1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths- Luat hoc-Cơ sở lý luậnvà thực tiễn về tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh VĩnhPhúc

114 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn Về Tranh Tụng Tại Phiên Tòa Trong Xét Xử Án Hình Sự Ở Tỉnh Vĩnh Phúc
Thể loại thesis
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 535 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những luận văn, bài viết này tập trung nghiên cứu ở một sốkhía cạnh, góc độ khác nhau như: - Luận văn thạc sỹ luật học “Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử án

Trang 1

1.3 Tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử án hình sự ở một số quốc

gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm trong việc vận dụng vào

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO HIỆU

QUẢ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ ÁN

3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tranh tụng tại phiên tòa trong

3.2 Các giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa

trong xét xử án hình sự nói chung và ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng 82

Trang 2

Bộ luật tố tụng hình sự : BLTTHS

Trang 3

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc

thẩm, tái thẩm của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu những vụ án xét xử của ngành Tòa án

nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có Luật sư tham gia từ năm

Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc

thẩm, tái thẩm của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Bảng 2.4: Tổng hợp số liệu những vụ án xét xử của ngành Tòa án

nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có Luật sư tham gia từ năm

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luônđược hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới cóích cho việc xây dựng Nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợppháp của công dân Trong lịch sử Việt Nam từ khi mới giành được độc lập,ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộmáy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tưpháp non trẻ của nước ta Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ yêucầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, ngày 02/01/2002, Bộ chính trịban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

tư pháp trong thời gian tới” và ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghịquyết số 49-NQ/TW “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Mục

đích của việc xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp nhằm “xây dựng nền tư

pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý”.

Để thể chế thành pháp luật theo định hướng của Đảng, Quốc hội đã banhành nhiều Bộ luật, Luật, Pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sởpháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như ban hành Luật Luật sư,Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống thamnhũng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự Nhìn chung, khốilượng văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua khá nhiều Trên

cơ sở các quy định của các Bộ luật, Luật, Pháp lệnh, hoạt động của các cơquan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụđược giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi viphạm pháp luật và tội phạm, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninhchính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của tổ chức, công dân

Trang 5

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành ở nước ta, đã bắt đầu coi trọng tranhtụng trong quá trình xét xử, nhưng ngoài giai đoạn xét xử thì trong các giai đoạnkhác của quá trình giải quyết vụ án, vấn đề tranh tụng rất mờ nhạt Tranh tụngchưa được đặt ra như một nguyên tắc như các nguyên tắc khác của tố tụng, mặc

dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã được sửa đổi nhưng khi áp dụng vẫn cònnhững hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng trong thực tế giải quyết ánhình sự Thực tiễn giải quyết án nói chung và án hình sự nói riêng đã trải qua cácthời kỳ, mỗi thời kỳ đánh dấu mức độ hoàn thiện và độ mở rộng tranh tụng tronghoạt động xét xử cũng khác nhau Thực tế cho thấy việc không coi trọng tranhtụng như một nguyên tắc đã dẫn đến những hạn chế, như còn để xảy ra tình trạngoan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử, công dân còn khiếu nại, tố cáo nhiều,lượng án chờ xét xử, để quá hạn luật định vẫn còn một số lượng khá lớn, làmgiảm lòng tin nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cầnnghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề tranh tụng tại phiên toà với vấn đềcải cách tổ chức Toà án, vì xét đến cùng, Toà án là nơi thể hiện kết quả hoạtđộng của cả hệ thống tư pháp Ngay cả việc thi hành án ở khâu cuối cùng của

tố tụng hình sự còn gặp nhiều khó khăn cũng phải xem xét từ cội nguồn củavấn đề là chất lượng bản án Bản án công bằng, vô tư luôn tạo ra sức mạnh vàtính chính đáng của hệ thống cơ quan tư pháp vì nó được người dân tin tưởng

“tâm phục, khẩu phục” Cùng với hoạt động của Toà án, các Cơ quan điều tra,

Viện kiểm sát cũng phải không ngừng nâng cao năng lực của mình Trongchiến lược cải cách tư pháp, Đảng ta đã chỉ rõ:

Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí,quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người thamgia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêmminh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coiđây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp [2]

Trang 6

Như vậy về mặt lý luận, thực tiễn và từ yêu cầu thực hiện Nghị quyết củaĐảng về cải cách tư pháp đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu nhằmtạo cơ sở khoa học cho việc áp dụng hợp lý vấn đề tranh tụng trong xét xử các

vụ án hình sự nói chung và ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Nhằm góp phần vào

việc thực hiện nhiệm vụ khó khăn này, tác giả đã chọn đề tài “Cơ sở lý luận

và thực tiễn về tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ luật tại Học viện Chính trị -

Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, tình hình nghiên cứu về tranh tụng đã được đề cậptrong một số luận văn thạc sỹ luật học và trong các bài viết trên tạp chí pháp

lý chuyên ngành Những luận văn, bài viết này tập trung nghiên cứu ở một sốkhía cạnh, góc độ khác nhau như:

- Luận văn thạc sỹ luật học “Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc

tranh tụng trong xét xử án hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay” năm 2005 của

Nguyễn Tiến Long, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh;

- Luận văn thạc sỹ luật học “Chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá” năm 2008 của Mai Thị Nam, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh;

- Đề tài nghiên cứu khoa học “Tranh tụng tại phiên toà - một số vấn đề

lý luận và thực tiễn”, năm 2003 của Học viện tư pháp;

- Bài viết “Bàn về một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh tụng

tại phiên toà” của Nguyễn Mạnh Tiến, Tạp chí Toà án nhân dân số 17/2005;

- Bài viết “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện

hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm” của

Nguyễn Đức Mai, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội số 7/2008;

Trang 7

- Bài viết “Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm và chất lượng tranh

tụng của Viện kiểm sát tại phiên toà” của Mai Thị Nam, Tạp chí Kiểm sát

nhân dân số 3/2007;

- Bài viết “Một số vấn đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng

hình sự với chức năng xét xử của Toà án trong bối cảnh cải cách tư pháp” của

Nguyễn Thương Tín, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 10/2008;

- Bài viết “Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự theo tinh thần cải

cách tư pháp một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Đức Mai, Tạp

chí Toà án nhân dân số 7/2007;

- Bài viết “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng

hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Nhà

nước và pháp luật số 8/2008;

- Bài viết “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng

hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Mai, Tạp

chí Toà án nhân dân số 12/2009

Các công trình và bài viết trên đã đề cập đến nguyên tắc tranh tụng vàvấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự, trong xây dựng và hoàn thiện phápluật tố tụng hình sự, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu

tương đối đầy đủ và toàn diện vấn đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh

tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc”

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng tranh tụng tạiphiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn đề xuất các giảipháp nhằm đảm bảo chất lượng tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình

sự ở tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:

Trang 8

- Làm rõ những vấn đề về khái niệm của tranh tụng và tranh tụng tạiphiên toà;

- Phân tích làm rõ các quy định mang tính tranh tụng trong pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, có sự so sánh với pháp luật một sốnước trên thế giới;

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng chất lượng tranh tụng tại phiên toàtrong xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2009;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toàtrong xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn này là: Chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước, lý luận và lịch sử Nhà nước vàPháp luật Ngoài ra, luận văn còn dựa trên cơ sở lý luận khoa học luật tố tụnghình sự Việt Nam và pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới.Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin với nhữngphương pháp như: Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp các trithức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng đểnghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tranhtụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn không

đề cập đến vấn đề tranh tụng trong các lĩnh vực khác, luận văn cũng không đềcập đến hoạt động tranh tụng tại Toà án quân sự

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Là công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận và lịch sử Nhà nước vàPháp luật, luận văn nghiên cứu, phân tích về cơ sở lý luận và thực tiễn về

Trang 9

tranh tụng tại phiên toà xét xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc; đề xuất nhữnggiải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà xét xử án hình

sự ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận củabản thân để áp dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn;

- Góp phần nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà trong xét xử ánhình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc;

- Có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý;

- Toà án nhân dân các cấp có thể khai thác kết quả nghiên cứu để nângcao hiệu quả tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự trong tình hình mới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên toà xét xử án hình sự Chương 2: Thực trạng xét xử án hình sự và tranh tụng tại phiên toà xét

xử án hình sự ở tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả tranh

tụng tại phiên toà xét xử án hình sự nói chung và ở tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 10

1.1.1 Khái niệm tranh tụng

Theo Từ điển luật học năm 2006 - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Nhà xuất bản Tư pháp, tại trang 807 thì kháiniệm tranh tụng được hiểu như sau:

Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bêntham gia tố tụng (bên buộc và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳngvới nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quanđiểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích củaphía bên đối lập [39, tr.807]

1.1.2 Khái niệm tranh tụng tại phiên toà

Tranh tụng trong TTHS là một khái niệm quen thuộc, được áp dụng phổbiến ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và các nước thuộc hệthống pháp luật châu Âu lục địa Tuy nhiên, ở nước ta, tranh tụng là một vấn

đề còn tương đối mới mẻ, chưa được đề cập nhiều trong khoa học pháp lý.Trong những năm gần đây, một số bài viết của các tác giả đề cập về vấn đềnày ở những mức độ nhất định và với nhiều quan điểm khác nhau Nội dungtranh tụng đã được thể hiện trong BLTTHS Việt Nam Đặc biệt, vấn đề nàycòn được đề cập chính thức trong nội dung Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

tư pháp trong thời gian tới” như là tư tưởng chỉ đạo trong quá trình hoàn thiệncác thủ tục TTHS Việt Nam hiện nay

Trang 11

Cũng theo Từ điển luật học năm 2006 - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tưpháp, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Nhà xuất bản Tư pháp, tại trang 808thì khái niệm tranh tụng tại phiên toà được hiểu như sau:

Tranh tụng tại phiên toà là những hoạt động tố tụng được tiếnhành tại phiên toà xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ

ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phíabên kia dưới sự điều khiển, quyết định của Toà án với vai trò trunggian, trọng tài [39, tr.808]

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, nhữngngười tham gia tranh luận có quyền đáp lại mỗi ý kiến của người khác mộtlần Thời gian tranh luận tại phiên toà không bị hạn chế Nếu qua tranh luận

mà xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết địnhtrở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong lại tiếp tục tranh luận Sau khi kết thúc việctranh luận, trước khi nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng với thời gian khônghạn chế

Như vậy, tranh tụng bao giờ cũng gắn liền với hoạt động tài phán củaToà án Tại phiên toà, Toà án tiến hành xác định sự thật của vụ án bằng cáchđiều tra công khai, chính thức về vụ án, nghe các bên tranh luận về giải quyết

vụ án từ góc độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết

Tùy theo tính chất vụ án mà chức năng tố tụng, địa vị pháp lý của cácbên cũng khác nhau Tranh tụng trong tố tụng hình sự diễn ra giữa bên buộctội và bên bào chữa, chủ yếu là giữa công tố với người bào chữa và bị cáo Đểnhững người đó thực hiện việc tranh tụng, pháp luật tố tụng quy định cho họcác quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định

Trong tất cả các loại tranh tụng, Toà án là cơ quan thực hiện chức năngxét xử Toà án thực hiện chức năng như một trọng tài có địa vị độc lập với cácbên để phân xử một cách khách quan, theo pháp luật Trong tố tụng hình sự,chức năng xét xử của Toà án độc lập với chức năng buộc tội và chức năng bào

Trang 12

chữa Cần phải khẳng định rằng với tính chất là sự tranh luận giữa các bên cóquyền và lợi ích khác nhau, tranh tụng luôn luôn có mặt trong các hệ thống tốtụng khác nhau Bởi vì, mục đích của các hệ thống tố tụng dân chủ, tiến bộtrong thế giới hiện đại là xác định được sự thật và phán quyết về vụ án trên cơ

sở quy định của pháp luật

Tuy nhiên, mỗi hệ thống tố tụng lại có phương cách xác định sự thậtkhác nhau, cơ sở pháp lý khác nhau, nên phạm vi, tính chất và mức độ tranhtụng cũng có những điểm khác nhau Căn cứ vào phương cách mà tố tụngđược thực hiện, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện phương cách đó, người taphân tố tụng tư pháp, đặc biệt là tố tụng hình sự thành các hệ thống khácnhau: hệ thống tranh tụng, hệ thống xét hỏi (hay thẩm vấn) và hệ thống phatrộn Và trong mỗi hệ thống đó, mức độ tranh tụng cũng khác nhau

1.2.3 Đặc điểm tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự

Trên thế giới đang tồn tại hai hệ thống tố tụng chủ yếu là: tố tụng tranhtụng và tố tụng thẩm vấn Về mặt lịch sử thì tố tụng thẩm vấn đã tồn tại đượchơn tám thế kỷ [26], còn mô hình tố tụng tranh tụng là mô hình xuất hiện sau

Tố tụng xét hỏi được sử dụng phổ biến ở các nước theo hệ thống luật CIVILLAW (các nước Pháp, Italia, Đức ), còn tố tụng tranh tụng là thủ tục tố tụngđược áp dụng rộng rãi ở các nước theo hệ thống luật án lệ COMMON LAW(các nước Anh, Mỹ, Ấn Độ, Australia, New Zealand ) Theo các nhà nghiêncứu khoa học pháp lý, sự kiện đem lại sự ra đời của yếu tố tranh tụng đầu tiêntrong mô hình tố tụng hình sự là sự ra đời của Đạo luật về phiên toà xét xử tộiphản nghịch (Treason Trials Act) của Vương quốc Anh năm 1696 Đạo luậtnày lần đầu tiên trao một số quyền tố tụng, trong đó quan trọng nhất là quyềnđược có luật sư bào chữa cho bị cáo là các chính trị gia cao cấp Đây có thểnói là kết quả đấu tranh giữa giai cấp tư sản đang lên và Vương triều phongkiến Anh lúc bấy giờ Đến năm 1973 các quyền này được mở rộng ra cácđối tượng thứ dân trong xã hội Đặc trưng của các phiên xử lúc này là có sự

Trang 13

tham gia, tuy còn ở mức độ khiêm tốn của các luật sư bào chữa cho bị cáo.Đến cuối thế kỷ 18, dựa trên học thuyết của John Locke, các luật sư đạidiện cho tầng lớp thứ dân của Anh lúc đó đã phát triển, việc luật sư thamgia phiên toà xét xử và tranh luận để tìm ra công lý thành một quan điểm lýluận chính trị trong số những quan điểm mang tính cách mạng thời kỳ bấygiờ Kể từ đó quyền được có luật sư bào chữa của bị cáo ngày càng đượctôn trọng, vai trò của luật sư trong các phiên toà xét xử ngày càng cao với

tư cách người bảo vệ một cách tích cực quyền lợi cho bị cáo Đến khoảnggiữa thế kỷ thứ 19, mô hình phiên toà xét xử tranh tụng đã bắt đầu định hình

và dần được củng cố [26]

Bất kỳ một mô hình tố tụng hình sự nào trên thế giới cũng đều có mục

đích là tìm ra được sự thật của vụ án hình sự Qua nghiên cứu thì tố tụng tranh

tụng có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, điều tra tại phiên toà là điều tra chính thức và chủ yếu: Tố

tụng tranh tụng là hệ thống tố tụng mà Toà án là cơ quan xét xử và tiến hành

tố tụng chính, là sự tập trung nhất của hệ thống tố tụng Các hoạt động khácnhư điều tra của cảnh sát, truy tố của công tố viên chỉ là những hoạt độngmang tính hành chính - tư pháp không được điều chỉnh bởi luật tố tụng hình

sự [33, tr.256] Chỉ có Toà án mới là chủ thể tiến hành tố tụng với ý nghĩa đầy

đủ nhất theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Vì vậy, mọi điều tra củaLuật sư và của cảnh sát có thể được tiến hành theo nhiều cách khác nhau, vớinhững phương pháp thu thập chứng cứ khác nhau, nhưng đều phải được kiểmchứng tại phiên toà và thông qua sự xem xét đánh giá của Hội đồng xét xử thìmới được công nhận về mặt pháp lý và được phục vụ cho vụ án, khi đó chứng

cứ do các bên cung cấp mới có ý nghĩa đối với phán quyết của Toà án Chính

vì việc điều tra tại phiên toà là chủ yếu, thông qua việc xem xét đánh giáchứng cứ do các bên đưa ra nên phiên toà theo thủ tục tố tụng tranh tụngthường rất dài và triệu tập nhiều người làm chứng

Trang 14

Thứ hai, trong tố tụng tranh tụng hình thành hai bên với những lợi ích đối kháng rõ rệt - bên buộc tội và bên bị buộc tội: Trong tố tụng tranh tụng,

Viện công tố và Luật sư hoàn toàn bình đẳng nhau, họ được pháp luật traonhững quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập và thu thậpchứng cứ phục vụ cho công việc của mình Viện công tố dưới danh nghĩa làngười đại diện cho quyền lợi của Nhà nước đưa ra các quan điểm, các lậpluận, các chứng cứ để buộc tội bị cáo Còn bên bị buộc tội là bị cáo và nhữngLuật sư của bị cáo cũng dùng mọi lý lẽ, dùng mọi phương tiện được luật phápcho phép để phản bác lại Hai bên sẽ trực tiếp, liên tục chất vấn và trả lời chấtvấn nhau công khai tại phiên toà để làm rõ những vấn đề của vụ án Khác với

tố tụng xét hỏi, tố tụng tranh tụng đặc biệt coi trọng nguyên tắc trình bày bằngmiệng, công khai, tất cả các tình tiết, các chứng cứ mà Toà án áp dụng để rabản án đều phải được các bên tranh tụng tại phiên toà Với khoa học côngnghệ phát triển như hiện nay, các thủ tục tố tụng tại phiên toà đều phải đượcghi âm hoặc ghi hình, việc xét xử công khai, trực tiếp có thể được tiến hànhqua điện thoại hội nghị (Conference call) và cầu truyền hình trực tiếp Toà ántiến hành xét xử một vụ án ở một nơi có thể nghe lời khai trực tiếp của mộtngười làm chứng ở một nơi khác [31, tr 3-12]

Thứ ba, thẩm phán giữ vai trò của người trọng tài: Do thủ tục tranh tụng

không có giai đoạn điều tra nên các chứng cứ đều do các bên trực tiếp đưa ratrong quá trình tranh tụng giữa công tố viên và bị cáo, Luật sư Thẩm phán ởcác nước theo thủ tục này không có trách nhiệm làm rõ bị cáo phạm tội haykhông phạm tội Đây cũng là điểm khác so với tố tụng xét hỏi nơi mà trướckhi mở phiên toà các chứng cứ đã được điều tra, thu thập đầy đủ và thể hiệntrong hồ sơ vụ án Tại phiên toà, Thẩm phán chỉ kiểm tra lại tính hợp pháp vàtính có căn cứ của các chứng cứ này Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng xéthỏi không phải là một bên trung lập mà là người có vai trò chính trong việclàm sáng tỏ nội dung vụ án tại phiên toà, Thẩm phán có thể sẽ trực tiếp chất

Trang 15

vấn nếu như lời khai của bị cáo còn có mâu thuẫn hay bị cáo chối tội Trong

tố tụng xét hỏi, mọi hành vi của những người tiến hành tố tụng và nhữngngười tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển của Chủ tọa phiên toà, các bênmuốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặc những người tham gia tố tụng khác đềuphải thông qua Chủ tọa phiên toà Trong khi đó, tại phiên toà theo tố tụngtranh tụng, mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như chonhững người tham gia tố tụng khác Trong nhiều trường hợp họ có quyền ngắtlời bên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đưa ra

Thứ tư, tố tụng tranh tụng có ba hệ quy tắc chi phối toàn bộ các hoạt động tố tụng: Quy tắc tố tụng (rule of procedures), quy tắc chứng cứ (rule of

evidence) và quy tắc về ứng xử của Luật sư (rule of counsel) Trong ba hệ quytắc này, quy tắc về chứng cứ có ảnh hưởng lớn nhất vì nó kiểm soát loại chứng

cứ nào có thể được đưa ra trước những người có thẩm quyền quyết định(decision maker) hay nói cách khác, nó quyết định chứng cứ có được chấp thuậnhay không Ngay cả Thẩm phán cũng không được tự do lựa chọn chứng cứ mà

họ thấy thích hợp nhất mà phải tuân theo các quy tắc chứng cứ đã được quyđịnh Quy tắc về chứng cứ được đặt ra nhằm đảm bảo sự công bằng trong tranhtụng qua việc cấm sử dụng những nguồn chứng cứ không đáng tin cậy, sai lệchhoặc có thể dẫn đến định kiến cho những người có thẩm quyền phán quyết [26].Nếu coi tố tụng tranh tụng là một cuộc đấu giữa hai bên có tranh chấp, thì nó đòihỏi các bên tham gia tố tụng, nhất là cơ quan cảnh sát và công tố phải triệt đểtuân thủ các quy tắc đã được luật quy định đó và trao thẩm quyền cho Toà án

là cơ quan phải đảm bảo yêu cầu đó trong quá trình xét xử

Tố tụng tranh tụng được thực hiện trực tiếp, bằng lời nói nên nhiều tàiliệu trong tố tụng xét hỏi được xem là những chứng cứ quan trọng của vụ ánthì trong tố tụng tranh tụng lại không được công nhận là chứng cứ Tuy nhiên,

để làm rõ các tài liệu liên quan đến vụ án, chủ nhân của nó sẽ được mời thamgia tố tụng và trực tiếp trình bày trước toà

Trang 16

Thứ năm, ở tố tụng tranh tụng thường có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn: Do vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tranh tụng là người trọng tài

nên thông thường phải có Bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng Đoàn bồi thẩmkhông tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng họ có quyền biểu quyết bị cáo

có tội hay không có tội, trên cơ sở đó Thẩm phán sẽ quyết định về vụ án Đây

là điểm khác biệt so với tố tụng thẩm vấn, trong tố tụng thẩm vấn, Hội thẩmtham gia phiên toà và quyết định cả về việc bị cáo có tội hay không có tội,quyết định cả về việc lượng hình đối với bị cáo, ở thủ tục tố tụng thẩm vấn,Thẩm phán Chủ tọa phiên toà có địa vị pháp lý ngang với Hội thẩm

Thứ sáu, yếu tố thú tội và thoả thuận thú tội (pleas of guilty and bargaining): Ở nhiều vụ án cơ quan cảnh sát và công tố không thể tìm ra đủ

plea-chứng cứ để có thể "thắng" tại phiên toà khi họ muốn truy tố một bị can, nên

luật pháp có những quy định khuyến khích người bị truy cứu trách nhiệm hình

sự nhận tội hoặc cho phép cảnh sát và cơ quan công tố thoả thuận để họ nhậntội, khai báo hay cung cấp thông tin về người phạm tội khác Đổi lại, người bịtruy cứu trách nhiệm hình sự có thể được miễn truy tố về một hoặc một số tộihay được giảm hình phạt sau này khi Toà án lượng hình (ví dụ, nếu bị cáonhận tội trong giai đoạn đầu, mức giảm là một phần ba mức hình phạt thôngthường) Việc thoả thuận thú tội được diễn ra giữa cơ quan cảnh sát, viện công

tố và bị can cùng Luật sư của họ Thông thường, cảnh sát và cơ quan công tốthông báo cho bị can biết đã có những bằng chứng gì về hành vi phạm tội của

họ, trên cơ sở đó bị can sẽ tham khảo ý kiến Luật sư và cân nhắc có nhận tộihay tiếp tục không khai báo hoặc chỉ khai báo trong phạm vi nhất định để saunày ra Toà sẽ phản bác lại việc buộc tội Toà án không tham gia vào thủ tụcnày vì Toà án chỉ có thẩm quyền xét xử những vụ án và bị cáo do cơ quancông tố hay cảnh sát đưa ra truy tố Cơ chế này tác động tới trình tự tố tụng vìkhi bị cáo nhận tội dù ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào, toàn bộ thủ tục đối với

bị cáo sẽ được thay đổi theo hướng không còn "tranh tụng" nữa và lúc đó chỉ

Trang 17

còn là trách nhiệm của Thẩm phán phải thẩm tra lại hồ sơ vụ án và đưa rahình phạt thích hợp Toà án không có trách nhiệm đối với việc cơ quan công

tố bỏ lọt người hay lọt tội, không truy tố một tội phạm mà chỉ xét xử nhữngtội phạm do cơ quan công tố truy tố ra toà [30, tr.25-30] Tất nhiên, với vai tròkhông những là cơ quan áp dụng pháp luật và thực thi pháp luật mà còn là cơquan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân chống lạinhững lạm dụng quyền lực, bất công, đảm bảo niềm tin của công chúng vàocông bằng và bình đẳng, Toà án sẽ có trách nhiệm đối với việc đưa ra các bản

án một cách đúng đắn chứ không chỉ đơn thuần dựa vào tài liệu trong hồ sơtrong các vụ án không xét xử bằng Bồi thẩm đoàn Nhưng rõ ràng là ở nhữngtrường hợp đó, trách nhiệm của Toà án trong thủ tục tố tụng tranh tụng khôngnặng nề bằng Toà án ở các nước theo thủ tục tố tụng xét hỏi với tư cách làkhâu phán quyết thẩm tra cuối cùng của giai đoạn tố tụng, Toà án ở nhữngnước này có quyền khởi tố ngay tại phiên toà, có quyền xét xử bị cáo theokhoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luậthoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (ởViệt Nam) Và như vậy, Toà án sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng nếu

bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội

Hệ tố tụng xét hỏi nhấn mạnh phương pháp điều tra, thẩm vấn trong toàn

bộ quá trình tố tụng từ khi khởi tố đến xét xử Hệ tranh tụng lại chú trọng vàohoạt động đối tụng giữa các bên trong giai đoạn xét xử với các quy tắcnghiêm ngặt về chứng cứ để đảm bảo rằng bị cáo được xét xử một cách côngbằng Nếu như ở hệ tố tụng tranh tụng vai trò của Toà án là thụ động, quátrình thẩm vấn của Thẩm phán ngay tại phiên toà cũng chỉ mang tính chấtgián tiếp thì tố tụng xét hỏi luôn đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán trongcác giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Trong hệ tố tụng tranh tụng không có

sự phân chia thành các giai đoạn tố tụng rõ rệt như trong hệ tố tụng xét hỏinên chứng cứ trong tố tụng tranh tụng phải tuân theo quy tắc chứng cứ (rule

Trang 18

of evidence) ngay cả Thẩm phán cũng không được tự do lựa chọn chứng cứ

mà họ thấy thích hợp nhất

Viện công tố ở những nước theo thủ tục tố tụng tranh tụng có quyền hạnkhông lớn bằng ở những nước theo thủ tục tố tụng xét hỏi nên trong quá trìnhgiải quyết vụ án nghĩa vụ của các bên đặt ra ngang nhau Phiên toà trong tốtụng tranh tụng là một cuộc đấu giữa hai bên buộc tội - bên gỡ tội, Thẩm phán

và Bồi thẩm đoàn là trọng tài; nhưng phiên toà trong tố tụng xét hỏi nhiều khirơi vào tình trạng diễn lại những gì đã được thực hiện trước đó, trên cơ sở đóHội đồng xét xử khẳng định lại các tình tiết, các chứng cứ để ra bản án Cácnước theo thủ tục tranh tụng gọi phiên toà của tố tụng xét hỏi là các phiênhọp Vai trò của Luật sư và những người tham gia tố tụng khác đều bị chi phốithông qua vai trò của Thẩm phán [31, tr.3-12] Thẩm phán trực tiếp xét hỏi vàphát triển sự kiện theo cách của mình còn các bên chủ yếu chỉ tranh luận đểgiải thích những gì liên quan đến các cứ liệu của vụ án

1.2 VAI TRÒ, YÊU CẦU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ

1.2.1 Vai trò của tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự

Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiệnđầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi Nhà nước, là giai đoạnquyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi íchNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

Trong xét xử, phiên toà là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng vàmang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mụcđích tố tụng đặt ra Vai trò quyết định đó của phiên toà thể hiện ở những điểmsau đây:

- Thứ nhất, phiên toà là nơi Toà án bằng thủ tục công khai, toàn diện

thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án.Toà án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm

Trang 19

tra công khai tại phiên toà Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập,kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau(bên buộc tội, bên bào chữa) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên toàkhi xét hỏi cũng như tranh luận Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của

vụ án được Toà án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tạiphiên toà và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

- Thứ hai, phiên toà đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố

tụng Hơn ở đâu hết, tại phiên toà quyền và nghĩa vụ tố tụng của những ngườitham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằngthủ tục tố tụng trực tiếp, công khai

Tại phiên toà khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luậtnghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình…

- Thứ ba, phiên toà là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng

đúng đắn pháp luật Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia

tố tụng về áp dụng pháp luật, Toà án lựa chọn phương án áp dụng pháp luậtchính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

- Thứ tư, phiên toà là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục

pháp luật Thông qua thủ tục tại phiên toà, việc điều tra công khai, việc tranhluận và đặc biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình,Toà án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những người tham

dự phiên toà nâng cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin vào pháp luật để từ

đó không chỉ tự nguyện tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào đấutranh phòng chống vi phạm pháp luật…

Như vậy, phiên toà là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chấtquá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng Phiên toà có sự tham gia đầy

đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, nhữngngười tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xác định Thông qua phiên toà,bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham

Trang 20

gia tố tụng, Toà án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất)tiến hành xác định sự thật khách quan của vụ án và ra các phán quyết giảiquyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật

1.2.2 Yêu cầu và các điều kiện bảo đảm tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự

- Yêu cầu của tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự:

Tranh tụng tại phiên toà phải đảm bảo tính dân chủ, công khai nhưng vẫnthể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Đây là yêu cầu xuyên suốt quá trìnhtranh tụng, nếu thiếu yêu cầu này thì quá trình tranh tụng không thể đưa đếnviệc xác định sự thật khách quan của vụ án Chỉ đạt được yêu cầu về dân chủthì mới đảm bảo sự ngang bằng giữa các bên tham gia đấu tụng, trong đóquyền công tố của Nhà nước được đặt ngang với quyền bào chữa của bị cáo -Luật sư, họ có toàn quyền tranh luận về mọi vấn đề trong vụ án để làm sáng

tỏ những tình tiết còn chưa rõ, qua đó Hội đồng xét xử và những người thamgia phiên toà sẽ xác định được sự thật khách quan của vụ án Việc tranh tụng

đó phải diễn ra công khai để thể hiện tính minh bạch của pháp luật, của quátrình xét xử vụ án Chỉ có những trường hợp pháp luật quy định phải xử kín

để đảm bảo bí mật Nhà nước đảm bảo quyền của công dân, còn mọi trườnghợp khác đều phải xử công khai Tranh tụng tại phiên toà phải đạt yêu cầucông khai dân chủ, nhưng vẫn phải theo quy định của pháp luật Đó chính làthể hiện sự nghiêm minh cần thiết của pháp luật, nếu thiếu đi sự nghiêm minh

đó thì tranh luận tại phiên toà là sự tranh luận vô tổ chức mạnh ai người ấynói, phiên toà trở thành cuộc cãi nhau giữa các bên

Mục đích của tranh tụng tại phiên toà là làm sáng tỏ sự thật khách quancủa vụ án thông qua sự cọ xát giữa các lập luận, ý kiến Vì vậy, yêu cầu của

nó là hai bên tranh luận đi vào từng chi tiết của vụ án, sự đối đáp giữa hai bênphải diễn ra liên tục, Công tố viên, bị cáo, Luật sư, người bị hại và tất cảnhững người tham gia tố tụng khác phải tranh luận từng vấn đề rõ ràng, mạch

Trang 21

lạc, dứt khoát, không tranh luận chung chung, dàn trải Công tố viên là bênbuộc tội, Luật sư bào chữa là bên gỡ tội vì vậy họ phải có sự chủ động trongtranh luận tại phiên toà, cần hỏi những người tham gia tố tụng nhiều hơn bất

cứ ai để làm rõ mọi tình tiết của vụ án, đặc biệt là các vấn đề, tình tiết mà bịcáo, người làm chứng đưa ra tại phiên toà có mâu thuẫn với những kết quảđiều tra trước đó của Viện công tố để trên cơ sở đó có lời luận tội, lời bàochữa khách quan, chính xác Trong tranh luận tại phiên toà không thể cótrường hợp Công tố viên chỉ phát biểu quan điểm là giữ nguyên quan điểmnhư đã truy tố mà không đưa ra lý lẽ, dẫn chứng nào khác có sức thuyết phục

để bảo vệ quan điểm đó Do vậy, đây cũng là vấn đề mà trên thực tế đòi hỏiChủ tọa các phiên toà phải định hướng để các bên tham gia tranh luận chấtvấn và trả lời chất vấn những nội dung chính của vụ án, có như vậy tranh tụngmới đạt hiệu quả

- Điều kiện đảm bảo tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự: Cóthể thấy mô hình tố tụng tranh tụng đã định hình được những ưu điểm rất cơbản trong việc đảm bảo hiệu quả và tính công bằng của tố tụng hình sự, điều

mà bất kỳ hệ thống tư pháp nào cũng muốn hướng tới Tuy nhiên những ưuđiểm của mô hình tố tụng tranh tụng không phải được hình thành một sớmmột chiều mà đã trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển của mô hìnhnày Để đạt được những ưu điểm đó thì phải đảm bảo một số điều kiện sau:

+ Thứ nhất là đội ngũ luật sư phải có năng lực Năng lực của đội ngũ

Luật sư là điều kiện hết sức quan trọng bởi vì trong mô hình tố tụng tranhtụng, Luật sư có vai trò rất lớn, một mặt tham gia vào việc thu thập chứng cứ,góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án, một mặt giúp đảm bảo cácquyền cơ bản của bị can, bị cáo trong suốt quá trình tố tụng hình sự Bên cạnhnăng lực cần thiết Luật sư phải có tư cách đạo đức tốt và tư cách đạo đức đóphải được duy trì bởi một chế định đạo đức nghề nghiệp luật sư hợp lý và cótính khả thi cao Đây cũng là một yếu tố hết sức quan trọng bởi lẽ trong mô

Trang 22

hình tố tụng tranh tụng, sự tác động của luật sư tới kết quả của vụ án là rấtlớn Nếu luật sư không có tư cách đạo đức tốt hoặc không bị ràng buộc bởimột quy tắc đạo đức nghề nghiệp đủ mạnh thì sẽ có trường hợp chính Luật sưlại là người góp phần làm cho công lý không được bảo đảm.

+ Thứ hai là đội ngũ Công tố viên và Điều tra viên phải có năng lực Khi

vai trò của người bào chữa, mà cụ thể là Luật sư được đưa lên vị trí đối tụngvới Công tố viên và khi Luật sư có khả năng và cơ hội tác động tới kết quảcủa phiên toà xét xử cũng lớn như Công tố viên, thì một cách tự nhiên Công

tố viên sẽ cảm thấy áp lực của nhu cầu tự nâng cao trình độ Nếu như trình độcủa Công tố viên nói chung không bằng Luật sư thì chân lý dễ bị bẻ cong Bởi

lẽ lúc đó “cán cân đối tụng” sẽ bị lệch theo hướng có lợi cho Luật sư, tạo kẽ

hở cho việc bỏ lọt tội phạm

+ Thứ ba là cần có một khung thể chế rõ ràng, cụ thể và minh bạch điều

chỉnh các giai đoạn, các bước và các vấn đề liên quan đến quá trình tố tụng

hình sự Đây là điều kiện không thể thiếu để tạo ra một “môi trường” công

bằng cho Công tố viên và Luật sư thể hiện được vai trò đối tụng của mình

1.3 TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ Ở MỘT

SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM

1.3.1 Tranh tụng trong tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa

Mô hình tố tụng thẩm vấn xuất hiện vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, trongcác Toà án tôn giáo và dần dần thâm nhập vào Toà án thường Tố tụng thẩmvấn được sử dụng hầu hết ở các quốc gia trước đây không phải là thuộc địacủa Anh Bao gồm cả các nước châu Âu lục địa, các nước Mỹ La tinh, cácnước châu Á và châu Phi không thuộc khối Thịnh vượng chung

Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liềnvới sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử

Trang 23

tư tưởng nhân loại Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, màcao hơn nó là thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhânloại Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù có tổ chức hệ thống tư pháp khácnhau, dù là hệ thống luật án lệ (common law), hệ thống luật lục địa (legal law)thì ít hay nhiều và bằng các thể hiện khác nhau, trong hệ thống tố tụng đều cóyếu tố tranh tụng Đây là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho Toà án xácđịnh sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sựcông bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng Hiệnnay các quốc gia theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa cũng đã tiếp thu mộtphần các yếu tố của hệ thống pháp luật tranh tụng vào các thủ tục tố tụng hình

sự của mình, điển hình là Cộng hoà Pháp

Trong hệ thống tố tụng hình sự của Vương quốc Anh và hệ thống tốtụng hình sự của Cộng hoà Pháp có một số khác biệt, tuy nhiên sẽ không

chính xác nếu coi hệ thống pháp luật tố tụng Pháp hoàn toàn là hệ “ thẩm

tra” Vào thời kỳ đầu hình thức tố tụng dựa trên cơ sở tranh tụng của Anh

-Mỹ được áp dụng với cơ chế xét xử có bồi thẩm đoàn Cơ chế này đã đượcsửa đổi vào năm 1808 bằng luật hướng dẫn xét xử hình sự dưới thờiNapoleon, theo đó đã giữ lại một số yếu tố tranh tụng trong giai đoạn xét

xử nhưng lại đặt giai đoạn thẩm tra trong giai đoạn điều tra tiền xét xử Sựsửa đổi luật 1808 đã duy trì những căn cứ đối với mô hình tố tụng đượcxem là pha trộn đại diện cho những cơ sở tiến bộ nhất của mô hình tranhtụng với mô hình thẩm vấn

Ngày nay cơ chế giả định vô tội được coi là trung tâm của tố tụng hình

sự Cộng hoà Pháp đối với tất cả các vụ án nghiêm trọng Tuy nhiên nguyên

tắc chứng minh “vượt ra ngoài những lý do nghi ngờ hợp lý” và sử dụng

nguyên tắc loại trừ chứng cứ rất điển hình cho mô hình tranh tụng vẫn chưađược coi trọng thích đáng Nhưng dù sao trong pháp luật tố tụng hình sự củaCộng hoà Pháp cũng thể hiện một số nội dung tranh tụng sau:

Trang 24

Một là, Luật sư có quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá

trình tranh tụng, tức là ngay khi bắt đầu điều tra vụ án và khi có sự bắt giamngười tình nghi Hơn nữa, khác với truyền thống luật lục địa, nơi mà người tathường trông chờ vào sự hợp tác của người bị tình nghi thì hiện nay luật tốtụng của Cộng hoà Pháp thừa nhận quyền được giữ im lặng của họ

Hai là, trong giai đoạn điều tra các bên tham gia tố tụng có quyền yêu

cầu Thẩm phán điều tra thực hiện một số hoạt động điều tra mà họ cho làcần thiết Thẩm phán điều tra không còn có quyền ra lệnh tạm giam, việcquyết định tạm giam người bị tình nghi chuyển cho một Thẩm phán khác,

đó là Thẩm phán phụ trách việc tạm giam, tạm giữ và trả tự do cho người

bị tình nghi

Ba là, trong quá trình tiến hành xét xử, Công tố viên hoặc Luật sư của

các bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho các nhân chứng và các bên thamgia tố tụng mà không cần sự cho phép của Thẩm phán chủ tọa phiên toà

Bốn là, các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu chủ tọa phiên toà triệu

tập những người làm chứng mới đến khai báo trước toà một cách không hạn chế

Về hình thức xét xử tại Toà đại hình cũng tương đối giống với Toà áncủa hệ thống tranh tụng Tuy nhiên thay vì ba Thẩm phán ngồi xét xử như ởToà tiểu hình, Toà đại hình có một bồi thẩm đoàn gồm 9 thành viên được lựachọn một cách ngẫu nhiên từ danh sách cử tri, các thủ tục và hình thức cũngnhiều hơn so với Toà tiểu hình Phiên toà bắt đầu bằng việc Chánh toà tiếnhành thủ tục nhận dạng bị cáo và giải thích tóm tắt các trình tự tố tụng và thủtục tại phiên toà, tiếp theo đến thủ tục lựa chọn thành viên bồi thẩm đoàn Bịcáo có quyền lựa chọn 5 vị, Công tố lựa chọn 4 vị Sau khi Thư ký toà đọcbản luận tội thì từ thời điểm đó bắt đầu thẩm vấn bị cáo, các bồi thẩm viên cóquyền lựa chọn và đặt ra các câu hỏi và thông thường quá trình đặt câu hỏi sẽtăng dần lên theo diễn biến của phiên toà do các bên tham gia tố tụng đặt câuhỏi trực tiếp không cần sự cho phép của Chánh toà Trong quá trình tranh tụng

Trang 25

tại Toà án Cộng hoà Pháp, Toà án không còn đưa ra bất cứ tài liệu nào ngoạitrừ một bản lưu ý theo quy định của luật Chánh toà có thể bày tỏ quan điểmcủa mình về mọi câu hỏi trừ vấn đề có tội hay không có tội (một biểu hiện rõnét của tranh tụng) Các bồi thẩm thì không bị ràng buộc bởi những quy địnhnghiêm ngặt như vậy và Chánh toà có toàn quyền tự quyết để tiến hành tất cảnhững bước cần thiết nhằm khám phá sự thật, bao gồm cả việc cho gọi nhữngnhân chứng không có trong danh sách mà các bên tham gia tố tụng yêu cầuđến trước toà để thẩm vấn.

1.3.2 Tranh tụng trong tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ

Mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc từ mô hình tố tụng tố cáo vàphát triển mạnh mẽ ở các nước theo hệ thống luật án lệ như Anh, Mỹ,Australia,… Tố tụng tranh tụng cho rằng: sự thật sẽ được mở ra qua sự tranhluận tự do và cởi mở giữa những người có dữ liệu chính xác Hình thức tốtụng này dựa trên quan điểm cho rằng, tố tụng là một cuộc tranh đấu tại Toà

án giữa một bên là Nhà nước (thông qua đại diện) và một bên là công dân bịnghi thực hiện tội phạm; mà đã là cuộc tranh đấu thì hai bên đều được sửdụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau trong việc thu thập, kiểm tra vàđánh giá chứng cứ, phân tích và đưa ra các kết luận đối với những việc cụ thể.Ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng đòi hỏi phải rất chính xác và

tố tụng có vai trò đặc biệt quan trọng đến mức nhiều người cho rằng, tố tụngtranh tụng là hệ thống coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung Tuy nhiên, do

bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm, yếu tố lịch sử, văn hoá chính trị…, pháp luật

tố tụng hình sự tranh tụng ở mỗi nước cũng có những biến đổi nhất định

Ở Vương quốc Anh, giai đoạn điều tra của hầu hết các vụ án hình sự đều

do cảnh sát đảm trách Cơ quan công tố Hoàng gia không có quyền kiểm tracông tác quản lý nội bộ cảnh sát cũng như không được can thiệp vào cáchthức thực hiện chức năng của họ Tuy nhiên, hai cơ quan này đều có sự phụ

Trang 26

thuộc lẫn nhau và sự phối hợp giữa cơ quan cảnh sát với cơ quan công tố làcần thiết nhằm đảm bảo cho các hoạt động tư pháp hình sự đạt hiệu quả Nhưvậy, có thể thấy rằng cơ quan điều tra và công tố trong hệ thống tư pháp hình

sự của Anh tương đối độc lập với nhau Điều này bảo đảm cho việc điều trađược khách quan, cơ quan công tố không can thiệp vào vấn đề này, do đócũng hành động một cách khách quan trong việc thực hiện chức năng truy tốhình sự và quá trình tranh tụng tại phiên toà sau này của mình

Các Công tố viên tại các đồn cảnh sát chỉ làm chức năng tư vấn, họkhông có quyền chỉ đạo việc điều tra của cảnh sát và cũng không có quyềnchỉ thị cho cảnh sát về việc thu thập chứng cứ Nhưng theo luật họ có thể chỉdẫn cho cảnh sát về các vấn đề pháp lý trong việc điều tra như mối liên hệ,trọng lượng, khả năng có thể chấp nhận các bằng chứng thu thập được…Mặt khác, trong quá trình điều tra, cảnh sát có thể yêu cầu Công tố viên chỉdẫn các vấn đề về pháp luật liên quan đến việc điều tra Khi đã có đủ chứng

cứ để buộc tội, cảnh sát có thể lựa chọn một số khả năng để xử lý như:không tiếp tục buộc tội, ra quyết định cảnh cáo, quản lý chặt chẽ kẻ tìnhnghi, buộc tội kẻ vi phạm…

Trường hợp cảnh sát quyết định buộc tội, họ phải chuyển toàn bộ hồ sơcho Công tố viên để quyết định truy tố hay không Phần lớn các thủ tục tốtụng hình sự đều do Cơ quan công tố Hoàng gia đảm nhiệm Nhiệm vụ chínhcủa Cơ quan công tố theo luật định là:

- Tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự do Cơ quan cảnh sát và cơ quan

có thẩm quyền khác khởi tố

- Khởi tố và tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự theo quy định của Bộluật về Công tố viên hoàng gia

- Chỉ dẫn cho cảnh sát về những vấn đề liên quan đến tội phạm hình sự

Về cơ chế truy tố và tranh tụng, theo luật định phần lớn các thủ tục tốtụng hình sự là do công tố viên tiến hành Tuy nhiên, tiến trình tố tụng hình sự

Trang 27

cũng có thể do các nhân và các cơ quan truy tố khác tiến hành như: Cơ quanchống các tội phạm lừa đảo nghiêm trọng, cơ quan Hải quan và Thuế vụ; một

số Bộ thuộc Chính phủ như Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, trong trườnghợp này các cơ quan đó sẽ thuê Luật sư làm nhiệm vụ công tố Quyền truy tố

tư nhân được quy định trong luật về truy tố tội phạm năm 1985 Tuy nhiênCông tố viên Hoàng gia có quyền can thiệp vào quá trình này khi cần thiết,chỉ tiếp nhận việc truy tố tư nhân vì lợi ích công Việc từ chối tiếp nhận các vụ

tư tố có thể vì lý do có ít chứng cứ hay chứng cứ không thuyết phục Quyđịnh như vậy nhằm tránh việc lạm dụng quyền truy tố tư nhân Mặt khác Cơquan công tố Hoàng gia cũng có thể từ chối tiếp nhận tư tố trong trường hợpviệc truy tố nặng về lợi ích công theo quy định của Bộ luật ứng xử của Công

tố viên Hoàng gia và do việc truy tố có thể làm phương hại lợi ích tư pháphoặc vụ việc là quan trọng, phức tạp cần có quyết định công tố

Khi tiến hành tố tụng hình sự tại phiên toà, công tố viên Hoàng gia phảithực hiện quyền tự quyết của mình theo quy định của Bộ luật về Công tố viên

Bộ luật này là một văn bản pháp lý ban hành theo luật truy tố tội phạm năm

1985 Trong đó quy định, trong tố tụng hình sự Công tố viên Hoàng gia cóquyền tự quyết định những vấn đề sau:

- Có khởi tố bị can không;

- Nếu đã khởi tố thì có thể tiếp tục tiến hành tố tụng không;

- Việc buộc tội đã đúng pháp luật chưa;

- Đưa ra yêu cầu về cách thức xét xử

Công tố viên phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với việc thẩm tra chứng

cứ cũng như việc tiến hành tranh tụng tại phiên toà, truy tố tội phạm theonhiệm vụ của công tố viên còn đối trọng với Công tố viên là Luật sư biện hộ.Tuy nhiên cách thức mà Luật sư Anh tranh tụng tại phiên toà có một số khácbiệt Họ có thể xuất hiện một cách hết sức lãnh cảm tại Toà án khi đại diệncho thân chủ, không coi là mình phải có trách nhiệm nhận được lời tha tội

Trang 28

bằng việc sử dụng các quy tắc tố tụng hay biện pháp gài bẫy đối phương với

hy vọng công tố viên sẽ mắc sai lầm Các Luật sư Anh có xu hướng tiếp cậnphiên toà tranh tụng như nơi để quyết định các sự việc trên cơ sở đấu tranhchứng cứ Bồi thẩm đoàn sẽ buộc bị cáo phải chịu hình phạt nếu họ tin rằngcáo trạng của Công tố viên là đúng đắn

Người Mỹ cho rằng hệ thống tranh tụng chỉ là một hệ thống được đặt

ra nhằm giải quyết các tranh chấp, xung đột quan điểm về thực tế vụ án,những tranh chấp, xung đột được đệ trình lên Toà án mà ở đó Thẩm phánđóng vai trò thụ động và công minh Chính Thẩm phán là người quyết địnhbên nào thắng trong cuộc tranh chấp tại toà Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

thuật ngữ “tranh tụng” đồng nghĩa với hệ thống tư pháp hình sự, một hệ

thống đã được pháp điển hoá bằng Hiến pháp do những người sáng lập raHợp chủng quốc Hoa Kỳ tạo lập nên và được Toà án nhân dân tối cao ápdụng suốt trong hơn hai thế kỷ Do đó, hệ thống tranh tụng tiêu biểu chomột mô hình tố tụng đơn giản nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp màđiểm cốt lõi là các quyền cơ bản của con người được công nhận và để bảođảm những giá trị chân chính của một xã hội tự do và tôn trọng các quyền

tự do cá nhân

Những quyền được bảo đảm trong hệ thống tranh tụng là quyền tự do ýchí của cá nhân, quyền được trợ giúp có hiệu quả của Luật sư, được bảo vệmột cách bình đẳng trước pháp luật, được xét xử bởi bồi thẩm đoàn, quyềnđược triệu tập và đối chất với các nhân chứng và quyền được yêu cầu chính

quyền phải chứng minh sự có tội “vượt ra ngoài những lý do nghi ngờ hợp lý

và không được phép ép buộc nhận tội” Những quyền này và những quyền

khác cũng bao gồm trong khái niệm rộng và cơ bản trong Hiến pháp rằng:

“Không ai bị tước đoạt cuộc sống, tự do, tài sản mà không qua một tiến trình

xét xử công bằng” [31], một khái niệm mà bản thân nó đã mang hàm ý của hệ

thống tố tụng tranh tụng

Trang 29

Để thực thi công lý, các Toà án ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ phải tuân thủnhững nguyên tắc nhất định được quy định chặt chẽ trong Hiến pháp, trongtruyền thống pháp luật Những nguyên tắc này được xác định và mô tả chi tiếttrong bản các tiêu chuẩn về hoạt động của Toà án xét xử (Toà án sơ thẩm) vàbản các tiêu chuẩn của Toà án phúc thẩm do ủy ban quốc gia về Thẩm phán

và Luật sư cùng với Trung tâm quốc gia về Toà án bang xây dựng [29, tr.7].Các nguyên tắc này bao gồm một số nội dung sau:

- Các Toà án phải tuân thủ pháp luật và chỉ đưa ra quyết định dựa trêncác yếu tố pháp lý thích hợp

- Các Toà án phải công bằng và đối xử bình đẳng với mọi người

- Mặc dù được độc lập khi đưa ra quyết định và điều hành xét xử, songcác Toà án phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định, hoạt động và việc

sử dụng, huy động các nguồn lực công

- Các Toà án phải dành cho tất cả mọi người quyền tham gia phiên toà vàtiến hành công việc của mình một cách công khai

- Các Toà án phải hoạt động một cách có hiệu quả và nhanh chóng

Theo hệ thống tranh tụng của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, phiên toà xét xử

là nơi mà tính xung đột được biểu hiện cao nhất, bởi vì Luật sư không phải là

cơ quan hay nhân viên Nhà nước, hơn nữa Luật sư được coi là “người bảo vệ

chống lại những lời lẽ thù địch của bên kia” cho khách hàng của mình, vì thế

Luật sư biện hộ ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có nghĩa vụ theo sát cuộc điều tra

vụ án Tất cả các nguồn thông tin thích hợp đều phải được khai thác, khámphá, đặc biệt là các thông tin về khách hàng Thay vì tiếp nhận những quyếtđịnh của chính quyền để lưu giữ, bảo quản hoặc phá hủy chứng cứ, Luật sưbiện hộ có nhiệm vụ phát hiện ra các thông tin mà cảnh sát hoặc Công tố viênđang nắm giữ

Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, trong tất cả các vụ án hình sự mà bị cáo bịbuộc tội có thể phải chịu mức hình phạt từ 6 tháng tù trở lên thì người đó có

Trang 30

quyền hiến định là được xét xử bằng bồi thẩm đoàn Thêm vào đó, hầu hết các

cơ quan tư pháp bao gồm cả các Toà án liên bang đều cho phép Thẩm phánhoặc Công tố viên phủ quyết quyền khước từ xét xử có bồi thẩm đoàn của bịcáo Do đó theo cách hiểu chung nhất, xét xử không có bồi thẩm đoàn chỉ xảy

ra đối với những vụ án nghiêm trọng khi thủ tục đó được tất cả các bên đồng ý

1.3.3 Cơ sở lý luận của việc đổi mới tố tụng hình sự nước ta theo hướng tranh tụng tại phiên toà

Do những đặc điểm về lịch sử, văn hoá, truyền thống lập pháp, vănhoá pháp lý, quan niệm đạo đức và cả pháp luật hiện có về tố tụng hình sựcủa mỗi quốc gia khác nhau mà trên thế giới đang tồn tại một số mô hình tốtụng không giống nhau như mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn, mô hình tốtụng hình sự tranh tụng, hoặc mô hình tố tụng hình sự hỗn hợp (pha trộn)

cả thẩm vấn và tranh tụng Nói chung, bất kỳ mô hình tố tụng nào cũnghướng tới mục tiêu chung là tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự đãxảy ra nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội Chỉ có điều mỗi môhình tố tụng hình sự có sự khác nhau về phương pháp tìm ra sự thật kháchquan Đây được coi là yếu tố chung nhất để phân biệt giữa các mô hình tốtụng hình sự

Những yếu tố cụ thể phân biệt sự khác nhau giữa các mô hình tố tụnghình sự dựa vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ,trách nhiệm của các chủ thể tố tụng khi thực hiện các hành vi tố tụng liênquan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự Ví dụ quy định của pháp luật tốtụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán là người điều hành quyếtđịnh toàn bộ diễn biến phiên toà từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thì đó là tốtụng hình sự thẩm vấn Nếu tại phiên toà xét xử Thẩm phán với vai trò làngười trọng tài, diễn biến phiên toà phụ thuộc vào những người tham gia tốtụng (Công tố, Luật sư bào chữa, người bị hại, bị cáo…), thì đó là tố tụnghình sự tranh tụng

Trang 31

Có nhiều yếu tố khác nhau để xác định một mô hình tố tụng hình sự căn

cứ vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự về phương pháp thu thập và

sử dụng chứng cứ về quyền, nghĩa vụ trách nhiệm của các chủ thể tố tụnghình sự, về việc phân chia giai đoạn tố tụng trong đó xác định giai đoạnnào là quan trọng nhất, có tính quyết định đến toàn bộ quá trình giải quyết

vụ án hình sự…Ví dụ về phương pháp thu thập chứng cứ và sử dụng chứng

cứ Đối với tố tụng hình sự thẩm vấn, việc thu thập và sử dụng chứng cứđược giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng ở các giai đoạn tố tụng Cơquan điều tra, Viện kiểm sát chịu trách nhiệm thu thập chứng cứ trong giaiđoạn trước khi xét xử để buộc tội người phạm tội Trong hình thức tố tụngnày, việc sử dụng hồ sơ vụ án với các chứng cứ viết để xét xử là đặc trưng

cơ bản Những tài liệu có trong hồ sơ là những chứng cứ quan trọng, làm

cơ sở cho Toà án xét xử Toà án sử dụng chứng cứ mà cơ quan điều tra,Viện kiểm sát thu thập được và tiếp tục thu thập chứng cứ ngay tại phiêntoà để tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự Ngược lại, đối với tốtụng hình sự tranh tụng, việc thu thập và sử dụng chứng cứ được giao chokhông chỉ cơ quan buộc tội mà cả bên bị buộc tội Bên buộc tội (đại diệnViện kiểm sát) và bên bị buộc tội (bị cáo, Luật sư bào chữa) có quyền vànghĩa vụ ngang nhau trong thu thập và sử dụng chứng cứ bằng cách đưa rachứng cứ trong quá trình tranh tụng tại phiên toà, những tài liệu có thể coi

là chứng cứ của vụ án đều phải được các bên trình bày công khai tại phiêntoà Thẩm phán giữ vai trò là người trọng tài cho việc tranh tụng và chỉkiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ được các bên đưa ra tại phiên toà

Để giúp cho Thẩm phán đưa ra quyết định hình phạt, Hội đồng bồi thẩm(khoảng 12 người), mặc dù không tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng

có quyền biểu quyết xác định bị cáo có tội hay không có tội sau khi nghecác bên đưa ra chứng cứ tranh tụng trực tiếp tại phiên toà Trong trườnghợp bồi thẩm đoàn biểu quyết xác định bị cáo có tội, Thẩm phán quyết định

Trang 32

loại và mức hình phạt được áp dụng hoặc ra các quyết định khác có liênquan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Hoặc về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng: Đối với tố tụng hình

sự thẩm vấn, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có quyền rất lớn và luônphối hợp với nhau, bổ sung cho nhau trong toàn bộ quá trình tố tụng, thậm chíthống nhất với nhau cách xử lý ở những vụ án phức tạp, hoặc cho rằng nhạycảm, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có toàn quyền quyết định các hoạt độngđiều tra, quyết định việc bắt, tạm giữ, tạm giam, quyết định việc khởi tố, truy

tố người phạm tội ra trước Toà án Thẩm phán sử dụng chứng cứ viết trong hồ

sơ vụ án để xét xử và giữ vai trò chủ tọa, quán xuyến và điều hành mọi diễnbiến phiên toà Mọi hành vi của những người tham gia tố tụng khác kể cảLuật sư bào chữa đều phải chịu sự điều khiển của Thẩm phán Nói cách kháccác cơ quan tiến hành tố tụng luôn chủ động trong toàn bộ quá trình giải quyết

vụ án hình sự Trong khi đó vai trò của Luật sư bào chữa, bị can, bị cáo vànhững người tham gia tố tụng khác đều lệ thuộc, bị động Ngược lại đối với tốtụng hình sự tranh tụng, các chủ thể tố tụng mà trực tiếp là Công tố viên, Luật

sư bào chữa cho bị cáo có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong toàn bộ quátrình tố tụng Thông qua quá trình tố tụng (bằng miệng) tại phiên toà các bên

có quyền khẳng định hay bác bỏ lời khai của nhân chứng, thẩm định côngkhai về tính trung thực của nhân chứng, phát hiện những sai sót của việc kiểmtra, đánh giá chứng cứ để đưa ra những bất hợp lý, không hợp lý của cả việcbuộc tội và gỡ tội Trong khi Công tố viên cố gắng chứng minh mức độ phạmtội của bị cáo, thì Luật sư bào chữa cho bị cáo tìm mọi cách trong khuôn khổ luậtđịnh, tranh luận, chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc phạm tội nhưng cónhiều tình tiết giảm nhẹ Mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia vàmỗi bên có quyền ngắt lời bên kia, phản đối lại ý kiến mà các bên đưa ra…

Tố tụng hình sự thẩm vấn thường được chia ra thành các giai đoạn tốtụng từ điều tra, truy tố, xét xử vụ án, trong giai đoạn điều tra thu thập chứng

Trang 33

cứ và thiết lập hồ sơ vụ án là quan trọng nhất có tính chất quyết định đến toàn

bộ quá trình giải quyết vụ án Giai đoạn truy tố và xét xử phụ thuộc vàonhững kết quả đạt được của giai đoạn điều tra Ngược lại, tố tụng hình sựtranh tụng lại đặc biệt quan tâm và cho rằng giai đoạn xét xử tại phiên toà làquan trọng nhất, có tính chất quyết định đến quá trình giải quyết vụ án và bảođảm công bằng cho mọi bị cáo bị đưa ra xét xử

Nói chung cho tới nay, chưa có mô hình tố tụng hình sự nào (tranh tụng,thẩm vấn) được coi là tối ưu, mỗi mô hình tố tụng có ưu điểm, nhược điểmriêng Ví dụ, ưu điểm cơ bản của tố tụng thẩm vấn là tạo thế chủ động cho các

cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm xácđịnh tương đối chính xác tội phạm, góp phần quan trọng trong bảo vệ và giữgìn trật tự xã hội Thế nhưng mô hình tố tụng này có nhược điểm là các cơquan tiến hành tố tụng có quyền hạn quá lớn nên có sự can thiệp của Nhànước vào quá trình tiến hành tố tụng, làm cho tố tụng hình sự không côngbằng Trong khi đó chủ thể tố tụng khác (bị cáo, người bào chữa, người bảo

vệ quyền lợi của đương sự) ít có được cơ hội bày tỏ chứng cứ chứng minh vềhành vi phạm tội đã thực hiện Ngược lại, ưu điểm cơ bản của tố tụng hình sựtranh tụng thể hiện được tính dân chủ, công khai, minh bạch của quá trình tốtụng, nhất là tại phiên toà xét xử, vai trò của bị cáo, Luật sư bào chữa vànhững người tham gia tố tụng khác được tôn trọng, mọi người tham gia tốtụng cảm thấy rõ các quyền cơ bản của mình được đề cao bằng việc tự mìnhchứng minh những gì mình cho là đúng và quan trọng nhất là khi họ khôngchứng minh được mình đúng thì họ không cảm thấy có thiên vị và cho rằng

đó là khách quan và họ chấp nhận theo phán quyết của Toà án Nhược điểmcủa mô hình tố tụng này thể hiện, mỗi bên tranh tụng luôn bị sức ép phản đối

từ bên đối kháng và đều luôn ở thế bị động, phải liên tục đối phó với sự phảnbác của bên kia bằng việc trình bày trực tiếp tại phiên toà Do vậy nhữngngười tham gia tố tụng của các bên, nhất là Công tố viên và Luật sư bào chữa

Trang 34

đều phải là những người nắm rất vững những quy định của pháp luật tố tụnghình sự liên quan đến chứng cứ, chứng minh và quy trình chứng minh Đã có

những nhận xét cho rằng “Bên thắng trong tranh tụng chưa hẳn đã là bên

đúng những gì xảy ra trong thực tế mà chỉ là bên thắng trong tranh tụng vì đã chứng minh được trước toà là mình đúng tại phiên toà”.

Như vậy, mỗi mô hình tố tụng đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng

Sở dĩ có sự khác biệt này là do nhận thức và quá trình xây dựng hệ thốngpháp luật trong một quá trình dài của lịch sử và hiện tại của mỗi dân tộc, quốcgia Mặt khác xã hội càng phát triển thì con người trong xã hội càng nhậnthức được tầm quan trọng của tố tụng hình sự, không chỉ nhằm bảo đảmkhông để lọt tội phạm trong thực tế mà còn phải từng bước bảo đảm sự côngbằng, công khai, minh bạch của hoạt động tố tụng hình sự

Mô hình tố tụng của nước ta hiện nay đang có hai quan điểm, quan điểmthứ nhất cho rằng mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình thẩm vấn,quan điểm thứ hai cho rằng mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình phatrộn (hỗn hợp) Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, xuất phát từnhững căn cứ sau đây:

- Căn cứ vào yếu tố lịch sử: Lịch sử hình thành và phát triển của tố tụnghình sự Việt Nam đã cho thấy quá trình này chịu ảnh hưởng to lớn của môhình tố tụng hình sự của Pháp và Liên Xô, mà hai mô hình này là mô hình tốtụng hình sự Châu Âu lục địa đã tiếp thu những nhân tố tích cực của mô hìnhtranh tụng nên được thừa nhận là mô hình pha trộn Hệ thống pháp luật, hệthống tư pháp của Pháp đã hiện diện ở nước ta bên cạnh hệ thống pháp luật,

hệ thống tư pháp phong kiến bản xứ trong gần 100 năm nước ta là thuộc địacủa Pháp và đã có ảnh hưởng đến truyền thống, tư duy pháp lý ở nước ta Saunăm 1945 hệ thống cơ quan Toà án của nước ta được hình thành nhưng vẫncòn chịu ảnh hưởng của mô hình tư pháp của Pháp Từ Hiến pháp 1959 đếnHiến pháp 1980 nguyên tắc tổ chức, hoạt động, mô hình của hệ thống cơ quan

Trang 35

tư pháp và hệ thống pháp luật của nước ta đã chịu sự tác động, ảnh hưởng củakhoa học pháp lý và mô hình Nhà nước Xô viết thay thế cho các ảnh hưởngcủa mô hình Pháp.

- Căn cứ vào luật thực định: Phân tích quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có thể nhận thấy những dấuhiệu đặc trưng của mô hình tố tụng pha trộn, cụ thể:

+ Những dấu hiệu của mô hình thẩm vấn:

Những dấu hiệu này thể hiện rõ nhất ở giai đoạn điều tra, với tư cách làgiai đoạn độc lập trong quan hệ với các giai đoạn còn lại đã phân chia ước lệtoàn bộ tiến trình tố tụng hình sự thành hai phần Các giai đoạn trước Toà án

và giai đoạn xét xử, thi hành án Giai đoạn điều tra có vai trò quan trọng trongquan hệ với giai đoạn xét xử sơ thẩm vì các chứng cứ thu thập được trong giaiđoạn này là cơ sở quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị can ra trướctoà để xét xử và Toà án xét xử chủ yếu trên cơ sở những chứng cứ này

Các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có những quyền năng to lớn trongmối quan hệ với địa vị tố tụng hạn chế của bên bào chữa đã cho thấy tronggiai đoạn này chưa có sự bình đẳng thực sự giữa các chủ thể này với nhau.Toàn bộ chứng cứ của giai đoạn này là do cơ quan điều tra tìm kiếm, pháthiện, thu thập, kiểm tra và đưa vào hồ sơ vụ án trên cơ sở thực hiện các hoạtđộng điều tra do luật định (Điều 65 BLTTHS năm 2003) Bị can chỉ có quyềntrình bày lời khai, đưa ra tài liệu, yêu cầu, không có quyền thu thập chứng cứ.Quyền bào chữa của bị can chưa được bảo đảm vì vẫn bị phụ thuộc vào ý chícủa chính các cơ quan tiến hành tố tụng Về lý thuyết vẫn có thể xảy ra trườnghợp bị can không thực hiện được quyền có người bào chữa tại thời điểm bịkhởi tố bị can hoặc chỉ có thể được thực hiện quyền đó ở thời gian muộn hơn(Điều 56 BLTTHS năm 2003)

Nguyên tắc bí mật kết quả điều tra (Điều 124 BLTTHS năm 2003) lànguyên tắc truyền thống đặc trưng của mô hình thẩm vấn

Trang 36

Chế định Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng buộc tội vừa thực hiệnchức năng giám sát tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (kiểm sát điềutra) với những quyền hạn có tính mệnh lệnh - chấp hành trong quan hệ với cơquan điều tra thể hiện sự ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự Pháp và Liên

Xô (nay là liên bang Nga)

Toà án mặc dù đã độc lập đối với các bên nhưng vẫn còn có vai trò tíchcực trong phiên toà sơ thẩm và thực hiện một số quyền hạn chưa phù hợp vớichức năng xét xử của mình Cụ thể, Thẩm phán là người hỏi chính và hỏi đầutiên tại phần thủ tục xét hỏi, Toà án có quyền chủ động quyết định nhiều biệnpháp liên quan đến hoạt động chứng minh khi thấy cần thiết, không phụ thuộcvào ý chí của các bên, Toà án có quyền khởi tố vụ án, có quyền xét xử bị cáotheo khung hình phạt nặng hơn trong cùng một điều luật so với truy tố củaViện kiểm sát…

+ Những dấu hiệu của mô hình tranh tụng:

Đã có sự tách bạch mặc dù chưa thật triệt để về các chức năng tố tụng cơbản Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử, nhiều nội dungcủa nguyên tắc tranh tụng đã hiện diện ở giai đoạn xét xử sơ thẩm mặc dùBLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều không thừa nhận tranh tụng làmột nguyên tắc cơ bản Cụ thể như địa vị tố tụng bình đẳng trong hoạt độngchứng minh giữa Viện kiểm sát - người buộc tội nhân danh Nhà nước và bị cáo,người bào chữa của bị cáo trước Toà án độc lập (Điều 19 BLTTHS 2003).Một số nguyên tắc tiến bộ của mô hình tranh tụng được thừa nhận lànguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam như nguyên tắc tự do đánhgiá chứng cứ (Điều 66 BLTTHS năm 2003), nguyên tắc suy đoán vô tội vớiquy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng(Điều 9 BLTTHS năm 2003), nguyên tắc xét xử công khai, trực tiếp, liên tục

và bằng lời nói (Điều 18, 184 BLTTHS năm 2003), nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ (Điều 11 BLTTHS năm

Trang 37

2003), nguyên tắc xét xử có sự tham gia của Hội thẩm, Thẩm phán và Hội thẩmxét xử động lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 15, 16 BLTTHS năm 2003).Không thể phủ nhận là quá trình tranh tụng đã bắt đầu từ giai đoạn điềutra mặc dù lúc này tranh tụng giữa các bên chưa thực sự bình đẳng về địa vị tốtụng Trong giai đoạn này đã có sự hiện diện các yếu tố của mô hình tranhtụng tuy còn hạn chế Cụ thể như sự tham gia của người bào chữa từ khi cóquyết định tạm giữ, chế định bào chữa bắt buộc, quyền thu thập tài liệu, đồvật của người bào chữa, quyền được có mặt trong một số hoạt động của cơquan điều tra, quyền đưa ra đồ vật yêu cầu (Điều 58 BLTTHS năm 2003), đếnphiên toà thì đã là tranh tụng công khai giữa các bên hoàn toàn bình đẳng vềđịa vị tố tụng trong hoạt động chứng minh trước Toà án Bên buộc tội cóquyền gì thì bên bào chữa cũng có quyền tương tự

Trong điều kiện hội nhập quốc tế, sự tương tác lẫn nhau giữa các quốcgia vô cùng mạnh mẽ và năng động Lịch sử của tố tụng hình sự thế giới cũngthể hiện quy luật chung, xu hướng chủ đạo trong lịch sử phát triển của nhânloại là xu hướng ngày càng nhân văn hơn, ngày càng đề cao quyền con ngườinhư là những giá trị cao nhất Vì thế định hướng hoàn thiện mô hình tố tụnghình sự của mỗi quốc gia phải bắt kịp xu hướng chủ đạo đó, các phương thức

và hình thức bảo vệ quyền con người phải được thể hiện đậm nét hơn trongcác chế định của Bộ luật tố tụng hình sự Cơ sở lý luận của việc đổi mới tốtụng hình sự nước ta hiện nay là cần mở rộng hơn các yếu tố tích cực của môhình tranh tụng để chuyển đổi từ mô hình pha trộn thiên về thẩm vấn thành

mô hình pha trộn thiên về tranh tụng

Trước mắt để có thể tạo ra sự chuyển biến tích cực trong tố tụng hình sự

là tăng cường tính tranh tụng của phiên toà sơ thẩm và coi đây là khâu đột phátheo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị Phiên toà sơ thẩm có tính tranhtụng không chỉ làm thay đổi một cách cơ bản hoạt động của các bên tranhtụng tại phiên toà và những người tham gia tố tụng khác, thay đổi vai trò của

Trang 38

Toà án, tạo điều kiện khách quan cần thiết cho bản án công minh mà còn cótác động lan toả đến hoạt động tố tụng ở các giai đoạn khác, nhất là giai đoạnđiều tra Phiên toà sơ thẩm tranh tụng chính là con đường duy nhất để lấy lại

uy tín của người dân về công lý Một phiên toà tranh tụng sẽ buộc hoạt độngcủa tất cả những chủ thể tham gia phiên toà kể cả hoạt động xét xử của chínhToà án và các chủ thể tham gia giai đoạn trước phiên toà sẽ phải chuyênnghiệp hơn

Kết luận chương 1

Thông qua việc phân tích cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên toà trongxét xử án hình sự có thể khẳng định: Quá trình tố tụng về bản chất là quá trìnhxác định sự thật khách quan của vụ án, đồng thời là phương tiện để đạt đượcmục đích và nhiệm vụ mà pháp luật tố tụng hình sự đặt ra Đó là không chỉbảo vệ lợi ích của Nhà nước mà còn đảm bảo các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cá nhân, bảo vệ những giátrị chân chính của một xã hội Tranh tụng còn là hình thức tố tụng đảm bảocho các chủ thể có thể thực hiện một cách có hiệu quả chức năng của mìnhtrong tố tụng hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự.Một mặt nó thể hiện bản chất dân chủ, nhân đạo của pháp luật tố tụng hình sự,mặt khác nó còn là cơ sở để xác định địa vị pháp lý, vai trò, chức năng củacác bên tham gia tiến trình tố tụng cũng như xác định trình tự, thủ tục tiếnhành xét xử các vụ án hình sự và cơ chế bảo đảm thực hiện trên thực tế Mụcđích cuối cùng là hướng tới việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội,đúng pháp luật và đòi hỏi mọi hoạt động tố tụng phải minh bạch, dân chủ.Khó có thể khẳng định rằng, trong hai hệ thống tố tụng điển hình trên thếgiới hiện nay là hệ thống tố tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng thẩm vấn thì

hệ thống tố tụng nào có ưu điểm vượt trội, tuy nhiên mỗi mô hình đều cónhững ưu điểm riêng Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay việc đưa mô

Trang 39

hình tố tụng vươn tới những mục đích cao đẹp của tố tụng hình sự và cải cách

hệ thống đang có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện cụ thểcủa đất nước, theo những đặc điểm lịch sử, văn hoá, chính trị mà mô hìnhhiện hành đang được áp dụng để cho hoạt động tố tụng hình sự ngày càng đạthiệu quả cao hơn, quyền dân chủ của công dân ngày càng được tôn trọng.Điều quan trọng hiện nay là phải xác định đúng đắn, đầy đủ quyền hạn vàtrách nhiệm pháp lý của từng chủ thể ở mỗi giai đoạn tố tụng, thống nhất vềmặt nhận thức và vận dụng đúng đắn, có hiệu quả các quy định của pháp luật,tránh tình trạng lạm quyền của các cơ quan tư pháp trong quá trình thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình và phát huy vai trò của Luật sư và các Cơ quan

bổ trợ tư pháp Đây là những điều kiện tiên quyết để bảo đảm xây dựng mộtnền tư pháp thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động công bằng và có hiệuquả, nhất là trong tình hình hiện nay Đảng, Nhà nước ta đang tích cực tiếnhành công cuộc cải cách tư pháp

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ VÀ TRANH TỤNG

TẠI PHIÊN TOÀ TRONG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH VĨNH

PHÚC

2.1 TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1.1 Tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự trước năm 1988

2.1.1.1 Tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hoà ra đời Chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với nhữngkhó khăn chồng chất Nền kinh kế nước ta vốn lệ thuộc vào thực dân Pháp, bịphát xít Nhật khai thác triệt để trong chiến tranh thế giới thứ hai, trở nên rấtkiệt quệ, tiêu điều Nghiêm trọng và cấp bách hơn cả là nạn ngoại xâm, ởmiền Bắc khoảng 200.000 quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa đồngminh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng nhưng dã tâm của chúng là lật đổchính quyền nhân dân để lập Chính phủ phản động làm tay sai cho chúng Ởmiền Nam, thực dân Pháp và can thiệp Anh chiếm Sài Gòn và mở rộng chiếntranh xâm chiến các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ

Trong tình hình đó, Đảng ta xác định “giữ vững chính quyền” là một trong

những nhiệm vụ hàng đầu Quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, nhân dân tadưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã giữ vững được chính quyền Mặc dù phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, hoạt động lập pháp nói chung,lập pháp tố tụng hình sự nói riêng vẫn được Nhà nước ta quan tâm [11, tr 66].Ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Toà án và các ngạch Thẩmphán đã được ban hành Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xửđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật được quy định tại Điều 47, 50 Sắc lệnh

Ngày đăng: 07/07/2022, 01:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2002)
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2005)
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Bộ Tư pháp (1957), Tập luật lệ về tư pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (1957), "Tập luật lệ về tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 1957
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Nguyễn Thanh Hạo (2008), “Nâng cao năng lực tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm”, Tạp chí Kiểm sát, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thanh Hạo (2008), “Nâng cao năng lực tranh luận của Kiểm sátviên tại phiên toà hình sự sơ thẩm”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Thanh Hạo
Năm: 2008
9. Học viện Tư pháp (2003), "Chuyên đề mở rộng tranh tụng", Đặc san nghề luật, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề mở rộng tranh tụng
Tác giả: Học viện Tư pháp
Năm: 2003
10. Học viện Tư pháp (2003), Tranh tụng tại phiên toà - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Tư pháp (2003), "Tranh tụng tại phiên toà - một số vấn đề lýluận và thực tiễn
Tác giả: Học viện Tư pháp
Năm: 2003
12. Nguyễn Tiến Long (2005), Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử án hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tiến Long (2005), "Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranhtụng trong xét xử án hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Tiến Long
Năm: 2005
13. Nguyễn Đức Mai (2007), "Tranh tụng tại phiên toà so thẩm hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Tạp chí Toà án, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tụng tại phiên toà so thẩm hình sự theotinh thần cải cách tư pháp một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2007
14. Nguyễn Đức Mai (2008), "Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm", Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụnghình sự hiện hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toàsơ thẩm
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2008
15. Nguyễn Đức Mai (2009), "Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam", Tạp chí Toà án, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng vàphương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2009
16. Mai Thị Nam (2007), "Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm và chất lượng tranh tụng của Viện kiểm sát tại phiên toà", Tạp chí Kiểm sát, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm và chất lượngtranh tụng của Viện kiểm sát tại phiên toà
Tác giả: Mai Thị Nam
Năm: 2007
17. Mai Thị Nam (2008), Chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Thị Nam (2008), "Chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩmvụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ThanhHoá
Tác giả: Mai Thị Nam
Năm: 2008
18. Nguyễn Thái Phúc (2008), "Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụngtrong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2008
19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp 1945, 1959, 1980, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1988), Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1988)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1988
21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
22. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, - Ths- Luat hoc-Cơ sở lý luậnvà thực tiễn về tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh VĩnhPhúc
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, (Trang 55)
113,86%. Nhìn vào bảng thống kê 1 ta có thể thấy rằng, số lượng án Toà án các cấp phải giải quyết tăng không đáng kể, số lượng các vụ án phải giải quyết theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm không nhiều - Ths- Luat hoc-Cơ sở lý luậnvà thực tiễn về tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh VĩnhPhúc
113 86%. Nhìn vào bảng thống kê 1 ta có thể thấy rằng, số lượng án Toà án các cấp phải giải quyết tăng không đáng kể, số lượng các vụ án phải giải quyết theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm không nhiều (Trang 55)
2.2.2. Tình hình xét xử từ năm 2002 đến 2009 (từ khi có Nghị quyết 08-NQ/TW) - Ths- Luat hoc-Cơ sở lý luậnvà thực tiễn về tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh VĩnhPhúc
2.2.2. Tình hình xét xử từ năm 2002 đến 2009 (từ khi có Nghị quyết 08-NQ/TW) (Trang 56)
Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, - Ths- Luat hoc-Cơ sở lý luậnvà thực tiễn về tranh tụng tại phiên toà trong xét xử án hình sự ở tỉnh VĩnhPhúc
Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w