Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn vấn đề HNKTQT đã cónhiều công trình khoa học đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau: Bộ Ngoại giao 1995, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb Chín
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, thế giới đứng trước những biếnđộng to lớn, phức tạp, đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ quốc tế Các nướcXHCN lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của chế độXHCN ở Đông Âu và Liên Xô Kinh tế tri thức xuất hiện, cuộc cách mạngkhoa học - công nghệ trên thế giới ngày càng phát triển nhanh chóng, tácđộng sâu sắc đến mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội củacác quốc gia, dân tộc Đồng thời cũng thúc đẩy xã hội hóa sản xuất vật chất,tạo ra những bước nhảy vọt về chất, đẩy mạnh việc cơ cấu lại nền kinh tế, tạo
ra nhiều ngành kinh tế mới
Toàn cầu hóa đã trở thành xu thế nổi bật trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Quá trình ấy diễn ra đặc biệt sôi động trong lĩnh vực kinh tế Thực tiễncho thấy rằng, đây chính là một quá trình tất yếu khách quan, bắt nguồn từ sựphát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại - yếu tốhàng đầu tạo nên bước phát triển đột phá về chất của lực lượng sản xuất Cuộccách mạng khoa học - công nghệ đã và đang là nguồn lực thúc đẩy mạnh mẽquá trình chuyên môn hóa, phân công lao động và hợp tác giữa các quốc gia,làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hóa cao độ Những tiến bộ về khoahọc, đặc biệt là những phát triển vượt bậc trong lĩnh vực tin học và viễnthông, đã thu hẹp khoảng cách không gian địa lý giữa các quốc gia, châu lục,làm cho các nước gắn kết với nhau chặt chẽ hơn Do vậy, các quốc gia trongcộng đồng thế giới đã có những điều chỉnh trong quan hệ đối ngoại của mìnhnhằm thích ứng và phù hợp với tình hình mới
Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như
vũ bão và xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra sôi động, sự nghiệp đổimới nước ta thời gian vừa qua đạt được những thành tựu to lớn trong quá
Trang 2trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) góp phần đưa nước ta thoát khỏikhủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy lùi cuộc bao vây, cấm vận của Mỹ và các thếlực phản động, ổn định chính trị - xã hội, củng cố và nâng cao vị thế của dântộc Việt Nam trên trường quốc tế Song bên cạnh đó, cũng còn nhiều khuyếtđiểm, yếu kém, nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực trong quá trình HNKTQT.
Quá trình HNKTQT cần được tiếp tục tổng kết, đánh giá đúng thànhtựu, hạn chế và rút ra những bài học vận dụng vào thời kỳ mới, đưa sự nghiệpđổi mới tiếp tục tiến lên phấn đấu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng XHCN Với ý nghĩa đó, tác
giả chọn đề tài: "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc
tế từ năm 2001 đến năm 2009" làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách HNKTQT củaĐảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới là đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhànghiên cứu Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn vấn đề HNKTQT đã cónhiều công trình khoa học đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau: Bộ Ngoại
giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; Kim Ngọc (1996), Các khối kinh tế trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bộ Ngoại giao (1999), Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Trọng Phúc (1999), Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Ngọc Liên (1995), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (2001), Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế của Việt Nam - mấy vấn đề phương pháp luận nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Tư tưởng
- Văn hóa Trung ương (2001), Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bộ Ngoại giao - Vụ
Trang 3hợp tác kinh tế đa phương (2002), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đinh Xuân Lý (2002), Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Kim Ngọc (2004), Kinh tế thế giới 2003: Đặc điểm và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Tòng (2004), Toàn cầu hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thanh Uẩn (2005), Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hoàng Anh Tuấn (2007), Đánh giá tiến trình APEC và tác động đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyến Hữu Cát, Nguyễn Thị Quế (2008), Hợp tác liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Nhóm các bài được đăng trên các tạp chí, tiêu biểu: Trần Quang Cơ
(1991), "Dân tộc và thời đại - Thời cơ và thách thức", Tạp chí Thông tin lý luận,(1); Vũ Khoan (1991), "Một số vấn đề quốc tế của Đại hội VII", Tạp chí Quan hệ Quốc tế; Nguyễn Quang Hùng (1991) "Lịch sử thế giới và việc của chúng ta muốn là bạn của tất cả các nước", Tạp chí Nghiên cứu lý luận; Lê Hữu Nghĩa (1998), "Toàn cầu hóa: Những vấn đề chính trị - xã hội", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (22); Nguyễn Thúy Anh (2001), "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Cộng sản, (12); Nguyễn Tấn Dũng
(2002), "Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng xã hội chủ
nghĩa", Báo Nhân Dân (9); Nguyễn Xuân Lý (2004), "Kinh nghiệm hội nhập quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới", Tạp chí Lý luận chính trị, (9);
Đào Vân Anh (2006), "Việt Nam - thành viên thứ 150 của WTO - Dấu mốc
mới trong tiến trình hội nhập quốc tế", Tạp chí Thông tin đối ngoại, (11);
Nguyễn Hoàng Giáp (2008), "Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước
ta trong giai đoạn hiện nay", Tạp chí Lịch sử Đảng, (11); Trần Thành
Trang 4(2009), "Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Lý luận chính trị, (11)
Nhóm các luận án, luận văn có các công trình: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1986 - 1996, Luận án tiến sĩ của Vũ Quang Vinh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2000; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại trong những năm đổi mới từ
1991 đến 2001, Luận án thạc sĩ của Dương Thị Huệ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2004; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1991 đến 2001 của Nguyễn Chí Sơn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006; Đảng Cộng sản Việt Nam với việc đổi mới tư duy hoạt động đối ngoại trong công cuộc đổi mới (1986 - 2001), Luận án thạc sĩ của
Phan Trọng Tám, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội năm 2003
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đường lối, chủ trương và thực tiễn lãnh đạo
của Đảng trong HNKTQT
Trang 5- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
HNKTQT từ 2001 đến 2009
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về HNKTQT
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin;kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc, tổng hợp, phântích, so sánh
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Trình bày và phân tích một cách hệ thống đường lối, chính sáchHNKTQT và quá trình chỉ đạo của Đảng từ năm 2001 đến năm 2009
- Bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạoHNKTQT ở nước ta
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Lý luận: Góp thêm ý kiến để tiếp tục hoàn thiện lý luận về xây dựng
kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam trong lĩnh vực phát triểnkinh tế đối ngoại, HNKTQT
- Thực tiễn: Góp thêm ý kiến tổng kết thực tiễn, chỉ ra những kinh
nghiệm thành công để Đại hội XI của Đảng phát huy thắng lợi, khắc phục khókhăn, thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước đến năm 2020 cơ bảntrở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 6Chương 1
CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRƯỚC NĂM 2001
Vào thập kỷ cuối của thế kỷ XX, thế giới và khu vực có nhiều biếnđộng to lớn, phức tạp, có những đột biến lớn làm thay đổi cục diện kinh tế,chính trị thế giới, đặt ra cho các nước, các dân tộc nhiều vấn đề mới bao gồmnhững cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển và cả những khó khăn, tháchthức không nhỏ
Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt ít có khả năng xảy ra, nhưng cáccuộc xung đột vũ trang với quy mô và cường độ khác nhau, chiến tranh cục
bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo và lãnh thổ nổ ra ở nhiều nơi, nhiều cuộc xungđột từ nhiều năm trước vẫn chưa có giải pháp cơ bản
Cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển với mức độ ngàycàng tăng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc
tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Nét nổi bật là dưới tác động của cuộccách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế thế giới đang ở giai đoạn quá độchuyển sang loại hình kinh tế mới - kinh tế tri thức hay kinh tế mới - vớinhững đặc điểm hoàn toàn khác với loại hình trước Quá trình toàn cầu hóakinh tế có bước phát triển mới, trở thành xu thế khách quan, lôi cuốn ngàycàng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa cóhợp tác, vừa có đấu tranh Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổnghợp quốc gia và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế
Các nước Đông Nam Á đang ở thời kỳ chuyển hóa sâu sắc về chính trị
và kinh tế Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997 làm cho vị thế ở
các nước Đông Nam Á không còn như trước Những hậu quả của cuộc khủng
hoảng này đã dẫn đến tình trạng làm mất ổn định về chính trị - xã hội khá
Trang 7nghiêm trọng ở một số nước, đặc biệt là Inđônêxia và Philippin Mặc dù kinh
tế khu vực đang phục hồi nhưng vẫn chưa vững chắc do kinh tế phụ thuộcnhiều vào bên ngoài, nhất là kinh tế Mỹ Môi trường hòa bình, ổn định và pháttriển của khu vực chưa thật bền vững, tiềm ẩn một số nhân tố gây mất ổn định
Trong quan hệ quốc tế nổi lên những xu thế chủ yếu là hòa bình, ổnđịnh và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dântộc và quốc gia trên thế giới Các nước đều ưu tiên cho phát triển kinh tế, coikinh tế là yếu tố quyết định Các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều tham gia ngàycàng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh
tế, thương mại Hợp tác và cạnh tranh diễn ra gay gắt Các dân tộc nâng cao ýthức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và canthiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa của dân tộc.Các nước XHCN, đảng cộng sản, công nhân quốc tế và các lực lượng cáchmạng tiến bộ khác nhau trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Các nước có chế độ chính trị - xã hội khácnhau vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hòa bình
Bối cảnh quốc tế có những thay đổi lớn, tác động sâu sắc đến nước ta:
sự sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đã gây ảnh hưởngkhông tốt về chính trị, tư tưởng, làm một số người hoài nghi đối với CNXH,giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước Các thế lực thù địch ra sức lợi dụngtình hình trên, ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình bằng những thủđoạn về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá và quân sự rất thâm độc Chínhquyền Mỹ vẫn duy trì chính sách bao vây, cấm vận, ngăn cản các nước và các
tổ chức quốc tế quan hệ kinh tế với Việt Nam
Công cuộc đổi mới đã đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chóng,nền kinh tế thay đổi một cách cơ bản, từ chỗ hàng hóa khan hiếm, đến nay
đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế Tìnhhình đó đặt ra yêu cầu cấp bách là phải tiêu thụ để tái sản xuất mở rộng -
Trang 8nhân tố "đầu ra" lúc này có ý nghĩa hết sức quan trọng Hơn nữa, phải thúcđẩy xuất khẩu ra thị trường bên ngoài vì thị trường nội địa sức mua chưacao Do đó, vì lợi ích đất nước, nước ta phải chủ động và tích cực HNKTQTkhu vực và thế giới Mặt khác, trên thế giới xu thế toàn cầu hóa đang pháttriển nhanh chóng, gia tăng mạnh mẽ về quy mô và phạm vi giao dịch hànghóa, dịch vụ xuyên quốc gia, dòng vốn đầu tư lan tỏa ra toàn cầu, công nghệ,
kỹ thuật truyền bá nhanh chóng và rộng rãi Cục diện đó vừa tạo ra nhữngkhả năng mới để mở rộng thị trường, thu hút vốn, công nghệ, vừa đặt rathách thức về nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế và sự cạnh tranh gaygắt Nền kinh tế nước ta là một bộ phận không tách rời nền kinh tế thế giới,
do đó phải tận dụng thời cơ, đồng thời sẵn sàng chủ động ứng phó với nhữngnguy cơ thách thức
Sự nghiệp đổi mới được khởi xướng vào lúc đất nước đang trong tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng Ở bên ngoài, tình hình thếgiới có nhiều biến động với những diễn biến phức tạp, bất lợi cho cách mạngViệt Nam Trong quan hệ quốc tế, xuất hiện nhiều xu thế mới khác với thờichiến tranh lạnh Tỉnh táo và sáng suốt, Đảng đã phân tích sâu sắc thực trạngđất nước, tìm được nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội và lý
do dẫn đến việc các nước bao vây, cấm vận Việt Nam Trên cơ sở đó, Đảng đề
ra chủ trương và chính sách đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng ViệtNam, phù hợp với xu thế khu vực và quốc tế Về kinh tế đối ngoại, Đại hộilần thứ VI của Đảng xác định:
Muốn kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nước taphải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết chủ yếu là
mở rộng quan hệ phân công lao động quốc tế, hợp tác toàn diện vớiLiên Xô, Lào, Cămpuchia, với các nước khác trong cộng đồng xãhội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoahọc - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp
Trang 9phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyêntắc bình đẳng, cùng có lợi [18, tr.48]
Nghị quyết Đại hội còn xác định những nội dung chính của chính sáchkinh tế đối ngoại có liên quan đến việc đẩy mạnh xuất nhập khẩu, thống nhấtquản lý ngoại hối, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tưtrực tiếp nước ngoài, hợp tác quốc tế về xuất khẩu lao động, phát triển cácdịch vụ du lịch, vận tải và hàng không quốc tế… nhằm thực hiện thành côngNghị quyết của Đại hội trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, tháng 12/1987 Luậtđầu tư nước ngoài đã được Quốc hội thông qua, đây là cơ sở quan trọng thuhút vốn đầu tư từ nước ngoài Những bước đi đó trên thực tế đã mang lại kếtquả tích cực cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước
Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với
cách mạng nước ta và khẳng định:
Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố
và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triểnkinh tế Đó là nhân tố quyết định củng cố, giữ vững an ninh vàđộc lập…cần phải có quan điểm mới về an ninh và phát triểntrong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh mẽ phương hướng
ưu tiên tập trung cho sự nghiệp giữ vững hòa bình và phát triểnkinh tế [75, tr.7]
Trong tình hình mới, để tạo điều kiện và cơ hội nhằm giữ vững hòabình, tập trung cho sự phát triển, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị xác địnhquan điểm: Trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải "thêm bạn, bớt thù", ra sứctranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, phân hóahàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập về kinh tế, chínhtrị; kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu sang đấutranh và hợp tác cùng tồn tại trong hòa bình
Trang 10Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI(3/1989), tiếp tục quán triệt chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, tham giatích cực vào phân công lao động quốc tế, chuyển mạnh hoạt động ngoại giao
từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị - kinh tế, mở rộng quan
hệ kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Tiếp đó, Hộinghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3/1990 ), coi việc mởrộng quan hệ đối ngoại theo phương châm "thêm bạn, bớt thù" là một trongnhững nhiệm vụ cấp bách và quán triệt không để các vấn đề cục bộ, tạm thời,thứ yếu cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của ta; nêu cao tinh thầnđộc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế phù hợp với tình hình mới; đa dạng hóa quan
hệ quốc tế, đẩy lùi từng bước chính sách bao vây, cấm vận đối với Việt Nam
Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chế độ chính trị - xã hội ở các nướcXHCN ở Đông Âu đã thay đổi, Đảng nhấn mạnh yêu cầu của công tác đốingoại là phải nhận thức nhạy bén và dự báo được những diễn biến trong quan
hệ quốc tế, sự phát triển của lực lượng sản xuất và xu thế quốc tế hóa nềnkinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp Đại hội VII(6/1991) đã chỉ rõ: "Đất nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xãhội, công cuộc đổi mới còn những mặt hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hộinóng bỏng chưa được giải quyết" [28, tr.258] Đó là khó khăn lớn nhất trongthời kỳ này Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Nghị quyết Đại hội nêu rõ: "Thịtrường mở ra còn chậm và bấp bênh, chưa có nhiều mặt hàng chủ lực có sứccạnh tranh chiếm lĩnh thị trường vững chắc, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm thô cònlớn Quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều sơ hở" [34, tr.229]
Về hoạt động kinh tế đối ngoại, Đại hội VII đã chủ trương: "Gắn thị trườngtrong nước với thị trường thế giới, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng trongnước với xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa" [28, tr.276] Như vậy,Đảng đã xác định chủ trương gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế
là một trong những nội dung của HNKTQT và là bước phát triển lôgíc tất yếu
Trang 11sau khi chúng ta đã cơ bản thống nhất được thị trường trong nước theo cơ chếmột giá được xác lập trên cơ sở cung - cầu của thị trường Đây là một chủtrương đúng đắn nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệuquả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tếthông qua sự mở rộng từng bước phạm vi, mức độ và đối tượng cạnh tranhtrên thị trường nội địa, khu vực và toàn cầu.
Đại hội VII đã xác định các nguyên tắc HNKTQT của ta là: "Đa dạng hóa
và đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trênnguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi" [28, tr.363].Đồng thời, Đại hội chỉ rõ: "Tiếp tục coi trọng các thị trường truyền thống,đồng thời nhanh chóng thâm nhập thị trường mới, mở rộng thị trường khuvực" [28, tr.271] Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, chúng ta đã thựchiện đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các thị trường truyền thống như Liênbang Nga, các nước SNG, các nước Đông Âu và các quốc gia châu Á, châuPhi Thực tế cho thấy, kết quả của việc củng cố phát triển quan hệ đối ngoạivới bạn bè truyền thống không những góp phần nâng cao vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế và tác động không nhỏ tới tiến trình cải thiện, thiết lậpquan hệ và mở rộng quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới
Những bước đi quan trọng đầu tiên này đều được triển khai dưới sự chỉđạo chặt chẽ và kịp thời của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) tháng 6/1992, khi bàn về chínhsách đối ngoại và kinh tế đối ngoại, đã nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ vớicác tổ chức quốc tế, trong đó nhấn mạnh: Cố gắng khai thông quan hệ với các Tổchức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng thếgiới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ; mở rộng quan hệ với các tổchức hợp tác khu vực, trước hết với khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trên cơ sở quan điểm đối ngoại, Đảng coi trọng việc mở rộng quan hệhữu nghị, hợp tác với các nước Châu Á - Thái Bình Dương và có chủ trương
Trang 12tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với từng nước láng giềng cũng như đốivới các nước ASEAN, sẵn sàng gia nhập ASEAN vào thời điểm thích hợp.Đồng thời, chúng ta sẵn sàng tham gia các cuộc đối thoại song phương và đaphương, trước hết giữa các nước trong khu vực, để tìm ra những biện pháphữu hiệu bảo đảm ổn định, hòa bình, an ninh trong khu vực trên cơ sở bảođảm an ninh của mỗi nước và phát triển quan hệ bình đẳng với từng nướctham gia diễn đàn, không làm gì ảnh hưởng đến nước thứ ba.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1/1994)tiếp tục quán triệt chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại; tiếp tục coi trọng thị trường truyềnthống, đồng thời nhanh chóng thâm nhập thị trường mới, mở rộng thị trườngkhu vực Để thực hiện tốt chủ trương này, Đảng ta đã khẳng định quyết tâmxây dựng nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước, kiên trì chiến lược hướngmạnh về xuất khẩu: "Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trườngtrong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế" [28, tr.407]
Trước sự phát triển mới của tình hình thế giới và khu vực, vấn đề đặt ra
là cần phải tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác khu vực, xây dựng cácmối quan hệ lâu dài trên cơ sở lợi ích chung về an ninh và hợp tác phát triểnvới các nước láng giềng, tạo môi trường khu vực hòa bình, thuận lợi, đồngthời tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với tất cả các nước lớn, cáctrung tâm kinh tế, chính trị thế giới, đặc biệt là ở khu vực châu Á - Thái BìnhDương Chú trọng thích đáng quan hệ với các nước lớn, vì đây là những nhân
tố ảnh hưởng đáng kể đến an ninh và phát triển của khu vực Đông Nam Á vàViệt Nam Cần có đối sách thích hợp để vừa giữ vững lập trường nguyên tắc
và lợi ích của đất nước, vừa phải có sách lược linh hoạt, khôn khéo để pháttriển quan hệ với các nước, xử lý hài hòa lợi ích của Việt Nam với lợi ích anninh và phát triển của các quốc gia láng giềng, khu vực để tạo điều kiện quốc
tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 13Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã đánh giátình hình phát triển của quan hệ quốc tế và cho rằng hòa bình, ổn định vàhợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc vàcác quốc gia trên thế giới Các nước giành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coiphát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnhtổng hợp của nước mình, tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác vàliên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vựchoạt động khác, hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắtgiữa các quốc gia Từ đó Đại hội khẳng định "Nhiệm vụ đối ngoại trong thờigian tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợihơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước" [17, tr.120]
Đại hội khẳng định và cụ thể hóa chủ trương xây dựng một nền kinh tế
mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về xuấtkhẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệuquả, tranh thủ vốn, công nghệ và thị trường quốc tế; mở rộng quan hệ quốc tế,hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế
và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ củanhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi Đạihội khẳng định mạnh mẽ việc phải đẩy nhanh quá trình HNKTQT của Việt Namtheo lộ trình phù hợp; tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng
mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại
Đại hội VIII chỉ rõ mục tiêu của chương trình phát triển kinh tế đốingoại từ năm 1996 đến năm 2000 là: "Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bìnhquân hàng năm khoảng 28% (chưa kể phần xuất khẩu tại chỗ)… Tổng kimngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm 24%” [28, tr.569] Với phươngchâm chỉ đạo tăng nhanh tỷ trọng hàng hóa đã qua chế biến trong kim ngạchxuất khẩu, giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu, vật liệu và hàng sơ chế
Trang 14Hướng nhập khẩu là tập trung vào nguyên liệu, vật liệu, các loại thiết bị côngnghệ đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Từng bước thay thế nhập khẩunhững mặt hàng có thể sản xuất có hiệu quả ở trong nước Tiếp theo việc gianhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia AFTA, cần xúc tiến việc tham giavào các tổ chức APEC và WTO, từng bước tham gia các hoạt động của hệthống ưu đãi phổ cập với các nước đang phát triển, áp dụng các chuẩn mựcthương mại quốc tế và lựa chọn tham gia một số hiệp hội xuất khẩu quốc tế vềtừng mặt hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên, từ cuối năm 1996 trở đi, khi các yếu tố về đổi mới cơ chế, tổchức quản lý đã được khai thác một cách tương đối đầy đủ, sự phát triển vềchiều rộng đã bộc lộ những hạn chế, chất lượng tăng trưởng và phát triển theochiều sâu chưa được chú trọng, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại,tác động mạnh đến nước ta cả phương diện đầu tư trực tiếp nước ngoài và thịtrường xuất khẩu Trước tình hình đó, ngày 18/11/1996, Bộ Chính trị ra Nghị
quyết số 01/NQ-TW về: "Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000" Trên cơ sở đánh giá sát, đúng những kết quả, những thiếu
sót trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại từ khi tiến hành đổi mới đến cuối năm
1996, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và phương hướng giải pháp, cơ chế, chínhsách chủ yếu về phát triển kinh tế đối ngoại thời kỳ 1996 - 2000 Về nhiệm vụcủa kinh tế đối ngoại, Nghị quyết nêu rõ:
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại nhằm gópphần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiệnthắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 1996 - 2000 và chuẩn
bị cho sự phát triển vào đầu thế kỷ XXI theo các nguyên tắc độc lập
tự chủ, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi; kết hợpchặt chẽ kinh tế đối ngoại với chính trị đối ngoại, quốc phòng, anninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc [21, tr.630]
Trang 15Để thực hiện tốt mục tiêu đó cần đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoạitheo định hướng XHCN; tăng cường sức cạnh tranh trên trường quốc tế, gópphần thúc đẩy lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới, tranh thủngày càng nhiều vốn đầu tư công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
từ nước ngoài và từng bước đầu tư ra nước ngoài góp phần tích cực làm biếnđổi cơ cấu kinh tế và phân công lao động trong nước, mở rộng hợp tác quốctế; thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoạinhưng có trọng tâm, trọng điểm, khai thác lợi thế so sánh của ta và tận dụng
xu thế phát triển của thế giới và khu vực, tạo được nhiều thị trường ổn định,chú trọng những thị trường lớn
Về phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại từ năm 1996 - 2000,Nghị quyết chỉ rõ: "Xuất khẩu là hướng chiến lược trọng điểm của kinh tế đốingoại nhằm tăng tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân 28%/năm Kiên quyếttừng bước giảm nhập siêu, tiến tới thăng bằng xuất - nhập" [21, tr.631-632]
Trên cơ sở phương hướng đó, Đảng và Nhà nước phải khẩn trươnghoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để tăng nhanh thu hútvốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, thí điểm các hình thức đầu tư gián tiếpnhư bán cổ phiếu doanh nghiệp, phát hành trái phiếu ra nước ngoài…
Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang pháttriển về nguồn vốn ODA, trong xu thế vốn ODA ít có triển vọng gia tăngmạnh mẽ, điều kiện cung cấp có chiều hướng giảm bớt tính ưu đãi, cần tiếptục vận động thu hút nguồn lực này Sử dụng vốn vay thương mại cho đầu tưchiều sâu đổi mới trang thiết bị, dây chuyền sản xuất, mua vật tư, nguyênliệu để tạo ra hàng xuất khẩu nhiều, chất lượng cao, tạo công ăn việclàm, phát triển ngành nghề ở các vùng nông thôn, miền núi, ven đô, Nhànước quản lý tập trung, chỉ đạo và kiểm tra chặt chẽ, bảo đảm sử dụng cóhiệu quả và trả nợ các khoản vay thương mại cho tất cả vốn vay ODA(cũng như mọi khoản vay khác), phải được tính toán sử dụng một cách có
Trang 16hiệu quả, bảo đảm có khả năng trả được nợ Phát triển đa dạng và mạnh
mẽ các loại hình dịch vụ thu ngoại tệ như dịch vụ hàng không, hàng hải,bưu chính viễn thông, kiều hối, xuất khẩu chuyên gia và lao động, dịch vụtài chính, ngân hàng, bảo hiểm
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-TW của Bộ Chính trị “Về
mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000”, trong
lúc cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực bùng phát, tác động xấu đếnnước ta trong việc đầu tư trực tiếp nước ngoài và thị trường xuất khẩu, thì ởtrong nước thiên tai liên tục xảy ra gây thiệt hại to lớn về người và của Dovậy, tốc độ tăng trưởng GDP đã giảm sút mạnh; nhịp độ tăng trưởng côngnghiệp, xây dựng tiếp tục giảm Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương lần thứ 4 (khóa VIII) ngày 29/12/1997 đã nêu cao chủ trươngphát huy nội lực, chủ động phòng tránh và khắc phục khủng hoảng Nghịquyết nhấn mạnh tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để tranh thủ vốn,công nghệ và gia nhập thị trường quốc tế nhưng phải trên cơ sở độc lập tựchủ, phát huy đầy đủ các yếu tố nội lực, dựa vào các nguồn lực trong nước làchính bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống
đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Nội dung nhiệm vụ của côngtác kinh tế đối ngoại và hội nhập cho đến năm 2000 được xác định là:
Tiếp tục điều chỉnh chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trongnước theo tinh thần bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện và có thời hạn,phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Lộ trình giảm thuế nhậpkhẩu và giảm dần các hàng rào phi thuế quan được công bố rõ đểtừng doanh nghiệp có kế hoạch phấn đấu cụ thể [22, tr.57]
Hội nghị nêu phương châm hội nhập quốc tế là: "Trên cơ sở phát huy nộilực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế" [22, tr.59-60].Trên cơ sở đó, Hội nghị đã nêu lên nhiệm vụ HNKTQT là:
Trang 17Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp
tự quyết trong quan hệ quốc tế, không chịu sự áp đặt về ý đồ và quyền lợi từbất cứ phía nào Đa phương hóa là nói đến nhiều đối tác trong quan hệ, nhưngvẫn có ưu tiên nhất định đối với các đối tác truyền thống và đối tác chiếnlược, đa dạng hóa là nói đến việc sử dụng nhiều hình thức quan hệ để thựchiện đa phương hóa Đây là chính sách ngoại giao mềm dẻo, cho phép ta
"thêm bạn, bớt thù", tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để tranh thủ các nguồn lực
bên ngoài cho phát triển đất nước
* HNKTQT dưới sự lãnh đạo của Đảng từ khi đổi mới đến trước năm 2001
Năm 1990 trở về trước, Việt Nam mới có quan hệ thương mại với 30nước, chủ yếu các nước XHCN Thực hiện chủ trương đường lối đổi mới củaĐảng, chúng ta đã bắt đầu tham gia từng bước vào nền kinh tế khu vực và trênthế giới Tiến trình HNKTQT được thực hiện dưới nhiều hình thức, với nhiều
Trang 18loại đối tác trên nhiều lĩnh vực Trong nước, chúng ta đã thực hiện những biệnpháp nhằm từng bước cải cách các chính sách thương mại và đầu tư theohướng mở cửa để mang lại cho nước ta một số lợi ích do xu thế tự do hoákinh tế mang lại Đồng thời, phấn đấu để Việt Nam trở thành thành viên củacác tổ chức, hiệp hội, câu lạc bộ của khu vực và trên thế giới để thực hiện việc
áp dụng những chính sách theo hướng mở cửa giữa các thành viên và dànhcho nhau những ưu đãi về đầu tư, thương mại mang lại lợi ích cho nhau
Năm 1993, nước ta đã khai thông quan hệ với các Tổ chức quốc tế nhưQuỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triểnchâu Á (ADB) Sự kiện mở đầu mang tính đột phá trong quá trình HNKTQTcủa Việt Nam là việc nước ta chính thức trở thành thành viên của ASEAN vàongày 28/7/1995 Hội nhập của Việt Nam vào ASEAN có nội dung chủ yếu làthực hiện các cam kết trong hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tếASEAN, tham gia vào AFTA, thực hiện các cam kết theo CEFT Tháng2/1998, chúng ta đã công bố lịch trình giảm thuế quan tổng thể của Việt Namđối với các mặt hàng thuộc CEFT/AFTA Gia nhập ASEAN, Việt Nam đồngthời chính thức trở thành thành viên của AFTA
Một bước tiến nữa trong quá trình hội nhập, là tháng 3/1996 Việt Nam
đã tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sánglập ASEM ra đời nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo điều kiện thuận lợi cho sựhợp tác thương mại, đầu tư giữa các quốc gia thành viên cũng như giữa cácnhà doanh nghiệp Á - Âu Việc gia nhập ASEM sẽ tạo điều kiện để chúng ta
có thể mở thêm diễn đàn trao đổi, hợp tác, xúc tiến việc mở rộng thị trườngthương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế khoa học - kỹ thuật trên cơ sở các bêncùng có lợi, tạo thế cân bằng trong quan hệ với các trung tâm kinh tế, chính trịtrên thế giới
Tháng 11/1998, Việt Nam chính thức gia nhập APEC, việc trở thànhthành viên chính thức của APEC là một bước tiến quan trọng trong tiến trình
Trang 19hội nhập của Việt Nam góp phần nâng cao vị thế chính trị và mở rộng thịtrường, thúc đẩy việc xử lý các vấn đề song phương, tạo mối quan hệ đan xennhiều chiều với nhiều đối tác, tranh thủ các chương trình hợp tác kinh tế, kỹthuật thu hút đầu tư, công nghệ từ các nước phát triển Với mục tiêu hỗ trợ sựphát triển trong khu vực, tăng mức sống, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thếgiới, tham gia vào APEC, các nước nói chung, Việt Nam nói riêng sẽ có điềukiện nâng cao vị trí và hình ảnh, tăng thêm lợi thế và tiếng nói của mình trongđàm phán song phương và đa phương, góp phần hình thành luật chơi chung ởkhu vực…
Tháng 10/1947, Cộng đồng quốc tế đã thành lập tổ chức Hiệp địnhchung về thuế quan và thương mại (gọi tắt là GATT) với 23 nước thành viênsáng lập Ngày 1/1/1995, GATT trở thành WTO Dựa trên cơ sở mục tiêu,nguyên tắc hoạt động của WTO và thực tế quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995), đã cho thấy sự thànhcông về kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều ở mức độ tham gia của đấtnước vào nền kinh tế của khu vực và thế giới Đặc biệt, Đảng và Nhà nướcnhận thấy sự cần thiết và lợi ích khi gia nhập WTO là tổ chức lớn hiện nay.Nhất là sau khi đã nghiên cứu các kết quả của cuộc đàm phán Uruguay tháng1/1995, Đảng và Nhà nước đã quyết định nộp đơn gia nhập WTO Quyết địnhnày sẽ giúp đất nước đổi mới kinh tế có hiệu quả hơn, đồng thời góp phần mởrộng hơn nữa các quan hệ kinh tế với các nước khác
Sự ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 10 nămđầu đổi mới (1986 - 1995) là cơ sở cho Việt Nam gia nhập WTO Việt Namđang được xem là một nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh cùng với đườnglối kinh tế hướng ngoại đúng đắn Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ và hợptác của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt, Đảng và Nhà nước đã nỗ lực caotrong việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ với Mỹ như vấn đề người Mỹmất tích trong chiến tranh ở Việt Nam Cùng với những nỗ lực trên các lĩnh
Trang 20vực khác đã dẫn tới việc Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại với Việt Namvào ngày 3/2/1994 và tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao Ngày12/7/2000 sau 4 năm đàm phán, Hiệp định thương mại song phương Việt -
Mỹ đã được ký kết
Trên cơ sở đó, Đại hội VIII (6/1996) của Đảng chỉ rõ: Tiếp tục đổi mớinền kinh tế mà một trong những nội dung quan trọng là hoà nhập vào hệthống thương mại thế giới Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Cần xúc tiến việctham gia Tổ chức Thương mại quốc tế WTO” [28, tr.571] Thực hiện nghịquyết của Đại hội và để hoàn thành các cuộc thương lượng gia nhập WTO,Đảng và Nhà nước đã tiến hành thực hiện một tiến trình hội nhập WTO vớinhiều giai đoạn
Tháng 6/1994, Việt Nam được công nhận là quan sát viên của WTO.Tháng 2/1995, thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đại sứ Việt Nam tạiLiên hợp quốc, ông Nguyễn Lương đã nộp đơn gia nhập WTO Ban công tác
về việc gia nhập của WTO được thành lập với nhiệm vụ đàm phán về điềukiện, quy định kết nạp Việt Nam Tham gia Ban công tác có nhiều thành viênWTO quan tâm đến thị trường Việt Nam Điều đó khẳng định, Việt Nam đãthực hiện xong bước đầu tiên trong tiến trình gia nhập WTO
Tháng 8/1996, Việt Nam đã hoàn thành “Bị Vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam” và gửi tới Ban thư ký WTO để chuyển tới các thành
viên của Ban công tác Bị Vong lục không chỉ giới thiệu tổng quan nền kinh
tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, màcòn thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thương mại hàng hoá, dịch
vụ, về quyền sở hữu trí tuệ
Tháng 2/1998, Việt Nam trả lời các câu hỏi làm rõ về chế độ thương
mại Sau khi nghiên cứu “Bị Vong lục về chế độ ngoại thương”, nhiều thành
viên đặt ra các câu hỏi yêu cầu ta trả lời nhằm hiểu rõ chính sách, bộ máyquản lý và thực thi chính sách của ta Ngoài việc trả lời các câu hỏi ra, ta cũng
Trang 21phải cung cấp nhiều thông tin các biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ nôngnghiệp, trợ cấp trong công nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biệnpháp đầu tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thốngtiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ Ban công tác tổ chức các phiên họp tại trụ
sở WTO ở Giơnevơ (Thụy Sỹ) để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam.Tháng 8/1998, Việt Nam đưa ra các bản chào ban đầu và tiến hành đàm phánsong phương, đàm phán đa phương, hoàn thành Nghị định thư gia nhập WTO.Trước hết, Việt Nam đã đưa ra những bản chào ban đầu về mở cửa thị trườnghàng hoá và dịch vụ để thăm dò phản ứng của các thành viên khác Trên cơ sở
đó, các thành viên đưa yêu cầu của họ và nếu chấp nhận được thì có thể đápứng hoặc đưa ra mức bảo hộ thấp hơn một chút Quá trình đàm phán như vậytiếp diễn cho tới khi mọi thành viên đều chấp nhận với mức độ mở cửa thịtrường và hàng hóa của ta
Để đàm phán thành công, thì việc xây dựng chiến lược tổng thể pháttriển kinh tế dài hạn giữ vai trò quyết định Việt Nam phải xác định đượcnhững thế mạnh, những lĩnh vực ta cần bảo hộ để có thể vươn tới trong tươnglai, những mặt hàng nào ta không cần bảo hộ
Việt Nam đã tiến hành các công việc minh bạch hoá chính sách, chuẩn
bị và tiến hành các vòng đàm phán song phương, mở cửa thị trường Để gianhập WTO, Việt Nam phải tiến hành đồng thời các cuộc đàm phán với WTO
và các cuộc đàm phán song phương với một số nước có chọn lọc Việt Nam
đã vượt qua các vòng đàm phán, hoàn thành việc trả lời các câu hỏi từ Banthư ký của WTO và các nước thành viên, đang xúc tiến chuẩn bị các cuộcđàm phán tiếp theo với quyết tâm phấn đấu sớm gia nhập WTO, tất nhiên làvới những điều kiện chấp nhận được đối với nền kinh tế của Việt Nam
Với những nỗ lực triển khai đường lối đổi mới, đa phương hoá, đa dạnghoá quan hệ quốc tế và HNKTQT đã góp phần làm tăng bạn, bớt thù, duy trìhoà bình ổn định và tạo môi trường thuận lợi cho việc khai thác các điều kiện
Trang 22thuận lợi bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Quátrình hội nhập của Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua đã góp phần quantrọng phá bỏ thế bị bao vây, cô lập, tạo thế và lực vững chắc cho đất nướcthông qua mối quan hệ đan xen nhiều chiều, nhiều nấc, vừa hợp tác, vừa đấutranh giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, khai thác các lợi thếcủa các mối quan hệ với các nước lớn, đồng thời thể hiện quan điểm, thựchiện vai trò, đóng góp của chúng ta trong công cuộc bảo vệ hoà bình và anninh chung.
1.2 BỐI CẢNH , CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TỪ 2001 ĐẾN 2005
Thế kỷ XX để lại trong lịch sử loài người những dấu ấn cực kỳ sâu sắc
Đó là thế kỷ kinh tế phát triển mạnh mẽ xen lẫn những cuộc khủng hoảng lớncủa CNTB thế giới, thế kỷ của những tiến bộ vượt bậc về khoa học côngnghệ, tạo ra giá trị sản xuất vật chất tăng gấp 15 lần so với thế kỷ trước và lớnhơn cả toàn bộ giá trị của hai thiên niên kỷ trước cộng lại Đó là thế kỷ diễn rahai cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu do chủ nghĩa đế quốc gây ra cùng hàngtrăm cuộc xung đột vũ trang, cướp đi hàng chục triệu sinh mạng; sau đó làcuộc “chiến tranh lạnh” cũng do chủ nghĩa đế quốc gây ra kéo dài gần nămthập niên và cuộc chạy đua vũ trang ở mức cao chưa từng thấy Đó là thế kỷchứng kiến một phong trào cách mạng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới vớithắng lợi của Cách mạng Tháng mười Nga - cuộc cách mạng vĩ đại mở ra thờiđại quá độ từ CNTB lên CNXH, của cách mạng XHCN ở một loạt nước từchâu Âu sang châu Á và Mỹ la tinh, sự giải phóng hầu hết các nước thuộc địacủa chủ nghĩa thực dân, sự phát triển của phong trào cộng sản, công nhânquốc tế và phong trào hoà bình, dân chủ; mặt khác, lại xảy ra sự thoái trào củaCNXH trên thế giới vào cuối thế kỷ
Thế kỷ XXI có thể sẽ có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc Đó là thế kỷ
mà khoa học và công nghệ sẽ có những bước nhảy vọt chưa từng thấy Kinh tế
Trang 23tri thức ngày càng lớn trong quá trình phát triển Toàn cầu hoá kinh tế là một
xu thế khách quan ngày càng nhiều nước tham gia, đang bị một số nước pháttriển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâuthuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp tác, vừa có đấutranh Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức vàmức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn Đấu tranh dântộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, lúc hòa hoãn,lúc gay gắt Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốcgia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương Chủnghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thịtrường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có Các quốc giađộc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết địnhcon đường phát triển của mình, chống lại sự áp đặt, can thiệp và xâm lược củanước ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền và nền văn hóa dân tộc CNXH thếgiới tạm thời lâm vào thoái trào nhưng vẫn có điều kiện và khả năng để phụchồi và phát triển Tính chất của thời đại vẫn không thay đổi Lịch sử thế giới
đã, đang và sẽ còn trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùngnhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử
Những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục có những biến động phứctạp, đầy bất trắc khó lường Trong khoảng 10 - 15 năm đầu ít có khả năng xảy
ra chiến tranh thế giới thứ ba, chiến tranh tổng lực dùng vũ khí hạt nhân và vũkhí giết người hàng loạt khác Hòa bình và hợp tác vẫn là một xu thế lớn phảnánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc Nhưng chiến tranh cục bộ,xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt độngcan thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nước với tính chất phức tạpngày càng tăng Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánhđòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lậpdân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có những bước tiến
Trang 24mới Khu vực Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương sau khi khắc phụcđược khủng hoảng tài chính - tiền tệ, có khả năng tiếp tục phát triển năngđộng nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định.
Những nét mới trong tình hình quốc tế và khu vực, với những xu thếphát triển của nó, tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta
Trong những năm qua, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường Đấtnước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên, lao động Nhân dân ta có nhiềuphẩm chất cao quý Tình hình chính trị - xã hội ổn định Môi trường hòa bình,
sự hợp tác, liên kết, chủ động HNKTQT ngày càng phát triển tạo điều kiện đểchúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực,nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, phục vụ
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đó là cơ hội để tạo ra bước phát triển mới.Đồng thời, chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức Thách thức lớn nhất làtình trạng thấp kém của nền kinh tế, khoảng cách về trình độ phát triển giữanước ta với nhiều nước trên thế giới còn rất lớn, trong khi đó đất nước đi lêntrong điều kiện cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt
Chủ động HNKTQT là một nội dung quan trọng trong đường lối đốingoại của Đảng, phản ánh sự nhận thức đúng đắn xu thế toàn cầu hoá kinh tếhiện nay Để hoàn thiện, phát triển đường lối chiến lược về HNKTQT trongbối cảnh những năm đầu thế kỷ XXI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đãnhấn mạnh chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theotinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảmđộc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninhquốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” [28, tr.664].Mục tiêu hội nhập là để tạo thêm nguồn lực nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH, đápứng yêu cầu và lợi ích của đất nước, đồng thời qua đó phát huy vị thế và vaitrò của Việt Nam trên trường quốc tế Nội dung hội nhập là từng bước mở cửathị trường về thương mại - đầu tư dịch vụ Hình thức hội nhập bao gồm cả
Trang 25song phương và đa phương Tuy nhiên, độc lập tự chủ về kinh tế là nền tảngvật chất cơ bản để củng cố và duy trì độc lập, tự chủ về chính trị Không thể
có độc lập, tự chủ về chính trị khi bị lệ thuộc về kinh tế Trong thế giới hiệnnay, mặc dù sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng với xu thế toàncầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, các nước càng coi trọng chủ quyền quốcgia và lợi ích dân tộc, càng quan tâm hơn đến khả năng độc lập tự chủ về kinh
tế đảm bảo cho lợi ích của mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt và để
có một vị thế chính trị nhất định trên trường quốc tế
Khác với trước đây khi nói đến độc lập tự chủ người ta thường hìnhdung là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp Trong điều kiện ngày nay,độc lập tự chủ về kinh tế là phải độc lập tự chủ trong phát triển nền kinh tế thịtrường mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới, chủ động, tích cực tham gia vào
sự giao lưu hợp tác, phân công lao động quốc tế và trên cơ sở phát huy tốtnhất nội lực và lợi thế so sánh của các quốc gia để hợp tác và cạnh tranh quốc
tế có hiệu quả Độc lập tự chủ về kinh tế trước hết là không bị lệ thuộc, phụthuộc vào nước khác, vào một tổ chức quốc tế nào đó về đường lối, chínhsách phát triển kinh tế, vào những điều kiện kinh tế, chính trị mà người khác
áp đặt cho mình trong hợp tác song phương, đa phương trong việc tiếp nhậnviện trợ mà những điều kiện ấy gây tổn hại cho chủ quyền quốc gia và lợi ích
cơ bản của dân tộc Sự tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là trước những chấnđộng của thị trường, của khủng hoảng kinh tế, tài chính ở bên ngoài, về cơbản vẫn giữ được sự ổn định của nền kinh tế quốc gia và định hướng pháttriển Sự tự chủ đó còn là trước sự bao vây, cô lập, chống phá về kinh tế,chính trị của các thế lực thù địch bên ngoài, đất nước vẫn trụ vững, không bịsụp đổ về kinh tế và chính trị Như vậy, độc lập tự chủ về kinh tế nước tađồng thời cũng là sự bảo đảm vững chắc cho định hướng XHCN theo đườnglối, chủ trương của Đảng đề ra, không có bất kỳ sự áp đặt nào từ bên ngoài.Đây là một cơ sở quan trọng cho HNKTQT ngày càng sâu rộng Thực tế phát
Trang 26triển của các quốc gia cho thấy, muốn giữ được độc lập tự chủ về kinh tế, nhấtthiết phải có hai điều kiện đó là có đường lối, chính sách độc lập tự chủ vềphát triển kinh tế, xã hội và phải có thực lực kinh tế đủ mạnh Trong hoàncảnh nước ta hiện nay, muốn có thực lực kinh tế mạnh thì nhất thiết phải thựchiện CNH, HĐH Mà muốn CNH, HĐH thành công thì không thể không mởcửa, HNKTQT.
Đại hội IX đã phát triển phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất
cả các nước trong cộng đồng thế giới…” của Đại hội VII và “Việt Nam sẵnsàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới…” củaĐại hội VIII, thành “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng
là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vìhoà bình, độc lập và phát triển” [24, tr.119] Điều này thể hiện bước phát triểnmới về tư duy đối ngoại của Đảng, đồng thời qua đó khẳng định vị thế mớicủa đất nước trong quan hệ kinh tế - chính trị quốc tế Đây còn là thể hiệnmong muốn thực sự HNKTQT và khu vực trong bối cảnh toàn cầu hoá và xuhướng phát triển nền kinh tế tri thức đang diễn ra mạnh mẽ
Nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn hiện nay được Đại hội khẳng định:
Tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tếthuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo độclập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộcđấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội [24, tr.120]
Đảm bảo môi trường trong nước chính là việc giữ vững ổn định vềchính trị - xã hội, giữ vững độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đấtnước Nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn hiện nay là cần phải tiếp tục thựchiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, tăng
Trang 27cường hơn nữa những mối quan hệ, hợp tác song phương đa phương, đồngthời xử lý khôn khéo, linh hoạt những vấn đề quốc tế, giảm bớt những yếu tốbất lợi cho việc giữ gìn môi trường hoà bình để dồn sức phát triển kinh tế, xâydựng cuộc sống mới trên đất nước ta.
Thực tế cho thấy, khi quan hệ của Việt Nam với một số nước láng giềngcòn nhiều phức tạp liên quan đến chủ quyền, ranh giới lãnh thổ, lãnh hải Đảng, Nhà nước đã xúc tiến giải quyết các bất đồng, tranh chấp đó bằng conđường hoà bình, thương lượng để đi tới những thoả thuận tối ưu nhất ViệtNam và Lào đã ký Hiệp định về biên giới, cắm mốc quốc gia Việt Nam vàTrung Quốc đã ký Hiệp định về biên giới trên bộ và Hiệp định phân định vùngbiển và vùng đặc quyền kinh tế trên Vịnh Bắc Bộ Chúng ta đã đàm phán và kýkết thoả thuận về vùng trồng lấn trên biển với Malaixia, Thái Lan và tiếp tụcđàm phán với Cămpuchia về biên giới trên bộ và vùng nước lịch sử trên vịnhThái Lan, với Inđônêxia về phân định vùng thềm lục địa giữa hai nước…
Nhiệm vụ đối ngoại cũng cần phải phục vụ chính sách đối nội củaĐảng và Nhà nước Bằng hoạt động đặc thù của mình, hoạt động đối ngoạiphải góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của chính quyền và nhân dâncác nước đối với sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta cả về vất chất và tinhthần, mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại, thu hút đầu tư, trao đổi văn hoá,đào tạo nhằm tăng tiềm lực mọi mặt của đất nước, phục vụ cho sự nghiệpxây dựng và bảo vệ đất nước
Với phương hướng hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong những nămđầu thế kỷ XXI, Đảng chủ trương: Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước,các vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực theonguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệpvào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực,bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thươnglượng hoà bình, phản đối âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt cường
Trang 28quyền Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước xác định rõ những hướng đối ngoạichủ yếu: Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nướcXHCN và các nước láng giềng Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác vớicác nước ASEAN; tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyềnthống, các nước trong Phong trào Không liên kết; thúc đẩy quan hệ đa dạngvới các nước phát triển và các tổ chức quốc tế Đẩy mạnh hoạt động ở cácdiễn đàn đa phương; tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu; củng cố
và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các đảng cộng sản và côngnhân, với các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, cácphong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới; tiếp tục mở rộng quan hệ vớicác đảng cầm quyền; mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân…
Xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước, Đại hội Đảng IX đã nêumục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 - 2010 là:
Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõrệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảngđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theohướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và côngnghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh đượctăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hìnhthành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nângcao [24, tr.159]
Để đạt mục tiêu trên, chúng ta phải đẩy mạnh mở rộng sản xuất, tiêuthụ sản phẩm và thực hiện thành công công cuộc CNH, HĐH đất nước Điềunày đòi hỏi chúng ta phải có vốn, có công nghệ hiện đại, có kinh nghiệm quản
lý và có tri thức hiện đại Trong khi đó nước ta vẫn là một nước nghèo vớicông nghệ lạc hậu, mức tích luỹ còn thấp, nguồn vốn trong nước không đủphục vụ CNH, HĐH, do đó phải tạo ra nguồn lực phục vụ mục tiêu đề ra bằngviệc mở cửa HNKTQT với bên ngoài Bằng con đường hội nhập nước ta mới
Trang 29có thể tiếp cận được những thành tựu mới nhất về khoa học, kỹ thuật và côngnghệ, và chỉ có thể bằng cách đó thì các nước nghèo và chậm phát triển nhưnước ta mới có cơ hội vươn lên Tất nhiên, khi mở cửa chúng ta cũng sẽ gặpnhiều thách thức, như hàng hoá từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn,
có năng suất lao động cao hơn, với chất lượng tốt hơn và giá thành hợp lý hơntràn vào thị trường nước ta cạnh tranh với hàng hoá của ta, đe doạ nền sảnxuất non trẻ và lạc hậu trong nước Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nếukhông hội nhập thì sự thua thiệt sẽ còn lớn hơn nhiều so với những khó khănnảy sinh trong quá trình hội nhập Do vậy, chúng ta không có sự lựa chọn nàokhác là vừa phải hội nhập, vừa phải đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình
Ngoài công nghệ tiên tiến, thì nguồn vốn vật chất đến nguồn vốn trithức và kinh nghiệm cũng là một nguồn lực rất quan trọng, rất cần thiết chođất nước mà hội nhập mang lại Mặc dù Đảng xác định “nguồn vốn trongnước là quyết định”, nhưng cũng khẳng định “nguồn vốn bên ngoài là quantrọng” Điều này cho thấy, Đảng rất coi trọng nguồn vốn của các nhà đầu tưnước ngoài cũng như kinh nghiệm mà họ mang đến, để bổ sung vào nguồnvốn và tri thức mà chúng ta đã có
Bên cạnh vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, thì tiêu thụ sản phẩmcũng là một yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc đạt mục tiêu đề ra Nhờ
có công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chóng, nếu trongnhững năm 70, 80 của thế kỷ trước hầu như cái gì cũng khan hiếm, thì ngàynay nền kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu của nhân dân và nhiều mặt hàng
có tỷ suất hàng hoá cao Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp bách là phải tiêu thụsản phẩm thì mới tái sản xuất mở rộng được Tuy chúng ta rất quan tâm tớiviệc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong nước, vì với hơn 80 triệu dân, thịtrường trong nước không phải là nhỏ, nhưng do nước ta vẫn còn nghèo, thunhập của tầng lớp dân cư còn thấp, sức mua có hạn, do đó cần đẩy mạnh xuấtkhẩu ra thị trường bên ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước Cho nên phải
Trang 30HNKTQT mới có thể giúp Việt Nam mở rộng thị trường và nhận được những
ưu đãi về thương mại Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là hiệnnay doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có khả năng cạnh tranh cao Việc mởrộng thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh, đầu tư sẽtạo được sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước phải thayđổi tư duy , học hỏi và đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh cho sảnphẩm của mình Như vậy, có thể nói rằng, HNKTQT có khả năng đáp ứngđược đòi hỏi về mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm ởbên ngoài để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của HNKTQT đối với sự phát triểncủa đất nước, Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định chủ trương “chủđộng hội nhập kinh tế và khu vực” Để thực hiện thắng lợi chủ trương này Ngày
27/11/2001, Bộ Chính trị đã đề ra Nghị quyết số 07/NQ-TW: “Về hội nhập kinh
tế quốc tế” Đây là văn kiện tổng hợp, toàn diện nhất của Đảng về HNKTQT của
nước ta trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI Nghị quyết đã khái quát lại tìnhhình HNKTQT của nước ta đến cuối năm 2001; xác định mục tiêu HNKTQT,nêu ra những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập Đồng thời, đề ranhững nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện trong quá trình HNKTQT
Về mục tiêu của HNKTQT, Nghị quyết chỉ rõ:
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường,tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩathực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh, trước mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2010, và kế hoạch
5 năm 2001 - 2005 [9, tr.255]
Để thực hiện mục tiêu nêu trên có hiệu quả, Nghị quyết nhấn mạnh cácquan điểm chỉ đạo trong quá trình HNKTQT:
Trang 31Thứ nhất, chủ động hội nhập kinh tế quốc và khu vực theo tinh thần
phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tựchủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia,giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường
Tư tưởng “chủ động” mà Đại hội IX nêu ra không chỉ hàm chứaphương châm của HNKTQT, mà còn bao hàm cả những nội dung công việccần làm, để có thể chủ động HNKTQT Tính chủ động được thể hiện qua việcchủ động xây dựng lộ trình hội nhập hợp lý trong khuôn khổ quy định chung;chủ động điều chỉnh pháp luật, chính sách cho phù hợp; chủ động tổ chức sảnxuất và điều hành kinh tế trong nước, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh vàchủ động đề ra phương cách thực hiện các cam kết Chủ động hội nhập còn là
sự nắm vững quy luật, hiểu rõ tất yếu khách quan; chủ động đón nhận, tậndụng cơ hội; chủ động phòng tránh những mặt tiêu cực, chủ động đối phó vớinhững thách thức xuất hiện khi HNKTQT Cần nhận thức rằng, Đảng nhấnmạnh vấn đề phát huy tối đa nội lực không có nghĩa là đóng cửa, khép kín nềnkinh tế mà đồng thời với nó là phải tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài,tạo thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước
HNKTQT có quan hệ chặt chẽ với phát huy tối đa nội lực trong quátrình phát triển của đất nước Thực tiễn cho thấy, muốn tiến hành hội nhập cókết quả, giữ vững độc lập tự chủ, định hướng XHCN và bảo vệ vững chắc anninh quốc gia, trước hết phải bắt đầu từ nội lực, nâng cao sức cạnh tranh củanền kinh tế, cần đẩy nhanh quá trình hội nhập để thu hút các nguồn lực bênngoài để phát triển kinh tế - xã hội
Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế ngày càng trở thành một đòi hỏiquan trọng đối với Việt Nam và đây chính là sự thể hiện khác về chất so vớinhững hoạt động hợp tác quốc tế của ta trong giai đoạn trước đổi mới Hiệuquả hợp tác quốc tế ngày nay trước hết cần được hiểu là hiệu quả kinh tế, tức
là hiệu quả đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Hội nhập phải bảo đảm
Trang 32góp phần làm cho nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển vững mạnh Mặtkhác, HNKTQT nhưng phải giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN.Đây là yêu cầu chính trị cao nhất đối với tiến trình HNKTQT của nước ta và lànguyên tắc bất di bất dịch cần giữ vững trong mọi hoàn cảnh Độc lập tự chủ là
tự mình quyết định các vấn đề đường lối, chính sách, các mục tiêu và các quyếtsách về đối nội, đối ngoại của đất nước phù hợp với lợi ích và nghĩa vụ quốc gia,thích ứng với xu thế của thời đại, việc ta chủ động tiến hành các cuộc đàm phán,
ký kết hoặc tự nguyện tham gia một thỏa thuận kinh tế quốc tế nào đó phải xuấtphát từ lợi ích đất nước, chứ quyết không chịu sức ép của bên ngoài Nói mộtcách khác, độc lập tự chủ trong hội nhập được thể hiện ở chỗ chúng ta hoàn toàn
tự quyết định chọn “sân chơi”, “cách chơi” theo “luật chơi chung”
Để có thể giữ vững được độc lập tự chủ và định hướng XHCN thì điềuquan trọng nhất là phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhànước trong quá trình HNKTQT Đảng, Nhà nước xác định rất rõ nền kinh tếnước ta không đi theo cơ chế thị trường tự do mà theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Hội nhập phải bảo vệ lợi íchdân tộc, an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môitrường Lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia là yêu cầu đối với bất cứ hoạtđộng hội nhập nào Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp một mặt cần tranhthủ mọi cơ hội để đẩy nhanh quá trình hội nhập nhưng phải có nguyên tắckhông trái với lợi ích quốc gia, dân tộc, càng không bị lôi cuốn trước bất cứsức ép nào An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển mạnh mẽ về mọi mặtcủa chế độ xã hội và là sự bảo đảm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ củamột quốc gia, là sự an toàn tuyệt đối trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tưtưởng, văn hoá, xã hội, quốc phòng, đối ngoại Bảo vệ an ninh quốc gia làcông việc hệ trọng của đất nước cần được thực hiện với một tinh thần cảnhgiác cách mạng cao, một bản lĩnh chính trị vững vàng, sự nhạy cảm và khônkhéo trong mọi công việc
Trang 33Giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc là một nhiệm vụ rất quan trọng trongquá trình HNKTQT Trong quá trình giao lưu với bên ngoài, chúng ta cầntránh hai xu hướng sùng ngoại và bài ngoại Hướng đi đúng của chúng ta làmột mặt, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, mặt khác, tiếp thu cóchọn lọc những giá trị văn hoá của các nước nhằm làm phong phú thêm khotàng văn hoá nước nhà
Bảo vệ môi trường cũng là một yêu cầu mà Đảng ta đặt ra đối với quátrình HNKTQT Đây là một nét mới thể hiện sự sáng suốt của Đảng về tìnhhình thế giới và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.Theo quan điểm của Đảng, HNKTQT của nước ta với bất cứ nước nào cũngcần tránh mọi nguy cơ đe doạ tới môi trường Hội nhập nhưng phải làm sao
để môi trường nước ta và môi trường thế giới ngày càng tốt hơn, góp phầnđảm bảo một thế giới phát triển bền vững
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá
trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phầnkinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo
HNKTQT trước hết là vì lợi ích của đất nước, của dân tộc ta HNKTQTkhông phải là công việc riêng của các cơ quan Nhà nước hay của các doanhnghiệp, mà là sự nghiệp chung của toàn thể mọi người trong xã hội Để toànthể nhân dân ủng hộ và tích cực tham gia vào quá trình này, điều quan trọngtrước hết là làm cho mọi người hiểu, có nhận thức đúng đắn về hội nhập và có
sự nhất trí cao, cùng đồng lòng, đồng sức thực hiện Hội nhập sẽ có tác độngtrực tiếp và mạnh mẽ đến các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,đồng thời tạo ra những cơ hội và thách thức Để giúp các doanh nghiệp có thểtận dụng được cơ hội và đối phó được với những thách thức trong quá trìnhhội nhập Nhà nước và các doanh nghiệp phải có những chính sách và biệnpháp thích hợp để phát triển, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh Đểgiữ được vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong quá trình hội nhập, cần
Trang 34thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng caohiệu quả và năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trên cơ sở một sânchơi bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác nhau Có như vậy mới thực sự phát huy được mọitiềm năng và nguồn lực của đất nước.
Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh
và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít những thách thức, do đó cầntỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùytheo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tưtưởng trì trệ, thụ động; vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng
Hợp tác và đấu tranh, cạnh tranh là hai mặt thuộc bản chất củaHNKTQT Trong quá trình này, chúng ta đồng thời vừa hợp tác, vừa phải đấutranh với các nước và các đối tác quốc tế để bảo vệ lợi ích của ta và phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ đất nước Một mặt, chúng ta phải đấutranh không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng; mặtkhác, phải tự giác thực hiện nghĩa vụ, cam kết và chấp nhận một sự chia sẻhợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức đóng góp của các bên hợp tác.Trong hợp tác liên kết, nhất là với những đối tác mạnh hơn, chúng ta cần giữvững nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo,kiên trì thuyết phục đi đôi với tính chủ động, linh hoạt trong cách tiến hànhtheo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” nhằm đạt được mục tiêu của ta,bảo vệ được lợi ích chính đáng của ta
Thứ tư, nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta để từ đó đề ra
kế hoạch và lộ trình hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừađáp ứng được các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nhà nước tađang tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển vàcác nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường
Trang 35Việt Nam hiện là nước có nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp, đangchuyển đổi từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN Đây
là một đặc điểm rất quan trọng mà chúng ta cần nắm chắc và quán triệt trong quátrình đàm phán tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, xây dựng các cam kếtquốc tế, các chính sách, lộ trình hội nhập của nước ta Xuất phát từ đặc điểmtrên, chúng ta cần xác định và tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Mở cửa từng bước đi đôi với bảo hộ chọn lọc, có điều kiện và thời hạnmột số sản phẩm trong nước Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia đãbuộc các nước phải có chính sách bảo hộ thích hợp trong từng lĩnh vực khi tiếnhành HNKTQT
Phấn đấu đạt được những điều kiện hội nhập phù hợp với trình độ củanước ta là một nước đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi với những
ưu đãi cần thiết về mức độ và thời gian thực hiện cam kết mở cửa thị trường
Do vậy, trong quá trình đàm phán song phương và đa phương, chúng tacần nắm chắc các quy định đó và đưa ra những lập luận xác đáng để giànhnhững ưu đãi cao nhất có thể được, nhất là những lĩnh vực ưu tiên bảo hộ củanước ta, đặc biệt là tìm hiểu kinh nghiệm đàm phán và thực hiện các cam kết mởcửa và tự do hoá của các nước phát triển đi trước
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu
cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cường sứcmạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước,cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện mưu đồ diễnbiến hòa bình với đất nước ta
HNKTQT, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, nhất là các nướcphương Tây sẽ làm nảy sinh những vấn đề phức tạp về an ninh Để đối phóvới khả năng phức tạp đó điều quyết định là thực hiện nghiêm túc chiến lược
an ninh quốc gia, kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; phối hợp hoạtđộng quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại, trong đó có hoạt động hội
Trang 36nhập quốc tế Thực tiễn nước ta cho thấy, điều kiện cơ bản có tính quyết định
để đảm bảo an ninh quốc gia là phải đặc biệt chăm lo, xây dựng, củng cốniềm tin, sự ủng hộ và gắn bó của nhân dân với chế độ, với Đảng và Nhànước Mặt khác, quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự đan xen lợi ích giữanước ta với các nước tuy có mặt phức tạp nhưng chính sách đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là một yếu tố quan trọng góp phần bảo vệ anninh và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
Hội nghị Trung ương 8, khóa IX (7/2003) đã ra Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm đánh giá toàn diện, sâu sắc cục
diện thế giới, khu vực từ năm1991 đến năm 2003; chỉ ra một cách có hệ thốngnhững thành tựu, bài học kinh nghiệm về đối ngoại; đồng thời nêu ra nhữngphương hướng chủ yếu trong hoạt động đối ngoại trong những năm tới Hộinghị khẳng định một lẫn nữa:
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản củacách mạng và cũng là lợi ích căn bản của quốc gia”, “kiên định mụctiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môitrường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa làlợi ích cao nhất của Tổ quốc [32, tr.14, 16-17]
Hội nghị đã xác định cách nhìn biện chứng về đối tác, đối tượng Theo
đó, “trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác, có thể cómặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta” [32, tr.44], làm cơ sở cho việc mởrộng và phát triển các mối quan hệ vừa hợp tác vừa đấu tranh với các chủ thểtrong mối quan hệ quốc tế Đây là mốc hết sức quan trong nhận thức, địnhhướng cho quá trình HNKTQT của Đảng và Nhà nước ta trong những nămtiếp theo
Khẳng định quyết tâm của Đảng về HNKTQT, Hội nghị lần thứ chínBan Chấp hành Trung ương khoá IX (5/1/2004) đề ra một số chủ trương,
Trang 37chính sách, giải pháp lớn để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm (2001 - 2005) Về HNKTQT, Hội nghị nhấn mạnh trong hainăm tới, phải có bước đi mạnh mẽ hơn, với quyết tâm cao hơn về chủ độngHNKTQT, thực hiện có hiệu quả các cam kế và lộ trình HNKTQT, chuẩn bịtốt các điều kiện trong nước để sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO; khẩn trương xây dựng chiến lược tổng thể HNKTQT ở tất cả các cấp
độ, toàn cầu, khu vực và song phương Triển khai khẩn trương và đồng bộviệc chuẩn bị các điều kiện các mặt để giành thế chủ động trong hội nhập.Giảm dần theo lộ trình việc bảo hộ bằng thuế nhập khẩu; xây dựng hệthống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan phù hợp với thông lệ và cam kếtquốc tế Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của lợi ích cục bộ kìm hãmtiến trình hội nhập Chú trọng cung cấp kịp thời, đa dạng hoá các thông tin
về hội nhập và kinh tế thương mại, luật pháp quốc tế cho doanh nghiệp, các
cơ quan nhà nước và nhân dân Tăng tính chuyên nghiệp và ổn định, nângcao năng lực, phẩm chất và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ làm côngtác hội nhập ở các cấp, các ngành và lĩnh vực Củng cố, tăng quyền hạn cho
cơ quan, phối hợp, tập trung thống nhất và có hiệu quả mọi hoạt độngHNKTQT ở tầm quốc gia, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của mọilợi ích cục bộ kìm hãm tiến trình HNKTQT Chủ trương của Đảng là:
Thu hút mạnh hơn nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt làđầu tư của các công ty đa quốc gia, coi đó là biện pháp rất quantrọng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và thâm nhập thịtrường quốc tế xóa bỏ quy định không cho nước ngoài đầu tư vàonhững lĩnh vực ta có thể tự làm vì chủ trương trên thực tế chỉ đápứng yêu cầu của các doanh nghiệp trong nước muốn né tránh cạnhtranh, bất lợi cho nền kinh tế, cho người tiêu dùng và không phùhợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế [3, tr.107]
Trang 38*Chủ trương chủ động HNKTQT mà Đại hội IX của Đảng đề ra là hoàntoàn đúng đắn, vừa đáp ứng được yêu cầu xây dựng đất nước, vừa phù hợpvới xu thế chung của thời đại Để hội nhập có hiệu quả, một trong những vấn
đề quan trọng hàng đầu là phải tạo được sự nhận thức thống nhất trong toànĐảng, toàn dân, nhất là trong giới doanh nghiệp về chủ trương HNKTQT củaĐảng, về những cơ hội và thách thức của đất nước trong quá trình hội nhập
Từ đó phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, độngviên cao độ các nguồn lực trong nước là chính để tranh thủ tối đa và có hiệuquả các nguồn lực bên ngoài là vấn đề có tính nguyên tắc bảo đảm cho sựphát triển bền vững của đất nước Những khó khăn, thách thức đặt ra đối vớiViệt Nam trên con đường hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới là rất tolớn Nhưng toàn cầu hóa, khu vực hóa là xu thế khách quan, chúng ta khôngthể đứng ngoài mà ngược lại phải chủ động tham gia vào quá trình này Song,
để hội nhập có hiệu quả chúng ta cần quán triệt đầy đủ quan điểm, chủ trươngcủa Đảng về chủ động HNKTQT, coi đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đốivới tiến trình HNKTQT của nước ta hiện nay và trong tương lai Những kếtquả đạt được từ năm 2001 đến năm 2005 là cơ sở để Đại hội X của Đảng thựchiện chủ trương chủ động và tích cực HNKTQT
Trang 39sự liên kết, chưa đủ sức ngăn chặn thế lực hiếu chiến Tuy nhiên, hòa bình vàhợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn của thế giới, là đòi hỏi bức xúc của cácquốc gia, dân tộc
Chịu tác động của môi trường chính trị nói trên, kinh tế thế giới tiếp tụctình trạng trì trệ, phục hồi chậm Cách mạng khoa học - công nghệ và quátrình toàn cầu hóa tiếp tục phát triển mạnh mẽ; cạnh tranh ngày càng quyếtliệt Các nước phát triển ra tăng xu hướng bảo hộ mậu dịch, các nước đangphát triển đẩy mạnh đấu tranh để xây dựng trật tự công bằng hơn trongthương mại quốc tế Quan hệ tự do thương mại song phương giữa các nướctăng nhanh
Châu Á và khu vực Đông Nam Á vẫn tiếp tục phát triển năng động vềkinh tế, nhưng tiềm ẩn thêm những nhân tố gây mất ổn định Trong bối cảnh
Trang 40sự tranh giành ảnh hưởng về kinh tế, chính trị giữa các nước lớn ở khu vực có
xu hướng tăng lên, các nước ASEAN đang nỗ lực khắc phục những hậu quảcủa cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và bệnh dịch SARS, từng bước phụchồi phát triển kinh tế, củng cố sự liên kết, hợp tác trong nội bộ khối, mở rộngquan hệ với các đối tác bên ngoài…
Phân tích một cách khoa học bối cảnh quốc tế trong những năm đầucủa thế kỷ XXI, Đại hội X chỉ rõ: Trong những năm sắp tới, trên thế giới, hòabình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Kinh tế thế giới và khu vực tiếptục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường.Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng,gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển.Khoa học và công nghệ sẽ có những bước đột phá mới Bên cạnh đó, Đại hộicũng nhấn mạnh tính chất ngày càng phức tạp của an ninh chính trị thế giớivới những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôngiáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp vềlãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên diễn ra ở nhiều nơi Đồng thời, nhiều vấn
đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phải phối hợpgiải quyết như khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nướcnghèo ngày càng lớn; tình trạng môi trường tự nhiên bị hủy hoại, khí hậu diễnbiến ngày càng xấu, các bệnh dịch lây lan trên diện rộng Đối với khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, Đại hội Xmột mặt khẳng định sự tiếp tục gia tăng của xu thế hòa bình, hợp tác và pháttriển; mặt khác, nêu rõ sự tiềm ẩn của những nhân tố gây mất ổn định nhưtranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực, về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tàinguyên giữa các nước cùng với những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ởmột số nước
Ở trong nước, tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ổn định, uy tín và vịthế của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao Những kinh nghiệm tích