1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh nam định

130 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện Pháp Luật Về Giáo Dục Của Các Trường Đại Học, Cao Đẳng Ở Tỉnh Nam Định
Trường học Đại học Kỹ thuật Nam Định
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 749 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu hướng xây dựng nhà nước pháp quyền đòihỏi việc quản lý điều phối mọi hoạt động xã hội phải được thực hiện bằng hệthống pháp luật, các chính sách phát triển giáo dục ở Việt Nam trong t

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

1.1 Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về giáo dục của các

trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Nam Định 71.2 Vai trò của thực hiện pháp luật về giáo dục 34

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC CỦA

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH 402.1 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật giáo dục của

các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Nam Định 402.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường Đại

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC,

3.1 Những yêu cầu khách quan bảo đảm việc thực hiện pháp luật về

giáo dục theo quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước 823.2 Một số giải pháp bảo đảm việc thực hiện pháp luật về giáo dục

của các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Nam Định hiện nay 863.3 Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục của các

trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Nam Định hiện nay 98

PHỤ LỤC

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CB, GV, CNV : Cán bộ, giáo viên, công nhân viên

ĐHSPKTNĐ : Đại học Kỹ thuật Nam Định

Trang 2

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

HSSV : Học sinh, sinh viên

SVQĐ/GV : Sinh viên quy đổi/giảng viên

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng Nhà nước pháp quyền để quản lý xã hội bằng pháp luật làyêu cầu khách quan của một xã hội văn minh Bởi lẽ, pháp luật có vai trò đặcbiệt quan trọng trong đời sống Nó vừa là phương tiện không thể thiếu để đảmbảo cho sự tồn tại, phát triển của xã hội; vừa là công cụ để Nhà nước quản lýhiệu quả các lĩnh vực khác nhau

Trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng và lãnh đạo, hệ thống pháp luật của nước ta được tập trung xây dựng

và hoàn thiện từng bước để thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, đểtrở thành phương tiện, chuẩn mực quản lý xã hội Tuy nhiên không chỉ dừnglại ở việc ban hành một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh để quản lý xã hội bằngpháp luật là đủ mà còn phải làm sao cho pháp luật được thực thi có hiệu quảtrong cuộc sống Điều này chỉ có thể thực hiện tốt khi tất cả những quy địnhcủa pháp luật phải được thực hiện một cách đồng bộ, chính xác, và triệt để

Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc đào tạo ra những con ngườiphát triển toàn diện, những người lao động có trí thức, có khả năng thích ứngvới sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ Thành công của giáodục và sự phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,trong đó có hệ thống pháp luật Xu hướng xây dựng nhà nước pháp quyền đòihỏi việc quản lý điều phối mọi hoạt động xã hội phải được thực hiện bằng hệthống pháp luật, các chính sách phát triển giáo dục ở Việt Nam trong thờigian qua cũng đã từng bước được thể chế hóa bằng luật và các văn bản dướiluật của nhà nước

Cùng với các tỉnh, thành phố trên cả nước, tỉnh Nam Định đã ra sứcphấn đấu và đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Có thể nói, ở Nam Định công tác xã hội hóa giáo dục được quan tâm đặc biệt

Trang 4

Quy mô giáo dục phát triển không ngừng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầuhọc tập của nhân dân Trình độ dân trí được nâng lên rõ rệt, chất lượng vàhiệu quả giáo dục đã có những chuyển biến tích cực Đầu tư cho giáo dụcđược các cấp các ngành quan tâm ủng hộ Vì thế khả năng huy động vốntrong xã hội để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các nhà trường đượcthuận lợi hơn

Mười lăm năm liên tục, Nam Định dẫn đầu toàn quốc về giáo dục Kếtquả này đã khẳng định rằng Nam Định đã và đang nghiêm túc thực hiện cóhiệu quả các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về giáo dục, thực hiệnphương châm "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển" là quốc sáchhàng đầu Đồng thời cũng đã bộc lộ năng lực tổ chức, hoạt động và quản lýnhà nước về giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, vấn đề thực hiện pháp luật vềgiáo dục ở tỉnh Nam Định vẫn còn những hạn chế trong quá trình tổ chức thựchiện bởi những yếu tố khách quan và chủ quan

Từ những phân tích ở trên, chúng ta thấy vai trò của việc thực hiệnpháp luật trong lĩnh vực giáo dục không chỉ quan trọng trong việc thực thipháp luật chung mà còn thực hiện một trọng trách to lớn hơn là phải tổ chứcgiáo dục, tuyên truyền pháp luật cho thế hệ trẻ và đưa pháp luật vào cuộcsống Với nhận thức sâu sắc đó, và mong muốn khẳng định những ảnh hưởngcủa việc thực hiện pháp luật đến chất lượng quản lý giáo dục và đào tạo, tác

giả nhận đề tài luận văn thạc sĩ Luật học “Thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề thực hiện pháp luật đang là mộttrong những nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội và mọi công dân Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu vềthực hiện pháp luật trên các lĩnh vực khác nhau Các công trình nghiên cứu

Trang 5

này đã được thể hiện trong nhiều công trình khoa học được công bố trên cácsách, báo, tạp chí chuyên ngành và các luận án tiến sĩ, thạc sĩ, một số giáotrình giảng dạy về môn pháp luật, phần lớn đã tập trung làm rõ những vấn đề

lý luận và pháp lý có liên quan Thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực đã

có những công trình nghiên cứu như:

- “Thực hiện pháp luật về du lịch ở thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa”,

Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh, 2008

- “Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa”,

Luận văn thạc sĩ Luật học Đỗ Thành Nam, Học viện Chính trị Quốc gia HồChí Minh, 2008

Riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đã có rất nhiều công trìnhkhoa học nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau như:

- “Khái niệm giáo dục và vai trò quan trọng của giáo dục qua các thời

kỳ lịch sử ” của Nguyễn Đăng Tiến, Tạp chí Giáo dục, số 36, tháng 8 - 2002

- “Nỗ lực phấn đấu toàn diện làm cho giáo dục thực sự là quốc sáchhàng đầu ” của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Giáo dục, số 38, tháng 9 - 2002

- “Tổ chức thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 ” của

Tiến sĩ Phạm Văn Kha, Tạp chí Giáo dục, số 53, tháng 3 - 2003

- “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục - chính sách và các mô

hình ” của PGS.TS.Trần Khánh Đức, Tạp chí Giáo dục số 67, tháng 9 - 2003.

- “Một số vấn đề về hoàn thiện Luật Giáo dục ” của PGS.TS Chu

Hồng Thanh, Tạp chí Quản lý nhà nước, số tháng 11 - 2004

- “Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay ” của Lê Thị

Kim Dung, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh, 2004

Các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào các vấn đề

Trang 6

về: chính sách hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo; chính sách nâng caochất lượng và hiệu quả đào tạo; nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xác địnhphương hướng và nội dung hoàn thiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở ViệtNam, Việc nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục của cáctrường đại học, cao đẳng trên địa bàn một tỉnh cụ thể là tỉnh Nam Định, hiệnnay chưa có một công trình nào đề cập đến Vì vậy tác giả mạnh dạn nghiêncứu vấn đề này Các công trình khoa học trên là nguồn tư liệu quan trọng đểtác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề thực hiện pháp luật về giáodục của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Nam Định - một tỉnhthuộc đồng bằng nam Sông Hồng

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về giáo với

tư cách là phương tiện để đưa pháp luật về giáo dục vào cuộc sống thực tiễn,

là biện pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đề

ra, góp phần phòng ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật về giáo dục của cáctrường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đàotạo ở tỉnh Nam Định, luận văn tập trung nghiên cứu: những thuận lợi, khókhăn, kết quả đạt được và nguyên nhân của nó từ thực trạng của việc thựchiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định

- Trên cơ sở thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục của các trườngđại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định, cùng với những quan điểm chỉ đạo củaĐảng và Nhà nước, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng caohiệu quả thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở

Trang 7

tỉnh Nam Định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thực hiện pháp luật về giáo dục của các trườngđại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ việc thực hiệnpháp luật về giáo dục với các nội dung: tổ chức, hoạt động và quản lý nhànước về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định

- Về thời gian: Luận văn phân tích, đánh giá khái quát thực trạng việc

thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh NamĐịnh từ khi Nhà nước ban hành Luật Giáo dục (năm 2005)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; cácquan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về thực hiệnpháp luật về giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu chung của luận văn là phép duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương phápnhư: lôgíc, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phỏng vấn sâu, điều trakhảo sát (trong luận văn này tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra khảo sátvới 300 phiếu hỏi đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàntỉnh và phương pháp phỏng vấn đối với 10 cán bộ quản lý, chuyên gia giáodục)

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Trang 8

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tươngđối toàn diện và có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học về vấn đề thựchiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định.

Luận văn có những đóng góp mới, cụ thể như sau:

- Về lý luận: Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan

đến hoạt động thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, caođẳng trên địa bàn một tỉnh

- Về thực tiễn: Đánh giá khách quan thực trạng thực hiện pháp luật về

giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định với 2 nội dung: tổchức, hoạt động và quản lý nhà nước về giáo dục Đề xuất các giải pháp nhằmbảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, cao đẳng ởtỉnh Nam Định

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một sốvấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về giáo dục của các trường đại học, caođẳng trên địa bàn một tỉnh

- Khẳng định, vai trò và ý nghĩa của thực hiện pháp luật về giáo dụccủa các trường đại học, cao đẳng trong việc phòng ngừa và giảm thiểu các viphạm pháp luật, để phát triển sự nghiệp giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo để Sở Giáo dục và Đào tạocủa tỉnh nghiên cứu và chỉ đạo các hoạt động về giáo dục và đào tạo trongphạm vi tỉnh Nam Định

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 9

1.1.1 Khái niệm pháp luật về giáo dục

a) Khái niệm giáo dục

Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục có vai trò đặc biệt quan

trọng, là "quốc sách hàng đầu" nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài Phát triển giáo dục là biện pháp tốt nhất để phát huy và làmtrường tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc và làm phong phú thêmnhững tinh hoa văn hóa của nhân loại Trước những thách thức của tương lai,đặc biệt của sự toàn cầu hóa, giáo dục là trung tâm sự phát triển của conngười và của cộng đồng, giáo dục giống như một con át chủ bài cần thiết đểnhân loại tiến lên đi tìm một xã hội tốt đẹp hơn, công bằng hơn

Hiện nay đang có nhiều khái niệm khác nhau về giáo dục Về cơ bản,các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày: (1) Giáo dục là hiệntượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinhnghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, ” [54], định nghĩa trênnhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu

tố dạy học nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xa hơn mục đích cuốicùng của việc đó Jonh Deway cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ôngnói rõ hơn mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, dạy dỗ Theo ông, cá nhâncon người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết, và cùng với nónhững kiến thức và kinh nghiệm cũng sẽ mất đi Tuy nhiên tồn tại xã hội đòihỏi những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sựkhống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội (2) Giáo dục

là "khả năng" của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội

Trang 10

Cả hai cách định nghĩa về giáo dục như trên đều chú trọng đến khíacạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn.

Từ “Giáo dục” trong tiếng Anh có nghĩa là “education” Đây là một từgốc la tinh ghép bởi hai từ: “Ex” và “Ducere” “Ex” và “Ducere” có nghĩa làdẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ mà vươn tớinhững gì thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn

Trong định nghĩa này, sự hoàn thiện của mỗi cá nhân mới là mục tiêusâu xa của giáo dục, người giáo dục (thế hệ trước) có nghĩa vụ phải hướngdẫn, phải truyền lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể

Theo Đại từ điển tiếng Việt (1998) của trung tâm ngôn ngữ và văn hóaViệt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Giáo dục là tác động có hệ thốngđến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có đượcnhững phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra" [6, tr.734]

Cố giáo sư Hà Thế Ngữ nêu ra định nghĩa về giáo dục như sau:

"Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằmchuẩn cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất,bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử -

xã hội của loài người" [51, tr.32]

Nhận thức về giáo dục có nhiều cách phân tích khác nhau Tuy nhiên,trên cơ sở tập hợp, phân tích các quan điểm về giáo dục, trong luận văn này

“Giáo dục” được hiểu như sau: "Giáo dục là quá trình truyền thụ và lĩnh hộinhững tri thức cần thiết, kinh nghiệm - lịch sử, kỹ năng nghề nghiệp nhất định

để con người tham gia vào đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất"

Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh" ở nước ta, tư tưởng về giáo dục của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục luôn có ý nghĩa lý

Trang 11

luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

+ Tư tưởng của Bác về giáo dục:

Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân vănhóa thế giới, đồng thời cũng là nhà giáo Suốt đời, Bác nêu tấm gương sángngời về người thầy được toàn dân tộc và cả loài người tiến bộ noi theo Lúcsinh thời, Người rất quan tâm đến giáo dục, Bác chỉ ra rằng: "Muốn giữ vữngnền độc lập, muốn cho dân mạnh nước giàu mọi người Việt Nam phải hiểubiết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thểtham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà mà trước hết phải biết đọc, biếtviết chữ quốc ngữ" [41, tr.36]

Người cũng chỉ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dụcvới cách mạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đấtnước, giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu trong chiến lược con người

Theo Người, Chiến lược giáo dục là hạt nhân trong chiến lược conngười, cung cấp tri thức mới, đào tạo nên nhân tài cho đất nước Trong thưgửi cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủcộng hòa, tháng 9 năm 1945, Bác viết: "Non sông Việt Nam có trở nên tươiđẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai vớicác cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở cônghọc tập của các cháu"

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn tỏa sáng tính cách mạng, tínhnhân dân và tính dân tộc sâu sắc, được thể hiện qua câu nói bất hủ của Người:

"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười" Bác luôn đánh giá cao vai trò của các cô giáo, thầy giáo đối với xãhội Người cho rằng họ là những người "vẻ vang" nhất, là "anh hùng vôdanh" Muốn được như vậy, các cô giáo, thầy giáo, trước hết phải trau dồi đạođức cách mạng, không ngừng rèn luyện chuyên môn, phải là tấm gương trongsáng để học sinh noi theo, phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm,

Trang 12

Lời dạy của Bác đã đi sâu vào lòng dân, đã trở thành chân lý của thờiđại, là động lực thúc đẩy mãnh mẽ cho hàng triệu thầy, cô giáo và học sinh thiđua dạy tốt, học tốt và là tư tưởng chỉ đạo cho toàn Đảng, toàn dân phải hếtsức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ Tư tưởng Hồ ChíMinh về phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáodục - đào tạo con người luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam Tưtưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo conngười, chủ trương đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam củaĐảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinhnghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối vớingười làm công tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói chung.

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Giáo dục đã ghi: "Nền giáo dục Việt Nam lànền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiệnđại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh làm nền tảng"[ 46].Như vậy, nền giáo dục nước ta phải là một nền giáo dục hoàn toàn ViệtNam Nền giáo dục nước ta được hình thành và phát triển từ trong lòngcách mạng, cho đến ngày nay, hệ thống giáo dục quốc dân của ta đã pháttriển và có đầy đủ các bậc học từ giáo dục mầm non đến giáo dục sau đạihọc Ở tất cả các nhà trường đều sử dụng chữ quốc ngữ để giảng dạy vàhọc tập Nhà trường đã coi trọng việc dạy và học quốc văn, quốc sử cùngvới các môn khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật hiện đại Đó chính là

"một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam"

Tại Điều 2 Luật Giáo dục cũng khẳng định: "Mục tiêu giáo dục là đàotạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực củacông dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [46] Vậy nên, mục

Trang 13

đích cao nhất của giáo dục là "đào tạo các em thành những người công dânhữu ích cho nước Việt Nam" Muốn vậy phải giáo dục các em trở thànhnhững con người, có tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Tư tưởng của Đảng ta về giáo dục:

Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta hết sức quan tâm đến giáo dục,coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệpcông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủtrương, chính sách và biện pháp phát triển nền giáo dục của dân, do dân, vìdân Từ quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra Nghị quyết số 14/NQ

- TƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: xem giáo dục là bộ phận quan trọng củacuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từnhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành,giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Tư tưởngchỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tếqua các Đại hội VI, VII, VIII và IX của Đảng Cộng sản Việt Nam

Sự nghiệp giáo dục và lý luận chính trị được Đại hội Đảng toàn quốclần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con ngườiphát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ Đại hội X của Đảng đã xác định mụctiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dântộc, lý tưởng chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinhthần hiếu học, ý chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạolớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ năng lực nghề nghiệp, nhạycảm với chính trị có ý chí vươn lên về khoa học - công nghệ Để cụ thể hóachủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo phát triển giáo dục một cáchtổng thể và toàn diện, bắt đầu từ phát triển giáo dục mầm non, thực hiện xóa

mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước,tạo môi trường thuận lợi để cho mọi người học tập và học tập suốt đời Điều

Trang 14

hành hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thốnggiáo dục và đào tạo, quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, hướngvào mục tiêu phát triển kinh tế, thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với pháttriển kinh tế xã hội.

Những nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời gian qua

đã đánh dấu một mốc son mới trong công cuộc chấn hưng giáo dục nước nhà,góp phần giữ vững mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa Nước ta đạt chuẩnquốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học

cơ sở trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên Hoàn thiệnthêm một bước hệ thống giáo dục quốc dân, mở rộng mạng lưới trường họcđến hầu hết các thôn bản, hiện có hơn 24 triệu người đi học, góp phần giữvững sự ổn định chính trị xã hội của đất nước Quy mô và cơ sở vật chất giáodục được phát triển Hệ thống các trường dân tộc nội trú tỉnh, huyện đượccủng cố và mở rộng Mạng lưới các trường đại học, cao đảng, các trườngchuyên nghiệp đang từng bước được tổ chức sắp xếp lại Hệ thống các trườngnghề đang phát triển, đội ngũ trí thức, nhân tài của đất nước ngày càng nhiều

Hiện nay, cả nước vẫn đang tích cực thực hiện quan điểm, đường lối củaĐảng về xây dựng xã hội học tập, thực hiện "giáo dục cho mọi người" Vấn đềphát triển giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm Về nội dung giáo dục, ngoàiviệc coi trọng giáo dục kiến thức còn chú ý nhiều đến giáo dục nhân cách chohọc sinh, sinh viên, nhất là giáo dục về đạo đức cách mạng, về truyền thống dântộc, về những nét đẹp văn hóa, ý thức quý trọng người lao động, ý thức phục vụnhân dân, coi đó là lý tưởng của cuộc đời, ý nghĩa của cuộc sống

"Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu" nghĩa là nói đến một chínhsách có liên quan đến tất cả mọi người, mọi vùng miền của đất nước, và phải

đi trước một bước so với các chính sách khác Chính sách giáo dục của Đảng

và Nhà nước có vai trò quan trọng, đó là chính sách có ý nghĩa quyết định

Trang 15

trong việc đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành mộtnước "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng , dân chủ, văn minh" Từ thực

tế thực hiện chính sách này cho thấy, muốn giáo dục thực sự là quốc sáchhàng đầu thì phải đầu tư mạnh mẽ trên cả bốn mặt: đầu tư tài chính, đầu tưcán bộ, chính sách ưu tiên và tổ chức quản lý

Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổngquát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 là:

Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán từ mục tiêu,chương trình, nội dung, phương pháp, đến cơ cấu và hệ thống tổchức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diệncủa nề giáo dục nước nhà, tiếp cận với nền giáo của khu vực và thế

gi, khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu

kế hoạch đồng bộ [25]

Quan điểm "phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu"của Đảng vàNhà nước đối với giáo dục được thể hiện nhất quán trong các chủ trương,chính sách, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục

vụ yêu cầu về quyền được học tập của nhân dân

Chủ trương phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xãhội hóa của Đảng đã được thể chế hóa khá cụ thể trong Luật Giáo dục 2005.Những quy định trong luật này cùng quy định về quản lý, về đầu tư, về nhà giáo,

về người học, đã thể hiện một quyết tâm mới, một tư duy mới của toàn ngànhgiáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung, đồng thời cũng tạo cơ sở pháp

lý quan trọng cho việc đổi mới giáo dục mạnh mẽ hơn trong thời gian tới

b) Khái niệm pháp luật Giáo dục

+ Sự ra đời của Luật Giáo dục

Vấn đề giáo dục nói chung, pháp luật về giáo dục nói riêng được Đảng

và Nhà nước xác định ở vị trí hết sức đặc biệt, không những là những tư

Trang 16

tưởng chính sách có tính chiến lược phát triển giáo dục nhằm phục vụ sự pháttriển của đất nước mà còn là hệ thống quy phạm pháp luật nhằm quản lý vàđiều chỉnh mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội.

Một nền giáo dục duy trì sự tiến bộ của nó cho nhiều thời đại chính trị,hay nhiều thời đại khoa học khi và chỉ khi một hệ thống pháp luật độc lậptương đối và ổn định trước những biến động của xã hội

Hệ thống pháp luật về giáo dục đang được tiếp tục xây dựng, hoànchỉnh theo hướng ưu tiên, tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục phát triển.Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa được chỉ ra tại Đại hội Đảng IX, Hội nghị Trungương 2 (khóaVIII), Hội nghị TW6 và Hội nghị TW9 khóa IX, hệ thống phápluật định hướng phát triển giáo dục đã được xây dựng đồng bộ từ chiến lượcphát triển, quy hoạch, kế hoạch đến cơ chế chính sách, trong đó đặc biệt chú ýđến các chính sách đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục, ưu tiên pháttriển giáo dục vùng dân tộc và các vùng khó khăn, triển khai thực hiện phổcập giáo dục trung học cơ sở, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nângcao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp giữa nhà trường, giađình và xã hội, thực hiện cải cách hành chính trong giáo dục Để quản lý hoạtđộng giáo dục, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm phápluật, không ngừng thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng về giáo dục

Đến nay, đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đượcban hành dưới dạng các Luật, Sắc lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định,Chỉ thị, Tháng 12 năm 1998, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Giáo dục(1998) Đây là nền tảng pháp lý của sự nghiệp giáo dục đào tạo Là luậtchuyên ngành về giáo dục đầu tiên của nước ta, nhằm điều chỉnh các hoạtđộng giáo dục đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân Luật Giáo dục banhành được dư luận đánh giá là bước ngoặt lớn trong quá trình hoàn thiện pháp

Trang 17

luật Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998, qua 5 nămthực hiện đã tạo cơ sở pháp lý để sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển, hệthống giáo dục quốc dân được đổi mới và tiếp tục kiện toàn, trình độ dân trí

và chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao Tuy nhiên, trong quá trình pháttriển giáo dục để giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra, đòi hỏiphải có thêm một số quy định mới, đồng thời cần sửa đổi bổ sung một số quyđịnh đã có nhằm tăng cường cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáodục phát triển mạnh mẽ hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

và phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước Ngày14/6/2005, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Giáo dục 2005thay thế Luật Giáo dục 1998 nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đấtnước trong thời kỳ hội nhập và phát triển

Gần đây nhất, Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã

ra Nghị quyết số 05 - NQ/BCSĐ ngày 06 tháng 01 năm 2010 về đổi mới quản

lý giáo dục đại học trong giai đoạn 2010 - 2012 và Chính phủ đã ban hànhChỉ thị số 296/CT - TTg ngày 27 tháng 2 năm 2010 về đổi mới quản lý giáodục đại học trong giai đoạn 2010 - 2012, Hệ thống các văn bản pháp luậtnói trên đã góp phần xây dựng các chế định đảm bảo thực hiện mục đích vàmục tiêu giáo dục, đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêucầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

+ Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về pháp Luật Giáo dục

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương "quản lý đất nước bằngpháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý", quản lý bằng pháp luật đòi hỏi phảiquan tâm xây dựng pháp luật, từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp

Trang 18

luật, đồng thời coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là mộttrong những nhiệm vụ thể hiện và kiểm chứng năng lực quản lý, điều hành bộmáy Nhà nước Xuất phát từ chủ trương đổi mới trên Đảng đã có nhiều quanđiểm thể hiện tư duy pháp lý mới về hệ thống pháp luật trong điều kiện xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Pháp luật với tư cách là một công cụ cực kỳ quan trọng trong tay nhànước để điều chỉnh các quan hệ xã hội, quản lý đất nước So với các phươngtiện khác như: đạo đức, giáo lý, hành chính, pháp luật vẫn có ưu thế hơn cả

về tính toàn diện, tính phổ quát, tính quy phạm

Pháp luật là công cụ cho sự phát triển xã hội của nhà nước pháp quyền.Khi nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân thì pháp luật ấy phải làcủa nhân dân và vì nhân dân Nhà nước pháp quyền là nhà nước vị pháp luật,một nhà nước quản lí xó hội bằng phỏp luật Nước ta đang trong quá trỡnhxõy dựng và hoàn chỉnh một nhà nước như vậy Pháp luật chính là cơ sơ đểxây dựng một "xã hội công dân" và trở thành giá trị không thể thiếu trong mộtnhà nước pháp quyền

Một xã hội văn minh là một xã hội sống và làm việc theo pháp luật Nóicách khác là tất cả mọi mặt của đời sống xã hội phải tuân theo pháp luật.Không có pháp luật thì mọi quan hệ xã hội không được điều chỉnh bằng ý chíthống nhất, xã hội không có trật tự kỷ cương, mọi quan hệ xã hội sẽ không tựthân nó đi vào cuộc sống xã hội được Trong những năm qua, Nhà nước ta đãban hành pháp luật để thể chế đường lối của Đảng trong đó có pháp luật vềgiáo dục đã góp phần tạo khuôn khổ pháp lý cho công cuộc đổi mới

Phù hợp với hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, quản lý điều phốimọi hoạt động xã hội bằng hệ thống pháp luật, các chính sách phát triển giáodục ở Việt Nam trong thời gian qua cũng đã được thể chế từng bước bằng luật

và các văn bản dưới luật của nhà nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

Trang 19

lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:

Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủcủa nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợpgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật [23]

Từ cuối năm 1986 đến nay, vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật là mốiquan tâm lớn, thường xuyên và là một trong những chủ trương quan trọng củaĐảng và Nhà nước, được ghi nhận trong hầu hết các văn kiện của Đảng, đặcbiệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa 7), Nghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (Khóa VIII), Nghịquyết Đại hội IX và Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 Trải quahơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật,góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng

về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) vànhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Quốc hội đang nỗ lực thực hiện chương trình xây dựng pháp luật Cácluật và pháp lệnh được ban hành đã tạo môi trường pháp lý, tăng cường kỷcương, làm cho xã hội ngày càng phát triển và ổn định Trong thời gian qua,cùng với sự chuyển biến của đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam, giáo dụcnói chung và pháp luật về giáo dục nói riêng cũng đã diễn ra những chuyểnbiến sâu sắc Pháp luật về giáo dục đã có những những tác động tốt, tích cựcđến quá trình phát triển xã hội kinh tế và đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục

Như vậy, khái niệm pháp luật về giáo dục có thể khái quát như sau:

Pháp luật về giáo dục là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giáo dục, nhằm bảo đảm phát triển vững chắc sự nghiệp

Trang 20

giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức, nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục

1.1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về giáo dục

a) Khái niệm thực hiện pháp luật

Nhà nước muốn tổ chức, quản lý, điều hành xã hội, phải tiến hành xâydựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật Hoạt động xây dựng pháp luậtđược đánh giá là hoạt động quan trọng sống còn đối với mỗi quốc gia, ảnhhưởng lớn tới sự ổn định và phát triển đất nước, vừa mang tính chất chính trị,vừa mang tính chất kỹ thuật, được tiến hành theo những trình tự, thủ tục phứctạp Nhưng vấn đề không phải ban hành nhiều luật, mà quan trọng là thựchiện chúng Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười trong thư gửi cán bộ, nhân viênngành Tư pháp nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập ngành đã nhấn mạnh:

"Có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ cũng mới chỉ là có mộtyếu tố cần của Nhà nước pháp quyền, nhưng chưa đủ Nhà nước pháp quyềnViệt Nam của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi pháp luật phải được thi hành mộtcách nghiêm chỉnh, thống nhất và công bằng, theo nguyên tắc mọi người đềubình đẳng trước pháp luật"

Như vậy, hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có mốiquan hệ chặt chẽ Xây dựng pháp luật là nội dung của pháp luật, tạo ra hệthống các quy tắc, khuôn mẫu hành vi Thực hiện pháp luật là hình thức biểuhiện quá trình áp dụng các khuôn mẫu đó vào đời sống xã hội Thực hiệnpháp luật, một mặt là đảm bảo thực hiện mục đích xã hội, vì chúng mà nhànước ban hành pháp luật Mặt khác, thông qua quá trình thực hiện pháp luật

có thể kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, phù hợp và những hạn chế khiếmkhuyết của pháp luật Qua đó, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 21

xây dựng các giải pháp để bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện hệ thống pháp luật.Thực chất, hoạt động thực hiện pháp luật chính là bước tiếp theo sau khi vănbản luật được ban hành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc

xử xự của các chủ thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bảnpháp luật trở thành hiện thực

Qua việc nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy có một số quanđiểm khác nhau về khái niệm thực hiện pháp luật:

Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận chung về Nhà nước vàpháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị - Hành Chính

Quốc gia Hồ Chí Minh, thực hiện pháp luật được hiểu là "quá trình hoạt động

có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật"

[37]

Theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc khoa Luật - Đại học QuốcGia Hà Nội: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làmcho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vithực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [28]

Còn quan điểm của các nhà khoa học - trường Đại học Luật Hà Nội:

"Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho nhữngquy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợppháp của các chủ thể pháp luật" [27] Như vậy, các định nghĩa về thực hiệnpháp luật được trình bày ở trên chúng ta thấy:

- Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện nhữngyêu cầu của pháp luật

- Thực hiện pháp luật là các hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủthể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trongcuộc sống

Trang 22

- Thực hiện pháp luật là một quá trình của các chủ thể tham gia quan hệpháp luật.

b) Khái niệm thực hiện pháp luật về giáo dục

Từ định nghĩa trên có thể hiểu khái niệm thực hiện pháp luật về giáo dục:

Thực hiện pháp luật về giáo dục là một quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật về giáo dục nhằm làm cho các quy định của pháp luật

về giáo dục trở thành hoạt động thực tế, hợp pháp và được thực hiện trong đời sống thực tế.

Trong luận văn này, tác giả đề cập đến việc thực hiện pháp luật về giáodục của các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Nam Định, vì vậy việc thực hiệnpháp luật về giáo dục được giới hạn bởi phạm vi là các trường đại học, caođẳng trên địa bàn tỉnh Nam Định

1.1.2.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về giáo dục

Bên cạnh những đặc điểm của thực hiện pháp luật nói chung, thực hiệnpháp luật về giáo dục còn có những đặc điểm mang tính chất đặc thù Nhữngđặc điểm riêng của thực hiện pháp luật về giáo dục được quy định bởi vị trí,vai rò của nó trong đời sống xã hội

- Thực hiện pháp luật về giáo dục vừa mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính xã hội rộng lớn.

Thực hiện pháp luật về giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích của

các chủ thể pháp luật về giáo dục nhằm làm cho các quy định của pháp luật vềgiáo dục được thực hiện trong đời sống thực tế Những quy phạm pháp luật vềgiáo dục là hệ thống những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành vàbảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giáodục

Quy phạm pháp luật về giáo dục chính là hệ thống các quy phạm do cơquan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về nội dung chương trình,

Trang 23

cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, quản lý Nhà nước, địa vị pháp lý củacác chủ thể, trong lĩnh vực giáo dục Vì vậy, những quy phạm này có tínhbắt buộc chung đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội khi tham gia quan

hệ pháp Luật Giáo dục, bảo đảm tính quyền lực của Nhà nước được thực thi

trong đời sống thực tiễn

Mặt khác, giáo dục là lĩnh vực nhạy cảm của xã hội, luôn có tác độnglớn đến đời sống chính trị, xã hội của đất nước Vì lẽ đó, để thực hiện phápluật về giáo dục có hiệu quả cần phát huy sức mạnh tối đa của các chủ thể,các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội Đó chính là tính xã hội rộng lớn của thựchiện pháp luật về giáo dục

- Thực hiện pháp luật về giáo dục có phạm vi rộng lớn, chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục đa dạng phong phú.

Khi xem xét mức độ phát triển của một quốc gia người ta căn cứ vàotình trạng học vấn và vốn trí tuệ của nhân dân, vốn trí tuệ của một dân tộc làtài nguyên lớn nhất, quan trọng nhất Từ năm 1945 đến nay, Đảng và Nhànước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp phát triển giáo dụccủa dân, do dân, vì dân Hệ thống mạng lưới nhà trường đã phủ khắp toànquốc, để thực hiện mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độtuổi, phổ cập trung học cơ sở, phổ cập giáo dục trung học phổ thông, Hiệnnay, cả nước vẫn đang tích cực thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, xâydựng xã hội học tập, thực hiện "giáo dục cho mọi người" Vấn đề phát triểngiáo dục đang được toàn xã hội quan tâm

Trong xã hội, mọi tổ chức và cá nhân đều quan tâm đến giáo dục vàchịu tác động của pháp luật về giáo dục Mặt khác, những quy định của phápluật về giáo dục đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của công dân, vì thế phápluật về giáo dục được các chủ thể tự giác thực hiện Bên cạnh đó là sự chủđộng tích cực của các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành vì

Trang 24

sự phát triển của giáo dục Điều đó chứng tỏ phạm vi của việc thực hiện phápluật về giáo dục là rất lớn, nó tác động đến mọi thành viên trong xã hội từ cánhân đến tổ chức, từ thành thị đến nông thôn, các vùng miền trên đất nước

- Thực hiện pháp luật về giáo dục là biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm và tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực giáo dục.

Pháp chế xã hội trong lĩnh vực giáo dục là bộ phận của pháp chế xã hộichủ nghĩa Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị

- xã hội, trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,cán bộ công chức nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi côngdân đều phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh triệt để và chính xác Vìvậy, để bảo đảm và tăng cường pháp chể XHCN trong lĩnh vực giáo dục đòihỏi phải xây dựng được hệ thống pháp luật về giáo dục một cách toàn diện,mặt khác việc tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục,của các đơn vị, cơ sở giáo dục phải thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để, đầy đủ

1.1.2.3 Hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục

Thực hiện pháp luật về giáo dục là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực

cụ thể của đời sống xã hội Hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục cũngđược tiến hành dựa trên bốn hình thức của thực hiện pháp luật nói chung đó là:

Trang 25

tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng phápluật.

a) Tuân thủ pháp luật về giáo dục

Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủthể pháp luật tự kiềm chế mình, không tiến hành những hoạt động mà phápluật cấm Theo đó, tuân thủ pháp luật về giáo dục là hình thức thực hiện phápluật về giáo dục trong đó các chủ thể pháp Luật Giáo dục tự kiềm chế mình,không tiến hành những hoạt động mà pháp Luật Giáo dục cấm Sự tự kiềmchế ở đây được hiểu là các chủ thể là đối tượng tác động của Luật Giáo dụcthì phải tự ghép mình vào tổ chức, vào khuôn mẫu, những quy định mà LuậtGiáo dục cho phép làm

Ví dụ, điều 75 Luật Giáo dục 2005 quy định các hành vi mà nhà giáokhông được làm như: "Xúc phạm danh dự nhân phẩm, xâm phạm thân thểngười học; gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập,rèn luyện của người học; xuyên tạc nội dung giáo dục; ép buộc học sinh họcthêm để thu tiền"

Đây là những quy định cấm một người là "nhà giáo" làm, bởi đó là nhữngquy định để đảm bảo giữ đạo đức, truyền thống tốt đẹp của nhà giáo Nếu cố tìnhlàm những điều mà pháp luật cấm, thì đây sẽ là căn cứ để xử lý kỷ luật

Hoặc đối với người học, điều 88 Luật Giáo dục 2005 cũng quy định cụthể những hành vi mà người học không được làm: "xúc phạm nhân phẩm,danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, nhân viên của cơ sở giáo dục

và người học khác; gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử tuyển sinh; hútthuốc, uống rượu, bia trong giờ học; gây rối an ninh trật tự trong cơ sở giáodục và nơi công cộng" Như vậy, nhà giáo và người học phải có trách nhiệmtuân thủ quy định về những hành vi "không được làm" nêu trên là đã tuân thủpháp luật về giáo dục

b) Chấp hành pháp luật về giáo dục

Trang 26

Chấp hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó cácchủ thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình với một thái độ tíchcực Theo đó, chấp hành pháp luật về giáo dục là việc các chủ thể pháp LuậtGiáo dục tuỳ theo chức vụ, thẩm quyền thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lýcủa mình một cách tích cực Pháp luật về giáo dục đặt ra cho các chủ thể liênquan những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, yêu cầu phải có nghĩa vụthực hiện và chấp hành tự giác

Ví dụ, Điều 72 Luật Giáo dục 2005 quy định về nhiệm vụ của nhà giáolà: "Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ

và có chất lượng chương trình giáo dục; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ côngdân, các quy định pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn phẩm chất, uy tín,danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ các quyền,lợi ích chính đáng của người học; không ngừng học tập nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ, trình độ chính trị, đổi mới phương pháp giảng dạy,rèn luyện phẩm chất đạo đức, nêu gương tốt cho người học noi theo"

Đối với người học, tại điều 85 Luật Giáo dục 2005 quy định những nhiệm

vụ mà người học phải thực hiện đó là: thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyệntheo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; tôntrọng nha giáo, cán bộ nhân viên của nhà trường, cơ sở giáo dục khác, đoàn kếtgiúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện, thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường,chấp hành pháp luật của Nhà nước; tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạtđộng bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe và năng lực; giữ gìn, bảo

vệ tài sản của nhà trường, các cơ sở giáo dục khác; góp phần xây dựng, bảo vệ

và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ sở giáo dục khác

Việc thực hiện một cách tích cực những nhiệm vụ mà Luật Giáo dục đãquy định đối với nhà giáo và người học chính là đã chấp hành tốt pháp luật về

Trang 27

giáo dục.

c) Sử dụng pháp luật về giáo dục

Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủthể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Tuynhiên khi thực hiện các quyền đó, các chủ thể phải tuân thủ đúng các quy địnhcủa pháp luật Theo đó, sử dụng pháp luật về giáo dục là hình thức mà trong

đó các chủ thể pháp luật về giáo dục thực hiện quyền chủ thể của mình (thựchiện hành vi mà Luật Giáo dục cho phép) Ở hình thức này chủ thể có quyềnthực hiện hoặc không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép theo ý chí củamình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện

Ví dụ, khoản 3 điều 73 Luật Giáo dục 2005 quy định về quyền của nhàgiáo: "được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ

sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thựchiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác" Nghĩa là khi nhà giáo bảo đảm thựchiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác có thể tham gia hoặc không tham giahợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dụckhác

Tại khoản 7 Điều 86, Luật Giáo dục 2005 quy định về quyền của ngườihọc: "được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các

cơ quan nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt" Như vậy, khingười học tốt nghiệp loại giỏi, có đạo đức tốt sẽ được hưởng chính sách ưutiên trong tuyển dụng vào cơ quan nhà nước, tuy nhiên họ cũng có quyền từchối sự ưu tiên đó

d) Áp dụng pháp luật về giáo dục

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước,thông qua các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể

Trang 28

thực hiện các quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy địnhcủa pháp luật để ra các quyết định nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứtmột quan hệ pháp luật cụ thể Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện phápluật đặc thù vì có thể làm cho pháp luật được thực hiện triệt để trong đời sốngthực tế, thông qua sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Theo đó, áp dụng pháp luật về giáo dục là hình thức thực hiện pháp luật trong

đó Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc người có thẩm quyền tổ chức chocác chủ thể pháp luật thực hiện những quy định làm phát sinh, thay đổi hoặcchấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

Ví dụ, điều 114 Luật Giáo dục 2005 quy định về việc phong tặng Nhàgiáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú như sau: " Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục,cán bộ nghiên cứu giáo dục có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật thìđược Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú".Như vậy, khi nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục

có đầy đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật không thể tự mình phongtặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú cho chính bản thân mình

mà Nhà nước (cơ quan có thẩm quyền) phải có trách nhiệm phong tặng danhhiệu cho họ theo quy định của pháp luật

Tóm lại, thực hiên hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật vềgiáo dục nói riêng được thực hiện thông qua bốn hình thức đó là: tuân thủpháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Tuynhiên, hình thức áp dụng pháp luật có sự khác biệt so với các hình thức tuânthủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật Sự khác biệt này thểhiện ở chỗ, nếu như các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sửdụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều cóthể thực hiện được thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn có sự tham gia củaNhà nước, thông qua các cơ quan của Nhà nước hoặc người có thẩm quyền

Trang 29

1.1.2.4 Nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục

Thành công của giáo dục và sự phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phụthuộc vào rất nhiều vào sức mạnh nền móng mà nó được xây dựng Đó là cácquy định pháp luật, cấu trúc tổ chức, hệ thống quản lý, năng lực đội ngũ Thựchiện pháp luật về giáo dục chính là hoạt động có mục đích nhằm đưa các quyđịnh pháp luật về giáo dục vào thực tiễn cuộc sống, biến nó thành những hành vithực tế Các quy phạm pháp luật về giáo dục của nước ta nói chung, địa bàn tỉnhNam Định nói riêng được ghi nhận trong rất nhiều văn bản pháp luật (Hiến pháp

1992, Luật, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư, Quyết định, ) của các cơquan Nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rất rộng, liên quan đến tất cả cácmặt của lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên, có thể khái quát nội dung của pháp luật vềgiáo dục gồm hai nội dung chủ yếu: tổ chức và hoạt động giáo dục; quản lý nhànước về giáo dục Do đó nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục cũng bao gồmhai nội dung cơ bản là: thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt độnggiáo dục; thực hiện quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về giáo dục

a) Thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động giáo dục

Tổ chức và hoạt động trong giáo dục là một nội dung quan trọng Hoạtđộng này bao gồm các quy định pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ

sở giáo dục, tổ chức các hoạt động giáo dục, nhiệm vụ và quyền hạn của nhàgiáo, nhiệm vụ và quyền hạn của người học, tổ chức và quản lý cơ sơ giáodục, tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục, quan hệ giữa cơ sở giáo dục vớigia đình, người học và xã hội

b) Thực hiện quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về giáo dục

Nội dung thứ hai trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục là hoạtđộng thực hiện quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước về giáo dục Vậyquản lý nhà nước là gì?

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước với các

Trang 30

hình thức hoạt động của bộ máy nhà nước lên các quan hệ xã hội để bảo đảmcho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng mục tiêu đã định, ngăn ngừa cáckhuynh hướng phát triển sai lệch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện phát triểnsai trái.

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước bằngcác hình thức hoạt động của một loại cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan hànhchính) mà nhiệm vụ là chấp hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các Nghịquyết của cơ quan quyền lực nhà nước

Nội dung thực hiện quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước vềgiáo dục gồm: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành và tổ chức thực hiện văn bảnquy phạm pháp luật về giáo dục, ban hành điều lệ nhà trường, ban hành quyđịnh về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác; quy định mục tiêu,chương trình nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất

và thiết bị trường học, việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáokhoa, giáo trình Quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; tổ chức, quản lýviệc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục; thựchiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức hoạt động giáo dục; tổ chức bộmáy quản lý giáo dục; tổ chức chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhàgiáo và cán bộ quản lý giáo dục; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực đểphát triển sự nghiệp giáo dục; tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế vềgiáo dục; quy định danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sựnghiệp giáo dục; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục[48]

Để thực hiện được nội dung quản lý Nhà nước về pháp luật như trên,Điều 100 Luật Giáo dục 2005 quy định các chủ thể quản lý, chức năng, nhiệm

Trang 31

vụ quyền hạn của các chủ thể đó, cụ thể là:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục Chính phủ trìnhQuốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền

và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương

về cải cách nội dung chương trình của cả một cấp học; hàng năm báo cáoQuốc hội về hoạt động giáo dục và thực hiện ngân sách giáo dục

- Bộ Giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về giáo dục

- Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiệnquản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền

- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo

sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về độingũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường cônglập thuộc phạm vị quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chấtlượng va và hiệu quả giáo dục tại địa phương

1.1.3 Chủ thể và yêu cầu của thực hiện pháp luật về giáo dục

1.1.3.1 Chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục

Chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân hay tổ chức cónăng lực chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật Nói cách khác,

tổ chức cá nhân nào thỏa mãn được những điều kiện do nhà nướcquy định cho mỗi loại quan hệ pháp luật thì có thể trở thành chủ thểcủa quan hệ pháp luật ấy [36]

Phạm vi điều chỉnh của Luật Giáo dục được quy định tại Điều 1:

Luật Giáo dục quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhàtrường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, củacác cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, lựclượng vũ trang nhân dân; tổ chức và các cá nhân tham gia hoạt độnggiáo dục [48]

Luật này cũng quy định: học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân

Trang 32

Mọi công dân không phân biệt dân tộc tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồngốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.

Qua đó chúng ta xác định chủ thể của thực hiện pháp Luật Giáo dục làcác cá nhân hoặc tổ chức

+ Mỗi công dân trong xã hội đều là chủ thể của thực hiện pháp luật vềgiáo dục Vì, chúng ta đều biết rằng, trẻ em từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi đượcvào nhà trẻ, từ 37 tháng đến 6 tuổi được học mẫu giáo, học sinh tiểu học từ 6đến 11 tuổi, học sinh trung học cơ sở từ 11 đến 14 tuổi, học sinh trung họcphổ thông từ 15 đến 19 tuổi Một xã hội học tập, một nền giáo dục cho mọingười học tập suốt đời là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta Với cách thức

đó đã tạo điều kiện cho mọi công dân trong xã hội có thể tham gia học tập tùythuộc vào hoàn cảnh, điều kiện, lứa tuổi, do đó cá nhân là chủ thể của thựchiện pháp luật về giáo dục rất đa dạng và là lực lượng chiếm đa số trong xãhội Theo quy định của pháp luật các cá nhân thực hiện pháp luật về giáo dụcbao gồm người học, nhà giáo, cán bộ quản lý các cấp, cán bộ nhân viên làmviệc trong ngành giáo dục

Người học thực hiện pháp luật về giáo dục là thực hiện những quy địnhcủa pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người học, thi cử, khen thưởng, kỷluật, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cuộc vận động "hai không", hiểu

và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

Đối với nhà giáo và cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên làm việc trongngành giáo dục thì hoạt động thực hiện pháp luật về giáo dục chủ yếu là cáchoạt động: Tuyên truyền, phổ biến Luật Giáo dục 2005, giảng dạy đúng vàđầy đủ nội dung kiến thức pháp luật được xây dựng trong chương trình mônhọc pháp luật theo quy định của Bộ GD&ĐT, các văn bản pháp luật khác vềgiáo dục có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chuyên môn của từng đối tượng

Ngoài ra, chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục còn có các tổ chức đadạng và phong phú bao gồm các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội, tổ

Trang 33

chức kinh tế, tổ chức xã hội nghề nghiệp.

Trước hết, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấpcông nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộcViệt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của dân tộc Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đấtnước là một tất yếu khách quan để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới Bởi

lẽ, giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, nó liênquan đến nhiều lĩnh vực khác Đảng ta xác định rằng giáo dục là động lực vàđiều kiện để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội, là chìa khóa để mở cửa tiếnbước vào tương lai, là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồnlực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững Do đó, Đảng phải gương mẫu thực hiện và thông qua tổ chứccủa mình, giáo dục đảng viên tự giác thực hiện pháp luật về giáo dục mộtcách triệt để, lãnh đạo nhà trường tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ củaHiến pháp và pháp luật

Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội nghề nghiệp, cũng là chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục, các tổchức này có trách nhiệm thực hiện những quy phạm pháp luật về giáo dục

Nhà nước là chủ thể có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiệnpháp luật về giáo dục Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công

cụ chủ yếu tổ chức và quản lý đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại Chủ trương củaĐảng và nhà nước là phải xây dựng một đội ngũ trí thức có trình độ, phục vụđắc lực và có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưađất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển Vì vậy, nhà nước không ngừngquan tâm đến sự nghiệp giáo dục của đất nước, thông qua các cơ quan nhà

Trang 34

nước mà các quy định của pháp luật về giáo dục đượ hướng dẫn và tổ chứcthực hiện một cách đầy đủ, nghiêm túc.

Các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, các cơ sở đào tạo, trườnghọc được xem là chủ thể nòng cốt, chủ đạo trong việc đưa pháp luật về giáodục được thực hiện trong cuộc sống

Để việc thực hiện pháp luật về giáo dục được thực hiện một cách cóhiệu quả thì việc nắm vững nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của những quy địnhpháp luật về giáo dục là điều cần thiết đối với các chủ thể Từ đó tùy thuộcvào điều kiện hoàn cảnh, đối tượng cụ thể mà có những hình thức thực hiệnphù hợp, đảm bảo yêu cầu của pháp luật, góp phần đưa sự nghiệp giáo dụccủa đất nước phát triển theo đúng quan điểm, đúng đường lối, chủ trương củaĐảng và pháp luật của Nhà nước

1.1.3.2 Yêu cầu của thực hiện pháp luật về giáo dục

Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và sự hình thành, phát triển nền kinh tếtri thức đang đặt ra một yêu cầu là phải sớm có đủ năng lực hợp tác và cạnhtranh khi tham gia vào thị trường khu vực và quốc tế Hơn nữa sự phát triểnvới tốc độ vũ bão của khoa học và công nghệ, những thay đổi sâu sắc về kinh

tế - văn hóa - xã hội trên thế giới đang tạo ra cho dân tộc ta thời cơ vượtnhanh về phía trước, nhưng bên cạnh đó cũng có nguy cơ, nếu không vượtnhanh thì sẽ bị tụt hậu xa hơn trong quan hệ so sánh với các dân tộc khác

Trước tình hình đó, phẩm chất, năng lực, ý chí và bản lĩnh của ngườiViệt Nam là nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho đất nước phát triểnbền vững Do đó, hơn bao giờ hết vai trò của sự nghiệp phát triển giáo dục đốivới công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước lại càng được khẳng định.Trong thời gian qua, cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế, hệ thốngpháp luật về giáo dục ở Việt Nam đã và đang được hoàn thiện và phát triểnnhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục ở phạm vi toàn hệ thống qua đó

Trang 35

góp phần đổi mới hệ thống giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn các mục tiêuphát triển quốc gia

Thực hiện những tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, cần tiếp tụcxây dụng và hoàn thiện hệ thống pháp Luật Giáo dục, tạo nền tảng pháp lývững chắc cho các hoạt động giáo dục Để pháp luật về giáo dục đạt hiệu quả,

đi vào cuộc sống thì việc thực hiện pháp luật về giáo dục một cách nghiêm túc

là điều hết sức quan trọng Vì vậy, việc thực hiện pháp luật về giáo dục phảiđảm bảo các yêu cầu sau:

- Nhận thức đúng đắn và thống nhất nội dung quan điểm của Đảng và những quy định của pháp luật về giáo dục trong phạm vi cả nước.

Việc thực hiện pháp luật về giáo dục có đạt được hiệu quả hay khôngphụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức đúng đắn và thống nhất những quanđiểm của Đảng, những quy định của pháp luật về giáo dục trên phạm vi cảnước Nghĩa là, ở bất cứ nơi đâu, mọi cá nhân, mọi tổ chức phải nhận thứcđúng đắn về tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của pháp luật về giáo dục để làm

cơ sở cho việc thực hiện trong thực tiễn Vì vậy, nó đòi hỏi phải có sự thốngnhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tức là các văn bản quyphạm pháp luật về giáo dục không được mâu thuẫn, chồng chéo, triệt tiêu lẫnnhau, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ, sự phối hợp tác động điều chỉnh theo mộtchiều hướng nhất định; có sự thống nhất giữa nội dung văn bản với đối tượngphản ánh

Quốc hội ban hành Hiến pháp, các đạo luật, đây là những văn bản thểhiện sự tập trung ý chí và lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnhvực khác nhau của đời sống xã hội, là những văn bản quy phạm pháp luật cógiá trị pháp lý cao, là cơ sở của hệ thống pháp luật Do đó các văn bản khácphải tuân thủ nghiêm túc những quy định của Hiến pháp và luật Điều nàyquyết định sự thống nhất của hệ thống văn bản trên phạm vi cả nước

Trang 36

- Việc thực hiện pháp luật về giáo dục phải chính xác và triệt để

Khi một văn bản pháp luật được ban hành đúng thẩm quyền và trình tựthủ tục, có nội dung phù hợp thì nó có hiệu lực trong thực tế Văn bản có hiệulực thi hành và được bảo đảm thực hiện một cách chính xác và triệt để Việcthực hiện chính xác và triệt để pháp luật về giáo dục là yêu cầu đảm bảo tínhnghiêm minh của pháp luật trong lĩnh vực giáo dục Các chủ thể trong quátrình thực hiện pháp luật về giáo dục không được coi nhẹ một văn bản haymột quy định pháp luật nào, phải tuyệt đối tuân theo những quy định của phápluật về giáo dục

- Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục ngay từ khi phát sinh.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong lĩnh vực giáo dục thìvấn đề xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng vi phạm trong lĩnh vựcgiáo dục phải được trở thành phương châm thực hiện đối với các cấp có thẩmquyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục Bởi vì, mọi hành vi

vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trình thực hiện nhữngquy định của pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực giáodục, cho nên cần phải phát hiện và xử lý kịp thòi những hành vi vi phạm phápluật về giáo dục

Trước hết, cần phải xác định đúng người, đúng hành vi vi phạm từ đómới xử lý được kịp thời các hành vi vi phạm phát huy được tính giáo dục, hạnchế các hành vi vi phạm, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật xử lý viphạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Những khiếu nại, tố cáo các vấn đề có liên quan đến giáo dục phảiđược các cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết nhanh chóng, đúng đắn trongthời hạn theo quy định của pháp luật

- Việc thực hiện pháp luật về giáo dục phải được kiểm tra một cách

Trang 37

thường xuyên

Kiểm tra, thanh tra, giám sát là hoạt động phải được tiến hành thườngxuyên, liên tục Đây là một hoạt động đóng vai trò hết sức quan trọng trongviệc thực hiện pháp luật về giáo dục Bởi vì, đó là phương tiện để phòngngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục, phát hiệnnhững yếu kém trong tổ chức và hoạt động giáo dục; đảm bảo cho việc thựchiện pháp luật về giáo dục đạt được nhiệm vụ, mục đích đề ra; giúp cho cơquan quản lý về giáo dục có được thông tin phản hồi, tham mưu uốn nắn kịpthời những khiếm khuyết điều chỉnh cơ chế, chính sách pháp luật trong lĩnhvực giáo dục cho phù hợp với thực tiễn, nắm được tình hình thực hiện nhiệm

vụ được giao của các cơ sở giáo dục, phát hiện những thiếu sót, yếu kém,trong hoạt động quản lý, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục sửa chữa cũngnhư nhân rộng các điển hình tích cực, kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạmpháp luật về giáo dục

1.2 VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC

Quản lý đất nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hành phápluật Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần được thực hiệntrong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa Mục đích của việc ban hành vănbản pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy phạm do Nhà nước đặt ra đượccác tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ.Vấn đề ở chỗ, không chỉ xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đầy đủvới nhiều văn bản pháp luật mà điều quan trọng hơn cả là pháp luật của Nhànước phải được mọi thành viên trong xã hội tôn trọng và chấp hành một cáchnghiêm chỉnh, triệt để, pháp luật phải đi vào cuộc sống, phải biến thành hànhđộng của mọi công dân, mọi tổ chức trong xã hội Việc thực hiện pháp luậtchính xác, đầy đủ là mối quan tâm của không chỉ của Nhà nước mà từ cả mỗithành viên trong xã hội

Trang 38

Có rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội đòi hỏi Nhànước phải xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh cácquan hệ xã hội phù hợp với mỗi lĩnh vực đó Trên thực tế có rất nhiều văn bảnpháp luật phát huy tác dụng tốt, đem lại hiệu quả thiết thực trong công tácquản lý, nhưng vẫn còn không ít văn bản luật chưa phát huy được hiệu lực thihành không mang lại hiệu quả như mong muốn Một trong những nguyênnhân của hạn chế này là do chưa tổ chức tốt việ thực hiện pháp luật Vì thế,thực hiện pháp luật có vai trò to lớn trong việc chuyển tải nội dung của cácvăn bản pháp luật vào đời sống thực tiễn.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng thực hiện pháp luật nói chung thựchiện pháp luật về giáo dục nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn

bộ các hoạt động về pháp luật Việc thực hiện pháp luật là hoạt động đưapháp luật vào đời sống, biến những quy phạm pháp luật thành những hành vi,

xử sự thực tế, hợp pháp của cá nhân, tập thể trong thực tiễn xã hội Nếu việcthực hiện pháp luật không được tổ chức thực hiện tốt thì ý chí của Nhà nước

sẽ không đi vào đời sống thực tiễn, pháp luật sẽ không phát huy được hiệuquả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

Trên đây, tác giả đã nêu khái quát chung về vai trò của việc thực hiệnpháp luật nói chung Vậy vai trò của thực hiện pháp luật về giáo dục nói riêng

sẽ được trình bày cụ thể trong phần tiếp theo

1.2.1 Thực hiện pháp luật về giáo dục góp phần tích cực đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội thực hiện pháp luật về giáo dục mộtcách nghiêm túc, thống nhất sẽ phát triển theo hướng tích cực, đẩy lùi nhân tốtiêu cực Và vì vậy, những chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển giáodục của Nhà nước được vận hành tốt, đúng tiến độ và đạt các yêu cầu, mục

Trang 39

tiêu đã đề ra Thực hiện pháp luật về giáo dục là việc đưa đường lối, chínhsách của Đảng vào cuộc sống, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối vớikinh tế và xã hội Qua đó, đánh giá đúng mức về năng lực và sức chiến đấucủa tổ chức Đảng, của từng đảng viên.

Để quản lý lĩnh vực giáo dục, Nhà nước xây dựng, ban hành và hoànthiện hệ thống pháp luật về giáo dục làm căn cứ pháp lý, tạo môi trường thuậnlợi cho các hoạt động của lĩnh vực này

Thực hiện pháp luật về giáo dục là tích cực đưa pháp luật về giáo dụcvào cuộc sống thực tiễn góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nước nhà pháttriển theo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước Muốn làm được điều nàytrước hết phải nắm vững tính chất và mục tiêu của nền giáo dục nước nhà

Tính chất của nền giáo dục nước ta được ghi nhận tại khoản 1 Điều 3,Luật Giáo dục 2005: "Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủnghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng"

Mục tiêu của giáo dục được quy đinh tại điều 2, Luật Giáo dục 2005: "

là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sứckhỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực củacông dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dụng và bảo vệ Tổ quốc"

1.2.2 Thực hiện pháp luật về giáo dục góp phần ngăn ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giải quyết kịp thời những vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giáo dục

Sự nhận thức đúng đắn những quy định pháp luật cả về tư tưởng, nộidung và ý nghĩa, từ đó nâng cao ý thức và chủ động đề ra các biên pháp hữuhiệu để thực hiện tốt pháp luật là yêu cầu đầu tiên của việc thực hiệ pháp luật.Khi ý thức pháp luật của các chủ thể được nâng cao và việc thực hiện trở

Trang 40

thành tự giác thì sẽ góp phần ngăn ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị

- xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phảitôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trình điềuchỉnh của pháp luật, làm tổn hại đến pháp chế Do vậy, Nhà nước cần cónhững biện pháp hữu hiệu để xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi viphạm pháp luật

Để tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, khôngchỉ xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, mà quan trọng hơn là tổ chức

và thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành thường xuyên

và nghiêm chỉnh, đấu tranh kiên quyết với những hành vi vi phạm pháp luật

và tội phạm Pháp luật không được tuân theo và chấp hành nghiêm chỉnh thìpháp luật không có hiệu lực và pháp chế cũng không được củng cố và tăngcường Tổ chức và thực hiện pháp luật là một mặt quan trọng của nền phápchế Kết quả của việc tổ chức và thực hiện pháp luật là một trong những tiêuchuẩn để xác định tính chất của nền pháp chế XHCN Vì vậy, muốn củng cố

và tăng cường pháp chế thì phải bảo đảm cho các tổ chức, cơ quan có thẩmquyền tổ chức và thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả Pháp luật về giáodục là một một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam nên nócũng đòi hỏi các chủ thể cần có nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ, tưtưởng, nội dung, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về giáo dục để đề ra cácbiện pháp và tự giác thực hiện góp phần ngăn ngừa và hạn chế các vi phạmpháp luật về giáo dục, góp phần tăng cường pháp chế XHCN

1.2.3 Thông qua thực hiện pháp luật về giáo dục góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng thói quen, ý thức của công dân sống và làm việc

Ngày đăng: 07/07/2022, 01:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003)
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2003
2. Ban Chấp hành Trung ương (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương (1996)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 1996
3. Ban Chấp hành Trung ương (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương (2002)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
4. Ban Chấp hành Trung ương (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương khoá IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương (2004)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2004
5. Đặng Quốc Bảo (2003), “Nhận diện một số khó khăn trong quản lý Nhà nước đối với giáo dục nước ta hiện nay”, Tạp chí Quản lý giáo dục, (66) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Quốc Bảo (2003), “Nhận diện một số khó khăn trong quản lý Nhànước đối với giáo dục nước ta hiện nay”, "Tạp chí Quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2003
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam(1998), "Đại Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo (Tập 1,2,3), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), "Các văn bản pháp luật hiện hành vềgiáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chỉ thị số 45/2007/CT - BGD&ĐT ngày 17 tháng 8 năm 2007 về việc tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chỉ thị số 7883/2009/CT - BGD&ĐT ngày 02 tháng 11 năm 2009 về triển khai thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các biện pháp thực hiện pháp luật trong ngành giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghị quyết số 05 - NQ/BCSĐ ngày 06 tháng 01 năm 2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học trong giai đoạn 2010 - 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Báo cáo sơ kết công tác triển khai Chỉ thị số 296/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ và chương trình hành động của Bộ GD&ĐT về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), "Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đạihọc giai đoạn 2010 - 2012
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
13. Bộ Tư pháp - Vụ phổ biến giáo dục pháp luật (1997), Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp - Vụ phổ biến giáo dục pháp luật (1997), "Một số vấn đề vềphổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ phổ biến giáo dục pháp luật
Nhà XB: Nxb Thanhniên
Năm: 1997
14. Chính phủ (2005), Nghị định số 49/2005/NĐ - CP ngày 11/4/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2005)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
15. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2005)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
16. Chính phủ (2007), Nghị quyết số 61/2007/NQ - CP ngày 07/12/2007 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32 - CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2007)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
17. Chính phủ (2010), Chỉ thị số 296/CT - TTg ngày 27 tháng 2 năm 2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học trong giai đoạn 2010 - 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2010)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
18. Cục Thống kê tỉnh Nam Định, Niên giám thống kê: năm 2005, năm 2006, năm 2007, năm 2008, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
19. Lê Thị Kim Dung (2004), Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Kim Dung (2004), "Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Namhiện nay
Tác giả: Lê Thị Kim Dung
Năm: 2004
20. Đảng bộ tỉnh Nam Định (2006), Văn kiện Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Nam Định (2006)
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Nam Định
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w