pháp, từ thiện xã hội; tổ chứcgiáo hội, nghi lễ, văn hóa văn học nghệ thuật… tạo diện mạo Phật giáo mộtcách đầy đủ và riêng biệt, nổi bật Chính vì thế mà Phật giáo đã sớm thấmsâu vào đời sống sinh hoạt tinh thần và văn hóa cư dân xứ Huế Nếp sốngnếp nghĩ của người Huế đều mang hương vị của Phật giáo, góp phần làmnên bản sắc văn hóa Huế mà “chẳng nơi nào có được”
Tiểu kết
Phật giáo trở thành một tư tưởng lớn của nhân loại bởi con đườnghướng thượng hướng thiện Từ bi bác ái là chất liệu làm nên sức sống củaPhật giáo Phật giáo giải quyết những vấn đề sinh tử, khổ đau của nhân loại.Chuyển hóa hận thù, ganh ghét thành yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, tạo bình
ổn cho tâm hồn của mỗi cá nhân và xã hội
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã nhanh chóng đượcngười Việt chấp nhận, bám rễ sâu vào đời sống văn hóa của người Việt XứHuế được mệnh danh là một vùng đất văn hóa tâm linh đặc sắc của ViệtNam bởi sự có mặt và đóng góp của Phật giáo Huế được xem là cái nôi của
Trang 16Phật giáo, là xứ sở tâm linh, là đất Phật bởi đặc điểm và diện mạo Phật giáo
ở đây Phật giáo có vai trò lớn trong đời sống văn hóa của xứ Huế
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT XỨ HUẾ
2.1 Vai trò Phật giáo trong các mộc bản ở Huế
2.1.1 Mộc bản và giá trị lịch sử
Do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luậtbắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của cácvua chúa, các sự kiện lịch sử…, triều đình đã cho khắc nhiều bộ sách sử vàcác tác phẩm văn chương để ban cấp cho các nơi Trong quá trình hoạt động
đó đã sản sinh ra một loại hình tài liệu đặc biệt, đó là mộc bản Đây là nhữngtài liệu gốc độc bản Những tấm ván được khắc ngược chữ Hán-Nôm để làmkhuôn in ấn đóng tập thành sách Sách in thành nhiều bản nhưng bản gốcmộc bản là một bản duy nhất Mộc bản thường được làm từ gỗ thị, gỗ câynha đồng Một tấm mộc bản, ngoài chữ ra còn có các họa hình chi tiết làmsinh động thêm cho ấn phẩm được in ra Ðây là những tài liệu có giá trị,phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam thời trung cận đại
Chi phí để tạo mộc bản rất tốn kém nên công việc này thường chủ yếu
do lệnh của triều đình ban ra Nội dung dùng để in cũng vì thế mà được chọnlựa rất kỹ càng Mộc bản trở thành một tác phẩm mang nhiều ý nghĩa cả vềnội dung tư tưởng của kinh sách được in vừa thể hiện hình thức nghệ thuậttạo hình, chạm khắc điêu luyện, tinh xảo, vừa cho thấy ngành công nghiệp in
ấn trong xã hội đương thời Trải qua thời gian, mộc bản trở thành tài sản quý
Trang 17giá của mỗi dân tộc Triều Nguyễn ở Việt Nam là triều đại phong kiến tồn tạihơn 300 năm với 9 chúa 13 vua đã để lại nhiều giá trị lịch sử văn hóa giá trị
và hầu như nguyên vẹn Riêng mộc bản triều Nguyễn đã có 34.618 tấm Tàiliệu mộc bản triều Nguyễn được tạo ra trong quá trình hoạt động của Quốc
sử quán triều Nguyễn
Năm 2007, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đã làm hồ sơ trìnhUNESCO và đến ngày 31/7/2009, Mộc bản triều Nguyễn đã chính thứcđược UNESCO đưa vào "Chương trình Ký ức thế giới" Mộc bản triềuNguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam do UNESCO côngnhận Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc giaIV- Đà Lạt, Lâm Đồng
Trong di sản văn khắc của Việt Nam, chúng ta có thể tìm gặp nhiềuthể loại có xuất xứ khác nhau như văn bia, văn chuông, mộc bản Tuy nhiênvăn khác trên gỗ chiếm số lượng rất lớn Nội dung của những khắc bản này,ngoài mang tính giáo khoa Nho giáo trong các trường học phong kiến, thìcòn rất nhiều những loại sách khác như y học, địa lý, lịch sử, luật lệ… cũngnhư bản khắc về thơ văn của một số tác giả Nếu tính đến độ phổ cập từ vuaquan đến thứ dân thì bản khắc kinh sách tôn giáo, tín ngưỡng và tranhtượng…là những ấn phẩm lưu truyền rộng rãi nhất
Trong quá trình truyền bá tư tưởng Phật giáo, Kinh Luật Luận củaPhật giáo cũng cần được sang in để làm tài liệu hướng dẫn cho quần chúng
tu học nên đã dùng phương pháp in mộc bản này Nguyễn Sử cho rằng: “Có
lẽ, kỹ thuật in đã được lưu truyền ở nước ta từ khá sớm, nhưng cứ liệu sớm
nhất (hiện biết) đề cập đến việc in là Thiền uyển tập anh” [59; tr.34] Thiền uyển tập anh là cuốn sách viết về danh tăng cùng tư tưởng của Phật giáo.
Điều đó cho thấy kinh sách Phật giáo thời bấy giờ là một trong những tàiliệu quan trọng cần phải in ấn để phổ biến cho quần chúng, phục vụ nhu cầu
tu học
Ở Việt Nam, ngoài mộc bản triều Nguyễn được Unesco công nhận là
di sản tư liệu năm 2009 còn có mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang)cũng được công nhận là di sản tư liệu năm 2012 trong chương trình “Ký ứcthế giới” Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) có 3.050 tấm mộc bản bằng chữHán và Nôm, số ít bằng chữ Phạn được khắc từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ
XX Nội dung trong mộc bản là các kinh, sách do Tam tổ Trúc Lâm là TrầnNhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang cùng các hệ phái kế tiếp biên soạn.Năm 2017, chùa Bổ Đà (Bắc Giang) cũng được công nhận là nơi lưu giữ
Trang 181953 ván khắc kinh trên gỗ thị cổ nhất thế giới
Mộc bản Phật giáo trở thành một nguồn tư liệu quý giá và quan trọngkhông chỉ đơn giản ở chức năng ban đầu là in ấn, lưu giữ Kinh sách Phậtgiáo mà qua đó cho thấy bề dày giá trị của văn hóa, xã hội, lịch sử của dântộc Việt Nam Các mộc bản quý có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giáquá trình tự chủ trong tư tưởng, văn hóa của dân tộc; giúp nghiên cứu sựphát triển về ngôn ngữ, hệ thống văn tự Việt, từ chỗ sử dụng chủ yếu chữHán sang coi trọng và chủ động sử dụng chữ Nôm, ngôn ngữ của ngườiViệt…
Tìm hiểu bộ ván khắc chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang, các nhà nghiêncứu đã khẳng định giá trị của bộ mộc bản này là nơi chứa tư tưởng, giáo lýcủa thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; đánh dấu sự phát triển của chữ Nôm; chứađựng những tác phẩm văn học có giá trị; đúc kết những kinh nghiệm dângian về y dược; là tác phẩm thư pháp tuyệt mỹ Trong đó giá trị hàng đầucủa các mộc bản là giúp các nhà nghiên cứu có nguồn sử liệu quý giá về quátrình phát triển của hệ thống văn tự Việt Nam, chuyển từ chỗ chủ yếu sửdụng chữ Hán sang sử dụng chữ Nôm - một sáng tạo của người Việt Ngoài
ra, các nhà nghiên cứu Hán – Nôm khẳng định bên cạnh giá trị từ hiện vật,các mộc bản kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm chứa đựngnhiều ý nghĩa to lớn về triết lý nhân sinh, tôn giáo tín ngưỡng, văn học, nghệthuật, giáo dục con người Không những thế, những mộc bản này còn là
“pho sử” sống động về nghề khắc in mộc bản, tư tưởng và văn hóa, giúpngười đời sau hiểu một cách đầy đủ, chính xác về lịch sử Phật giáo ViệtNam, về Thiền phái Trúc Lâm cũng như thân thế, sự nghiệp của Phật hoàngTrần Nhân Tông và một số danh nhân của dân tộc
Mộc bản chính vì thế đã trở thành một di sản quý hiếm của dân tộc,chứa đựng bề dày lịch sử, văn hóa, tư tưởng của dân tộc
• Mộc bản Phật giáo tại Huế
Như những vùng miền khác, Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng trongđời sống của người dân Huế Nhu cầu tìm hiểu kinh sách, tư tưởng, phươngpháp tu tập càng thêm cấp thiết cho nên kinh sách Phật giáo xứ Huế đượcchú trọng in ấn rất nhiều Việc in ấn bằng mộc bản trong các triều đại trước
đã để lại cho nền Phật giáo Huế một gia tài vô cùng quý giá, đó chính là hệthống mộc bản Phật giáo “Đó như là chứng tích về nền văn hiến dày dặncủa một dân tộc đã trải qua không biết bao nhiêu can qua, nhưng luôn thểhiện khát vọng hiểu biết và nhu cầu không thể thiếu của đời sống tinh
Trang 19thần”[25, tr.29].
Chuyên san Liễu Quán do Ban văn hóa thuộc Ban Trị sự Giáo hội
Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện đã có kế hoạch khảo sát
và tìm hiểu giá trị mộc bản Phật giáo xứ Huế Chuyên đề này được công bốtrong số 6 tháng 8 năm 2015 đã khẳng định giá trị của mộc bản Phật giáoHuế Qua khảo sát của nhóm tác giả ở 13 địa điểm đã phát hiện ra 2933 vánkhắc các loại (Xem phụ lục)
Về niên đại khắc bản
Ván khắc có niên đại sớm nhất là kinh Kim Cang, được khắc bản năm
Chính Hòa thứ 19 (Mậu Dần-1698), tức dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu
(1675-1725) Ở bộ ván khắc này có tranh đồ họa pháp hội giảng kinh Kim Cang do thiền sư Thạch Liêm Đại Sán vẽ Thiền sư Thạch Liêm Thích Đại
Sán là một cao tăng Trung Quốc được chúa Nguyễn Phúc Chu thỉnh mờisang Đại Việt để truyền giới cho đại giới đàn năm 1695 tại chùa Thiền Lâm
Thiền sư đã viết cuốn Hải Ngoại Kỷ sự tại Đàng Trong mang nhiều giá trị Thiền sư Thạch Liêm vẽ bức tranh trong mộc bản kinh Kim Cang chứng tỏ
dưới thời chúa Nguyễn, việc khắc ván in kinh và thỉnh mời các vị cao tăng làmột việc làm được chú trọng
Mộc bản gần đây nhất là bộ ván khắc Phật thuyết Duy Ma Cật sở thuyết kinh, được khởi công từ năm Canh Thân (1980) và hoàn thành năm
Nhâm Tuất (1982) do vị trú trì chùa Tường Quang (49 Chi Lăng-Huế) phápdanh Hồng Khế, tự Chơn Như tự tay khắc bản
Với hai bộ mộc bản nêu trên cho thấy bề dày lịch sử của việc khắc ván
in kinh của Phật giáo xứ Huế Từ đó có thể hình dung dòng chảy của lịch sửkhắc bản kinh Phật tại Huế
Về chủng loại ván khắc và thể loại kinh văn: Ván khắc Phật giáo Huếgồm có 3 loại chính: Tân khắc, tức là các bộ lần đầu tiên được khắc bản, baogồm cả các bản được ghi là Tuyên khắc hoặc Chánh khắc; Trùng Khắc hoặc
có khi gọi là trùng tuyên, tức chỉ các bộ ván khắc được khắc lại từ các bộván trước đó; Bổ khắc, tức khác bản bổ sung cho những bộ ván đã có nhưng
bị thất thoát một số mặt khắc
Về thể loại Kinh văn: bao gồm Kinh, Luật, Luận, Khoa nghi, trướctác, phái điệp quy y- thọ ký, đồ họa cổ và một số bản khắc liên quan đến Mậttông
Về Kinh tạng: đây là bộ phận chiếm số lượng lớn nhất, gồm 30 bộkinh
Trang 20Giá trị của mộc bản ngoài lưu giữ Kinh Luật Luận còn phải nhắc đếntranh đồ họa cổ Phật giáo Huế trong các bộ kinh và khoa nghi Phật giáo
được minh họa Tiêu biểu như tranh đồ họa pháp hội giảng kinh Kim Cang
của thiền sư Đại Sán vẽ năm Chính Hòa thứ 19; tranh đồ hòa pháp hội giảng
kinh Hoa Nghiêm năm Cảnh Hưng thứ 14 hiện trân tàng tại chùa Báo Quốc.
Ngoài các tranh đồ họa sử dụng trong nghi lễ như pháp bị-sư tử tòa, tranhtượng Bồ tát Địa tạng, chúng ta còn bắt gặp rất nhiều tranh đồ họa khác, vớinét đường và bố cục tinh xảo do các vị danh tăng, hoàng thân hoặc cư sĩ vẽ
minh họa trong các cuốn kinh như tranh minh họa pháp hội giảng kinh Lăng Nghiêm do thiền sư Viên Thành chùa Tra Am vẽ năm Khải Định thứ 7; tranh minh họa Khoa nghi Mông sơn- Du già của Hường Chước vẽ năm Đồng Khánh thứ 4 qua bản Chánh khắc Trung khoa du già tập yếu; hoặc 10 bức tranh chăn trâu do các nghệ nhân Huế vẽ minh họa trong bản khắc Mục ngưu đồ năm Bảo Đại thứ 9…
Qua khảo sát cho thấy về nội dung và thể loại, các ván khắc kinh Phậttại Huế chủ yếu khắc các kinh văn thuộc Tịnh Độ tông và Thiền tông, trong
đó bao gồm cả các bản khắc về Luật tạng Sự xuất hiện liên tục của các ván
khắc Niệm Phật công cứ qua các thời kỳ, kèm theo những khoa nghi hướng dẫn hành trì pháp môn Tịnh độ như Niệm Phật vãng sanh nghi, Trì danh diệu hạnh luận…, đã chứng tỏ pháp môn Tịnh độ chính là dòng chảy chủ
đạo, liên tục và thấm đẫm trên mảnh đất này
Với việc thống kê ban đầu về mộc bản Phật giáo Huế với số lượng
2933 ván khắc đã mang lại nhiều giá trị trong việc tìm hiểu và nghiên cứuđánh giá Phật giáo xứ Huế Kể từ tấm ván khắc được cho là sớm nhất từ thờichúa Nguyễn Phúc Chu đến ván khắc có niên đại muộn nhất vào năm 1980chứng tỏ nghề khắc bản in kinh có một bề dày lịch sử Với tính chất tôngiáo, mộc bản Phật giáo đã chiếm số lượng khuynh loát trong việc phổ biếnrộng rãi do nhu cầu và ảnh hưởng của sức sống Phật giáo đến mọi tầng lớptrong xã hội Việt Nam
• Ý nghĩa và giá trị mộc bản Phật giáo Huế
Qua việc nghiên cứu mộc bản Phật giáo Huế, cho thấy Phật giáo đã đểlại một di sản quý giá, mang nhiều giá trị
Trước hết mộc bản thể hiện được nhu cầu in ấn phát hành phổ biến,kinh sách, hoằng hóa giáo lý đạo Phật đến với quần chúng là cần thiết củaPhật giáo đương thời
Thứ hai, kinh phí cho việc khắc bản để in kinh là rất lớn Ngoài bộ
Trang 21ván của triều đình, được sự chỉ thị của chính quyền, kinh phí triều đình cấpthì có lẽ ván khắc kinh Phật là sản phẩm của sự đồng lòng đồng sức củaquần chúng Phật tử Người đứng ra tổ chức khắc bản phải là người có uy tínmới quyên góp được số lượng tiền lớn để tiến hành khắc bản Sự hỷ tâmcúng dường của quần chúng Phật tử quyết định rất lớn đến kinh phí khắc bảnkinh Phật giáo chỉ dạy cho chúng sanh cách gieo phước lành, tạo nhân thiệnduyên bằng cách cúng dường và bố thí Việc cúng tiền để khắc kinh cũngmang ý nghĩa ấy, góp phần để cho Pháp bảo (kinh văn-lời Phật dạy) tồn tạilâu dài giữa thế gian và lan tỏa rộng khắp nhằm đem lợi lạc cho chúng hữutình Đa số trong các khắc bản kinh văn đều có phụ bản ghi tên và số tiềncủa quần chúng đóng góp công đức Trong số đó có cả hoàng thân quốcthích đến quan lại và hàng thứ dân Điều này chứng tỏ Phật giáo ảnh hưởngrất lớn đến mọi tầng lớp trong xã hội Nhờ như vậy mà các bộ ván khắc kinhrất đồ sộ, trở thành một di sản quý báu không chỉ của Phật giáo mà cả dântộc Việt.
Thứ ba, Phật giáo thúc đẩy quá trình sáng tạo mỹ thuật trong in ấn,phát triển nghề khắc bản ván để in kinh, góp phần giúp cho nghề in ấn xứHuế phát triển và đạt nhiều thành tựu
Hiện nay, mộc bản Phật giáo trở thành tài sản quý báu cần được quantâm giữ gìn “Mộc bản Phật giáo Huế là di sản tư liệu hết sức có giá trị,không chỉ riêng đối với Phật giáo mà còn là một phần không thể tách rờitrong dòng chảy văn hóa dân tộc, cung cấp nhiều thông tin bổ ích, có giá trịcho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến văn hóa học, sử học, ngôn ngữhọc…, về tình hình sinh hoạt và đời sống tinh thần của xã hội Đàng Trong,của xứ Huế qua các thời kỳ lịch sử, kể từ thời các chúa Nguyễn cho đếnnhững thập niên cuối thế kỷ XX”[51; tr.36]
Sự phân bổ thời gian ra đời các mộc bản Phật giáo bắt đầu thừ chúaNguyễn đến triều Nguyễn một cách liên tục chứng tỏ Phật giáo luôn đượcgiữ gìn và phát triển Số lượng mộc bản thời nào càng nhiều chứng tỏ Phậtgiáo thời đó càng được chú ý và ưu tiên phổ biến
Mộc bản Phật giáo Huế không chỉ được khởi xướng, tổ chức khắc,tàng bản tại chùa mà hoạt động này còn diễn ra tại các tư gia thuộc dòng dõitrâm anh thế phiệt Đơn cử như nhà thờ Họ Đặng tức từ đường Đào LýPhương Viên, số 120 đường Mai Thúc Loan-Huế Đây là nhà thờ của cụĐặng Như Bá vào Huế làm quan dưới triều Nguyễn, hàm Hàn lâm viện Thịgiảng, trật Tòng tứ phẩm Con trai của cụ là Đặng Ngọc Chương - Tham tá
Trang 22của Công chính tòa ở Hội An đã thực hiện di nguyện của cha, đứng ra tổ
chức khắc in Mộc bản lưu trữ tại nhà thờ họ Đặng gồm có: kinh Kim Cang Bát nhã ba la mật kinh, Kim Cang kinh chú giải, Trì danh diệu hạnh luận- phụ Sơn cư bách vịnh và Mục ngưu đồ Điều này cho thấy Phật giáo không
còn gói gọn trong chốn chùa chiền mà tại các tư gia đã tham hành các côngtác in ấn kinh điển một cách tự giác và tự túc Ngay từ thời chúa Nguyễn,chủ trương “cư Nho mộ Thích” đã thịnh hành cho nên tư tưởng này tiếp tụcphát triển trở thành truyền thống của Phật giáo xứ Thuận Hóa Chỉ qua việc
tổ chức khắc kinh, in ấn lưu truyền thôi cũng cho thấy Phật giáo đã ảnhhưởng như thế nào đối với đời sống của cư dân Thuận Hóa-Huế
• Vai trò Phật giáo trong các kiến trúc chùa tháp xứ Huế
• Kiến trúc chùa tháp Phật giáo
Đình chùa miếu là thiết chế gắn liến với văn hóa truyền thống làng xãViệt Phật giáo tồn tại và phát triển, lan tỏa rộng rãi bằng tư tưởng giải thoát,cứu khổ chúng sinh đã khẳng định giá trị trong việc đồng hành cùng dân tộc,gắn bó với đời sống quần chúng nhân dân Ngôi chùa nói chung trong sinhhoạt tâm linh của người Việt, vì thế, cũng định danh và có chức năng khônghoàn toàn giống nhau Việc hình thành ngôi chùa ở xứ Huế có nhiều điểmđặc biệt Theo dòng chảy của lịch sử Phật giáo, hình ảnh ngôi chùa đã đi từnhững ngôi thảo am khiêm tốn, đạm bạc, và dần hoàn thiện, để hình thànhnên những cơ sở tâm linh quy mô và chỉn chu
Sự hình thành chùa xứ Huế
Trước khi người Việt vượt dải Hoàng Sơn thì ở vùng đất này đã tồn tài
hệ thống tín ngưỡng bản địa và Phật giáo lâu đời, có vai trò quan trọng trongđời sống của cư dân Chăm pa Đến khi người Việt theo dòng Nam tiến, Phậtgiáo Đại Việt mới có cơ duyên phát triển mạnh mẽ trên vùng đất mới và hìnhảnh ngôi chùa trở thành phương cách cố định nhân tâm Ngôi chùa chính làhành trang trong quá trình tụ cư lập làng của cư dân Việt trong sự giao thoavăn hóa Ấn Hoa Ngôi chùa chính là phương cách tồn tại, là hơi ấm của quêhương, là nếp cũ phong tục cố hương trong bước đầu dựng nghiệp trên vùngđất mới vốn còn lắm gia truân nguy hiểm
Khởi nguyên là chùa làng Mặc dù chỉ là mái tranh vách nứa, đơn sơyếu ớt nhưng lại là nơi bền vững trong đời sống tinh thần của cư dân Khitiếp xúc với nền văn hóa Chăm lâu đời, cư dân Việt đã tiếp thu và cải tiến rấtnhiều trong cung cách kiến trúc, thờ tự và sinh hoạt tâm linh tôn giáo Tôntượng chư Phật Bồ tát được dân gian hóa để phù hợp với tâm thức, nếp nghĩ
Trang 23của người dân Họ đã tiếp biến, hỗn dung văn hóa từ trong cách tạo nêntượng thờ, kiến trúc thờ tự và xây dựng ngôi chùa làng Chùa làng là nơisinh hoạt đời sống văn hóa tinh thần quan trọng Sự khế cơ khế thời, tùyduyên của Phật giáo đã làm dịu mát đi tâm hồn của những cư dân tiền trú vànhững di dân vừa đến
Tiếp sau đó là ngôi chùa do các chúa Nguyễn, vua Nguyễn trùng tu,xây dựng như Chùa Thiên Mụ được Chúa Nguyễn trùng kiến năm 1601,chùa Thánh Duyên do vua Minh Mạng trùng kiến năm 1838, chùa Diệu Đế
do vua Thiệu Trị xây dựng năm 1844, chùa Từ Hiếu do vua Tự Đức trùngkiến năm 1848… Bằng sách lược cố kết nhân tâm, chủ trương “cư Nho mộThích”, các chúa Nguyễn đã cho trùng tu nhiều ngôi chùa cổ trở nên hoànhtráng, ban Sắc tứ trở thành những ngôi quốc tự như chùa Thiên Mụ, chùaSùng Hóa, chùa Giác Hoàng, chùa Diệu Đế, Chùa Túy Vân… Hệ thống ngôichùa này đặt dưới sự quản lý của nhà nước, nơi triều đình tổ chức các lễ hộilớn cầu quốc thái dân an, cũng là nơi để vua chúa chiêm bái, nghe giảng vàthưởng ngoạn
Cùng với những ngôi chùa này, các vị tổ sư cao Tăng thạc đức cũng
đã khai sơn chấn tích phát khởi nên những ngôi thảo am tu tập Trải qua cácđời kế thế trùng hưng, những ngôi thảo am này trở thành những ngôi tổ đình
bề thế Các ngôi tổ đình do các thiền sư tạo dựng như thiền sư Nguyên Thiềudựng chùa Quốc Ân, thiền sư Giác Phong dựng chùa Báo Quốc, thiền sưLiễu Quán dựng chùa Thuyền Tôn…
Xứ Huế còn một kiểu chùa là chùa ‘cải gia vi tự’ - biến ngôi nhà thànhngôi chùa Đây là một hình thức rất đáng chú ý trong việc hình thành nênngôi chùa xứ Huế Bởi lẽ chính sự ảnh hưởng của Phật giáo, chính sự mộđạo của người Huế nên nhà nào cũng muốn tư gia mình được trang nghiêmnhư một ngôi chùa, muốn biến chính ngôi nhà của mình thành ngôi chùa đểtiện bề tu tập, tìm sự an lạc ngay trong chính ngôi nhà của mình Sự thấmnhuần tư tưởng Phật giáo mà hầu như tư gia của một người Phật tử ở Huếnào cũng trang trí căn chính giữa ngôi nhà trở thành một ‘Đại hùng bảo điện’thu nhỏ Có nhiều ngôi tư gia đã trở thành những ngôi chùa có Tăng Ni trú
xứ và trở thành ngôi chùa to đẹp như chùa Ba La Mật, chùa Diệu Hỷ, chùaThiên Minh…
Đến nửa đầu thế kỷ XX, trong sự phát triển của Phật giáo, phong tràochấn hưng Phật giáo ở Huế đã hình thành nên những ngôi chùa mang mộthình thức sinh hoạt mới Hội An Nam Phật học đã đề xuất những biện pháp
Trang 24và xây dựng nên cung cách sinh hoạt cho quần chúng khắp nơi từ thành thịđến thôn quê Cách thờ tự, sinh hoạt nghi lễ tâm linh cho đến tụng đọc kinhsách đều được chuẩn hóa Những ngôi chùa Khuôn được hình thành từ đó.
Hệ thống chùa Khuôn mà mật độ mỗi làng một chùa, có khi một xóm mộtngôi chùa đã tạo nên một lối sinh hoạt tâm linh vững mạnh, góp phần rất lớntrong việc bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống lành mạnh cho từngcụm gia đình
Ở Huế hiện nay, ngoài những ngôi chùa Bắc Tông đã có mặt thêmnhững ngôi chùa Nam tông và các ngôi Tịnh xá của hệ phái Phật giáo Khấtsĩ
Ngoài ngôi chùa làm nơi sinh hoạt, thờ tự, Phật giáo Huế còn có hệthống Bảo Tháp dùng để thờ tự Phật, Kinh, nhục thân của các vị cao Tăng.Tháp thờ Phật như Tháp Phước Duyên Linh Mụ, tháp Ấn Tôn Từ Đàm…Các loại tháp này thường cao, to, nhiều tầng Mỗi vị tăng sĩ sau khi viên tịchđều được an táng trong một ngôi bảo tháp Tháp thờ nhục thân của cao Tăngthường tùy thuộc vào vị trí và đức độ của vị ấy Tùy theo hạ lạp mà tháp cótương ứng số tầng
Bảo tháp của Phật giáo Huế mang phong cách đặc trưng của kiến trúcPhật giáo Huế Có những khu bảo Tháp trở thành những quần thể tạo thànhđiểm nhấn của Phật giáo Huế Người ta thường viếng chùa lễ Phật, sau đó điđảnh lễ các bảo tháp như một việc tri ân, tưởng nhớ đến người đã viên tịch
Với hệ thống chùa chiền hình thành trên vùng xứ Huế này khẳng địnhsức sống mãnh liệt của đời sống tâm linh, sức sống của Phật giáo như thếnào “Khi nói đến tính đặc trưng của Huế, một nhà nghiên cứu Pháp đã sửdụng cụm từ: ‘Hue, la Capitale du Buddhisme (Huế, kinh đô của Phậtgiáo)”[14 ; tr.81] Với mật độ hiện diện của các ngôi chùa trên đất Huế đãkhẳng định những giá trị mà Phật giáo mang lại Hệ thống chùa tháp Phậtgiáo không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của dân tộc, trở thànhnhững ngôi nhà tâm linh không chỉ cho giới Phật tử mà trở thành điểm đếnthú vị cho du khách khi đến Huế
• Kiến trúc chùa tháp Phật giáo xứ Huế
Kiến trúc chùa Việt Nam được xây dựng và phát triển khá đa dạng quacác thời kỳ lịch sử khác nhau, không gian khác nhau Ở miền Bắc chùa kiểuchữ Đinh (丁) phổ biến, ở miền Nam kiểu chữ Tam (丁) Trong khi đó, ChùaHuế đa số xây dựng theo kiểu kiến trúc chữ Khẩu (丁) Chùa hình chữ Khẩuđặc trưng về phong cách kiến trúc của chùa chiền xứ Huế Điện thờ Phật ở
Trang 25trước, hai bên có hai nhà: Tăng xá và nhà khách; sau có nhà hậu đường Bốnngôi nhà khép kín thành một hình vuông giống như chữ “khẩu” Khoảngtrống ở giữa làm nơi trồng hoa cây kiển Phần hậu điện thờ Tổ và ba nhà kiađều mở cửa nhìn ra khoảng vuông trồng hoa cảnh này, tiêu biểu như chùaTây Thiên, chùa Từ Đàm, chùa Diệu Đế, chùa Báo Quốc, chùa Ba La Mật,chùa Phổ Quang…
Với nguồn gốc hình thành ngôi chùa đa dạng như trên đặt trong sự kếthừa kiểu kiến trúc chùa miền Bắc, “chùa Huế được xem là một tổ hợp kiếntrúc với nhiều đơn nguyên tạo thành trên một không gian rộng và ít đượcchú trọng đến chùa cao, hòa mình vào thiên nhiên Các đơn nguyên kiến trúccủa một ngôi chùa như Tam quan, Tiền đường, Chánh điện, Hậu Tổ, hậuđường, tăng xá, nhà trù… được phân bố phù hợp với cấu trúc bố cục, tạo nên
sự cân đối và hài hòa về quy mô, ẩn chứa vẻ đẹp tinh tế, nhẹ nhàng khi đốisánh với các vùng khác”[70 ; tr.27] Kiến trúc mỗi loại chùa Huế có một đặctrưng riêng
Chùa quốc tự thường có kiến trúc hình chữ “Nhất”, bằng cách dàn trảicác đơn nguyên tập trung vào chính diện khối tích to lớn, thể hiện tínhnghiêm minh, quyền lực của nhà vua và triều đại qua trục thần đạo và tínhchất cung điện
Chùa Tổ đình có kiến trúc nổi bật hình chữ Khẩu, bằng các đơnnguyên đơn luôn có tỷ lệ tương quan nhau
Chùa Làng chủ yếu được bố trí theo trục chính đạo, không theo mộtkhuôn mẫu nào Điều này thể hiện sự tự do và phóng khoáng của người dâncùng sự linh hoạt cao, lược bỏ những quy củ của truyền thống chùa làngmiền Bắc
Chùa Khuôn hội được bố trí theo dạng chữ Đinh, được quy chuẩn hóatrên toàn bộ chùa Khuôn ở Huế mà hình mẫu chính là chùa Từ Đàm
Khác với cách thờ tự của chùa miền Bắc, chùa Huế có không gian thờ
tự bình dị, gần gũi và trang nghiêm, ấm cúng Cách bài trí được tinh gọn mộtcách tối đa Các tượng thờ của đạo Lão, đạo Mẫu đều không có trong cácngôi chùa này Chính sau đợt chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XXI đã thayđổi khá nhiều trong quy cách thờ tự và sinh hoạt thiền môn của xứ Huế
Bên cạnh kiến trúc xây dựng, trang trí thì không gian cảnh quan chùaHuế còn mang những giá trị nổi bật Điều này làm nên vẻ đẹp của già lam xứHuế, thể hiện nét văn hóa Phật giáo xứ Huế Các ngôi chùa thường nằm ởvùng đồi, có khe suối, cây cổ thụ… trên địa hình bán sơn địa nên cảnh quan
Trang 26vườn chùa trở thành một thế giới thu nhỏ mang những triết lý nhân sinh lẫnnhững chức năng thực hữu, gắn liền với đời sống xuất thế của người Phật tử.Vườn chùa/ thiền là sự kết hợp của triết lý nhân sinh Phật giáo với thiênnhiên, với phong tục, tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng, nơi thưởng ngoạncái đẹp Cảnh quan chùa còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần củangười Phật tử Đến chùa lễ Phật, thưởng ngoạn cảnh già lam khiến tâm hồntĩnh lặng, gạn lọc phiền não Vườn chùa chính là cảnh giới của sự tịnh tâm,
sự e ấp kín đáo, uy nghi trầm mặc, không đồ sộ, không lộng lẫy, luôn manglại cảm giác thư thái, tĩnh tâm, đầy chất thiền
Nhìn chung, chùa Huế mang tinh thần “thiên nhân tương dữ” Ngôichùa Huế hòa mình với thiên nhiên cây cỏ Kiến trúc của chùa cũng vì thế
mà trở nên thanh tĩnh, nhu hòa và gần gũi Huế được mệnh danh là chốn đấtThiền kinh, là đất Phật Với kiến trúc đặc trưng, chùa Huế trở thành mộtđiểm đến không chỉ cho tâm linh và du lịch mà còn tạo nên tính cách củacon người Huế Đó là sự nhu mềm, hiền diệu và thanh tĩnh
• Giá trị chùa Huế
Cùng với hệ thống cung đình, lăng tẩm thì kiến trúc chùa Huế có mộtgiá trị to lớn đối với văn hóa vật thể của xứ Huế nói riêng và Việt Nam nóichung Hơn 300 ngôi chùa các loại, với nguồn gốc lịch sử hình thành, mỗiloại chùa mang một giá trị lịch sử quan trọng Ngôi chùa trở thành mộtchứng nhân lịch sử của xứ Huế Kể từ thời chúa Nguyễn đặt chân đến và trảiqua các triều đại, kiến trúc chùa tháp xứ Thuận Hóa-Huế mang trong mìnhnhững câu chuyện tâm linh mầu nhiệm Những ngôi cổ tự mang nhiều nétvăn hóa, giá trị lịch sử… khiến cho chùa tháp Huế trở thành những địa điểm
du lịch tâm linh giá trị
Quá trình tạo lập, phát triển của ngôi chùa trên đất Thuận Hóa-Huếcho thấy sự đồng hành và ăn sâu của đạo Phật trong đời sống của người dânsông Hương núi Ngự Cũng từ ngôi chùa, sắc thái văn hóa vùng miền đượckhẳng định qua sự kế thừa, tiếp nhận, cải biến tinh tế và có chiều sâu
Ngôi chùa lưu giữ nền văn hóa Việt, văn hóa làng xã Bên cạnh đìnhlàng thì chùa tháp Phật giáo chính là nơi lưu giữ những sắc phong, lịch sửhình thành và con đường phát triển của văn hóa vùng miền Chùa tháp Phậtgiáo Huế được xem như bảo tàng thư tịch cổ có giá trị lớn trong việc tìmhiểu lịch sử văn hóa xứ Huế, khẳng định từng thời kỳ phát triển, thịnh đạtcủa dân tộc Các kiến trúc chùa tháp tô bồi thêm văn hóa du lịch của Huếthêm phong phú và đa dạng
Trang 27Ngôi chùa thời nên thân thiết với người dân Việt nói chung và ngườidân xứ Huế nói riêng Chùa là nơi di dưỡng tâm hồn cho quần chúng vượtqua những khó khăn gian truân của kiếp sống Ngôi chùa cũng chính là nơigửi gắm những ước mong bình an, hạnh phúc của các tầng lớp trong xã hội.Người dân Huế, dù là Phật tử hay không đều có cho riêng mình về hình ảnhquen thuộc của một ngôi chùa trong ký ức Điều này làm nên cung cách tâmhồn người dân Huế.
• Vai trò Phật giáo trong văn hóa ẩm thực người Huế
• Quan điểm của Phật giáo về ẩm thực
Một lần nữa có thể khẳng định, ẩm thực của Tăng sĩ Phật giáo là nhằmduy trì xác thân vật lý để tìm sự giải thoát tâm linh Trong cuốn luật Phậtgiáo đã ghi rõ: “nhất thiết chúng sanh giai y ẩm thực” (hết thảy chúng sanhđều ăn và uống) Vì tư tưởng từ bi nên Phật đã chế ra những điều cụ thểtrong việc thọ dụng ẩm thực Và Phật đã dạy về bốn loại thức ăn: Đoàn thực,xúc thực, tư thực và thức thực
Loại thức ăn thứ nhất là đoàn thực, tức là những thức ăn đi vào miệngcủa chúng ta
Loại thức ăn thứ hai là xúc thực, tức là cách ăn bằng việc tiếp xúc củasáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý với sau trần là sắc, thanh, hương, vị,xúc và pháp
Loại thức ăn thứ ba là tư thực hay Tư Niệm thực Ðó là những nỗi ước
ao ta muốn thực hiện cho đời ta Mong muốn là một loại thực phẩm gọi là tưniệm thực
Loại thức ăn thứ tư là thức thực Những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm,tiếp xúc, suy tư, tưởng tượng, tất cả những thứ ấy đều đi vào tâm thức giốngnhư một loại thức ăn nuôi dưỡng tâm linh của mỗi người Nếu cho thức ănthiện lành thì sẽ nuôi dưỡng điều thiện lành, an lạc và ngược lại, cho thức ănbất thiện sẽ nuôi dưỡng điều bất thiện, khổ đau
Phật giáo chủ trương thực hiện chánh niệm Chính vì vậy, ẩm thựcPhật giáo cũng là một hình thức để thực hiện pháp chánh niệm
Một vấn đề quan trọng của Phật giáo đại thừa chính là đề cao lòng từ
bi trong ẩm thực bằng cách ăn uống những thứ không gây đau khổ cho kẻkhác, hay nói rõ hơn chính là thực hiện ăn chay tịnh Ăn chay là ăn những
Trang 28món ăn từ nguồn gốc thực vật, gần gũi với thiên nhiên Xã hội ngày nay,nhiều người đã xếp việc ăn uống của mình theo thiên hướng giảm thiểu sátsanh Theo giới luật của nhà Phật, giữ giới không sát sanh là một yêu cầu tốithiểu cho tâm hướng thiện ở mức độ cơ bản Những người quy y Tam bảo sẽphát nguyện ăn chay kỳ, (dành một số ngày trong tháng cho món chay) Ănchay chính là thực hiện lòng từ bi đối với vạn loại chúng sanh, tránh việc sátsanh hại mạng, cũng đồng nghĩa với việc giữ gìn giới không sát sanh củaPhật giáo Mỗi người ăn chay là phát triển lòng bi mẫn của mình với sinhlinh muôn loài hữu tình, là một khâu quan trọng trong việc phát triển Bồ-đềtâm.
Việc ăn chay tùy vào sự phát nguyện của người Phật tử đối với nhữngngười đã xuất gia thì sẽ phải ăn chay trường, nghĩa là hoàn toàn ăn chay tịnh.Còn những Phật tử tại gia sẽ phát nguyện ăn trai kỳ và số ngày trong mộttháng tùy vào sự phát tâm của họ Phật dạy giới sát sanh khuyên ngườikhông nên lạm sát, tức khi không cần ăn thịt thì không nên ăn, không nênlạm sát các con vật chỉ vì lý do để có được bữa ăn cho mình Dành một sốbữa ăn trong tháng cho các món chay, là bắt đầu giới hạn việc lạm sát củamình mà người Phật tử ai cũng có thể làm được
Với những ý nghĩa về ẩm thực của Phật giáo, ăn chay chính là mộtphương pháp để tu học Đồng thời, trong cuộc sống hiện đại, việc ăn chay có
ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệmôi trường và chính sức khỏe của con người
Như ta biết, những năm đầu trấn nhậm Thuận Quảng, Chúa NguyễnHoàng đã tổ chức trùng tu, xây mới nhiều ngôi chùa để làm nơi di dưỡngtinh thần, nơi kết nối nhân tâm Chính Chúa đã cho tổ chức nhiều lễ cúngcầu nguyện cho dòng họ vào dịp lễ Vu Lan để cầu nguyện cho tổ tiên báchtính được siêu thăng giải thoát, cầu cho dòng họ thịnh trị dài lâu Sang cácvua Nguyễn, việc cầu cúng theo nghi thức Phật giáo luôn được duy trì hàngnăm theo tục lệ Trong cầu cúng chay đàn đó, việc dùng thực phẩm chaytheo đúng với chủ trương thương người thương vật, từ bi rộng lớn, không sátsinh của Phật giáo Việc dùng ẩm thực chay tịnh trong các lễ của triều đình
đã được quy định rất rõ Đại Nam hội điển sự lệ ghi rằng: “Phàm có lập đàn
chay lớn, tụng kinh cầu phúc, có dâng lễ cúng lớn, ở Phật tiền một lần dùng
cỗ cúng hạng nhất mười sáu mâm, cơm chay hạng nhất mười sáu mâm, cỗcúng hạng nhì năm trăm lẻ tám mâm”[tr.290] Các vua chúa trong các dịp lễ
đã phải chay tịnh để cầu nguyện cho quốc thái dân an hay những sự kiện